Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Thư Hiên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Thư Hiên. Hiển thị tất cả bài đăng

Gặp Vũ Thư Hiên

Lưu Trọng Văn

20-4-2024

Gã chở Hoàng Hưng chen chúc con đường Nguyễn Tất Thành giờ vào ca, rồi rẽ Huỳnh Văn Bánh qua nhà thờ Ba Chuông tiến về Ông Tạ. Nhà văn Vũ Thư Hiên ở với con gái ở gần khu Ông Tạ ấy.

Hoàng Hưng đặt bánh cuốn theo Hoàng Hưng là cực ngon ở quận 7 để mời bác Hiên cùng ăn sáng. Bác Hiên bảo thèm cà cuống quá. Gã bảo kiếm đâu ra cà cuống bây giờ. Gã đói rồi, cầm đũa gắp bánh cuốn, bác Hiên ngăn lại, uống chén rượu đã. Rượu nếp thôi.

Bác Tề

Nguyễn Ngọc Giao

Chân dung Bác Tề. Ảnh: Vũ Thư Hiên gửi theo đề nghị của BVN 

Bà Phạm Thị Tề (1912-2001) được biết như là quả phụ của ông Vũ Đình Huỳnh, tức là mẹ của nhà văn Vũ Thư Hiên.

Tôi chưa lần nào được gặp bà. Ngưỡng mộ, nghe anh Hiên và mấy anh chị kể chuyện về bà, đọc những lá thư bà viết cho nhà cầm quyền về vụ án «xét lại» mà chồng và con bà là nạn nhân, tất nhiên tôi hằng mong có dịp về Hà Nội, thể nào cũng xin đến thăm bà. Nhưng tôi bị cấm cửa từ mùa hè 1982, mãi đến mùa thu 2001 mới có visa: bà đã từ trần từ tháng 8 năm ấy.

Tết năm ngoái, 2020, tôi được visa sau tám năm cấm cửa (lần này ngắn hơn lần trước), có lẽ nhờ uy danh của ông bạn già Georges Boudarel. Bouda mất cuối năm 2003, Hội những người bạn của Boudarel trao tôi giữ bình tro của anh. Theo ý nguyện của người đã khuất, chị Janine Gillon (chủ tịch hội) và một số bạn bè đã trải một phần tro cốt ngoài khơi cảng Honfleur, cửa sông Seine. Phần còn lại, giữ ở nhà tôi hơn 16 năm, tháng 1.2020, vợ chồng tôi mang về nước. Bình thường di cốt một người đã khuất, ra khỏi nước Pháp phải có giấy tờ, vào Việt Nam phải có visa nhập cảnh. Đó là lệ thường. Nhưng cuộc đời Bouda không «bình thường» cho lắm. Tuy Đại sứ Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Thiệp, rất thiết tha với việc này, mấy lần gửi điện về nước, nhưng không cơ quan nào thấy có trách nhiệm cấp visa cho di cốt của một người đã cống hiến cả tuổi trẻ và trung niên cho công cuộc giành độc lập cho Việt Nam, và đã phải trả giá bằng cái án tử hình vắng mặt của một tòa án quân đội viễn chinh Pháp, công bố khi Boudarel trên đường «Bắc tiến», đi bộ gần 2000 cây số từ chiến khu Đ lên Việt Bắc – những năm ấy, đạo quân viễn chinh Pháp vớt vát công cuộc thực dân mà mấy chục năm sau, ông Emmanuel Macron đã một lần thật thà gọi nó là một «tội ác chống nhân loại». Rời bỏ Lycée Marie Curie Sài Gòn nơi anh dạy triết học – hình như từ Paul Nizan tới Samuel Paty qua Georges Boudarel, những giáo sư triết học Pháp dễ gặp chuyện «phức tạp» –, tham gia kháng chiến Việt Nam, Boudarel chỉ muốn chấm dứt tội ác chống nhân loại, nhưng tòa án binh kết tội anh là «phản quốc» – và cho đến hôm nay, đầu năm 2021, chắc đâu đó còn có người nghĩ như vậy về Boudarel. Nhưng thôi, tôi đã xa đề quá nhiều rồi. Chỉ xin nhắc lại là năm 1967, sau khi tướng De Gaulle ký sắc lệnh ân xá cho mọi hành động phạm pháp diễn ra trong khuôn khổ «các biến cố Đông Dương và Algérie» – trong chính sử nước Đại Pháp nửa cuối thế kỷ 20, ở Đông Dương hay Algérie, không hề có chiến tranh, mà chỉ có những «biến cố». Sau sắc lệnh ân xá, Boudarel có thể về lại Tổ quốc, nhưng không có giấy tờ hợp pháp, nên từ Genève, Thụy Sĩ, những đồng chí của anh phải chèo thuyền, đưa anh qua hồ Léman (nửa phía bắc thuộc Thụy Sĩ, nửa phía nam thuộc Pháp), «đổ bộ» lên bờ quê hương. Năm ấy, Boudaral «đi chui» về nước. Năm 2020, di cốt anh «đi chui» ở sân bay Tân Sơn Nhất, cũng là bình thường. Và di cốt của Bouda đã được trải xuống Sông Bé (gần trụ sở của Đài phát thanh Sài Gòn – Chợ Lớn Tự Do, địa điểm do anh Tư Hiếu, đồng nghiệp ở Đài, định vị), sông Hồng (tả ngạn, gần làng Bát Tràng, với sự có mặt của các anh Hữu Ngọc, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Xuân Nguyên) và ngoài khơi Cửa Đại (Hội An, nhờ sự quán xuyến của nhà văn Nguyên Ngọc và nhà thơ Nguyễn Duy).

Nhà xuất bản Tự Do tái bản “Đêm giữa ban ngày” tại Việt Nam

Phạm Đoan Trang

Cuốn sách bóc trần một sự thật đen tối, bẩn thỉu về nhà nước cộng sản: Thực chất thì nhà nước ấy chưa bao giờ, chưa một ngày nào “dân chủ, văn minh”. Ngay từ đầu, nó đã chỉ là một bộ máy để hợp thức hóa, thể chế hóa đặc quyền đặc lợi của những kẻ cai trị ít học, thấp kém cả về tâm đức lẫn tài trí, nhưng thừa tham vọng quyền bính.

…

Khi đọc “Đêm giữa ban ngày” lần đầu tiên vào năm 1998, tôi không nghĩ sẽ có ngày tôi bị bắt giam, phải ngồi tù (vài ngày) vì nó, hơn một thập niên sau đó. Tôi càng không nghĩ rằng hai thập niên sau đó nữa, tôi sẽ có lúc ngồi viết bài giới thiệu cuốn sách đến bạn đọc như thế này.

Được viết bài giới thiệu “Đêm giữa ban ngày”, với tôi, là niềm vinh hạnh, nhưng cũng lại làm nặng thêm sức ép đè lên tôi và thế hệ chúng tôi, chúng ta: Làm gì? Làm gì để tấn thảm kịch “Đêm giữa ban ngày” không bao giờ lặp lại nữa, và cuốn sách sẽ sớm được xuất bản công khai, đàng hoàng cho độc giả toàn Việt Nam đọc, không phải để thù oán chế độ cộng sản, mà là để bảo đảm chắc chắn rằng độc tài sẽ không trở lại trên đất nước chúng ta?

Phạm Đoan Trang

Bạn có nhận ra người trong hình này? Đó là tác giả của “Đêm giữa ban ngày”, đang ký tặng sách cho 30 thành viên thầm lặng của Nhà xuất bản Tự Do - những người đang nỗ lực tiếp bước ông trong cuộc đấu tranh bằng ngòi bút chống độc tài cộng sản. Ông là nhà văn, nhà báo, nhà biên kịch, dịch giả Vũ Thư Hiên, năm nay 88 tuổi và đang sống ở Pháp.

Vũ Thư Hiên - người giã từ thiên đường ảo ảnh

Đỗ Trường

Khi nhát dao chém ngang hình đất nước, thì văn học Việt cũng chẻ đôi dòng chảy. Bắc Nam như hai thái cực đối nghịch nhau về cả tư tưởng lẫn bút pháp. Sau Nhân văn Giai phẩm, trên đất Bắc lại một cuộc nồi da xáo thịt nữa xảy ra với cái tên gọi mơ hồ: “nhóm xét lại chống Đảng”. Cơn sóng ngầm ấy cuốn đi nhiều công thần của chế độ, cả những nhà báo, văn nhân. Nhà văn Vũ Thư Hiên và cha mình, cụ Vũ Đình Huỳnh, Bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nằm trong số đó.

Chín năm dài đằng đẵng trong lao tù, cứ tưởng Vũ Thư Hiên đã đoạn tuyệt với văn thơ. Nhưng kỳ lạ thay, chính những năm tháng quằn quại đớn đau ấy là chất liệu, nguồn thực phẩm nuôi dưỡng, thôi thúc tâm hồn, để Vũ Thư Hiên viết nên những tác phẩm tuyệt vời, với bút pháp hiện thực nhân đạo đặc trưng đến vậy. Có thể nói những tác phẩm ấy không chỉ được viết bằng tài năng, trí tuệ mà còn thấm đẫm cả máu và nước mắt của nhà văn.

Vũ Thư Hiên người gốc Nam Định, sinh năm 1933 tại Hà Nội, trong một gia đình cha mẹ đều là thành viên của Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, tiền thân Ðảng Cộng sản Ðông Dương. Họ từng là đồng chí, bạn bè thân thiết, hầu hết của các lãnh tụ Đảng cộng sản, và đã giúp đỡ, cưu mang họ ngay từ những ngày đầu còn trứng nước. Do vậy, như một dòng chảy tự nhiên, Vũ Thư Hiên sớm đứng vào hàng ngũ của những người kháng chiến. Mười ba tuổi ông đã tham gia đội tuyên truyền xung phong. Rồi trở thành người lính năm mười sáu tuổi. Cùng đó, tài năng văn thơ Vũ Thư Hiên cũng sớm bộc lộ trong thời gian này. Vở kịch đầu tay Lối thoát viết năm hai mươi tuổi (1953) là thẻ thông hành đưa Vũ Thư Hiên nhập vào làng văn nghệ kháng chiến. Vài năm đầu thập niên sáu mươi, sau thời gian tu nghiệp ở Nga Xô, Vũ Thư Hiên được độc giả biết đến nhiều hơn, từ bản dịch Bông hồng vàng, là tập truyện ngắn của nhà văn Paustovsky. Nhưng chỉ đến khi truyện ngắn Đêm mất ngủ, và kịch bản phim Đêm cuối cùng, ngày đầu tiên bị Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh gán cho cái tội bất mãn chế độ, không có lập trường giai cấp, nhân đạo chung chung, cùng tập truyện Đêm mùa xuân (Nhà xuất bản Lao động 1963) bị thu hồi, thì Vũ Thư Hiên mới được người đọc biết đến.

Năm 1976 ra tù, sau thời gian văn nghệ được “cởi trói”, ông tiếp tục dịch sách, viết kịch bản phim, sân khấu. Tuy nhiên, xét về nội dung nghệ thuật, Miền thơ ấu, Đêm giữa ban ngày và tập truyện ngắn được viết gần đây mới là những tác phẩm văn học đặc sắc, đóng đinh tên tuổi Vũ Thư Hiên vào lòng người.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn