Hiển thị các bài đăng có nhãn hòa giải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hòa giải. Hiển thị tất cả bài đăng

Hoà hợp hoà giải: ngôi nhà xây dở

Hiền Vương

VNTB – Hoà hợp hoà giải: ngôi nhà xây dở
Hòa hợp, hòa giải không phải xóa bỏ cái khác biệt, mà là chấp nhận cái khác biệt.

Đây là một câu chuyện cũ ở tờ báo Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần, một ấn phẩm đã phải đóng cửa, và số báo cuối cùng khép lại chặng đường 16 năm, được ghi ngày phát hành là 28-6-2019, số báo thứ 809.

Tháng Tư năm 2010, nhóm thực hiện tờ Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần đã tổ chức một cuộc tọa đàm tại Press Café vào một chiều tháng Tư, với sự tham dự của bảy khách mời từng là chứng nhân lịch sử của giai đoạn 30-4-1975 trong những cương vị khác nhau.

Đó là kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn, người lính Điện Biên năm xưa, năm 1975 vào Nam với mục đích tiếp quản. Là ông Lê Hiếu Đằng (1944 - 2014), nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM, năm 1975 là Phó Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam. Bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, những năm trước 1975 là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, một trong những lãnh tụ của phong trào đấu tranh đô thị ở miền Nam. Ba người - luật sư Nguyễn Ngọc Bích, chuyên viên kinh tế Huỳnh Bửu Sơn và giảng viên Chương trình Fulbright Phan Chánh Dưỡng, trước năm 1975 là những công viên chức, giáo viên của chế độ cũ. Sau 1975, luật sư Bích đi học tập cải tạo trong 12 năm, còn ông Sơn và ông Dưỡng sớm làm việc trong chế độ mới. Họ gặp nhau khi cùng sinh hoạt chung trong nhóm nghiên cứu kinh tế Thứ Sáu.

Người cuối cùng, trẻ nhất, là ông Trần Sĩ Chương, sang Mỹ du học từ năm 1973, chứng kiến sự kiện 30-4-1975 từ nước Mỹ.

Xin trích ghi lại buổi cà phê hội luận kể trên - tháng Tư của năm 2010, bởi giờ cũng là tháng tư, và những trăn trở hồi nào vẫn thời sự đến tận hôm nay.

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích là người ‘khai cuộc’ với những bông đùa: “Nếu cuộc nói chuyện này lùi lại ba mươi lăm năm, chắc chắn anh Đằng, anh Mẫm hay anh Huấn sẽ là người nói, còn chúng tôi sẽ phải ngồi yên mà nghe. Nay các anh vui vẻ cho tôi nói trước, chứng tỏ chúng ta đã hiểu nhau, quý nhau, thực sự hòa hợp. Đây là dịp tốt để chúng ta chia sẻ những suy nghĩ, mong mọi người cũng sẽ đạt được sự hòa hợp như vậy (…)

“Theo tôi, hòa hợp dân tộc phải do người chiến thắng chủ động tiến hành, trước hết là hòa hợp với người đã khuất. Thế nhưng chúng ta làm việc này chậm quá. Mãi gần đây chúng ta mới dân sự hóa nghĩa trang Biên Hòa, nơi chôn cất tử sĩ Việt Nam cộng hòa” - ông Bích nhận xét.

Cố Thiếu tướng Lê Minh Đảo: “Đảng CSVN hòa giải với người dân trong nước trước…”

RFA - 2020-03-20

Di ảnh Tướng Lê Minh Đảo với Bảo quốc Huân chương. Courtesy: Facebook BPhuong Le

Người trấn giữ mặt trận Xuân Lộc

“I will hold Long Khánh. I will knock them down here even if they bring two division or 3 division”. (Tôi sẽ giữ Long Khánh. Tôi sẽ đánh tan họ dù thậm chí họ có 2 hoặc 3 sư đoàn).

Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh Sư đoàn 18 Quân lực VNCH, tại mặt trận Xuân Lộc trong những ngày đầu tháng 4 năm 1975, đã khẳng định rằng sẽ quyết giữ Long Khánh và sẽ đánh tan địch quân dù họ có sử dụng đến 2-3 sư đoàn. Lời khẳng định này được truyền thông quốc tế ghi lại trong thước phim tư liệu chiến trường và vẫn được công chiếu suốt 45 năm qua.

Mặt trận Xuân Lộc là một trận đánh lớn cuối cùng tại cửa ngỏ Sài Gòn. Thiếu tướng Lê Minh Đảo lúc bấy giờ giữ trọng trách ngăn chận Quân đội Bắc Việt và trận chiến đã diễn ra trong 12 ngày đêm.

Vị tướng chỉ huy Sư đoàn 18 Quân lực VNCH đã cùng đồng đội của ông tiếp tục chiến đấu oai hùng cho đến khi Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh buông súng đầu hàng vào trưa ngày 30/4/1975. Không lâu sau thời khắc chiến tranh Việt Nam chấm dứt, Thiếu tướng Lê Minh Đảo ra trình diện chính quyền mới và bị đưa ra Bắc đi tù cải tạo trong suốt 17 năm dài. Ông được trả tự do và đến Mỹ định cư hồi tháng 4 năm 1993.

Trong bối cảnh miền Nam Việt Nam đang bị Cộng sản tràn ngập thì Tướng Lê Minh Đảo đã thề tử thủ và quyết chiến tới cùng, dầu số lượng của địch quân gấp mấy lần. Ông là một người có tư cách của một vị tướng, không bỏ bạn bè, không bỏ anh em và đã không bỏ ra đi mà ở lại để nhận trách nhiệm của một người chỉ huy

- Cựu Trung úy Nguyễn Khắc Sơn

Cựu Trung úy Nguyễn Khắc Sơn, thuộc Sư đoàn 18, nói với RFA về ghi nhận của ông đối với Thiếu tướng Lê Minh Đảo trong những giờ phút hấp hối của cuộc chiến tranh Việt Nam:

“Trong bối cảnh miền Nam Việt Nam đang bị Cộng sản tràn ngập thì Tướng Lê Minh Đảo đã thề tử thủ và quyết chiến tới cùng, dù số lượng của địch quân gấp mấy lần. Ông là một người có tư cách của một vị tướng, không bỏ bạn bè, không bỏ anh em và không ra đi mà ở lại để nhận trách nhiệm của một người chỉ huy”.

Ông Nguyễn Khắc Sơn cho biết sau khi ra hải ngoại, ông có vài dịp tiếp xúc và trò chuyện với cựu Thiếu tướng Lê Minh Đảo. Ông rất xúc động trước tinh thần vững vàng luôn hướng về quê hương Việt Nam của Tướng Đảo.

Đổi mới chính trị để hòa giải dân tộc

Nguyễn Quang Duy

Gần đây có hai sự kiện đáng để chúng ta suy ngẫm:

(1) Thủ tướng Lý Hiển Long tuyên bố Hà Nội “xâm lược” và “chiếm đóng” Campuchia; và

(2) Đại tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn được vinh thăng Phó Đề đốc, trở thành vị tướng thứ 4 của Quân lực Hoa Kỳ, cho biết gia đình ông gồm 7 người, nhỏ nhất chỉ 2 tuổi, bị cộng sản xử tử trong biến cố Mậu Thân 1968.

Phép thử lòng tin chiến lược…

Ngày 15/11/2018, bế mạc Thượng đỉnh ASEAN thường niên tại Singapore, Thủ tướng Lý Hiển Long chia sẻ đã đến lúc ASEAN phải chọn giữa Mỹ-Trung.

ASEAN hình thành với 5 nước nhỏ vào năm 1967 nhằm chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, Hà Nội chính là nỗi đe dọa của các nước này.

Chuyện tưởng chừng mọi người đều biết nhưng lời phát biểu của Thủ tướng Lý Hiển Long: Việt Nam “xâm lược” và “chiếm đóng” Campuchia, đụng phản ứng dữ dội của phía Hà Nội.

Điều này cho thấy Hà Nội đã hòa hợp trở thành một thành viên ASEAN, nhưng chưa muốn nhìn nhận và hòa giải với quá khứ lịch sử.

Như thế sự đoàn kết ASEAN khó có thể được duy trì khi phải chọn giữa Mỹ-Trung, chuyện đối đầu hay phong tỏa lẫn nhau sẽ dễ dàng xảy ra.

Như một phép thử lòng tin, Thủ tướng Lý Hiển Long một chính trị gia lão luyện, nhìn xa trông rộng, mới 3 lần nhắc thẳng chuyện cũ, đáng buồn Hà Nội chưa nhận ra vấn đề.

Năm 2013, cũng tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore, báo chí ca ngợi cựu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về bài phát biểu xây dựng “lòng tin chiến lược” trong Khối ASEAN.

Nhưng thực tế cho thấy Hà Nội chưa hòa giải, chưa chấp nhận sự thật để tạo niềm tin với các quốc gia khác, chiến lược như vậy chỉ là lời nói đầu môi.

Hà Nội sa bẫy và sa lầy…

Phản ứng của phía Hà Nội còn cho thấy họ chưa học được bài học đã sa vào bẫy của Trung cộng và sa lầy tại Campuchia.

Thời nội chiến Bắc Nam, Hà Nội cũng đã từng đu dây giữa hai nước đàn anh Nga Sô và Trung cộng, nhưng cuối cùng phải phụ thuộc vào Nga.

Có bằng chứng cho thấy Trung cộng đã gởi hằng chục ngàn cố vấn sang Campuchia trong thời gian 1975-79 để đối đầu với Việt Nam. Họ tham mưu Khmer đỏ quấy rối biên giới Việt Nam và cố vấn cho Khmer đỏ rút quân về biên giới Thái Lan để Việt Nam sa vào bẫy và sa lầy tại Campuchia.

Nhiều quốc gia cấm giao thương với Việt Nam và cô lập Việt Nam. Liên Hiệp Quốc liên tục làm áp lực để Hà Nội rút quân.

10 năm dân Việt phải gánh chịu khó khăn phục vụ chiến tranh. Thanh niên thiếu nữ Việt phải ra chiến trường làm nghĩa vụ quốc tế và nhiều người đã chết hay bị thương trên đất Campuchia, Lào và cả ở Thái Lan.

Khi Khối Cộng sản Đông Âu và Nga Sô sụp đổ, Hà Nội lại quay về với Bắc Kinh ký kết Hiệp ước Thành Đô 1990, rút quân khỏi Campuchia và chịu ảnh hưởng của Trung cộng từ đó đến nay.

Quan điểm Việt Nam “xâm lược” và “chiếm đóng” Campuchia được hình thành từ thực tế và đã trở thành một quá khứ lịch sử.

Dân chủ, hòa giải và tương lai

Phạm Phú Khải
Hình minh họa.
Hình minh họa.

Trong bài trước, tôi đề cập đến vấn đề hòa giải. Tôi biện luận rằng chỉ khi nào Việt Nam có được một nhà nước dân chủ thật sự và có một chính sách hòa giải toàn diện thì hy vọng mới có thể tiến hành hòa giải từng bước. Hy vọng, bởi vì để hòa giải thật sự, nó đòi hỏi nhiều yếu tố về con người, về nỗ lực tự vượt qua chính mình và tự thay đổi. Các chính sách đề ra phải hỗ trợ các nỗ lực cá nhân này, điển hình là truyền thông, giáo dục cũng như các bài học về hòa giải của các dân tộc khác, chẳng hạn.
Tóm lại, để có thể thật sự hòa giải đối với toàn dân tộc thì trước hết phải có một nhà nước dân chủ đích thực làm nền tảng của công lý và chính nghĩa. Tức dân chủ, theo tôi, phải là tiến trình đi trước sau đó mới đến hòa giải.
Nhưng làm thế nào để có được dân chủ khi cuộc vận động và đấu tranh cho dân chủ đòi hỏi sự đoàn kết và dấn thân cho mục tiêu chung giữa người Việt với nhau, trong và ngoài nước, khi mà sự rạn nứt, chia rẽ và đố kỵ còn quá trầm trọng ngay cả giữa những người cùng mục đích và chủ trương trong tình hình hiện nay?
Đây là một bài toán, một thách đố trông khá nan giải!
Bài toán này, thách đố này có lẽ đã được thảo luận không ngừng hơn bốn thập niên qua kể từ biến cố 30 tháng Tư 1975, và hơn một trăm năm qua kể từ phong trào duy tân. Sự khác biệt chính yếu của hai thời kỳ này là mục tiêu dân chủ hiện nay, và độc lập trước đây.
Thật ra độc lập và dân chủ có điểm chung, đó là tự do. Tuy phương pháp của hai cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Châu Trinh đều muốn nước nhà được độc lập, để người dân Việt Nam không còn bị nô lệ, xiềng xích, đọa đầy, nhưng cách thức thực hiện khác nhau trời vực. Tuy nhiên họ đều nhìn thấy rằng người dân không có một chút tự do nào cả dưới chế độ thực dân Pháp. Trong khi đó, mọi thiết chế và mục đích của dân chủ là để bảo đảm quyền và tự do của người dân.
Tuy có điểm chung này, độc lập không đồng nghĩa với tự do. Trong lịch sử và trong bối cảnh chính trị hiện đại đều chứng minh điều này. Theo báo cáo năm 2019 của tổ chức Freedom House, thì trong dân số toàn cầu hiện nay gồm 7,6 tỷ người, có 39 phần trăm sống trong tự do, 24 được tự do phần nào, và 37 không có tự do. Trong tổng số 195 quốc gia thì 44 phần trăm tự do, 30 tự do phần nào và 26 không tự do. Nghĩa là rất nhiều quốc gia được độc lập kể từ Thế chiến II đến nay nhưng vẫn chưa có tự do.

15 năm một nghị quyết - vết thương dân tộc vẫn chưa lành!

FB Nguyễn Đình Bin

Còn một tuần nữa là đến 26-3, kỷ niệm 15 năm ra đời Nghị quyết 36 NQ/TW, nghị quyết công khai đầu tiên của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Khi nhận nhiệm vụ Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài đầu năm 2000 tôi có một mong muốn cháy bỏng là làm sao để hàn gắn được vết thương dân tộc, sau một phần tư thế kỷ, vẫn còn rỉ máu? Tôi suy nghĩ nung nấu và định ra một số việc tôi cho là then chốt, trong đó quan trọng nhất, quyết định nhất là phải có một nghị quyết công khai của cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng nói rõ quan điểm, đường lối đổi mới, quang minh chính đại về lĩnh vực công tác này, để thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân, ở cả trong và ngoài nước, và cho cả thế giới đều biết. Thế là tôi bắt tay vào việc. Từ khi trực tiếp nêu ra ý tưởng rồi chủ trì và trực tiếp soạn thảo không ít đoạn, kiên trì thuyết phục để đạt được sự đồng tình, nhất trí từ cán bộ dưới quyền đến các Ban, Bộ, ngành hữu quan và kiên trì theo đuổi, thúc đẩy suốt 4 năm ròng rã, cuối cùng văn kiện lịch sử này đã được ban hành. Cùng với Nghị quyết 36 NQ/TW tôi cũng đạt được - quả thực cũng với không ít lao tâm, khổ tứ - một số trong các mục tiêu khác đã định ra như thành lập Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, lập Quỹ hỗ trợ cộng đồng, cho phép thân nhân vào thắp hương, tôn tạo mồ mả các sỹ quan, binh sỹ quân đội Sài Gòn tại nghĩa trang Bình Dương, trực tiếp kiến nghị với Bí thư TƯ Đảng, Phó Thủ tướng Vũ Khoan, phụ trách đối ngoại khi đó, rồi tiến hành gặp gỡ và mời Nguyễn Cao Kỳ, một số nhân vật coi là chống đối khác về nước …

Sau 15 năm đi vào cuộc sống, Nghị quyết 36 NQ/TW đã được thực thi phần nào, được cộng đồng hoan nghênh, tạo ra khá nhiều đổi thay. Nhưng tôi vẫn buồn: vết thương dân tộc thực sự vẫn chưa lành!!! Với các nước ngoài đã từng đô hộ, xâm lược nước ta, gây ra biết bao tội ác tầy trời, biết bao đau thương, mất mát, hậu quả khủng khiếp, nặng nề… mà nhân dân ta vẫn còn phải gánh chịu, với truyền thống khoan dung, hòa hiếu, chúng ta đã gác lại quá khứ, bình thường hóa quan hệ và kết bạn, trở thành những đối tác chiến lược, hợp tác toàn diện… vì tương lai của mỗi quốc gia, vì hòa bình, hợp tác và phát triển trên thế giới. Vậy mà, vì sao, cuộc chiến ác liệt nhất đã kết thúc và đất nước đã thu về một mối hơn 4 thập kỷ mà dân tộc ta, nói cho cùng đều là nạn nhân của sự đô hộ và xâm lược của nước ngoài nói trên, vẫn chưa hòa giải được với nhau? Cũng chính sự đô hộ và xâm lược của nước ngoài đó đã chia ly bao gia đình Việt và cả dân tộc Việt, gây ra cảnh huynh đệ tương tàn trên đất nước ta. Thế mà ta đã hòa giải được với họ, còn chúng ta, anh em một nhà “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”, thì lại chưa hòa giải được với nhau?

Tôi trộm nghĩ: Tất cả mọi con dân Việt chúng ta, dù đang ở bất cứ nơi đâu, đều phải cùng nhau suy ngẫm, tìm ra nguyên nhân vì sao, và cùng nhau khắc phục! Sự trường tồn, tương lai của Dân tộc ta, Tổ quốc ta và hạnh phúc của chính mỗi bản thân và mỗi gia đình con Lạc, cháu Hồng chúng ta đòi hỏi phải làm điều đó! Không hòa giải được với nhau thì nói gì đến cùng nhau đoàn kết, thực hiện được lời Hồ Chí Minh đã dậy “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”? Mà không đoàn kết với nhau được thì làm sao tạo nên được sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc để mà kết hợp sức mạnh ấy với sức mạnh thời đại, như Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổng kết rất đúng về bài học thắng lợi, đặng xây dựng và bảo vệ thành công một nước Việt Nam độc lập, tự chủ, cường thịnh, với toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ trên đất liền, bầu trời và biển, đảo, dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, có vị trí, vai trò xứng đáng trên thế giới đầy biến động, cạnh tranh và thách thức quyết liệt này?!

Nhân đây, tôi xin post lên bài tôi viết theo yêu cầu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, cách đây đã gần 10 năm, đã được đăng tải trên Tạp chí Quê Hương và một số báo mạng, về quá trình thai nghén và ra đời của Nghị quyết 36 và một số việc tôi đã làm được trong 4 năm công tác ở Uỷ ban, để bạn nào quan tâm và chưa đọc có thể đọc. Bài viết để đăng công khai nên chỉ nói được những gì nên nói và có thể nói. Rất mong các bạn thông cảm.

Tổng thống Trump sẽ gặp lãnh tụ Bắc Hàn ở Singapore

Lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong Un và Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump sẽ gặp lãnh tụ Bắc Hàn ở Singapore, nhà lãnh đạo Mỹ cho biết.

"Cuộc gặp nhiều kỳ vọng giữa ông Kim Jong Un và tôi sẽ diễn ra tại Singapore vào ngày 12/6", "ông chủ" Nhà Trắng viết sáng 10/5 trên Twitter.

"Cả hai chúng tôi sẽ cố gắng biến nó thành một khoảnh khắc đặc biệt cho Hòa bình Thế giới".

Nỗi buồn của một người Việt

Lê Phan

Xin tác giả Lê Phan hãy yên lòng. Sự đời có vay có trả. Những kẻ một thời đã giấu nhẹm được khuôn mặt thực trước con mắt của nhân dân thế giới, dùng mánh lới ngoạm được cả miền Nam và làm tan hoang dân tộc chúng ta, thì với thời gian, như cái kim trong bọc, khuôn mặt ghê gớm ấy cũng phải lộ dần ra chứ làm sao giấu nhẹm mãi được. Từ hai cái tai sói lấp ló trong nhiều năm qua, chả phải trên màn hình đang dần dần hiện lên cả một cái mõm sói đỏ lòm đấy là gì. Còn nhân dân Việt bị lũ sói khôn khéo đánh lừa vào bẫy khiến mỗi ngày bị ngoạm một miếng mà chưa đến nỗi chết ngay, đúng vậy, nhưng “vật cùng tắc phản” vốn là một quy luật đã được minh chứng từ hàng ngàn năm nay, làm sao không tin rằng sẽ có ngày chính những người Việt sức cùng lực kiệt kia tự vùng lên giành lại quyền làm chủ cái đất nước muôn đời của họ? Mà cũng chẳng cần phải thế. Tự phía những con sói chúng có yên lành với nhau được mãi đâu.  Vì chúng là sói kia mà. Chúng cũng phải chịu sự “chuyển hóa” của thế giới này chứ. Đến cái ông Bắc Hàn cha truyền con nối giết người không ghê tay, mới hôm qua còn giết chú giết anh khủng khiếp thế mà thoắt một cái, hôm nay đang khoác một bộ mặt mới, đấy sao? Hãy tin chúng tôi đi thưa bà. Trái đất này đâu có thể vần chuyển lung tung được. Sự định hướng của nhân loại là không thể đảo ngược. Bà chẳng thấy những con sói đã phải kéo nhau vào lò hàng loạt rồi ư. Có phải vì dân vì nước mà chúng thiêu đốt nhau hay không? Hay đó là kết quả của một sự tự hủy? Xin bà hãy thử làm một cuộc điều tra xã hội học thật kỹ lưỡng thì khắc biết.
Bauxite Việt Nam

Không hiểu những người Việt khác có đồng tâm sự với tôi không nhưng mấy ngày nay, cứ mỗi lần thấy những hình ảnh về hai miền Nam Bắc Hàn thì tôi lại chạnh lòng, bởi nghĩ lại, miền Nam và miền Bắc Việt Nam cũng có thể chứng kiến một cảnh tương tự nếu lịch sử khác đi.

Tuần rồi thế giới đã kinh ngạc chứng kiến lãnh tụ của hai nước, Đại Hàn Dân quốc ở miền Nam và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên ở miền Bắc, bắt tay nhau rồi dắt nhau đi qua đi lại một cái biên giới tượng trưng. Ngay cả đến những người nghi ngờ nhất cũng không thể nào không thấy xúc động trước cái cảnh hai lãnh tụ của hai quốc gia đã từng lâm chiến đẫm máu có thể có một cuộc gặp gỡ thân thiện như vậy.

Tuần này, ở giải vô địch bóng bàn quốc tế, hai đội tuyển nữ của hai miền Nam Bắc Hàn lại một lần gây kinh ngạc khi họ buông vợt, bắt tay nhau, từ chối thi đấu và tuyên bố sát nhập để thành lập một đội tuyển thống nhất. Cử chỉ biểu tượng đó của họ đã khiến Hội đồng quản trị của Tổng cục Bóng bàn Quốc tế xúc động đến nỗi đứng lên vỗ tay hoan hô. Và lần đầu tiên trong lịch sử của bất cứ một bộ môn thể thao nào, đồng ý cho phép hai đội từ chối thi đấu được tiếp tục tham gia.

Viết trên tạp chí The New Yorker, ông Chang-rae Lee nhớ lại cha mình. Ông bảo dầu cho hội nghị thượng đỉnh có thực sự dẫn đến việc thay đổi ở bán đảo Triều Tiên hay không, ông ước gì cha mình còn sống để chứng kiến.

Ông Lee kể lại là cha ông sinh ra ở Bình Nhưỡng năm 1939. Một vài tháng trước cuộc chiến, vào mùa Thu năm 1950, cha ông và đại gia đình, cùng với nhiều triệu người miền Bắc khác, đã bỏ chạy xuống miền Nam làm người tị nạn, nơi họ gây dựng lại sự nghiệp từ hai bàn tay trắng.

Nhưng câu chuyện gia đình ông còn bi thảm hơn bởi khi đại gia đình bỏ chạy xuống miền Nam thì có một ông chú, vì bà vợ mới sanh, không chạy kịp, nên mắc kẹt lại miền Bắc. Trong suốt cuộc đời còn lại, cha ông vẫn nhớ đến chú thím của mình, không biết bây giờ ra sao, nhất là khi có tin một số gia đình phân cách được gặp nhau.

Người Việt chúng ta cũng có bao nhiêu câu chuyện tương tự. Nhưng sự gặp gỡ của chúng ta cay đắng hơn nhiều.

Sau năm 1954, thế giới có ba quốc gia phân cách: Nam Bắc Việt Nam, Nam Bắc Hàn và Đông Tây Đức. Cả ba quốc gia đều là nạn nhân của cuộc Chiến tranh Lạnh, khi hai cường quốc Hoa Kỳ và Liên Xô phân chia ảnh hưởng. Nhưng trong ba quốc gia đó, số phận hẩm hiu nhất là  Việt Nam.

Chiến tranh đến với Nam Bắc Hàn đầu tiên. Ngày 25 Tháng Sáu, 1950, sau khi đạt được sự đồng ý của Mao Trạch Đông và sự đồng ý một cách ngần ngại của Stalin, quân đội Bắc Hàn đổ qua vĩ tuyến thứ 38, lằn ranh giữa hai miền Nam Bắc được Liên Xô và Hoa Kỳ đồng ý sau Thế chiến thứ 2.

Cuộc chiến lúc đó hoàn toàn có lợi cho miền Bắc. Tổng Thống Harry Truman quyết định là không thể để cho miền Bắc chiếm miền Nam. May là nhờ Liên Xô tẩy chay không tham gia nên Hoa Kỳ thuyết phục được Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đồng ý cho phép thành lập một lực lượng Liên Hiệp Quốc để bảo vệ Nam Hàn chống lại điều được công nhận là một sự xâm lăng của Bắc Hàn. Dần dà có 21 quốc gia gửi quân sang tham dự, nhưng thực sự Hoa Kỳ là lực lượng chủ lực, chiếm đến 90% quân số.

Cuộc chiến gay go với những giai đoạn lực lượng Liên Hiệp Quốc và Nam Hàn thua nặng, bị đẩy lùi về phía Nam và khi họ thắng trở lại đẩy lùi lực lượng miền Bắc quay lại biên giới đến bờ sông Hắc Lục, tức là biên giới với Trung Cộng. Sự tham gia đột ngột của quân đội Trung Cộng đã khiến một lần nữa lực lượng Liên Hiệp Quốc bị đẩy lùi. Trong giai đoạn này thủ đô Hán Thành đổi chủ bốn lần.

Nhưng dầu sao chăng nữa, cuộc chiến kết thúc và lằn ranh biên giới được tái lập, một thỏa thuận ngưng bắn được ký kết và từ đó, tuy có những đụng chạm, hai miền Nam Bắc được duy trì, nhất là với miền Nam ngày càng vững mạnh.

Cái may của Hàn Quốc là ở chỗ đó. Khi miền Bắc xâm lăng miền Nam, tình hình đang ở một giai đoạn mà Hoa Kỳ vào lúc cường thịnh nhất, trong khi cả Liên Xô lẫn Trung Cộng vẫn còn yếu. Miền Bắc vì vậy không thể chiếm được miền Nam.

Câu chuyện Đông Tây Đức thì chúng ta cũng đã biết. Sau nhiều năm được Liên Xô chống đỡ, chế độ Đông Đức sụp đổ khi Liên Xô không còn muốn chống đỡ nữa, và nước Đức đã thống nhất không phải vì chiến tranh. Một Tây Đức phồn thịnh, dân chủ và vững mạnh đã đủ sức để cưu mang Đông Đức và tuy ngày nay miền Đông vẫn còn nghèo hơn miền Tây, nước Đức đã thống nhất tốt đẹp.

Việt Nam chúng ta có nhiều cái không may. Có lẽ Hà Nội đã học được bài học của Bắc Hàn nên đã áp dụng một hình thức chiến tranh mà họ có thể đánh lừa một số những phần tử cánh tả bảo nó không phải là một cuộc xâm lăng.

Mặc dầu cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã là một cuộc tấn công công khai xuyên qua biên giới và mặc dầu Hà Nội đã thất bại trên chiến trường, một chiến dịch tuyên truyền khôn khéo, được sự giúp đỡ vô tình của một số trí thức phản chiến, cộng với truyền thông, và sự mệt mỏi của nhân dân Hoa Kỳ, dẫn đến chiến thắng ở Hoa Kỳ và chúng ta đã bị bỏ rơi. Rốt cuộc miền Bắc chiếm miền Nam và cả triệu người Việt đã phải lưu vong.

Nhưng cái không may đó chỉ là một phần thôi bởi tấn thảm kịch Việt Nam chính là sự cương quyết chinh phục miền Nam của miền Bắc. Sau khi chiếm được nửa miền Bắc nhờ Hiệp định Genève năm 1954, giới lãnh đạo Hà Nội đã không bao giờ từ bỏ tham vọng xâm chiếm miền Nam. Và họ đã lợi dụng tham vọng của đế quốc Cộng sản để được cung cấp các phương tiện cho một cuộc chiến tương tàn sát hại nhiều triệu người dân của cả hai miền Nam Bắc.

Điều còn đau lòng hơn nữa cho dân tộc Việt là sau khi chiến thắng, đám cầm quyền miền Bắc đã không có nổi một sự tử tế của kẻ thắng. Họ hành xử và suy nghĩ như một bạo chúa sau chiến thắng.

Ở thế kỷ thứ 20 nhưng họ suy nghĩ như một Thành Cát Tư Hãn, chỉ muốn trả thù và cướp bóc của kẻ bại. Cả triệu quân nhân công chức bị bắt đi tù dưới cái chiêu bài “học tập cải tạo”, tài sản của miền Nam bị tước đoạt. Chả thế mà vào thập niên 1980 thị trường vàng quốc tế tràn ngập vàng mang dấu ấn của ngân hàng Đông Dương. Số vàng đó Việt Nam Cộng hòa thừa hưởng khi Pháp trả độc lập cho ba quốc gia Đông Dương và nó là tài sản mà Pháp đã vơ vét từ nhân dân Việt Nam.

Hồi trước năm 1975 có lần tôi thấy các quân nhân Đại Hàn trên đường lên tàu về nước người nào cũng mua một hai cái mền Sakymen do miền Nam sản xuất. Lúc đó tôi thấy tội nghiệp cho người Nam Hàn, đã phải trải qua một cuộc chiến tàn khốc và cuộc sống còn khó khăn.

Bây giờ nghĩ lại mới thấy người Việt chúng ta mới là những kẻ bất hạnh nhất. Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ được chứng kiến cảnh hai lãnh tụ của hai miền Nam Bắc bắt tay nhau đi tìm một tương lai xán lạn hơn cho dân tộc.

L.P.

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/noi-buon-cua-mot-nguoi-viet/

Nén hương lòng nhân ngày 30 tháng Tư

Bùi Tín

Tinh thần bao trùm của cuộc đại Tưởng niệm là một cuộc Đại Sám hối của toàn dân tộc nhận với Tổ tiên, Tiền Nhân, là đã phạm tội lỗi chung để cho cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn ác liệt kéo dài giữa hai miền Nam Bắc, tiếp theo cuộc chiến tranh giành độc lập.

https://gdb.voanews.com/2243AB18-1DA2-4FDF-8E53-E3A1B172F82E_cx0_cy12_cw0_w1023_r1_s.jpg

Ngày kỷ niệm 30/4/1975 – 30/4/2018 đã tới.

Tôi viết bài báo ngắn này như thắp một nén hương lòng, đầy trĩu lo buồn vì từng là một nhân sống tại chỗ cho sự kiện lịch sử 30/4/1975, nhưng 43 năm qua tình hình đất nước xấu đi trông thấy về mọi mặt, chính trị lạc hậu, Nhà nước tham nhũng, đảng Cộng Sản thoái hóa suy thoái thê thảm, Công an và Quân đội mất phương hướng phục vụ nhân dân, xã hội băng hoại, đạo đức suy đồi, nền giáo dục vỡ trận.

Có phải là một tín hiệu vui hay không: Đại sứ Việt Nam nói về di sản cuộc chiến

http://vietnameseutah.org/uploads/News/pic/small_1249718797.nv.jpgHà Mi thực hiện

Hồi cuối tháng Tư 2010, trong cuộc phỏng vấn tại Washington với Hà Mi, phóng viên BBC Việt Ngữ, ông Lê Công Phụng, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, nói tới những nỗ lực mới của Việt Nam trong việc giúp tìm kiếm người Mỹ mất tích.

Ông tỏ ý ủng hộ việc kết hợp với Hoa Kỳ tìm kiếm người Việt mất tích không chỉ thuộc quân đội miền Bắc mà cả miền Nam.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn