Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo Văn nghệ thời Đổi mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo Văn nghệ thời Đổi mới. Hiển thị tất cả bài đăng

Hậu báo “Văn nghệ” và “Nỗi buồn chiến tranh” (Kỳ 5)

Nguyên Ngọc

Phần này đọc đã. Mọi thứ bày ra, trắng phớ, kinh hoàng. Càng kính trọng Chú Ngọc, không có bộ óc thiết kế giải [thưởng] như “đánh một trận” kiên cường, nền văn học này đã không thể có đỉnh cao Nỗi buồn chiến tranh. Hậu giải buồn hơn bản thân tiểu thuyết nữa, vì sự trở cờ của nhiều tên tuổi nghĩ rằng mình vang lừng lắm và vang lừng mãi mãi. Đến giờ, dư luận chính giới vẫn chưa thừa nhận Nỗi buồn chiến tranh, việc này VN còn phải học Tàu, họ vun vén, quảng bá cho nhà văn quan chức Mạc Ngôn được ẳm Nobel, TQ phải có Nobel văn học. Xin lỗi, mấy lão VN hay tự kéo nhau xuống, kệ mẹ nó văn chương và mấy gã nhà văn quèn, kệ mẹ chúng! Đáng đời cái xó VN.

Dạ Ngân

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học ta, ít nhất là về đề tài chiến tranh. Trước nó, chủ yếu chỉ là sử thi. Sử thi thì độc thoại. Và độc đoán. Bởi vì đấy là phát ngôn dõng dạc, là tuyên bố nghiêm trang và khẳng khái của cộng đồng, truyền bá những chân lý tuyệt đối, không cho phép ai được cãi lại.

Đọc kỹ Bảo Ninh mà xem. Hầu như câu nào của anh cũng là tự đối thoại, tự cãi nhau, tự nghi ngờ chính điều vừa thốt ra. Anh nói: “Nỗi buồn được sống sót”, “Bây giờ thì đã qua cả rồi, tiếng ồn ào của xung đột đã im bặt. Gió lặng cây dừng, và vì chúng ta đã chiến thắng nên đương nhiên là chính nghĩa đã thắng. Tuy nhiên, cứ nghĩ mà xem, cứ nhìn vào sự sống sót của bản thân mình, cứ nhìn kỹ nền hòa bình thản nhiên kia và nhìn cái đất nước đã chiến thắng này mà xem: đau xót chua chát và nhất là buồn xiết bao.

Một người ngã xuống để những người khác sống, điều đó chẳng có gì mới, thật thế. Nhưng khi mà tôi và anh thì còn sống mà tất cả những người ưu tú nhất, tốt đẹp nhất, những người xứng đáng hơn ai hết sống trên cõi đời này đều gục ngã, bị nghiền nát, bị xô đẩy, bị cỗ máy đẫm máu của chiến trận chà đạp, đày đọa, bị bạo lực tăm tối hành hạ, làm nhục rồi giết chết, bị chôn vùi, bị quét sạch, bị tuyệt diệt thì sự bình yên này, cuộc sống này, cảnh trời yên biển lặng này là cả một nghịch lý quái gở, một sự trống rỗng thê thảm, một sự vô lý đến tột cùng, oái oăm và điên đảo gần giống như là một sự phản bội vậy...”.

Anh đi tìm, hôm nay, và anh tự trả lời: “… Có vẻ như anh đã tìm ra cuộc đời mới của mình, đấy chính là cuộc đời đã qua, là tuổi trẻ đã mất đi trong nỗi đau buồn chiến tranh. Đối với tôi, tương lai đã nằm lại ở phía sau xa kia rồi… trong những cánh rừng nguyên thủy của chiến tranh,… trong một sự nghiệp vừa được ghi nhớ vĩnh hằng vừa không ngừng bị lãng quên...”, “... và cứ thế, nửa điên rồ, [tôi] lao vào chiến đấu lại cuộc chiến đấu của đời mình... một cách đơn độc, một cách phản hiện thực, cay đắng và tuyệt vọng, đầy rẫy va vấp và lầm lạc... Có lẽ từ nay, [tôi] thầm nghĩ, cuộc đời mình sẽ luôn luôn là thế này đây: tối tăm, đau khổ và rạng ngời hạnh phúc. Và cứ giữa mơ và tỉnh mà mình sẽ đi tiếp đoạn đời còn lại.”

Có lần Bảo Ninh nói với tôi: “... Sau tất cả những điều ghê gớm như vậy, sao hôm nay lại thế này?”. Đó là anh hỏi về xã hội và về chính anh.

Cuốn sách nặng nề của anh không bi quan. Vẫn thấm sâu ở đâu đó trong từng kẽ chữ của nó một âm hưởng hy vọng tiềm tàng, chính là vì thế. Anh đi tìm, nghĩa là anh còn hy vọng.

Cuối sách, Bảo Ninh viết: “nhưng… tôi tin rằng anh [tức là nhân vật Kiên, người viết cuốn tiểu thuyết trong cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh] vô cùng hạnh phúc trên con đường hướng mãi về quá khứ. Không bị sự lãng quên xói mòn, tâm hồn anh sẽ mãi mãi được sống trong mùa xuân của những tình cảm mà ngày nay đã bị mai một hoặc đã già cỗi và biến tướng. Anh sẽ được trở lại với tình yêu, tình bạn, tình đồng chí, những tình cảm đã giúp chúng ta vượt qua muôn ngàn đau khổ của chiến tranh… Anh sẽ vĩnh viễn được sống trong những ngày đau thương nhưng huy hoàng, những ngày bất hạnh nhưng chan chứa tình người, những ngày mà chúng ta biết rõ vì sao chúng ta phải bước vào chiến tranh, chúng ta cần phải chịu đựng tất cả và hy sinh tất cả. Ngày mà tất cả đều còn rất son trẻ, trong trắng và chân thành.”

Tôi có chép Bảo Ninh quá dài không? Có thể tiếp tục đọc mãi đọc mãi. Bởi vì Bảo Ninh là người viết quá hay, từ trong máu của mình anh biết tỷ trọng tinh vi của từng từ hiện ra trên mặt giấy, và cũng tự trong máu anh biết khi từ này đứng cạnh từ kia được chọn đến tinh vi tối đa thì hiệu ứng tạo nên sẽ rung lên như thế nào trong tâm hồn người đọc. Chẳng phải ngẫu nhiên mà anh là con trai của ông Hoàng Tuệ, người cống hiến cả đời mình cho tiếng Việt. Và thật tình tôi nghi Chánh Chủ khảo Vũ Tú Nam đã liều lĩnh nói một câu khẳng định chắc nịch đến thế ngay từ đầu phiên chung khảo giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991 là vì anh đã bị văn của anh chàng vốn vô danh Bảo Ninh đánh gục. Có lần tôi nói với Bảo Ninh nhược điểm duy nhất của cậu là câu nào, từ nào cũng hay, quá trau chuốt đến tuyệt đối hoàn chỉnh, đọc một tác phẩm như thế khiến người ta phải căng mình quá sức với cái đẹp và dễ mệt. Thỉnh thoảng phải cố tình buông lỏng một chút, thậm chí thoáng sai ngữ pháp một chút… Thấy Bảo Ninh hình như còn chưa thật hiểu hay chưa thật đồng tình, tôi nói thêm: Một cô gái đẹp có hàm răng thật đều là tuyệt, nhưng giá lại thêm một chiếc răng khểnh thì sẽ duyên hơn. Và chàng trai sẽ chết mê chết mệt vì chính chiếc răng khểnh ấy…

Buổi bảo vệ tốt nghiệp ở Trường Nguyễn Du còn hay và xúc động hơn cả phiên họp chung khảo cuối cùng. Cả ba cuốn tiểu thuyết được giải đều hay, nhưng cũng rất rõ ràng Nỗi buồn chiến tranh là trọng điểm. Chung khảo không có gì căng. Hai người không muốn trao giải cho Bảo Ninh chỉ vì còn băn khoăn về cái gọi là “lập trường chính trị”.

Ngay từ khi vừa ra đời ở nhà xuất bản, khi có dư luận trao đổi về giải thưởng hằng năm của Hội, tác phẩm đã gây xôn xao. Trên báo Văn nghệ, lúc này do Hữu Thỉnh cầm chịch, Ngô Văn Phú đã viết: “… Cuốn tiểu thuyết này nếu được giải thưởng là một thắng lợi của văn chương. Đây đích thực là văn chương…”. Trần Đình Sử, người rất uyên bác, theo dõi chặt chẽ đời sống văn chương và nổi tiếng cẩn trọng, thì khẳng định, sớm định vị vị trí của tác phẩm trong sự phát của tiến trình văn học: “Đây là tiểu thuyết về nhà văn, về sự hình thành một kiểu nhà văn, dự báo những đổi thay đáng kể của ý thức văn học. Không nghi ngờ gì, Bảo Ninh đã đóng góp đáng kể nhiều mặt cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại…”.

Đến khi Giải thưởng 1991 được chính thức công bố, thì thực sự là một cuộc nổi sóng, cả hai phía khen chê, đều tập trung chủ yếu vào Nỗi buồn chiến tranh. Xin thử trích một số trong hàng trăm ý kiến, rộn rịp trên các báo và trong các cuộc hội thảo, có thể dài song ít nhất cũng là tư liệu lịch sử một thời.

ĐÀO HIẾU

Đây là một trong những tác phẩm viết về chiến tranh dữ dội, bi thương và lẫm liệt nhất mà tôi được đọc. Bảo Ninh, một tên tuổi mới, một tác giả trẻ, một người đi sau nhưng đã bứt lên, qua mặt nhiều người dù tiếng vỗ tay trên khán đài còn lác đác...

HOÀNG HƯNG

… chính nỗi buồn phân biệt con người cầm súng với con thú hoặc cỗ máy giết chóc, Kiên bước vào cuộc chiến với niềm háo hức và ra khỏi đó với nỗi buồn, đó là cái được của anh trong cuộc chiến để làm người.

… Nó là ký ức tự hành của kẻ mộng du. Nghĩa là một ký ức rối loạn thời gian và không gian. Sự rối loạn giúp con người vụt nhận ra những điều bị che khuất trong một thời gian tuyến tính, một không gian phẳng. Nghĩa là một hòa hợp thực + ảo, sự kiện + tâm trạng, tỉnh + mê, khách quan + chủ quan, ý thức + tiềm thức. Những thành phần thứ hai lâu nay bị lấp liếm, hóa ra có sức phát giác không thể xem thường, và quan trọng nhất là phát giác đời sống bên trong con người – điều người ta thật sự cần ở văn học nghệ thuật.

HOÀNG NGỌC HIẾN

Trong truyện của Bảo Ninh, những ngày tháng sau hòa bình không có “hoa”, chỉ có “nỗi buồn chiến tranh”. Đó là “nỗi buồn được sống sót” (tr.227). Đó là “ngọn gió buồn vô hạn của tình yêu và tự do” từ chân trời dĩ vãng thổi tới, cứ “thổi mãi thổi hoài” như một niềm tiếc nuối khôn nguôi... Đó là tình thương vô hạn với tất cả những người đã nằm xuống không phân biệt “người vinh kẻ nhục”, “người hùng kẻ nhát”, “người đáng sống kẻ đáng chết”... với cả “những người anh em khốn khổ, bạc phước ra đi trong nhục nhã chẳng được ai đoái hoài”... Nỗi buồn chiến tranh – “một nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vượt trên đau khổ” (tr.282).

Ba đề tài về chiến tranh, tình yêu và đam mê sáng tạo nghệ thuật thực chất níu vào nhau.

Chiến tranh “có sức mạnh hủy diệt, sức mạnh biến tất cả thành tro bụi của nó”, nhưng cuối cùng thì chiến tranh “không tiêu diệt được gì hết”. Có thể hiểu được nghịch lý này. Chiến tranh (cũng như đời thường hậu chiến) “không tiêu diệt được gì hết”, miễn là không bị hủy diệt những giấc mơ. Đam mê văn chương của Kiên bắt nguồn từ nhu cầu “làm bừng sáng lại những giấc mộng xưa”. Những nghịch lý làm vật vã nhân vật đáng thương của Bảo Ninh thực ra cũng gần gũi với lẽ sống thông thường nhất của con người, với kinh nghiệm sinh tồn sơ đẳng và vĩnh cửu của loài người.

Tôi cho rằng đây là một trong những cuốn sách hay nhất trong những năm gần đây, có giá trị văn học đích thực. Có cảm giác hình như Bảo Ninh đã rút hết ruột gan ra mà viết. Các trang viết của anh ở trạng thái gần như mộng du, đau đớn dằn vặt về lẽ sống đẹp trên đời khiến cho tác phẩm có sức truyền cảm rất mạnh.

NGÔ NGỌC BỘI

Ba tập (sách được trao giải) này tôi đều đã đọc rồi. Tôi thấy Thân phận của tình yêu phải được xếp giải nhất: Vì qua sự chiêm nghiệm của tầm thẩm mỹ của tôi, hai tập kia đọc xong tôi không cần giữ sách. Còn Thân phận của tình yêu tôi trân trọng xếp vào tủ riêng khóa lại. Để hy vọng còn có thể đọc nhiều lần. Nó được xếp vào tủ sách nghiệp vụ của tôi.

NGUYỄN KIÊN

- Một cuốn sách gây xúc động, buộc phải suy nghĩ. Một cuốn sách hay.

- Không phải sử thi theo kiểu truyền thống. Đây là cái thế giới bên trong, là tâm trạng, là những gì người lính trải qua trong và sau chiến tranh.

- Những người lính này tự nguyện, sự chịu đựng và hy sinh của họ là tự nguyện. Nhưng chiến tranh là chiến tranh, nó có sức mạnh tàn phá dữ dội. Đây cũng là hiện thực của chiến tranh.

- Tác giả từng là lính chiến. Sách được viết ra do sự thôi thúc nội tâm, có thể tranh luận, khen chê... nhưng cũng rõ ràng là tác giả có sự thành tâm mong muốn mọi người chớ lãng quên cuộc chiến vừa qua, trong đó có bao nhiêu đau đớn…

Đây là một cách viết. Nó là một bằng chứng về sự trưởng thành của văn xuôi ta. Mỗi nhà văn có một cách nhìn, đối với mình là tốt nhất, đóng góp vào sự phát triển.

VŨ TÚ NAM

Tôi lưu ý các anh chị tấm ảnh tác giả ở bìa sau cuốn sách: Tấm ảnh một người lính, một anh binh nhì. Tác giả là một binh nhì, đã làm tròn nhiệm vụ trong chiến tranh. Anh cũng là một “binh nhì” trong văn chương và cũng đã làm hết sức mình cho văn chương. Không thể phủ nhận sự thành tâm của tác giả mong muốn mọi người đừng bao giờ quên những người đã hy sinh cho thắng lợi của cuộc chiến tranh chống Mỹ vừa qua. Cuốn sách có nhiều ưu điểm như các anh chị đã nói. Tuy nhiên không nên tuyệt đối hóa, cho là cái gì cũng hay cả. Cuốn sách còn có những nhược điểm, thiếu sót, cần trao đổi thêm, như một số đồng chí đã nói. Nhưng Bảo Ninh hoàn toàn khác với những ai muốn phủ nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ. Anh viết rất tâm huyết, điều đó đã được bạn đọc trân trọng và ghi nhận. Không nên chỉ trích dẫn vài dòng trong sách rồi phê phán, vì làm như vậy là thiếu khoa học và không công bằng.

NGUYỄN VĂN BỔNG

… Chúng ta vui mừng đọc của Bảo Ninh một tác phẩm hay thực nảy ra từ cuộc sống và chiến đấu dữ dội của anh trên chiến trường, và cuộc sống và chiến đấu không kém phần dữ dội trong lòng anh lúc viết.

TÔN PHƯƠNG LAN

… Tôi ở gần nhà Bảo Ninh, nên có dịp chuyện trò tâm sự với bà cụ sinh ra anh. Kể lại những ngày anh viết cuốn sách, giọng bà cụ đầy trắc ẩn. “Dạo ấy nó cứ như người mộng du. Nó lấy đêm làm ngày, viết như bị ma ám, rút ruột ra mà viết”. Đúng như ý kiến của các anh chị đã nhận xét, Bảo Ninh đã viết với tất cả máu thịt của mình.

Nếu ở Đại hội lần thứ tư Hội Nhà văn, như Nguyễn Duy đã nói rất hay trong trường ca bi hài của anh, có một phái vui tươi và một phái hằm hằm, thì lần này cũng vậy, và phái hằm hằm phen này vừa rất hung dữ vừa phức tạp xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau.

Hồi còn làm báo Văn nghệ, có lần tôi nhận được bài của một nhà lý luận phê bình ký cái tên rất kỳ: “Đỗ Văn Khang – Lưỡng quốc Tiến sĩ”, hỏi ra mới biết ông này từng có Tiến sĩ mỹ học ở Liên Xô, lại có Tiến sĩ văn học ở Việt Nam. Lần này ông là chiến sĩ tiên phong số một trên trận tuyến quyết đánh chết người. Bài viết của ông có tên “Nghĩ gì khi đọc Thân phận của tình yêu”. Phạm Xuân Nguyên lập tức có bài trả lời “Nghĩ gì khi đọc Nghĩ gì khi đọc Thân phận của tình yêu”. Anh chỉ ra chỗ sai cơ bản của ông Khang: Ông lẫn lộn nhân vật với tác giả. Không biết các thầy Liên Xô dạy thế nào mà ông lưỡng quốc Tiến sĩ này coi Dostoievski chính là tay giết người Raskolnikov trong Tội ác và hình phạt. Vận dụng nguyên xi bài học thuộc lòng từ Nga, ông tuyệt đối coi Kiên, nhân vật đau khổ và trăn trở đích thị là Bảo Ninh, và dùng mọi mánh khóe để chửi tác giả tới thậm tệ, nếu không muốn nói là trịch thượng đến hỗn xược. Ngay từ đầu ông đã sử dụng vu cáo: “Phải thừa nhận là Bảo Ninh khéo viết nên đã làm đôi bạn bạn đọc dễ bị lầm về ý đồ tiểu thuyết của anh. Vì anh đã tiếp thu thủ pháp quen thuộc của nghệ thuật thế giới và đã dựng được cuốn “tiểu thuyết của tiểu thuyết”. Viết theo cách này tác giả đã lẩn đi tới hai lần. Nói rõ hơn: truyện của Bảo Ninh là do anh chàng Kiên viết trong lúc mất ngủ và uống quá nhiều rượu. Trước hết xét về cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết Thân phận của tình yêu. Không rõ sơ ý thế nào mà Bảo Ninh viết sẵn, làm chúng ta đỡ phải tìm tòi: “Đây là một sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo của sự rối bời. Tôi không muốn nói là điên rồ”…” Rồi ông thản nhiên đánh đồng luôn: “Cách viết của Bảo Ninh [tôi nhấn mạnh – NN] dựa trên “cảm hứng chủ đạo của sự rối bời”. Tôi không muốn nói là “điên rồ” thì cách viết sẽ là “cách mượn chén”, nghĩa là thật giả lẫn lộn; đen tối và ánh sáng nhập nhòe, chính nghĩa và phi nghĩa chẳng ra sao cả… Ở đây, phương pháp là dùng hệ luận. Nó thế này, khi cảm hứng chủ đạo là “rối bời”, “bất định” thì tư tưởng rõ ràng là hoang mang, không tin vào chính mình, vào chính lời của mình, dễ rơi vào phủ định… Như vậy, xu hướng “lố bịch hóa” (được hiểu theo nghĩa rộng kiểu người Pháp [? – NN]) là xu hướng chính trong tiểu thuyết của Bảo Ninh. Và như thế, anh đã vi phạm quy luật của nghệ thuật mà anh không biết…”.

Cuối cùng, ông lên án tử: “Trong Kiên [mà ông đã đồng nhất hoàn toàn với tác giả Bảo Ninh] rõ ràng có mầm bẩm sinh của độc ác, của thói nhẫn tâm khô rắn, lạnh lùng. Một sự trống rỗng bất hạnh và tệ mạt”.

Hậu báo “Văn nghệ” và “Nỗi buồn chiến tranh” (Kỳ 4)

Nguyên Ngọc

Khi tôi về làm Đảng đoàn ở Hội Nhà văn, anh Trần Độ có gọi tôi đến hỏi tôi định làm những gì ở đấy. Tôi đã nói đủ thứ kế hoạch, nhưng cuối cùng chốt lại hai việc cụ thể quyết sẽ tập trung chủ yếu: khôi phục lại thật đàng hoàng tạp chí Văn học nước ngoài để chấm dứt sự đứt đoạn gần thế kỷ của ta với văn học thế giới, và làm Trường Viết văn Nguyễn Du. Trước đây, Hội Nhà văn đã thường có những lớp viết văn ngắn hạn ba tháng hoặc có khi sáu tháng cho nhà văn trẻ. Tôi không quan niệm đào tạo nhà văn theo kiểu đó, đấy là những lớp “truyền nghề”. Theo tôi văn chương là một thứ không thể truyền nghề, người đi trước có thể nói một số kinh nghiệm gì đó cho người đi sau, song cũng chẳng ích lợi bao nhiêu. Người viết văn trước hết phải là người có tài “do trời cho”, và mỗi người có tài sẽ “biết” viết theo kiểu của mình, “tạng” của mình, không ai giống ai, có lẽ cũng gần như vân tay của mỗi người, tuyệt đối khác biệt. Vả chăng có hai nhà văn giống hệt nhau, thậm chí chỉ mại mại giống nhau, thì vô ích. Có một ông Nguyễn Du là rất tuyệt, nhưng có hai ông Nguyễn Du thì thừa một ông… Song tôi lại có một nhận xét, dường như ở ta tài năng văn học đặc sắc thường bộc lộ rất sớm, Nguyên Hồng viết Bỉ vỏ năm 16 tuổi, Chế Lan Viên in Điêu tàn năm 17, nhưng rồi không ai đi được thật xa, thường tự lặp lại mình, hay tàn lụi dần…

Vì sao? Có thể chăng ở mặt bằng văn hóa chung của xã hội không cao, và đặc biệt một nền giáo dục nói chung, đặc biệt giáo dục đại học còn quá lạc hậu, hoàn toàn không đủ sức tạo nền tảng cơ bản cho người cầm bút có thể đi thật xa, sau khi đã tiêu tốn hết vốn tài năng bẩm sinh.

Chúng tôi nuôi tham vọng thay thế một trường đại học như cần phải có, bằng cách làm Trường Viết văn Nguyễn Du.

Ngay từ đầu trường Đại học Viết văn Nguyễn Du đã không chủ trương mời các nhà văn đến dạy nghề. Thỉnh thoảng các anh chị chỉ đến chơi với người học, tâm sự đôi chút chuyện đời và công việc viết của mình. Cũng là để người học làm quen dần với đời sống văn học…

Trường Viết văn Nguyễn Du có cái may lớn, nó được giao từ đầu cho hai người chủ trì rất đặc sắc, thậm chí nghĩ lại không còn chọn lựa nào hơn: Hoàng Ngọc Hiến và Phạm Vĩnh Cư.

Hoàng Ngọc Hiến từ Đại học Vinh đã quyết tìm mọi cách ra Hà Nội để thoát khỏi tình trạng tỉnh lẻ. Anh có nền tảng tri thức toàn diện rất vững chắc. Và lại rất độc đáo, thường đột ngột sáng chói bất ngờ, có phần gì đó hơi giống Trần Quốc Vượng, người có “thính giác” đặc biệt về khảo cổ. Tôi có mấy lần đi với anh Vượng, hai anh em cứ như lững thững dạo chơi. Đột ngột anh dừng lại, đứng im một lúc, rồi bảo: Đào xuống đi, ngay dưới chân tớ đây… Và khám phá ra cả một kho di vật thượng cổ cực kỳ quý hiếm. Hẳn nhiều người còn nhớ Hoàng Ngọc Hiến là tác giả bài báo chấn động về “Văn học phải đạo”, xuất hiện rất sớm, lúc anh Giang Nam còn phụ trách tờ Văn nghệ. Một tiếng sấm giữa trời còn trong – hay đúng hơn trời còn đục ngầu. Anh vừa tài tử, thường phá cách, lại vừa là một nhà sư phạm nghiêm cẩn và tinh anh…

Cùng với Hoàng Ngọc Hiến là Phạm Vĩnh Cư.

Phạm Vĩnh Cư được đào tạo ở Nga từ mẫu giáo cho đến trên đại học, và ở Đại học Lomonossov, một kiểu Harvard của Moskva. Những nhà văn Nga tôi từng quen thân đều bảo Cư còn am hiểu văn hóa và văn học Nga giỏi và sâu hơn cả họ. Thấu hiểu tường tận và say mê. Tôi biết có những hôm Cư ra ngồi suốt ngày cạnh mộ Gogol, nhà văn kinh điển đậm đặc tâm hồn Nga. Phạm Vĩnh Cư uyên bác, và theo tôi so với Hoàng Ngọc Hiến, anh có phần ít nhiều bài bản, chỉn chu hơn bên cạnh một anh Hiến hơi nghệ sĩ hơn. Bây giờ nhìn lại, hóa ra ở Nguyễn Du các anh đã thực sự thực hiện cái mà mấy chục năm sau ta sẽ gọi là giáo dục khai phóng, sớm và sâu sắc một cách khác thường. Đến với sinh viên ở đây hằng ngày suốt ba năm không phải là các nhà văn đi trước hay giảng viên ở các trường đại học khác, mà là các chuyên gia hàng đầu ở hầu hết các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, đôi khi cả khoa học tự nhiên. Và họ nói về những nghiên cứu, tìm tòi, trải nghiệm, suy nghĩ tâm huyết nhất của họ ở lĩnh vực mà họ cống hiến cả cuộc đời. Đặc biệt những điều chính họ bằng trực cảm nhận ra còn mơ hồ. Họ tâm sự và mong muốn người học thử cùng nghĩ, cùng họ đi tìm. Có người trình bày cả một công trình nghiên cứu công phu lớp lang hoàn chỉnh, có người ngược lại hầu như chỉ kể chuyện lang bang rất tài tử, thỉnh thoảng đột ngột lóe sáng một ánh chớp… Cũng có khi hai chuyên gia cùng một lĩnh vực, nói cùng một chủ đề, mà ý kiến, thậm chí cả quan điểm hoàn toàn ngược nhau. Và ở đây, các thầy tâm sự với người học những điều họ không nói ở bất cứ nơi nào khác.

Tôi còn nhớ một “sự cố”: không hiểu vì sao mà người đầu tiên đến nói ngay đầu khóa một (1979) là anh Hồ Ngọc Đại. Anh Đại thì ta biết rồi, anh ăn nói sắc sảo mà ngang tàng, chẳng nể ai, chẳng kiêng bất cứ điều gì. Đang giữa câu chuyện thao thao, anh đột nhiên dừng lại và hỏi: Các bạn có biết vì sao mà Cách mạng tháng 8 năm 45 thành công không? Ấy là vì dân ta bấy giờ còn ngu quá! Chứ như hôm nay ấy à, còn lâu!... Tôi gọi cậu bảo vệ: Ra đóng ngay cổng trường ngoài kia lại, kẻo công an vào tóm đầu tất cả thầy trò chúng ta bây giờ. Nghĩ lại cho kỹ, cho thật, Hồ Ngọc Đại đã không nói sai. Hai triệu người đang chết đói, Việt Minh đã khôn khéo phá kho thóc, cả nước bỗng rùng rùng đứng dậy như thác lũ, không gì ngăn nổi. Tất nhiên Cách mạng tháng 8 không chỉ có thế, nhân dân tích tụ uất ức vì nô lệ cả trăm năm, chỉ cần một ngọn lửa nhỏ để bùng cháy, nhưng kỳ thực lúc ấy đã có mấy ai gọi là giác ngộ cách mạng gì đâu. Hiện tượng đám đông mà Gustave Le Bon từng nói là có thật. Hồ Ngọc Đại vốn có tiếng nói bạo, nói ngược, cũng có phần ỷ thế con rể Tổng bí thư Lê Duẩn. Tuy nhiên việc một “sự cố” như vậy diễn ra đúng từ ngày đầu tiên của khóa một, nói theo cách nào đó, không hoàn toàn là ngẫu nhiên. Chúng tôi thật sự muốn gây hoang mang cho người học vừa bước chân vào trường, khiến họ mất hết lòng tin vào tất cả những gì vẫn đinh ninh trước khi đến đây. Họ nghi ngờ tất cả, và thậm chí nghi ngờ cả những điều các thầy, các chuyên gia đầu ngành nổi tiếng sẽ được mời đến nói với họ trong suốt ba năm sắp tới ở trường. Và tự làm lại chính mình, độc lập và thật sự tự do.

Là một trường đại học dẫu sao cũng là của nhà nước nên tất phải có phần gọi là chương trình “cứng” bắt buộc, bộ phận giáo vụ do anh Trần Niêm phụ trách đã ghi rõ môn “Triết học Marx-Engels” (chứ không Marx-Lenin). Phần này do các anh Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Trọng Chuẩn, Việt Phương, Tạ Văn Thành trình bày, anh Lê Hữu Tầng mở đầu, và anh Dương Phú Hiệp tổng kết. Tôi gọi là trình bày bởi có người giảng rất bài bản, có người chỉ trò chuyện nhẹ nhàng cởi mở, người học nghe, hiểu và chấp nhận đến đâu là do tự chính mình.

Các anh Việt Phương, Ngô Thế Phúc, Nguyễn Khắc Dương nói về triết học phương Tây. Triết học phương Đông, Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo là phần của các anh Minh Chi, Quang Đạm, Trần Đình Hượu, Phan Ngọc…

Xã hội học có các anh Phạm Bích San, Tô Duy Hợp, Nguyễn Hồng Phong. Mỹ học có anh Như Thiết. Anh Trần Niêm ở giáo vụ giới thiệu “Ghi chú về nghệ thuật” của Nguyễn Quân và về Kagan.

Tâm lý học được coi là phần rất quan trọng. Trường mời được chuyên gia hàng đầu Phạm Hoàng Gia. Phạm Minh Hạc nói về tâm lý học xô-viết, Hồ Ngọc Đại về tâm lý học hành vi, Phạm Vĩnh Cư về tâm lý học nghệ thuật và Hoàng Ngọc Hiến về phân tâm học.

Về ngôn ngữ học có các chuyên gia Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Hoàng Tuệ.

Các anh Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Phan Huy Lê, Trần Đình Hượu, Phan Ngọc nói về lịch sử Việt Nam, lịch sử văn hóa và tư tưởng Việt. Về lịch sử thế giới thì có các chuyên gia Lương Ninh, Nguyễn Quốc Hùng… Có cả một lực lượng đông đảo, đa dạng và phong phú các anh chị cho phần văn học nghệ thuật Việt Nam và thế giới, những Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Phùng Văn Tửu, Đặng Anh Đào, Đặng Thị Hạnh, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Huệ Chi, Đình Quang, Nguyễn Thụ, Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Vĩnh Cư…

Hậu báo “Văn nghệ” và “Nỗi buồn chiến tranh” (Kỳ 3)

Nguyên Ngọc

Nãy giờ là một số chuyện linh tinh ở Hội Nhà văn sau Đại hội IV, coi như chuyện thường ngày ở huyện. Bây giờ mới tới chuyện nghiêm trang hơn, về cái ban được Thường trực giao cho tôi, như tôi đã nói, có cái tên nghĩ kỹ một chút sẽ thấy rất kỳ quặc: Ban Sáng tác. Thử nhớ xem từ ông Balzac, ông Flaubert, ông Dostoievski, ông Tolstoi, ông Victor Hugo cho đến ông Hemingway, ông Faulkner, ông Jean-Paul Sartre, ông Milan Kundera, ông Salman Rushdhie… có ông nào cần một Ban Sáng tác không? Vậy cái gọi là Ban Sáng tác là ban gì và để làm gì? Kiếm tiền để tài trợ cho các nhà văn sáng tác chăng? Hình như lâu nay đó là một trong những công việc chính của Hội Nhà văn và họ làm khá thành công. Lý do thành công khá buồn cười: các vị “cấp trên” rất cao và đầy uy quyền ở ta rất khinh thường các ông bà nhà văn đúng như anh Nguyễn Đăng Mạnh đã nói thẳng với Tổng bí thư Đảng, lại vừa khá… sợ cái đám các ông bà ấy, đám ấy mà bất bình viết linh tinh lên thì cũng rất phiền. Chi bằng cho chúng ít tiền để mà “yên dân”. Các vị Chủ tịch hội biết rõ tâm lý đó thường định kỳ lên vừa dọa vừa xin, mỗi lần đều được tỷ này tỷ nọ, về phân phát cho hội viên, vừa được tiếng chăm lo cho anh em, vừa nhận được thêm phiếu mỗi khi bầu bán, thậm chí có người giống hệt như ông Tập bên Tàu tin chắc bằng cách này sẽ giữ được ghế Chủ tịch suốt đời… Tôi tin rằng không ít người hiểu rõ sự tệ hại và đáng xấu hổ của cái lối ngửa tay nhận tiền này, anh là người lao động văn học, anh làm ra sản phẩm đem bán mà sống chứ, có người thợ mộc nào ngoài món tiền bán cái bàn cái ghế do mình làm ra, lại được nhà nước tài trợ thêm không? Sao riêng anh lại có? Nhuận bút ở ta không đủ sống, thì làm thêm nghề khác mà tồn tại. Nhưng rồi mọi người đều vừa thở dài vừa nhận tuốt, “mình không nhận thì thằng khác cũng nhận, tội gì! Không nhận khéo “chúng nó” lại bỏ vào túi riêng”. Chị Ý Nhi bảo tôi, xưa nay hai anh em mình tuyệt đối không nhận một xu nào gọi là trợ cấp sáng tác của Hội, hai chúng tôi thuộc về thiểu số tuyệt đối.

Vậy Ban Sáng tác làm gì? “Chỉ đạo” sáng tác ư? Mới nghe đã thấy buồn cười. Là nhà văn thì họ viết, thích gì thì viết nấy, viết thế nào là hoàn toàn do họ, hay dở họ chịu…, cái ban này làm thế nào chỉ đạo được, vả anh lấy tư cách gì mà dám chỉ đạo họ. Nghĩ cho cùng, viết hay sáng tạo nghệ thuật nói chung là công việc tự do nhất, cũng là đơn độc nhất trên đời. Chỉ có một thứ duy nhất có thể ngăn cản anh: tài năng của anh. Nếu anh thật sự không có tài thì trời cũng chẳng giúp gì anh được. Thế thôi. Tất cả những đàn áp, cấm đoán, khủng bố, thậm chí bỏ tù… của bất cứ quyền lực xã hội nào đều là diễn ra sau đó. Tuy nhiên Mikhail Bulgakov có câu phán tuyệt vời “Les manuscrits ne brûlent pas”, bản thảo là thứ đốt không cháy. Chứng cứ sống sờ sờ, tác phẩm Truyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn đã bị một ông Bộ trưởng của cái bộ được gọi là Bộ Văn hóa, buồn thay lại là một nhà thơ không hề xoàng và tôi đã từng tin, ra lệnh cho vào máy xay kỳ nát ra thành bột. Vậy mà rồi cứ như bằng phép màu nó lại sống lại, mạnh mẽ hơn, rực rỡ hơn, trường tồn…

Hậu báo “Văn nghệ” và “Nỗi buồn chiến tranh” (Kỳ 2)

Nguyên Ngọc

Đại hội Nhà văn lần thứ IV, họp từ ngày 28-10 đến 1-11-1989 thì quả là một đại hội “hậu báo Văn nghệ”. Trong Hòa bình khó nhọc tôi đã kể khá rõ việc trước đại hội ông Đào Duy Tùng “mời tôi đến chơi” ở trụ sở Ban Bí thư Trung ương Đảng, đường Nguyễn Cảnh Chân ngày đêm có công an gác chặt ở hai đầu. Cảm giác của tôi là hơi buồn cuời: ông ấy, ủy viên Bộ Chính trị phụ trách tư tưởng, ông ấy sợ. Đại hội họp quá gần với vụ báo Văn nghệ. Họ sợ đây sẽ là cơ hội bùng nổ phản ứng rộng rãi, dữ dội và ồn ào việc họ xử lý báo Văn nghệ, đến lúc này hãy còn nóng bỏng. Ông Tùng hỏi tôi nghĩ gì về đại hội lần này. Câu hỏi ngớ ngẩn và vụng về, tại sao lại hỏi tôi, người mới bị thanh trừng. Rõ ràng ông sợ tôi đứng ra hoặc anh em lấy tôi làm “một ngọn cờ” (!) để nổi dậy thì sẽ khó cho các ông quá. Tận dụng luồng gió còn có ít mùi dân chủ của Đại hội Đảng lần thứ VI, các nhà văn đã đòi và đòi được họp đại hội toàn thể chứ không phải đại hội đại biểu như các lần trước để cái gọi là hệ thống chính trị loại đi bớt những người họ không ưa. Anh em cũng đã đòi được quyền đại hội bầu trực tiếp Tổng thư ký (Cũng xin nói luôn, trước đây có tục không thành văn, hội nào có nhân vật thuộc loại khai quốc công thần tham gia ban lãnh đạo thì mới bầu người gọi là Chủ tịch, như Hội Nhà văn có thời cụ Nguyễn Công Hoan làm Chủ tịch, dưới ông mới đến Nguyễn Đình Thi là Tổng thư ký. Sau đó lại trở lại chỉ có Tổng thư ký. Bây giờ thì Chủ tịch tất, lệ mới không biết ra đời từ bao giờ, nhưng mà nhớ lại từng có lúc dự định – hẳn phải là của Bộ Giáo dục – ngay từ lớp Một, lớp Hai, các cô cậu nhóc con trưởng lớp sẽ được gọi là Chủ tịch lớp kia mà, “cái nước mình nó thế” anh Hoàng Ngọc Hiến nói rồi).

Tôi không trả lời câu hỏi đầy lo lắng của ông Tùng, chỉ nói cái đại hội này, và thậm chí cả cái Hội Nhà văn của nhà nước kia chẳng có gì quan trọng lắm đâu, ông và các ông chớ có lo. Đúng ra đừng có nó là hơn. Nguyễn Huy Thiệp viết hay không dính dáng chút nào đến sự lãnh đạo Đảng đoàn của tôi, tôi viết dở chẳng hề do tội ông Nguyễn Đình Thi làm Tổng thư ký. Tôi nói một chuyện khác, theo tôi quan trọng hơn nhiều. Và tôi nói với ông, nghiêm túc, trong gần một tiếng, về sự xuống cấp trầm trọng ở tầng lớp trí thức nước ta bị Đảng liên tục vùi dập bao phen và bằng nhiều cách. Với một nền tảng của một tầng lớp trí thức ưu tú của dân tộc xuống cấp và bị ĐẢNG KHINH BỈ SÂU SẮC như anh Nguyễn Đăng Mạnh đã nói thẳng với Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trong cuộc gặp mặt nổi tiếng, thì đừng hòng có một nền văn học lớn như ta cứ muốn đòi vống lên… Tôi không tin ông Tùng hiểu lắm ý kiến và mối lo thật sự của tôi. Ông còn lo thậm chí đại hội bầu tôi làm Tổng thư ký.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn