Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngày 30-4-1975. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngày 30-4-1975. Hiển thị tất cả bài đăng

Lịch sử không thuộc về một phía mà thuộc về nỗi đau của cả dân tộc

Hoàng Dũng

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người, đám đông và văn bản

Nguồn: https://www.sbs.com.au/.../lich-su-khong-thuoc.../xp1i4slr5

Nguyen Thi Khanh Tram

Đồng tình với tác giả. Rất buồn khi mấy hôm nay PTV của VTV 1 vẫn nói “ngày giải phóng miền Nam“, như vậy là truyền thông chính thống vẫn còn chia rẽ…

Trần Kiêm Đoàn

Bài viết dẫn lại quan điểm của PGS.TS Hoàng Dũng là một nỗ lực đáng ghi nhận nhằm đưa thảo luận về ngày 30 tháng 4 năm 1975 ra khỏi quỹ đạo nhị nguyên “thắng - thua”, để tiến gần hơn đến một nhận thức mang tính nhân bản và hòa giải.

Trước hết, về mặt tri thức, lập luận rằng lịch sử không chỉ thuộc về một phía mà là “nỗi đau chung” có cơ sở vững chắc trong các nghiên cứu hiện đại về ký ức tập thể (collective memory). Những cách gọi khác nhau “giải phóng”, “quốc hận”, “thống nhất”… quả thực phản ánh vị thế trải nghiệm, chứ không đơn thuần là lựa chọn ngôn từ. Việc chỉ ra yếu tố “nội chiến” trong cuộc chiến Việt Nam cũng là một cách gọi có tính phân tích, giúp nhìn rõ bản chất phức hợp của xung đột, thay vì giản lược thành một chiều ý thức hệ.

Tuy nhiên, cần rạch ròi rằng cách tiếp cận “cân bằng ký ức” không đồng nghĩa với việc xóa nhòa sự khác biệt về chính nghĩa, trách nhiệm lịch sử hay bối cảnh quốc tế. Một bài học quan trọng của sử học là: đồng cảm không thay thế cho phân tích. Nếu chỉ dừng ở “cùng đau” mà không làm rõ các tầng nguyên nhân, từ chiến tranh lạnh, can thiệp quốc tế đến cấu trúc chính trị nội tại… thì nguy cơ rơi vào một thứ hòa giải cảm tính, thiếu chiều sâu.

Điểm mạnh của bài viết là nhấn mạnh vai trò của hành động cụ thể trong hòa giải, qua ví dụ thời Trịnh - Nguyễn. Đây là một so sánh gợi mở, dù cần thận trọng vì bối cảnh lịch sử hai thời kỳ rất khác nhau. Nhận định về không gian tự do biểu đạt cũng chạm đến một vấn đề cốt lõi: hòa giải không thể chỉ là diễn ngôn đạo đức, mà cần điều kiện thể chế để các ký ức khác biệt được cất tiếng.

Tóm lại, bài viết có giá trị như một lời kêu gọi nhân bản: chuyển từ ký ức đối kháng sang ký ức đồng cảm. Nhưng để đi xa hơn, cần bổ sung một nền tảng phân tích lịch sử khách quan và đa chiều, nơi sự thật, trách nhiệm và cảm xúc cùng tồn tại, không triệt tiêu lẫn nhau, mà soi sáng cho nhau.

Sự kết thúc chiến tranh Việt Nam

Henry Kissinger

Đỗ Kim Thêm dịch

clip_image002

Đại tá Bùi Tín của QĐNDVN chào tiễn biệt toán lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam vào ngày 29 tháng 3 năm 1973. Nguồn ảnh: Picture alliance / AP / Charles Harrity

Lời người dịch: Nguyên tác của bản dịch là “The Vietnam War and its Conclusions”, một trích đoạn trong tác phẩm Leadership – Six Studies in World Strategy của Henry Kissinger do Nhà xuất bản Penguiun Press, New York ấn hành ngày 5-7-2022, (Trang 149-163).

Trong bài viết, Kissinger nêu lên chiến lược nguyên thuỷ khi đàm phán của Richard Nixon đề ra là binh sĩ Mỹ và Bắc Việt phải cùng lúc rút ra khỏi miền Nam. Nhưng khi Kissinger dự thảo cho Hoà ước Paris, có sự thay đổi điều kiện là Lê Đức Thọ chỉ chấp thuận cho việc binh sĩ Mỹ đơn phương ra đi trong khi binh sĩ Bắc Việt được tiếp tục đồn trú tại miền Nam. Kissinger không giải thích tại sao phải chấp nhận điều kiện này.

Trong cuốn sách Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War, do Nhà xuất bản Real Clear Publishing ấn hành vào tháng 4 năm 2023, Stephen B. Young đã dẫn chứng nhiều nguồn tài liệu và thư tín của Ellsworth Bunker, Henry Kissinger, Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, Anatoly Dobrynin, Claude Dulong-Sainteny cũng như trực tiếp phỏng vấn Bunker và Nixon. Stephen B. Young kết luận, Kissinger đã qua mặt cả Nixon khi tự ý đề ra điều kiện cho binh sĩ Bắc Việt ở lại. Lá thư của Kissinger gửi cho Bunker vào ngày 25-5-1971 và biên bản cuộc họp ngày 9-1-1971 tại Toà Bạch Ốc với Đại sứ Dobrynin là hai bằng chứng cụ thể.

Sau khi tiếp xúc với Kisinger, Đại sứ Dobrynin xác nhận với Moscow và Hà Nội là: “…Nếu Hoa Kỳ cam kết rút toàn bộ lực lượng trong một thời hạn nhất định và có thể không yêu cầu lực lượng QĐNDVN rút đồng thời ra khỏi miền Nam … Bắc Việt nên cam kết tôn trọng lệnh ngừng bắn trong thời gian Hoa Kỳ rút quân …”

Richard Nixon nói không biết Kissinger thật sự làm gì vào năm 1971.

Cho đến nay, Kissinger chỉ lăp lại các biện minh quen thuộc: Hậu quả của Watergate làm cho Nixon ra đi, Quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ làm cho miền Nam không thể tiếp tục chiến đấu, không thú nhận bị Lê Đức Thọ lừa đảo và hay có bất cứ một trách nhiệm nào về chính trị hay đạo đức cá nhân. Kissinger vẫn chưa trả lời các cáo buộc của Stephen B. Young.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn