Hiển thị các bài đăng có nhãn Công hàm Phạm Văn Đồng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Công hàm Phạm Văn Đồng. Hiển thị tất cả bài đăng

Về Công hàm Phạm Văn Đồng - Tàu Cộng bị ông Đồng lừa

Nguyễn Tường Thụy

Công điện Phạm văn Đồng ký và gửi ngày 14/9/1958 cho Thủ  Tướng Trung Quốc Chu Ân Lai
Công điện Phạm văn Đồng ký và gửi ngày 14/9/1958 cho Thủ Tướng Trung Quốc Chu Ân Lai . Files photos RFA

Chỉ đến khi quan hệ Việt - Trung bị đẩy lên tới mức căng thẳng nhất vào cuối 1978, đầu 1979 thì vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mới được phía VN đặt ra một cách ráo riết.

VN đưa ra được nhiều bằng chứng, đặc biệt là bằng chứng lịch sử như: VN đã thực hiện chủ quyền trên thực tế trong nhiều thế kỷ, các văn bản, bản đồ cổ thể hiện chủ quyền, các dấu tích thực hiện chủ quyền trên các đảo. Trong khi đó, Trung cộng chẳng có bằng chứng nào ngoài công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 (gọi tắt là công hàm Phạm Văn Đồng). Công hàm này, TC coi như báu vật, giữ khư khư, ướp hóa chất bảo quản cẩn thận có lẽ giữ được vài vạn năm. Mỗi khi bí, họ lại lôi ra để khẳng định chủ quyền của mình.

Hôm 17/4 vừa rồi, trong công hàm gửi Liên Hợp Quốc, TC lại thò công hàm PVĐ ra, không biết đây là lần thứ bao nhiêu. Người quan tâm lại giở ra đọc lại xem sao. Thì ra đó chỉ là mảnh giấy chẳng có giá trị gì về việc khẳng định chủ quyền hai quần đảo. Nhưng tại sao TC lại coi như bảo bối để khẳng định chủ quyền của mình đối với các đảo ở Biển Đông? Hóa ra, Tàu cộng bị ông Phạm Văn Đồng... lừa. Không chỉ một mà còn bị lừa mấy lớp kia, cho nên có gỡ được lớp này, lại vướng vào lớp khác. Thế ông Đồng mới “tài”.

Đầu tiên là lớp lừa thứ nhất: Ông Đồng viết: “Chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, quyết định về hải phận của Trung quốc”.

Về Công hàm Phạm Văn Đồng - Trong chiến tranh 54-75, có một hay hai Quốc gia trên hai miền Bắc, Nam?

Dương Danh Huy (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Các tuyên bố và ấn phẩm của VNDCCH [tán thành Tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc 1958] không có hiệu quả pháp lý có tính quyết định.

Không có chứng cớ rằng những hành động của Trung Quốc như đánh chiếm Hoàng Sa, hay viện trợ cho VNDCCH là vì dựa vào các tuyên bố của VNDCCH. Không những thế, vì VNDCCH không phải là Quốc gia thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, những tuyên bố của VNDCCH không có thẩm quyền để Trung Quốc có thể dựa vào.

Nếu VNDCCH có tuyên bố tự giới hạn quyền tự do hành động của mình, thí dụ như tuyên bố “tán thành” và “tôn trọng” về những gì trong tuyên bố 1958 của Trung Quốc về đường cơ sở và lãnh hải, thì cần phải giải thích những tuyên bố đó một cách có giới hạn. Có thể dùng nguyên tắc “giải thích những tuyên bố đó một cách có giới hạn” để ủng hộ lập luận cho rằng chủ ý của Công hàm Phạm Văn Đồng không phải là để công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc.

Những tuyên bố hay ấn phẩm của VNDCCH không phải là để trả lời Trung Quốc trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa giữa VNDCCH và Trung Quốc, cho nên không thể cho rằng chúng có tính ràng buộc.

Phần I

Mục đích của bài viết này là tổng hợp một số khả năng và lập luận khác nhau lại thành một bản đồ lý lẽ. Bản đồ đó còn nhiều thiếu sót vì còn nhiều vấn đề cần được các nhà luật học Việt Nam làm sáng tỏ.

Tàu chiến Pháp "Ile de France" cập bến tại cảng Vũng Tàu ("Cape Saint Jacques") hôm 11-2-1947.
Tàu chiến Pháp "Ile de France" cập bến tại cảng Vũng Tàu ("Cape Saint Jacques") hôm 11-2-1947. AFP PHOTO

Những gì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước 30/4/1975 (VNDCCH) đã nói hoặc không nói liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa đã để lại một vũ khí tuyên truyền mà Trung Quốc đã, đang và sẽ tiếp tục khai thác trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo này với Việt Nam.

Thực tế là VNDCCH đã không hề tuyên bố rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của mình, hoặc là của Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Nổi bật nhất là VNDCCH đã không có lời bảo lưu về hai quần đảo này trong Công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai ngày 14/9/1958.

Ngoài ra, phía Trung Quốc còn cho rằng tồn tại những sự kiện sau:

●     Ngày 15/6/1956, Thứ trưởng  Ngoại giao VNDCCH Ung Văn Khiêm đã nói với thường vụ viên của Sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa từng nêu ra biên bản của buổi họp họ cho rằng trong đó Ung Văn Khiêm đã nói điều trên.

●     Sách giáo khoa và bản đồ và báo Nhân dân dưới thời VNDCCH đã thể hiện quan điểm Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc.

Dễ có thể thấy được tại sao những điều trên là vũ khí tuyên truyền lợi hại cho Trung Quốc, nhưng theo pháp lý quốc tế thì không có nghĩa chúng làm cho nước Việt Nam thống nhất mất chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa vào tay Trung Quốc.

Chúng ta có lập luận mạnh mẽ để cho rằng trước khi Việt Nam chia đôi, Hoàng Sa là của Việt Nam, và Pháp đã tuyên bố chủ quyền đối với Trường Sa một cách hợp pháp và sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa của Nam Kỳ.

Tướng Jean de Lattre de Tassigny (phải) và Vua Bảo Đại thăm Ban Mê Thuộc vào tháng 5-1950. AFP PHOTO.
Tướng Jean de Lattre de Tassigny (phải) và Vua Bảo Đại thăm Ban Mê Thuột vào tháng 5-1950. AFP PHOTO. Photo: RFA

Tuy vậy, giai đoạn Việt Nam chia đôi đã để lại một số nghi vấn cho danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam. Vì VNCH và VNDCCH đã có những hành vi rất khác nhau liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa, trả lời cho một số câu hỏi về tính quốc gia và thẩm quyền của VNDCCH và VNCH trong giai đoạn này có nhiều ảnh hưởng đến lập luận của Việt Nam.

Mục đích của bài viết này là tổng hợp một số khả năng và lập luận khác nhau lại thành một bản đồ lý lẽ. Bản đồ đó còn nhiều thiếu sót vì còn nhiều vấn đề cần được các nhà luật học Việt Nam làm sáng tỏ, nhưng hy vọng rằng nó sẽ đóng góp cho thảo luận và khuyến khích việc nghiên cứu. Người đọc có thể tự xét xem quan điểm của mình nằm đâu trên bản đồ đó, hay nằm ở điểm chưa có trên bản đồ, có thể tự bác bỏ một số điểm trên bản đồ, và có thể tự xét xem cần thêm gì để củng cố lập luận cho quan điểm của mình. Với mục đích đó, bài này sẽ xét những trường hợp sau cho giai đoạn chiến tranh 1954-1975.

Ký hiệu và trường hợp:

2-B: Có 2 Quốc gia, và Quốc gia ở miền Bắc (VNDCCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa từ nước Việt Nam trước khi chia đôi.

2-N: Có 2 Quốc gia, và Quốc gia ở miền Nam (VNCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa từ nước Việt Nam trước khi chia đôi. Trường hợp này bao gồm hai tiểu trường hợp 2-N-K và 2-N-R dưới đây.

2-N-K: Có 2 Quốc gia, Quốc gia ở miền Nam (VNCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, và VNDCCH đã không gây ra cho bản thân mình sự ràng buộc không tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc

2-N-R: Có 2 Quốc gia, Quốc gia ở miền Nam (VNCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng VNDCCH đã gây ra cho bản thân mình một sự ràng buộc không tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc.

1-B: Có 1 Quốc gia, và Chính phủ miền Bắc là đại diện cho Quốc gia đó trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975.

1-N: Có 1 Quốc gia, và Chính phủ miền Nam là đại diện cho Quốc gia đó trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975.

1-X: Có 1 Quốc gia, và trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 không có chính phủ nào riêng biệt có thể thay đổi về danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa.

Khi viết bài này, một số nhà luật học có nhiều uy tín của Việt Nam đã giúp tác giả một số tư liệu, thông tin, nhiều hướng dẫn quý báu về pháp lý quốc tế, và nhiều thảo luận về lập luận. Tác giả cảm ơn các nhà luật học này. Tất cả những sai sót về kiến thức, phương pháp lập luận, quan điểm, là của tác giả.

Trong giai đoạn Việt Nam chia đôi

Một số sự kiện liên quan đến giai đoạn này là:

•    Ngày 2/9/1945 chính quyền Việt Minh tuyên bố sự ra đời của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

•    Ngày 5/6/1948 Pháp ký hiệp ước Vịnh Hạ Long công nhận một chính thể dưới chính quyền Bảo Đại với tên Quốc gia Việt Nam.

•    Ngày 20/7/1954 Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Genève tạm thời chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự.

•    Ngày 26/10/1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập chính thể Việt Nam Cộng hòa.

•    Năm 1969 chính thể Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập với chính quyền là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

•    Ngày 30/4/1975 chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể.

•    Ngày 25/4/1976 Việt Nam bầu cử Quốc hội cho nước Việt Nam thống nhất.

•    Ngày 2/7/1976 chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam sáp nhập với nhau thành chính quyền của nước Việt Nam thống nhất với tên Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Một hay hai Quốc gia?

Lữ đoàn Nhảy dù đặc nhiệm từ phi cơ C-123 trong đợt tấn công Phi Hoa II tháng 3-1963 tại Tây Ninh, miền Nam Việt Nam. AFP PHOTO/NATIONAL ARCHIVES.
Lữ đoàn Nhảy dù đặc nhiệm từ phi cơ C-123 trong đợt tấn công Phi Hoa II tháng 3-1963 tại Tây Ninh, miền Nam Việt Nam. AFP PHOTO/NATIONAL ARCHIVES. Photo: RFA

Câu hỏi trước tiên cho giai đoạn này là câu hỏi: VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia độc lập hay là hai vùng lãnh thổ của một Quốc gia trong tình trạng nội chiến?

Theo luật quốc tế, để là một Quốc gia (State), cần có (i) lãnh thổ, (ii) nhân dân, (iii) chính phủ, và (iv) khả năng có quan hệ với các chính phủ khác.

Một số nhà luật học có nhiều uy tín của Việt Nam cho rằng ý kiến của các luật gia quốc tế nổi tiếng nhất, thí dụ như James Crawford, Robert Jennings, Nguyễn Quốc Định, Jules Basdevant, Paul Reuter, Louis Henkin, Grigory Tunkin, cho rằng VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia khác biệt.

Trong quyển The Creation of States in International Law, GS James Crawford lập luận như sau để cho rằng VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia.

●      Sự ra đời của VNDCCH vào năm 1945 không có gì bất hợp pháp và VNDCCH có thể cho rằng mình là đại diện cho toàn Việt Nam (Lưu ý với luận điểm này GS Crawford không khẳng định VNDCCH là một Quốc gia vào năm 1945). Sau khi Pháp “công nhận sự độc lập” của Quốc gia Việt Nam (QGVN) trong Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948, với điều kiện QGVN phải nằm trong Liên hiệp Pháp, VNDCCH và QGVN cũng vẫn chưa là hai Quốc gia, vì VNDCCH thì chưa kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ, còn QGVN thì chưa thật sự độc lập.

●      Việc Hiệp định Genève 1954 thiết lập hai vùng tập kết quân sự phải được xem như sự thiết lập hai Quốc gia. Trên phương diện luật pháp cũng như trên thực tế, lãnh thổ của mỗi Quốc gia trên không phải là toàn bộ Việt Nam (Với luận điểm này, GS Crawford cho rằng ranh giới trong Hiệp định Genève đã trở thành biên giới giữa hai Quốc gia, có nghĩa VNDCCH và QGVN (cũng như VNCH, là  thể chế tiếp nối QGVN) đáp ứng được các điều kiện về (i) lãnh thổ và (ii) nhân dân).

●      Trong Hiệp đinh Paris 1973, VNCH và VNDCCH được xem như hai thể chế trong việc sử dụng quân sự, tự khẳng định, đối nội và đối ngoại. Những thể chế như thế là những Quốc gia (Với luận điểm này, GS Crawford cho rằng Hiệp đinh Paris 1973  có nghĩa VNDCCH và VNCH đáp ứng được các điều kiện (iii) chính phủ và (iv) khả năng có quan hệ với các chính phủ khác, và vì vậy nó công nhận VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia).

Chắc chắn là VNDCCH và VNCH đều có thể đáp ứng được các điều kiện (iii) chính phủ và (iv) khả năng có quan hệ với các chính phủ khác, nhưng còn hai điều kiện (i) lãnh thổ và (ii) nhân dân thì sao?

Theo ý kiến của tác giả, mặc dù thực tế về sự kiểm soát và ngoại giao ủng hộ quan điểm tồn tại hai Quốc gia với lãnh thổ và nhân dân được giới hạn bởi vĩ tuyến 17, để trả lời câu hỏi về có một hay hai Quốc gia, intention cũng là một khía cạnh cần được xét đến song song với thực tế. Intention của VNCH và VNDCCH là gì? Có phải là mình là Quốc gia với lãnh thổ và nhân dân được giới hạn bởi vĩ tuyến 17 hay không?

Thủy quân lục chiến, Tiểu đoàn 2, di chuyển dọc theo bờ đê truy lùng Việt Cộng, 10 - 12 - 1965. AFP PHOTO.
Thủy quân lục chiến, Tiểu đoàn 2, di chuyển dọc theo bờ đê truy lùng Việt Cộng, 10 - 12 - 1965. AFP PHOTO. Photo: RFA

Hiến pháp đầu tiên của VNDCCH ra đời năm 1946. Đương nhiên lúc đó VNDCCH cho rằng lãnh thổ của mình bao gồm Bắc, Trung, Nam. Điều 2 Hiến pháp VNDCCH 1946 ghi, “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”. Lời nói đầu của Hiến pháp 1959 của VNDCCH ghi, “Nước Việt Nam ta là một nước thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau”, và điều 1 ghi, “Đất nước Việt Nam là một khối Bắc Nam thống nhất không thể chia cắt”.

Việc từ “thống nhất” và các cụm từ “không thể phân chia” và “không thể chia cắt” được dùng cho một thực thể địa lý, ở đây là “Đất nước Việt Nam” từ Bắc đến Nam, có vẻ như là sự khẳng định không thể chia thực thể địa lý đó thành hay cho hai Quốc gia. Như vậy, dường như các Hiến pháp của VNDCCH không công nhận việc chia thực thể địa lý bao gồm Bắc, Nam thành hai Quốc gia.

Hiến pháp đầu tiên của VNCH ra đời năm 1956. Lời mở đầu viết “Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan”. Điều 1 Hiến pháp VNCH 1956 ghi, “Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân”. Điều 1 Hiến pháp VNCH 1967 lặp lại điều 1 của Hiến pháp VNCH 1956. Câu hỏi là “Việt Nam” trong điều 1 Hiến pháp VNCH 1956 là từ Cà Mau đến vĩ tuyến 17 hay đến Ải Nam Quan? Nếu là đến Ải Nam Quan thì dường như “Thống nhất” và “bất khả phân” trong hiến pháp VNCH cũng có nghĩa không công nhận việc chia thực thể địa lý bao gồm Bắc, Nam thành hai Quốc gia.

Về Công hàm Phạm Văn Đồng - LUẬT QUỐC TẾ: ĐEM ĐẠI NGHĨA THẮNG HUNG TÀN, BẢO VỆ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

Tạ Văn Tài Ph.D., Luật sư, nguyên Giảng viên Đại học Luật Harvard, Hoa Kỳ.

... một bản tuyên bố đơn phương (unilateral declaration) như Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có hiệu lực pháp lý về mặt quốc tế. Trong luật quốc tế, không thể cố áp dụng lý thuyết "Estoppel", tức là lý thuyết trong luật pháp quốc nội của một số quốc gia có quy định là “Đã nói ra thì không nói ngược lại được”, vì lý thuyết này không áp dụng trong luật quốc tế theo cùng các điều kiện như trong luật quốc nội, vì có những điều kiện ngặt nghèo, và do đó không thể coi lời nói đơn phương có hiệu lực ràng buộc đương nhiên trong luật quốc tế.

Tòa án quốc tế trong một vụ xử giữa Đức và Đan Mạch/Hà Lan về thềm lục địa đã nói như vậy. Ngoài ra, theo một án lệ khác, khi xét ý nghĩa của lời tuyên bố đơn phương, Tòa án quốc tế phải xét một cách chặt chẽ "ý định" của người tuyên bố. Theo án lệ "Nuclear Tests Case Australia & New Zealand v. France 1974 I.C.J 253", thì "khi các quốc gia đưa ra lời tuyên bố hạn chế tự do hành động của mình, thì phải giải thích hạn hẹp”. Tòa án cũng nói là: “Chỉ cần xét một vấn đề quan trọng là xem lời văn trong lời tuyên bố có biểu lộ một ý định rõ rệt không… Tòa án phải tự có quan điểm riêng về ý nghĩa và phạm vi mà tác giả lời tuyên bố đơn phương nào có thể tạo ra một nghĩa vụ pháp lý, và Tòa không thể bị ảnh hưởng gì bởi quan điểm của một quốc gia khác.”

Theo tiêu chuẩn trong án lệ trên mà xét, thì ý định của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công thư 1958 phải được xét trong khuôn khổ quyền hạn Thủ tướng chiếu theo Hiến pháp 1946. Theo đó Chính phủ gồm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch và nội các (điều 44). Trong nội các đó, có Thủ tướng (điều 44), và Chủ tịch nước mới là người thay mặt cho nước (điều 49 đoạn a) mà ký hiệp ước với nước khác (điều 49 đoạn H) ràng buộc Việt Nam về những việc quan trọng, thí dụ chủ quyền đất đai như việc nhượng đất; kèm theo quyết định chuẩn y hiệp ước bởi Nghị viện là cơ quan quyền lực cao nhất, thì mới có quyền về nhượng đất (điều 22 và 23).

Còn Thủ tướng không thể vượt quá quyền, theo học lý luật pháp "ultra vires" (vượt quá quyền hạn), và Công thư của cố Thủ tưởng Phạm Văn Đồng, trong ngôn ngữ dùng, chỉ có ý định ủng hộ ngoại giao cho Trung Quốc về một điểm là 12 hải lý hải phận mà Trung Quốc đang lo lắng tuyên bố để chống sự đe dọa lúc đó của Mỹ từ hai đảo Kim Môn và Mã Tổ do quân đội Đài Loan chiếm giữ với sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ và đe dọa lớn hơn của Mỹ từ eo biển Đài Loan với Hạm đội 7.

Hơn nữa, ý định của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không thể được giải thích là liên quan đến nhượng đất, vì Trung Quốc yêu sách về tất cả các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó nhiều đảo thuộc quyền chiếm hữu của một số quốc gia Đông Nam Á, mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không là đại diện để nói về chuyện nhượng đất. Trung Quốc cũng không thể mang lời của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra để đối kháng với các quốc gia Đông Nam Á khác được. Theo án lệ "Nuclear Tests" nói trên, Toà án quốc tế không cần nghe giải thích chủ quan, thủ lợi theo ý mình của Trung Quốc.

Vào thời đại xa xưa, mà Đại Việt còn là tiểu quốc đơn độc tại Đông Nam Á trước đại cường phía Bắc, sức mạnh quân sự thiên hẳn về cường quốc phuơng Bắc, nhưng tinh thần dân tộc kiên cường đã chiến thắng bọn xâm lược: vua quan và nhân dân Nhà Trần đã đại thắng, đẩy lui nhiều cuộc tấn công của quân Nguyên, và Lê Thái Tổ và các sĩ phu giỏi như Nguyễn Trãi cùng quân sĩ đã trường kỳ kháng chiến chống quân Minh, kết thúc bằng tuyên ngôn độc lập vang dậy Bình Ngô đại cáo, “ĐEM ĐẠI NGHĨA ĐỂ THẮNG HUNG TÀN, LẤY CHÍ NHÂN MÀ THAY CƯỜNG BẠO”.

VIỆT NAM CẦN SỬ DỤNG TỐI ĐA CHÍNH NGHĨA LUẬT QUỐC TẾ ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN VỀ BIỂN ĐẢO TẠI BIỂN ĐÔNG, Y NHƯ TUYÊN NGÔN BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO: Áp dụng gương sáng và bài học lịch sử đó cho sự bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay chống tham vọng Đại Hán của Trung quốc – tức là nếu vận dụng sức mạnh chính nghĩa của luật pháp quốc tế và do đó, sẽ có thêm sự ủng hộ ngọai giao của thế giới, thì Việt Nam ngày nay, đang có nhiều cường quốc bạn trong nền ngọại giao đa phương và Việt Nam cũng từng là nước hộị viên và Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, lại được tuyệt đại đa số nhân dân trong nước và hải ngoại ủng hộ việc cương nghị với Đại Hán để bảo vệ chủ quyền Biển Đảo – thì chắc Việt Nam không thể bị thua thiệt, bị Trung Quốc lấn át được, cho dù Trung Quốc, những năm gần đây, cứ thỉnh thoảng lại có hành vi hung hãn như đâm vỡ ngư thuyền của dân chài Việt Nam, bắt giam họ mà đòi tiền chuộc, đem hạm đội tàu cá và hải giám của họ ào ạt vào Biển Đông, đem giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam.

Lãnh đạo cao cấp có thể dùng ngôn ngữ ngoại giao, lịch sự để cố duy trì hòa bình hữu nghị, nhưng phải để cho các nhân viên ngoại giao cấp dưới và cố vấn luật pháp dùng những lý luận cương nghị nhất trong cuộc đấu tranh pháp luật, mà trên diễn đàn quốc tế bây giờ thường gọi là lawfare, như là khí giới quan trọng ngang hàng với chuẩn bị warfare / chiến tranh, nếu cần. Vì nếu có căn bản pháp luật vững chắc cho lập trường của mình, thì một quốc gia mới có thể tìm được các sự ủng hộ về mặt chính trị-ngoại giao của các nước bạn, tức là có nhiều sức mạnh mềm (soft power) để củng cố vị thế của mình, trước khi phải bất đắc dĩ dùng đến sức mạnh quân sự trong việc tự vệ đơn phương hay tập thể (defensive warfare, collective defense), theo đúng Hiến chương Liên Hiệp Quốc, đúng theo nguyên tắc exhaustion of peaceful remedies (Tận dụng các biện pháp hòa bình).

Xin đề nghị một chương trình hành động để Việt Nam bảo vệ chủ quyền đất đai hay là lãnh thổ (sovereignty on territories) của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, sau khi có biến cố quan trọng là Phán quyết ngày 12 thang 7, năm 2016 của Tòa án Trọng tài Luật Biển trong vụ Phi Luật Tân kiện Trung Quốc, tuy bản án phần lớn là đưa ra các kết luận về vùng biển (maritime areas), hơn là về điểm nước nào làm chủ vùng đất đai nào (sovereignty over territories, tức đảo, đá).

Trong những năm trước khi có bản án ngày 12 thang 7, 2016 của Toà án Trọng tài Luật Biển trong vụ Phi kiện Trung Quốc, thì chúng tôi đã có những nỗ lực giúp cho quyền và lợi ích của Việt Nam trong những bài viết và phát biểu cho các hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Việt Nam, ở Quảng Ngãi 2013, ở Đà Nẵng 2014 (dịp Trung Quốc đem giàn khoan vô vùng biển Việt Nam), ở Nha Trang 2016, ở Harvard University nhiều lần, ở University of California, Berkeley 2014 và ở Yale University ( hội thảo này, ngày 6 tháng Năm, 2016), và chúng tôi cũng có các dịp trả lời cho phỏng vấn tại Vô tuyến Truyền hình Việt Nam VTV4 hay Báo Quân đội Nhân dân hay Sài Gòn Kinh tế Thời báo trong các dịp các hội thảo trên, hay trả lời phỏng vấn trên Radio Free Asia, Radio France Internationale, Voice of America. Ngoài ra, có hai lần hội thảo quốc tế về phân định biên giới vùng biển và kỹ thuật khoan dầu biển khơi tại Houston, năm 2010 và 2012, trong đó chúng tôi không đóng góp bài tham luận, nhưng có đứng lên chất vấn đại diện Sở Đại dương Trung Quốc và Công ty China National Offshore Oil Corporation về những phát biểu sai pháp luật quốc tế của họ.

Trong các dịp dự các hội thảo quốc tế hay trả lời phỏng vấn trên, chúng tôi đã cố gắng trình bày chi tiết, ít hay nhiều tuỳ dịp, là Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại phần lớn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (không phải là trên tất cả các đá, bãi ngầm) và các quyền chủ quyền (sovereign rights, về tài nguyên) đi liền với các vùng biển chung quanh chúng, mà luật quốc tế dành cho Việt Nam, thì được xây trên các căn bản chắc chắn của các chứng cớ sự kiện lịch sử và các nguyên tắc của quốc tế công pháp truyền thống và của luật quốc tế mới trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea, UNCLOS).

Ngoài các lời biện hộ cho Việt Nam dựa trên căn bản các sự kiện lịch sử và các luận cứ pháp luật, chúng tôi có nhắc đến một sự kiện được một Luật sư lãnh đạo Đoàn Luật sư của Phi Luật Tân tại Toà Luật Biển là ông Francis Jardeleza, trong hai lần ổng đến Harvard thuyết trình, có nói lại với tôi là Chính phủ Phi Luật Tân, năm 2014, có rủ Việt Nam, và Malaysia nữa, cùng nạp đơn kiện Trung Quốc, sau khi Phi đã nghĩ kỹ về giải pháp thương nghị để giảm thiểu sự lấn lướt trong 17 năm của Trung Quốc, mà Phi cố gắng mãi không xong, nhưng Việt Nam rút cục chỉ nạp một bài ý kiến dự sự để yêu cầu Tòa để ý đến quyền lợi của Việt Nam. Rút cục thì Phi Luật Tân đã thắng vẻ vang tại Toà Luật Biển năm 2016 mà Việt Nam thì hụt mất một cơ hội để có một bản án về quyền lợi của mình trong đó mình đã tham gia với tư cách nguyên đơn. Còn nếu chỉ có một văn thư xin Toà để ý cho mình, thì Việt Nam không có một bản án thắng Trung Quốc mà từ đó trở đi có thể dán lên ngực đại diện Trung Quốc mỗi khi phải đương đầu với họ, với luật pháp quốc tế do Tòa phán quyết, như một khí giới đại nghĩa thắng được sự hung tàn. Luận cứ luật pháp là sức mạnh của kẻ yếu về quân sự, cần vận dụng tối đa, ngoài sự vận dụng ngọai giao và ủng hộ của các cường quốc mạnh về quân sự. Chính cái thành ngữ tiếng Việt “đinh đóng cột” mà tôi đã nói trên radio trong câu “quyền lợi trong Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm Lục địa của các nước cận duyên như Việt Nam đã được luật quốc tế minh định chắc chắn như 'đinh đóng cột' ”, đã được một ông Trung Quốc trong Đài Á Châu Tự do nhắc lại và nói là nghe tôi nói trong Đài Á Châu Tự do và muốn hỏi lại tôi điều này, điều kia về quan điểm và quyền lợi Việt Nam.

Vì những trải nghiệm trên, chúng tôi càng có xác tín là cần phải xây dựng trên cái đà chiến thắng của luật pháp quốc tế, tượng trưng bởi Bản án 2016 của Toà Trọng tài trong vụ Phi kiện Trung Quốc, mà suy ra Việt Nam có thể dựa trên bản án đó mà củng cố thêm quyền lợi và thế đứng chính nghĩa của mình ra sao.

Không thể có chỗ ở đây để nhắc lại tất cả các chi tiết về các luận cứ pháp lý, về chủ quyền đất đai (sovereignty over land features) và quyền chủ quyền trong các vùng biển (sovereign rights in the maritime zones , EEZ và Continental Shelf), mà chúng tôi đã đưa ra trong các bài tham luận đóng góp cho các Hội thảo Quốc tế suốt từ 2010 cho đến 2017. Vi thế ở thời điểm 2018-2019 này, chỉ xin đề nghị là chỉ xây đắp luận cứ pháp lý cho Việt Nam dựa trên biến cố trọng đại gần đây mà thôi, tức là Bản án Tòa Trọng tài 2016 trong vụ kiện Phi chống Trung Quốc.

Xin suy ra các hệ luận từ bản án đó trong vụ Phi kiện Trung Quốc cho vấn đề chủ quyền đất đai của Việt Nam.

Đây là làm một việc mà đạo đức nghề nghiệp luật sư (code of professional ethics) khuyến khích như một sứ mạng: cố kéo dài luật pháp (extension of the law) để nhấn đến mức tối đa lợi ích của người hay quốc gia mình biện hộ. Ngay cả nước ưa dọa dùng võ lực và cũng đã dùng võ lực là Trung Quốc cũng phải đồng ý, dù là đồng ý miễn cưỡng, với các nước Đông Nam Á là nên biến các quy tắc ứng xử nhiệm ý ở Biển Đông (Declaration of Conduct) thành một Bộ luật Ứng xử (Code of Conduct), với giá trị cưỡng hành để có chính nghĩa của luật pháp có hiệu lực bó buộc.

Bản án Trọng tài về việc Phi kiện Trung Quốc ngày 12 tháng 7, 2016 của Tòa án Trọng tài Thường trực (Permanent Court of Arbitration) là một bản án tuyên phán về ý nghĩa luật pháp và không có hiệu lực cưỡng hành về mặt buộc một quốc gia phải hành động gì đó, nhưng bản án không kháng cáo được mà là chung quyết và bó buộc các phe đương tụng về mặt thẩm quyền xét xử ( compulsory jurisdiction) – dù Trung Quốc lờ Tòa án đi, mà chỉ làm một bài viết bên ngoài Toà án, không xuất hiện mà nạp Tòa. Nó là một chiến thắng vẻ vang của Phi, mà các quốc gia có tình trạng tương tự như Phi được hưởng lợi về sự giải thích luật của bản án, và là một sự thất bại ê chề của Trung Quốc trong tham vọng quá đáng xác nhận bừa chủ quyền trên một khoảng đại dương quá lớn trong Biển Nam Hải (South China Sea), gọi là Vùng Đường 9 đọạn hay Đường Lưỡi bò. Khi Toà bàn về các vấn đề dưới ánh sáng của Công ước Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea –UNCLOS) năm 1982, Bản án của Tòa không xét đến các lời yêu sách, xác nhận chủ quyền về đất đai (territorial sovereignty) về đá (rocks ) và đảo (islands) có trong Hoàng Sa và Trường Sa, vì chuyện chủ quyến đất đai thuộc lãnh vực của Luât Quốc tế Truyền thống hay Tập tục (Traditional or Customary International Law) đã có từ 4 thế kỷ. Nhưng Bản án có ảnh hưởng gián tiếp tới việc định nghĩa đặc tính của các mỏm đất (land features) đó.

Vì thế, sau đây sẽ xin trình bày ảnh hưỡng của Bản án đối với quyền lợi của Việt Nam trong Biển Nam Hải, về các mỏm đất trong Hoàng Sa và Trường Sa.

I. TÓM LƯỢC NỘI DUNG BẢN ÁN TRỌNG TÀI, MÀ PHẦN LỚN NÓI VỀ VÙNG BIỂN.

Bản án ban cho Phi một chiến thắng pháp lý rõ rệt, dựa trên các quy tắc luật về vùng biển (maritime zones) trong UNCLOS: Trung Quốc không thể dùng Đường Chữ U (Lưỡi bò) mà đòi chủ quyền lịch sử trên 80% diện tích Nam Hải, phải từ bỏ sự quấy phá như đã làm, mà phải tôn trọng quyền chủ quyền (sovereign rights) chuyên độc của Phi Luật Tân về tài nguyên cá, dầu khí, khoáng sản trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (Exclusive Economic Zone) vả Thềm Lục địa (Continental Shelf) của Phi, và không được làm hại tới mức vô phương cứu chữa, như đã làm, gây ra cho sự toan vẹn của môi sinh đại dương. Các điểm thắng lợi pháp lý này của Phi cũng có lợi cho các quốc gia cận duyên khác, như Việt Nam, mà họ không phải nạp đơn trong một vụ kiện mới nào, vì giải thích của Toà là áp dụng cho mọi quốc gia trong UNCLOS.

Chúng tôi đã viết bài nhận định về Bản án Tòa Trọng tài cho Hội thảo tại Nha Trang vào ngày 17 tháng 8, 2016 - hội thảo năm 2016 này là nỗ lực của Việt Nam tiếp tục đẩy tiến thêm các kết quả của các hội thảo tại Quảng Ngãi năm 2013 và Đà Nẵng năm 2014.

Vì thế trước hết, xin ghi lại vài đọạn của các tham luận cho hai hội thảo trước 2013 và 2014, để cùng thấy rõ là may thay, các kết luận hay quan điểm đưa ra trong các bài tham luận 2013 và 2014 đó, đã được tuyên nhận trong Bản án Trọng tài năm 2016 về vụ Phi kiện Trung Quốc:

'China cannot show any international law basis for this ridiculous claim [on maritimes zones in the U-Line] and has been self-contradictory at international conferences when providing various vague rationales for this claim: “historical circumference”or “adjacent waters”. But such sweeping and unfounded claims are clearly in violation of the other Southeast Asian coastal states' claims on their own territorial seas of 12 miles, their exclusive economic zones and their continental shelves of 200 miles width measuring from the base line. In these maritime zones, the coastal states are protected in the exercise of their exclusive sovereign rights under the 1982 UN Convention on the Law of the Sea (UNCLOS), articles 56,57,76,and 77. These sovereign rights over natural resources are exclusive to the coastal states, which they can enjoy without being required to proclaim a claim to them, and they may construct artificial structures on rocks, whether submerged or not, into artificial islands, and carry out sea research, regulate protection of environment, provided that they respect the rights of other states to freedom of navigation or to laying of oil pipelines or cables. Other states than the coastal states cannot exploit natural resources in the EEZ and Continental Shelf of the coastal states without their explicit consent. UNCLOS has reserved these exclusive rights to coastal states as firmly as 'nail hit into a wooden pole' (as we say in the Vietnamese proverb: “chắc như đinh đóng cột”). The U-shaped line, which claims vast ocean areas for China, is unsupported by UNCLOS (article 89 says “No State may validly purport to subject any part of the high sea to its sovereignty”)'.

“Trung Quốc không đưa ra được căn bản luật quốc tế nào cho sự nhận vơ này [về Đường 9 đọan chữ U], mà còn mơ hồ hay mâu thuẫn trong lúc biện giải tại các hội nghị quốc tế, khi thì nói đến “vòng cung lịch sử” (historical circumference), khi thì nói đến các “vùng biển lân cận” (adjacent waters) tính từ các đảo/đá của Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng các yêu sách quá đáng và vô căn cứ này trái với quyền của các quốc gia cận duyên Đông Nam Á (quanh Biển Đông) trong vùng lãnh hải (territorial sea) 12 hải lý và trong vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ) cũng như ở thềm lục địa (Continental Shelf, CS) tính từ đường cơ sở ra 200 hải lý. Các quyền chủ quyền về tài nguyên, tài nguyên sinh vật như cá sống trong vùng nước 200 hải lý đó, cũng như tài nguyên vô sinh như dầu khí và khoáng chất dưới đáy biển, là các quyền chuyên độc hay dành riêng (exclusive rights) của các quốc gia cận duyên, mà họ được hưởng mà không cần ra tuyên bố xác lập. (UNCLOS, các điểu 56,57,76,77) Các quốc gia cận duyên có quyền xây các kiến trúc nhân tạo trên các đá, dù nhô trên mặt nước biển hay ngầm, thành các đảo nhân tạo, thi hành nghiên cứu biển, quy định việc bảo vệ môi sinh, miễn là họ tôn trọng các quốc gia khác khi họ sử dụng quyền tự do lưu thông hải hành (freedom of navigation) hay đặt các ống dẫn dầu và cáp ngầm. Các quốc gia khác đó không có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia cận duyên, nếu không có sự ưng thuận minh thị của các nước cận duyên. Thực là UNCLOS dành các quyền chuyên độc cho các nước cận duyên một cách chắc chắn như “đinh đóng cột”. Đường “đường 9 đoạn” yêu sách vùng biển rộng lớn cho Trung Quốc, là hoàn toàn trái với UNCLOS (Điều 89 của UNCLOS nói “yêu sách chủ quyền trên biển cả là vô giá trị”).

Sau sự phản đối của Trung Quốc về thẩm quyền bó buộc của Tòa Trọng tài khi vụ kiện được đệ nạp vào năm 2013 và về sự không công nhận phán quyết chung kết về các vấn đề nội dung vào tháng 7-8, 2016, được nêu ra bởi nhiều cấp bậc Chính quyền Trung quốc, từ Chủ Tịch Tập, đến Ngọai trưởng, và phát ngôn nhân, thì chính ra nước Tàu đã có thái độ trầm lặng đối với bản án (vài học giả còn nói nên công nhận một vài khía cạnh của bản án) và hình như Trung Quốc không sẵn sàng thực thi các đe dọa như xây cất thêm ở Vùng Bãi cạn Scarborough hay các đá ngầm khác, hay lập Vùng Nhận dạng Phòng không ( Air Defense Identification Zone-ADIZ) tại Biển Đông. Hình như Trung Quốc thiên về thương nghị, như chính Đại sứ Trung Quốc ở Mỹ nói, và thiên về đấu tranh pháp lý: không còn nói tới rút lui khỏi UNCLOS, Tòa án Tối cao Trung Quốc đưa ra một quyết nghị chống lại Tòa ở Hague, tức là Trung Quốc thấy cuộc chiến tốt hơn là cuộc đấu pháp lý (lawfare).

Do đó, ta nên chú trọng đến các luận cứ pháp lý trong chương trình sau đây cho Việt Nam, dù ta thấy có thể phải có chiến lược khác nữa là các cường quốc có hải quân mạnh, như Mỹ, có thể giúp củng cố cho cuộc đấu pháp luật với vài sự đe dọa võ lực khả tín nào đó, như đưa hàng không mẫu hạm tới Biển Đông, gần các mẩu đất có tranh chấp.

II. ẢNH HƯỞNG CỦA BẢN ÁN 2016 ĐỐI VỚI VIỆC ĐỊNH NGHĨA TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA CÁC MẨU ĐẤT Ở TRƯỜNG SA VÀ CÓ THỂ CẢ Ở HOÀNG SA.

Bản án ngày 12 tháng 7, 2016 giải thích như sau về đặc tính của các mẩu đất tại Trường Sa: tất cả các mẩu đất đó thì (a) hoặc là đá (rocks) (tức là thực thể nổi trên mặt nước lúc thuỷ triều lên cao, nhưng không phải là đảo theo định nghĩa của UNCLOS, tức là khi ở trong trạng thái thiên nhiên nguyên thuỷ, nó có nước ngọt và động, thực vật cho con người có thể sống trong một nền kinh tế tự chủ), (b) hoặc là các thực thể chỉ thấy nhô lên khi thuỷ triều xuống hoặc là chìm khi nước lên. Đá thì có lãnh hải 12 hải lý bao quanh, nhưng các thực thể chìm hay chỉ thấy lúc nước xuống thì không có lãnh hải đó. Đó là nguyên tắc luật pháp: “đất ngự trị biển”. Chắc hẳn định nghĩa pháp lý này của Tòa án cũng áp dụng cho các đá và đá chìm ở Hoàng Sa. Do đó chúng tôi đề nghị là Việt Nam nên khởi động một vụ kiện tại Tòa Trọng tài, y như vụ Phi Luật Tân, để xác lập tình trạng pháp lý của các thực thể ở Hòang Sa - mà Việt Nam vẫn tuyên nhận chủ quyền, chống sự xâm lược của Trung Quốc đã từ nhiều năm, trên đa số các thực thể đó - đều là đá, chứ không phải là đảo.

Khi Tòa tuyên bố là không thực thể nào ở Trường Sa là có thể cho con người cư ngụ được trong trạng thái thiên nhiên, thì hệ luận là không thực thể nào là đảo theo định nghĩa trong UNCLOS, mà có thể hưởng được vùng kinh tế đặc quyền (Exclusive Economic Zone, EEZ) có bề rộng 200 hải lý.

Lời giải thích, tuyên nhận này của Tòa có hậu quả là bác bỏ giá trị pháp lý, thực ra không có, của luận cứ Trung Quốc vẫn đưa ra để gây tranh chấp: đòì hỏi vô căn cứ pháp lý là có một vùng Thềm Lục địa hay Vùng Kinh tế Đặc quyền rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở của các mỏm đá, mà Trung Quốc tự định nghĩa là đảo.

Trong hai Hội thảo Quốc tế ở Quảng Ngãi, 2013 và Đà Nẵng, 2014, chúng tôi đã đưa ra trong các bài tham luận cái đề nghị giống như tuyên phán năm 2016 của Tòa Trọng tài, để tiến tới một giải pháp trong đó giảm được tranh chấp do yêu sách đòi quá đáng một vùng biển rộng hơn là 12 hải lý của lãnh hải (territorial sea).

[For Paracels] We can ask the Arbitral Tribunal of the Law of the Sea to use the compulsory procedure to interpret and apply UNCLOS,(articles 186,288) and to issue a declaratory judgment to the effect that all land features in Paracels, such as Tri Ton , or even Woody, do not satisfy the conditions for qualification as islands in accordance with article 121 of UNCLOS. Islands must, in their original state of nature, have adequate conditions for human habitation and self-sustaining economy (such as soft water, food raised or planted locally—if only coca-cola is available for drinking, as a Malaysian scholar joked, then it is not island). If not island, then a land feature can only be a reef or rock (article 121, section 3). If only a rock, it has no exclusive economic zone or continental shelf, but only the 12-mile territorial sea (article 121, section 3). If island, the land feature would then have territorial sea, contiguous zone, exclusive economic zone, and continental shelf. In front of the Arbitral Tribunal of the Law of the Sea, Vietnam can sue under the compulsory procedure to drag China into the tribunal which would interpret and apply UNCLOS (articles 286,288) and hear Vietnam's presentation of historical evidence of many centuries on the necessity of Hoang Sa flottilla to bring soft water and food on its expeditions to Hoang Sa, and then to withdraw back to the mainland for not being able to live there all year round, in a self-sustaining economy. Therefor, at the present moment, China cannot ask for the status of island for any land feature in Paracels, despite its construction of artificial structures thereon, or for any recognition of exclusive economic zone and continental shelf emanating from any land feature in Paracels.

Về Công hàm Phạm Văn Đồng: Nói thẳng với Phan Đăng

Yến Phương

Anh có biết là vừa rồi, khi Trung Quốc lại nhắc lại cái “Công hàm” Phạm Văn Đồng 1958 làm cả nước xôn xao không anh? Anh biết vì sao mà người ta lại cãi nhau ỏm tỏi như vậy không? Đó là niềm tin giữa những người dân với Đảng và Nhà nước của anh đã cạn kiệt rồi. Mà không cạn sao được. Đảng và Nhà nước của anh nào là vụ Đồng Tâm, Văn Giang, Tiên Lãng… toàn “đánh úp” người dân thôi. Thế thì làm sao mà họ tin vào Đảng và Nhà nước được? Vì lỡ tin, lại có một cái Hiệp ước Thành Đô nữa hay sao?

Thêm nữa, Đảng và Nhà nước của anh, từ Chính phủ đến quân đội, công an, đều tham nhũng đầy mình, đều là những bầy sâu nhung nhúc, ăn của dân không chừa thứ gì. Ngay cả đại dịch Covid mới đây nè, mua cái máy xét nghiệm có 2 tỉ thì kê lên 10 tỉ, thế thì với những đại tướng tham nhũng như Phùng Quang Thanh, Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, hay Trung tướng Trần Việt Tân, Bùi Văn Thành… Những người đó mua tàu ngầm Kilo hay tàu chiến Gerard về, lấy gì để đảm bảo họ không kê giá, không ăn bớt? Và những vũ khí đó, liệu có còn xài được không hay chiến sự nổ ra mới hiện nguyên hình là những đống sắt vụn?

Chưa kể, với những người tham tiền như thế thì Trung Quốc họ thiếu gì tiền, họ tìm cách hối lộ cho các anh hàng tỉ đô la như cái vụ Bô xít Tây nguyên… Lỡ các anh bán nước thì làm sao tụi dân đen như tụi em có thể biết được?

***

Bạn trẻ Yến Phương nói rất đúng! Hèn và nịnh hót là bản chất của cảnh sát tư tưởng dưới sự chỉ huy của Trọng Thưởng. Tội ru ngủ giới trẻ của đất nước là tội trời không dung, đất không tha.

Nguyễn Quang A

Những ngày này, người dân Việt Nam ở trong nhiều tình cảm xáo trộn, khi thấy “giặc” Trung Quốc đang ngày đêm uy hiếp nước ta. Nỗi lòng của người dân cả nước, trong đó có em – một người con nước Việt, luôn tự vấn lòng mình, “ta phải làm gì cho Tổ quốc hôm nay”?

Xin tự giới thiệu với anh Phan Đăng, em chỉ là một nữ sinh Sài Gòn, sinh năm 1995, mới tốt nghiệp Đại học Luật, chuyên ngành luật quốc tế được 3 năm. Kiến thức của một cô gái nhỏ như em, chắc chưa theo kịp với một nhà báo tiếng tăm tầm cỡ như anh. Nhưng em mạo muội  nói thẳng với anh một số vấn đề.

Cũng như nhiều bạn trẻ khác, em cũng rất say mê chương trình “Lẩm Bẩm 24h” của anh Phan Đăng trên kênh Youtube. Thế nhưng, khi nghe anh Phan Đăng “lẩm bẩm” trên trang Youtube của anh ấy về đề tài Biển Đông – kiện hay không kiện, em từ kinh ngạc chuyển sang phẫn nộ.

Clip này, anh Phan Đăng nói khoảng hơn 38 phút, em đã phải nghe ít nhất là 5 lần, để hiểu được vì sao Việt Nam “không chịu phát triển” và trở nên yếu hèn như vậy? Vì sao giới trẻ Việt Nam nhiều người không yếu ớt về thể chất, nhưng lại bạc nhược về tinh thần? Vì có những con người như anh, Phan Đăng ạ.

Trong bài nói chuyện gần 40 phút này,  luận điểm chính của anh Phan Đăng là:

Để trả lời cho câu hỏi, có nên kiện Trung Quốc hay không, anh Phan Đăng nói là giới trẻ Việt Nam cần phải trả lời 3 câu hỏi của anh ấy trước đã. Đó là 1) Kiện toà nào?; 2) Kiện cái gì?; 3) Và sau khi kiện sẽ làm gì?

Trong lúc hùng biện, anh Phan Đăng đã dẫn chứng rất nhiều kiến thức từ luật quốc tế, lịch sử Việt Nam cũng như quan hệ quốc tế hiện đại để dẫn chứng cho các luận điểm của anh ấy.

Và chốt lại, anh Phan Đăng trả lời giùm là “các bạn trẻ cứ yên tâm đi, Đảng và Nhà nước đã biết hết các nỗi lo của các bạn rồi, Đảng và Nhà nước đã có phương án hết cả rồi. Và chúng ta cũng không cần kiện Trung Quốc đâu. Các bạn cứ tin tưởng vào Đảng và Nhà nước đi”.

Bài viết của em để đáp lại lời anh, chia thành hai phần chính. Một là trả lời 3 câu hỏi của anh về chuyện kiện. Hai là trả lời cho luận điểm hãy yên tâm đi, mọi việc đã có Đảng và Nhà nước lo rồi.

Và bây giờ, em sẽ xin nói thẳng với anh Phan Đăng từng vấn đề một.

Vấn đề 1

Thứ nhất, anh Phan Đăng không phải là chuyên gia luật quốc tế, mà anh ấy cũng tự nhận, những cái anh ấy nói, các cụ các bác biết hết cả rồi. Tuy vậy, thực tế là kiến thức của anh ấy không có chuyên môn về luật quốc tế. Nhưng anh lại nói chuyện kiện tụng quốc tế. Như vậy thì rõ ràng anh ta nói về một thứ anh ta không nắm chắc. Mà không nắm chắc thì chắc chắn thông tin anh ấy cung cấp không đầy đủ. “Một nửa cái bánh mì là một nửa cái bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì không phải sự thật”. Đó là em chưa trích câu nói của Lê nin – thầy của Đảng anh là “sự nhiệt tình cộng với sự ngu dốt thành một sự phá hoại”. Chính vì thế, nếu anh không rõ về luật quốc tế, thì “để Mị nói cho mà nghe nè”:

Về Công hàm Phạm Văn Đồng: Này, ông tướng Tuấn

Phạm Đình Trọng

MỘT

 Tháng Chín, năm 1958 Tàu cộng giăng ra cái bẫy khi phát đi Tuyên bố ngày 4.9.1958 của người đứng đầu Chính phủ Tàu cộng Chu Ân Lai về chủ quyền lãnh thổ của Tàu cộng ở Biển Đông:

“1. Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Taiwan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Dongsha, quần đảo Sisha, quần đảo Zhongsha, quần đảo Nansha, và các đảo khác thuộc Trung Quốc…”

Quần đảo Sisha chính là quần đảo Trường Sa và quần đảo Nansha chính là quần đảo Hoàng Sa. Hai quần đảo đã được các triều đại nhà nước Việt Nam quản lí, khai thác và có trong hệ thống hành chính, có trong bản đồ Việt Nam, có trong lịch sử Việt Nam từ thời nhà Lê thế kỉ 15. Điều này một học sinh trung học ở Đất Mũi, Cà Mau hay ở Đồng Đăng, Lạng Sơn không đến nỗi dốt lịch sử cũng biết.

Cái bẫy ở chỗ tuyên bố của Chu tưởng như chỉ xác định bề rộng lãnh hải Tàu cộng 12 hải lí. Chỉ đòi hỏi lãnh hải 12 hải lí thì quá khiêm nhường, bình thường, lương thiện, có gì mà không tán thành. Nhưng không. Sau đó tuyên bố mới liệt kê một loạt lãnh thổ để Tàu cộng xác định lãnh hải, trong đó có Trường Sa; và Hoàng Sa của Việt Nam. Tuyên bố không ghi tên các quần đảo theo phiên âm quốc tế thông thường, quen thuộc mà ghi theo âm Tàu lạ hoắc, lại liệt kê tới tấp một loat tên na ná nhau. Quần đảo Trường Sa không ghi Spratly Islands mà ghi Sisha. Quần đảo Hoàng Sa không ghi Paracel Islands mà ghi Nansha, giữa những Dongsha, Zhongsha rối mù.

Ông Chủ tịch nhà nước cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh, ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng và cả Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có ông Ba Duẩn được tuyện truyền cộng sản tâng bốc là có trí tuệ sáng láng như ngọn đèn hai trăm nến nhưng đều mụ mẫm, chỉ biết có giai cấp, chỉ biết thứ giáo điều sai trái và lừa dối “bốn phương vô sản đều là anh em”, không biết đến Tổ quốc, không biết đến cương vực lãnh thổ cha ông để lại, không biết đến lịch sử nước nhà. Trong cái mụ mị giai cấp, các ông đã để cho ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngây thơ, mau mắn chui vào cái bẫy của Tàu cộng khi ngày 14.9.1958 ông Thủ tướng Đồng sốt sắng kí công hàm giấy trắng, mực đen, con dấu đỏ phúc đáp “ghi nhận”, “tán thành” và “tôn trọng” Tuyên bố chủ quyền của Tàu cộng với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa của tổ tiên các ông.

Với ý đồ giăng bẫy, chắc chắn Bắc Kinh không chỉ đăng Tuyên bố trên Nhân dân Nhật báo, không chỉ đọc trên đài Phát thanh Bắc Kinh mà Tuyên bố lãnh thổ Trung cộng 4.9.1958 còn được Bắc Kinh gửi cho Hà Nội cùng những lời đề nghị êm tai, mùi mẫn. Dù vậy, nếu là những người lãnh đạo nhà nước đủ tầm, xứng đáng đại diện cho trí tuệ và khí phách Việt Nam, các ông phải tỉnh táo thấy rằng không có thông lệ, phép tắc quốc tế nào bắt phải phúc đáp một tuyên bố như vậy của Tàu cộng. Muốn tỏ lòng trân trọng nước lớn đàn anh đã hào phóng chi viện súng đạn giúp các ông giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Pháp vừa qua, các ông chỉ cần cảm ơn quí quốc, cảm ơn quí đồng chí đã thông báo cho biết, là đủ.

Nhưng các ông đã yêu nước đàn anh Tàu cộng vượt chỉ tiêu của Tàu cộng. Các ông đã dâng lãnh thổ thiêng liêng của tổ tiên các ông để lại vượt mong đợi của Tàu cộng. Không những “tán thành”, “tôn trọng” Tuyên bố của Tàu cộng vơ cả Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam vào lãnh thổ Tàu cộng, các ông còn nhiệt thành, triệt để dâng Trường Sa, Hoàng Sa cho Tàu cộng đến mức hứa hẹn với Tàu cộng rẳng sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước Việt Nam có trách nhiệm triệt để tôn trọng lãnh hải 12 hải lí của Tàu cộng và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa cũng trở thành lãnh thổ của Tàu cộng để vạch lãnh hải!

Về Công hàm Phạm Văn Đồng: Đánh giá 6 lập luận liên quan đến Công hàm 1958

Nguyễn Quốc Tấn Trung

Cho đến nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục sử dụng Công hàm 1958 để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Và chúng ta cần chuẩn bị sẵn tâm lý rằng họ sẽ còn một số văn bản khác trong giai đoạn 1955 – 1975 phục vụ cho mục tiêu độc chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Với nền tảng thông tin về Công hàm 1958 đã được phân tích rất chi tiết trong bài viết “10 điều cần biết về Công hàm Phạm Văn Đồng”, chúng ta hãy cùng điểm lại những lập luận phổ biến nhất hiện nay đang được sử dụng nhắm đến mục tiêu loại trừ khả năng Công hàm 1958 bị phía Trung Quốc lợi dụng.

Cùng lúc đó, bài viết cũng hy vọng chỉ ra những điểm yếu trong các lập luận nói trên (nếu có), cùng một số đề xuất riêng, hy vọng giúp cho việc chuẩn bị các lập luận và biện pháp pháp lý chống lại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc hiệu quả, thống nhất và rõ ràng hơn trong tương lai.

Lập luận thứ nhất:

“Chức danh Thủ tướng không đủ thẩm quyền quyết định các vấn đề lãnh thổ. Chủ quyền tối cao đưa ra các quyết định lãnh thổ thuộc về Quốc hội Việt Nam.” 

Không đủ thẩm quyền – đây là một lập luận khá kinh điển để phủ nhận các cam kết, nghĩa vụ quốc tế do một chức danh nhà nước ký kết.

Dưới phương diện pháp luật và khung chính trị quốc gia, chúng ta có thể hoàn toàn thống nhất về tính khả thi của việc áp dụng lập luận này. Quốc hội Việt Nam là cơ quyền lực nhà nước cao nhất tại Việt Nam, là cơ quan duy nhất đại diện quyền lực nhân dân trong bộ máy chính trị Việt Nam. Có thể nói đùa rằng, chỉ cần cơ quan này muốn, họ có thể lộn ngược cả hệ thống pháp luật quốc gia.

Tuy nhiên, pháp luật quốc tế không nhất thiết ủng hộ lập luận trên. Ở bình diện này, có ba chức danh nhà nước luôn được công nhận là đại diện đương nhiên của một quốc gia trong quá trình đàm phán, thông qua, xác thực nội dung của một văn bản pháp lý quốc tế, hay chấp nhận hoặc thừa nhận sự ràng buộc của quốc gia đó đối với một nghĩa vụ quốc tế nhất định.

Ba chức danh đó là: nguyên thủ quốc gia (head of state, chẳng hạn tổng thống hay chủ tịch nước), người đứng đầu chính phủ (head of government, thường là chức danh thủ tướng) và bộ trưởng bộ ngoại giao (foreign minister). Đây là một tập quán pháp quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi, và được pháp điển hóa tại Điều 7, Công ước Vienna 1969 về Luật Điều ước Quốc tế (Công ước Vienna 1969).

Hiển nhiên, các loại hình cơ quan lập pháp như Quốc hội sẽ có tiếng nói quyết định trong việc phê chuẩn (ratification) các loại hiệp định, điều ước quốc tế có yêu cầu hình thức này. Nhưng không phải mọi loại quan hệ và cam kết quốc tế đều phải viện đến thẩm quyền của Quốc hội, cho dù đó là những cam kết, công nhận liên quan đến lãnh thổ. Một số ví dụ cụ thể sẽ được giới thiệu với bạn đọc ngay ở phần sau.

Một điểm đặc biệt quan trọng khác chúng ta cần phải lưu ý là mối liên hệ giữa pháp luật quốc gia và quốc tế.

Những người ủng hộ lập luận này thường sử dụng quy định của pháp luật quốc gia Việt Nam để lý giải cho những sai lầm mang tính thủ tục của Công hàm 1958 (dù thật ra theo pháp luật của Việt Nam thì Công hàm này cũng không có sai phạm thủ tục, nhưng chúng ta tạm thời bỏ qua ở đây), và từ đó phủ nhận nghĩa vụ quốc tế phát sinh. Tuy nhiên, đây là một hành vi không được chấp nhận.

Ghi nhận cụ thể tại Điều 7 và Điều 46 của Công ước Vienna 1969, một quốc gia không thể cho rằng nghĩa vụ mà nó cam kết là vô hiệu chỉ dựa trên quy tắc thẩm quyền của pháp luật quốc nội.

Một số ngoại lệ hiếm hoi, dành cho trường hợp quốc gia này chứng minh được rằng sai phạm đó quá rõ ràng (violation was manifest) và vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc gia trong nước (fundamental importance).

Đây sẽ là hai luận điểm mấu chốt mà chúng ta cần quan tâm nếu Việt Nam quyết tâm theo đuổi lập luận này.

Tiêu chuẩn để chứng minh một sai phạm về thẩm quyền là “quá rõ ràng” và “vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc gia trong nước” là rất cao. Như đã nói, việc thủ tướng của một quốc gia gửi công hàm ngoại giao thừa nhận tuyên bố chủ quyền của một quốc gia đã là thông lệ của quan hệ ngoại giao thế giới.

Và trong nhiều án lệ quốc tế nơi mà tuyên bố của một bộ trưởng bộ giáo dục cũng bị xem là có hệ quả ràng buộc pháp lý đối với quốc gia, Trung Quốc sẽ rất dễ phản pháo định hướng lập luận này.

Điểm đánh giá: 2.5/5. Khả dĩ nhưng nội dung những yêu cầu pháp lý cần phải chứng minh là rất cao.

Lập luận thứ hai:

“Tuyên bố của Việt Nam không có hiệu lực pháp lý vì chỉ là tuyên bố đơn phương.”

Tiếp nối luận điểm đầu tiên, nhiều học giả cho rằng Tuyên bố của Việt Nam không có hiệu lực pháp lý vì nó chỉ là tuyên bố đơn phương. Hoặc cũng có cách diễn đạt khác là, vì chỉ là tuyên bố đơn phương nên không tạo nên nghĩa vụ ràng buộc.

Trước tiên, người viết không hiểu căn cứ pháp lý của lập luận này là ở đâu.

Các tuyên bố đơn phương của một quốc gia hoàn toàn có thể là nền tảng để quốc gia đó thừa nhận hoặc phủ nhận một hệ quy chuẩn pháp luật quốc tế nhất định. Bạn đọc có thể tham khảo thêm về hiệu lực pháp lý của các tuyên bố đơn phương được phân tích trong Báo cáo Liên Hiệp Quốc về các hành vi đơn phương trong quan hệ quốc tế, do Báo cáo viên đặc biệt Victor Rodríguez Cedeño tổng hợp từ những năm 2000.

Từ tuyên bố của Ai Cập đối với kênh đào Suarez cho đến việc Jordan tuyên bố từ bỏ chủ quyền của mình đối với lãnh thổ dải Bờ Tây (West Bank)… tất cả đều được xem là những tuyên bố đơn phương có hiệu lực pháp lý quốc tế và ràng buộc trách nhiệm dành cho chủ thể tuyên bố.

Không chỉ vậy, tuyên bố của Việt Nam lại càng không thể xem là tuyên bố đơn phương bởi nó trực tiếp đối thoại với tuyên bố về chủ quyền hải phận của Trung Quốc trước đó. Nội dung của hai văn bản này là gắn liền với nhau và thể hiện sự ràng buộc quyền – nghĩa vụ với nhau. Quyền và nghĩa vụ song phương như thế nào thì nội dung của Công hàm 1958 nói rất rõ.

Các tiền lệ pháp lý, như án lệ Qatar v Bahrain (1991), do Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) xét xử, cũng cho thấy việc trao đổi công hàm giữa hai bộ trưởng ngoại giao có giá trị pháp lý thậm chí là tương tự như một điều ước quốc tế.

Trong bản án, Qatar cho rằng giữa họ và Bahrain có tồn tại quan hệ pháp lý ràng buộc. Riêng Bahrain thì phủ nhận giá trị pháp lý của những công hàm trao đổi giữa hai bên vốn dẫn đến một biên bản ghi nhớ vào năm 1990. Họ lập luận rằng chúng đơn thuần chỉ là những ghi chú chính trị, và không thể được xem là điều ước quốc tế và từ đó phát sinh nghĩa vụ giữa các bên. Lập luận này rất giống với lập luận của một số học giả Việt Nam hiện nay.

ICJ nghiêng về phía Qatar, khẳng định các thỏa thuận pháp lý quốc tế có thể tồn tại ở rất nhiều thể dạng và tên gọi khác nhau, và không thể từ chối công nhận một số nghĩa vụ pháp lý có thực chỉ vì nó có tên gọi hay thể dạng bất thường. Vấn đề ở chỗ, cần xem xét nội dung và tình huống pháp lý thực tế dẫn đến việc trao đổi những công hàm, biên bản nói trên.

ICJ từ đó đi đến kết luận, biên bản ghi nhớ, công hàm, hay thư từ trao đổi giữa các chủ thể có thẩm quyền (mà ở đây chỉ là bộ trưởng bộ ngoại giao) của Qatar và Bahrain có ghi nhận rõ quyền và trách nhiệm của các bên. Vì vậy, chúng làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý bắt buộc giữa hai quốc gia.

Với một án lệ rõ ràng và có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử pháp luật quốc tế như Qatar v Bahrain, lập luận pháp lý về hình thức của Công hàm 1958 rất khó qua mặt được các học giả quốc tế.

Điểm đánh giá: 0/5. Không thể sử dụng  

Lập luận thứ ba:

“Công hàm không đề cập trực tiếp đến việc từ bỏ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa.”

Các loại văn bản ngoại giao ngắn như diplomatic note (công hàm), joint communique (thông cáo chung) đã được Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ), thông qua các án lệ (như án Qatar v. Bahrain ở trên), và các học giả quốc tế thừa nhận là có thể hình thành nên nghĩa vụ quốc tế dành cho một quốc gia. Trao đổi những văn bản này vì vậy có ý nghĩa rất lớn.

Anh có quyền im lặng trước Tuyên bố của Trung Quốc, nhưng khi anh đã gửi công hàm đồng ý thì hoặc là đồng ý toàn phần, hoặc là phải ghi nhận rõ mình bảo lưu (reservation) hay phản đối (protest) phần nào của tuyên bố. Tuyên bố của Trung Quốc có đề cập cụ thể và minh thị việc xác lập hải phận của họ tại Hoàng Sa và Trường Sa. Chúng ta đồng ý mà không thể hiện rõ bất kỳ lập trường nào khác tức là chúng ta chấp nhận toàn bộ các yêu sách.

Có tranh chấp, phía Trung Quốc chỉ cần dựa vào tập quán giải thích công ước quốc tế (General Rule of Interpretation) với các thành tố về good faith (thiện chí), ordinary meaning (ý nghĩa gốc) và context of purposes (hoàn cảnh của mục tiêu văn bản) thì chắc chắn không thể cãi lại họ.

Về công hàm Phạm Văn Đồng: Duyệt lại giá trị pháp lý của Công hàm Phạm Văn Đồng

LS Đào Tăng Dực

Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa lục địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của Đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.

Nhà cầm quyền CSVN gần đây đã gởi 3 Công hàm (30/3, 10/4 và 14/4) cho Liên Hiệp Quốc khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Phía Trung Quốc trả đũa bằng cách trưng ra Công hàm của cố thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 như là một biện minh cho chủ quyền TQ tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Hầu đả phá toàn diện biện minh này của TQ, chúng ta cũng phải duyệt lại một lần nữa giá trị pháp lý của Công hàm Phạm Văn Đồng. Tôi đã nêu ra lập luận này ngày 3/8/2016:

Nội dung của Công hàm này là gì?

Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, gởi cho Chu Ân Lai, Tổng lý Quốc vụ Viện, tương đương Thủ tướng Trung Quốc, nội dung như sau:

“Thưa Đồng chí Tổng lý, Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng. Phạm Văn Đồng Thủ tướng chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”

Câu hỏi mà mọi công dân Việt Nam yêu nước luôn nêu ra là: liệu Công hàm Phạm Văn Đồng có giá trị pháp lý, trước một pháp đình nghiêm chỉnh hay không?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải qua một quá trình phân tách như sau.

Trước hết, người CSVN cho đến bây giờ, vẫn luôn biện minh rằng, Công hàm này chưa từng nhắc đến Hoàng Sa và Trường Sa. Vì thế không thể kết luận rằng Công hàm xác nhận hai quần đảo này thuộc TQ.

Tuy nhiên người TQ sẽ phản biện rằng, Công hàm này tán thành tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Quốc “quyết định về hải phận 12 hải lý” của họ. Tuyên bố của TQ ghi rõ:

“Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”

Hoàng Sa thì TQ gọi là Tây Sa và Trường Sa thì TQ gọi là Nam Sa.

Người CSVN có thể lập luận rằng, Công hàm này chỉ giới hạn ở vấn đề hải phận 12 hải lý.

Trong khi đó, người CSTQ sẽ lập luận rằng, trong một văn kiện quan trọng như thế, nếu muốn giới hạn thì ông Phạm Văn Đồng đã ghi rõ rằng Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Khi Phạm Văn Đồng không làm điều đó thì đã chứng minh sự công nhận chủ quyền TQ trên hai quần đảo này.

Điểm thứ nhì cần phân tích là một văn kiện nhường chủ quyền của một thành phần máu huyết của Tổ quốc, cho một ngoại bang như TQ, như Công hàm này, đã thông qua những thủ tục hiến định cần thiết hay chưa?

Về công hàm Phạm Văn Đồng: Thư gửi Đại tướng Lê Đức Anh ngày 23/12/2007 của TS Luật Cù Huy Hà Vũ

Ngày 17/4/2020 vừa qua, Phái đoàn Thường trực của Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc gửi Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc một công hàm nhằm biện hộ cho việc Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974 cũng như toan tính xâm lược nốt quần đảo Trường Sa cũng của Việt Nam. Công hàm này của Trung Quốc nêu: “Vào ngày 14 tháng 09 năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Nam đã gửi Công hàm ngoại giao tới Chu Ân Lai, Thủ tướng Hội đồng Nhà nước Trung Hoa, tuyên bố long trọng rằng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận và ủng hộ tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về quyết định liên quan đến lãnh hải của Trung Quốc được đưa ra vào ngày 4 tháng 9 năm 1958 và rằng Chính phủ của Cộng hòa Dân chủ Việt Nam tôn trọng quyết định này”.

Một ngày sau, ngày 18/4/2020, Bộ Dân chính Trung Quốc ra thông cáo cho biết Quốc vụ viện nước này mới đây đã phê chuẩn quyết định thành lập cái gọi là "quận Tây Sa" và "quận Nam Sa" trực thuộc "thành phố Tam Sa", tỉnh Hải Nam, để “quản lý” quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam. "Quận Tây Sa" sẽ đặt tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, còn trụ sở của "quận Nam Sa" sẽ đặt tại đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa.

Điều đáng lưu ý là ngay sau khi Quốc vụ viện Trung Quốc thành lập “thành phố Tam Sa” vào tháng 11/2007 để “quản lý” các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ đã gửi đến Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, người được coi là cố vấn tối cao của chế độ, một bức thư quan trọng đề ngày 23/12/2007. Bức thư này một mặt lên án thái độ im lặng của Chính phủ CHXHCN Việt Nam trước hành vi chà đạp lên chủ quyền của Việt Nam nói trên của Trung Quốc, mặt khác, đề xuất các biện pháp mà Nhà nước Việt Nam cần tích cực tiến hành để bảo vệ thành công lãnh thổ quốc gia ở biển Đông. Hai trong các biện pháp này là: 1/ Khẳng định Công thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai là không có giá trị pháp lý nếu Trung Quốc vin vào đây để “quản lý” các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; 2/ Liên minh quân sự với Hoa Kỳ.

Bức thư này đã được Bauxite Việt Nam đăng ngày 16/06/2011 ngay sau khi nhận được từ Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, vợ Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ - người lúc đó vừa bị Tòa án Việt Nam xử 7 năm tù và ba năm quản chế về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” - chuyển tới.

Xét thấy bức thư gửi Đại tướng Lê Đức Anh năm 2007 của TS Cù Huy Hà Vũ hiện vẫn còn nguyên giá trị trước những hành vi mới đây của Trung Quốc xâm phạm trắng trợn chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, được sự tán thành của tác giả, chúng tôi xin đăng lại trên BVN, hy vọng nó sẽ mở đầu cho những trao đổi nghiêm túc của độc giả bốn phương, nhất là giới chuyên môn Luật học, xung quanh vấn đề giá trị pháp lý của Công hàm Phạm Văn Đồng, trong một chuyên mục cùng tên bắt đầu mở ra từ hôm nay. Cùng với lá thư của CHHV, cũng trên chuyên mục này, chúng tôi xin được đăng tiếp bài viết 10 điều cần biết về Công hàm Phạm Văn Đồng của nhà báo Đoan Trang rút từ tạp chí "Luật khoa" ra ngày 24/4/2020, để chúng ta có thêm những góc nhìn và kiến giải mới.

Trân trọng cảm ơn các tác giả và mời quý bạn đọc vào xem và đóng góp ý kiến.

Bauxite Việt Nam

Hà Nội, ngày 23/12/2007

Kính gửi: Đại tướng – Chủ tịch Nước Lê Đức Anh,

Tôi là Cù Huy Hà Vũ, Tiến sĩ Luật, tốt nghiệp Học viện quốc tế Quản lý Hành chính công (Pháp), cán bộ Học viện Quan hệ quốc tế - Bộ Ngoại giao, xin gửi tới Đại tướng lời chào trân trọng và xin trình bày quan điểm cá nhân cũng như giải pháp tháo gỡ trước việc Quốc vụ viện Trung Quốc quyết định thành lập thành phố Tam Sa để quản lý lãnh thổ bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Về Công hàm Phạm Văn Đồng: 10 điều cần biết về Công hàm Phạm Văn Đồng

Công hàm Phạm Văn Đồng. Nguồn: WikiCommons/VOA.
Công hàm Phạm Văn Đồng. Nguồn: WikiCommons/VOA.

1. Công hàm là gì?

Từ điển và sách giáo khoa về ngoại giao và quan hệ quốc tế thường định nghĩa công hàm (diplomatic note) là văn kiện ngoại giao chính thức của Chính phủ hoặc Bộ ngoại giao một nước, gửi cho Chính phủ hoặc Bộ Ngoại giao của nước khác hoặc một tổ chức quốc tế, với nội dung trao đổi, thông báo, yêu sách hay phản đối hoạt động, sự kiện hoặc vấn đề nào đó có liên quan mà cả hai bên (hoặc nhiều bên) cùng quan tâm.

Tóm lại, ta có thể hiểu công hàm là một văn kiện ngoại giao chính thức để nêu quan điểm chính thức của một nhà nước với một nhà nước khác, về một vấn đề được quan tâm.

2. Công hàm Phạm Văn Đồng là gì?

Đó là một văn kiện ngoại giao chính thức của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ký tên Thủ tướng Chính phủ khi đó là Phạm Văn Đồng), đề ngày 14/9/1958, gửi người đồng nhiệm Trung Quốc – Chu Ân Lai (Zhou Enlai) – khi đó là Tổng lý Quốc vụ viện, tương đương thủ tướng nước CHND Trung Hoa.

Lâu nay, Công hàm này được gọi theo tên người ký, thành “Công hàm Phạm Văn Đồng”, chứ nó không có tiêu đề. (Việc không có tiêu đề này không ảnh hưởng tới nội dung và giá trị pháp lý của nó).

3. Nội dung chính của Công hàm Phạm Văn Đồng là gì?

Trích nguyên văn:

“Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa trên mặt bể”.

4. Tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ Trung Quốc nói gì?

Luật Khoa dịch từ bản tiếng Anh một lá thư đề ngày 9/6/2014 của Đại sứ thường trực CHND Trung Hoa tại Liên Hiệp Quốc gửi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.

“Bắc Kinh, ngày 4/9/1958

Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều này áp dụng đối với toàn bộ lãnh thổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm Trung Hoa lục địa và các đảo ngoài khơi lục địa, cũng như Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu (Bành Hồ), quần đảo Dongsha (Ðông Sa), quần đảo Xisha (Tây Sa), quần đảo Zhongsha (Trung Sa), quần đảo Nansha (Nam Sa), và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc, vốn bị đại dương ngăn cách với Trung Hoa lục địa và các đảo ngoài khơi lục địa.

(2) Phần lãnh hải của Trung Quốc bao quanh Trung Hoa lục địa và các đảo ngoài khơi lục địa xác định đường cơ sở là đường bao gồm các đoạn thẳng nối những điểm cơ sở trên bờ biển bao quanh lục địa và trên các đảo xa nhất ngoài khơi; vùng biển 12 hải lý tính từ đường cơ sở trở ra là lãnh hải (territorial sea) của Trung Quốc (có tài liệu dịch “territorial sea” là hải phận – NV). Vùng biển bên trong đường cơ sở, gồm cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội thủy (inland waters) của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường cơ sở, gồm cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dada, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội thủy Trung Quốc.

(3) Máy bay và tàu thuyền nước ngoài, vì mục đích quân sự, không được vào lãnh hải Trung Quốc và vùng trời phía trên lãnh hải đó, nếu không có sự cho phép của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn