Hiển thị các bài đăng có nhãn toàn cầu hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn toàn cầu hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Liệu trào lưu toàn cầu hóa sẽ kết thúc?

Đỗ Kim Thêm

Ảnh một thương thuyền và container tại một cảng ở Santos, Brazil, tháng năm 2025. Amanda Perobelli/Reuters

Tóm lược:

Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt hai thế kỷ qua, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng tổn thương.

Bài viết này nhằm phân tích những thành tựu và giới hạn của tiến trình toàn cầu hoá, từ đó làm rõ các xu hướng tái cấu trúc chuỗi giá trị cung ứng trong toàn cầu, sự cân nhằc trong tư duy về chính sách của các quốc gia, đặc biệt là chiến lược giảm rủi ro (De-risking). Qua các trường hợp thực tiễn như EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nhóm nước đang phát triển, bài viết nhận định rằng toàn cầu hoá không thể chấm dứt, nhưng đang được tái định hình theo hướng khu vực hoá, phân cực địa chính trị và số hoá ngày càng mạnh mẽ.

Trong mớ bòng bong Toàn cầu hóa

Tác giả: Jens Glüsing, Laura Höflinger, Heiner Hoffmann, Ralf Neukirch, Michael Sauga, Bernhard Zand (Tuần báo Spiegel số 21/2023)

Người dịch: Nguyễn Phú Lộc

G7, câu lạc bộ của những nước không-còn-quan-trọng-lắm: Với cuộc tấn công của Nga vào Ukraine, trật tự thế giới trước đó đã kết thúc. Các quốc gia như Ấn Độ và Brazil đang thể hiện một phong cách tự tin mới. Sự trỗi dậy của các nước trước đây còn nghèo, cuộc đấu tranh với Trung Quốc, sự phân mảnh của nền kinh tế thế giới – trật tự thế giới của thế kỷ 20 đã kết thúc bằng cuộc chiến của Nga. Các nước G7 đang mất dần ảnh hưởng, đặc biệt là châu Âu đang bị đẩy sang bên lề.

Toàn cầu hóa đang dần thay đổi?

Lê Thiên Hương

30/05/2022

(KTSG) – Sau một số chính sách “nước Mỹ trên hết” phản toàn cầu hóa của Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump, thì đại dịch Covid-19 và tiếp theo là cuộc chiến Nga - Ukraine đã và đang làm thay đổi bộ mặt của toàn cầu hóa.

clip_image002

Sự ra đời của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 1995 phản ánh chính xác mong muốn của nhiều quốc gia sau thời chiến tranh lạnh: xây dựng một thế giới trao đổi thương mại tự do, không rào cản hay phân biệt đối xử.

Một điều khó có thể phủ nhận, đó là toàn cầu hóa làm cho thế giới giàu có hơn về mặt khoa học và văn hóa, đồng thời đem lại lợi ích kinh tế cho rất nhiều người. Theo thống kê, toàn cầu hóa đã giúp hơn một tỉ người thoát khỏi đói nghèo. Đỉnh cao thành công của tiến trình này là vào năm 2008, khi giá trị xuất khẩu chiếm tới 31% tổng sản phẩm nội địa toàn cầu.

Xung đột Nga – Ukraine đẩy thêm thách thức cho kinh tế toàn cầu hoá

Ngọc Phương Linh

Việc Nga đưa quân vào Ukraine và sự xuất hiện của các biện pháp trừng phạt áp đặt lên Moscow là bằng chứng cho thấy xu hướng toàn cầu hoá dần đi vào ngõ cụt

Thời hoàng kim của toàn cầu hóa đã kết thúc từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008. Cuộc chiến tại Ukraine chỉ khiến nó trở nên rõ ràng hơn

Carmen Reinhart, Nhà Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới

Mọi thứ sẽ không còn như trước. Những gì chúng ta sắp thấy là một quá trình tách biệt và rời rạc

Joseph Stiglitz, nhà kinh tế học tại Đại học Columbia

Thời hoàng kim của toàn cầu hóa đã kết thúc từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008. Cuộc chiến tại Ukraine chỉ khiến nó trở nên rõ ràng hơn

Carmen Reinhart, Nhà Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới

Trung Quốc và vấn đề toàn cầu hóa sắp tới như thế nào?

Henrik Müller
Vũ Ngọc Yên dịch

Trong thương mại quốc tế, không chỉ nói đến sự trao đổi hàng hóa mà còn bàn luận về sự  tín nhiệm và các giá trị khác.

Lịch sử toàn cầu hóa đặc biệt cho đến nay là một lịch sử về Trung Quốc và giờ đây câu chuyện lịch sử này có lẽ đã kết thúc - vì Trung Quốc.

Trong vòng ba thập kỷ, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã thay đổi từ một quốc gia kém phát triển trở thành một cường quốc thế giới. Trung Quốc hiện là nhà xuất khẩu hàng hóa kỹ nghệ lớn nhất và là nhà nhập khẩu lớn thứ ba trên thế giới. Năm 1990, thu nhập bình quân đầu người tương đương 1.600 USD, nay là 18.000 USD, ngang bằng với Mexico.

Một mặt nào đó, đây là một câu chuyện thành công vĩ đại.

Mặt khác, có một vấn đề, xét theo quan điểm của phương Tây, đó là Trung Quốc không có dân chủ và không phải là một quốc gia pháp quyền. Điều này đặt ra những vấn nạn cho trật tự kinh tế thế giới bởi mậu dịch quốc tế không chỉ đơn thuần là trao đổi sản phẩm, mà còn gắn liền với tri ​​thức và thông tin - nghĩa là sự tín nhiệm và giá trị.

Giàu có và phi tự do

Từ lâu, có một quan niệm ngự trị cho rằng một mô hình lịch sử sẽ lặp lại ở Trung Quốc, đó là: Phát triển kinh tế sẽ dẫn đến Tự do hóa chính trị.Từ thứ dân họ sẽ trở thành công dân, có quyền tham dự biểu quyết về vận mệnh của đất nước, được phát biểu ý kiến ​​và phản biện. Các định chế độc lập vững mạnh sẽ đảm bảo sự thực thi luật pháp cho người dân và  người ngọai quốc sinh sống trong nước.

Cơ hội doanh lợi tốt với một lương tâm rõ ràng

Lợi nhuận, may rủi, thanh khoản. Nay có thêm nhiều ngân hàng triển khai cách tiếp cận đầu tư vốn thuần túy này với tiêu chí thứ tư: bền vững.

Chẳng hạn, Hàn Quốc đã thực hiện bước nhảy vọt từ  độc tài sang dân chủ và pháp quyền vào cuối thập niên 1980. Thu nhập bình quân đầu người vào lúc đó chưa được 10.000  USD, thấp hơn nhiều so với mức của Trung Quốc hiện nay.

Với hy vọng về một sự phát triển như vậy, phương Tây đã hướng tới Trung Quốc: Vương quốc Anh chuyển giao Hồng Kông vào năm 1997. Bắc Kinh  cam kết theo thỏa thuận là thuộc địa cũ  được duy trì hệ thống chính trị của mình trong 50 năm, bao gồm cả tư pháp độc lập và  các quyền tự do dân sự.

Cũng như các quốc gia khác, Trung Quốc trong những năm qua sẽ trở thành một quốc gia bình thường theo nghĩa phương Tây. Sự hội nhập kinh tế khởi động một sự chuyển hoá xã hội sẽ làm cho quá trình tự do hóa chính trị  không thể tránh khỏi.

Toàn cầu hoá: Chiêu bài ĐCSTQ âm mưu bá chủ thế giới (全球化:中共欺骗的诡计以谋求统治世界)

Đường Thư

Mấy năm lại đây, “Toàn cầu hóa” trở nên một “chủ đề thời sự” hấp dẫn giới nghiên cứu Việt Nam, không chỉ giới nghiên cứu kinh tế, mà cả các giới nghiên cứu văn hóa, khoa học và công nghệ.

Một số nghiên cứu rải rác trên các trang mạng xã hội đã đề cập việc Tàu Cộng ra sức lợi dụng chính sách mở cửa trong bối cảnh toàn cầu hóa để thâm nhập đất nước ta với những hành vi rất trắng trợn để phá hoại kinh tế, môi trường, lấn chiếm lãnh thổ và làm suy thoái các giá trịvăn hóa của Việt Nam.

Tuy nhiên, chưa có một chính sách nào của Việt Nam để ngăn ngừa chính sách này của Tàu Cộng, không những vậy, nhiều nhân vât có trách nhiệm ở các cấp quản lý còn tiếp tay cho Tàu Cộng lũng đoạn kinh tế và xã hội Việt Nam qua thắng thầu, thuê đất thuê rừng, thâm nhập nhiều lĩnh vực hoạt động.

Ngày 16/4/2020, trên trang NTD đã có bài viết với tiêu đề “Toàn Cầu hóa: Chiêu bài ĐCSTQ âm mưu bá chủ thế giới” của tác giả Đường Thư.

Đây là một bài nghiên cứu thú vị đáng để giới nghiên cứu và giới làm chính sách tham khảo góp phần vào việc hoạch định chính sách của Việt Nam.

Bauxite Việt Nam

Toàn cầu hoá: Chiêu bài ĐCSTQ âm mưu bá chủ thế giới
Toàn cầu hoá (P1): Chiêu bài ĐCSTQ âm mưu bá chủ thế giới

Kể từ khi trở thành ông chủ Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Donald Trump liên tiếp rút khỏi các tổ chức quốc tế, hiệp định và hiệp ước. Ông khiến thế giới bất ngờ khi ra những quyết định chống lại xu hướng Toàn cầu hóa, mặc dù nó đã trở nên quá quen thuộc đến nỗi không mấy ai hoài nghi gì về bản chất của nó. Nhưng có lẽ Tổng thống Trump đã sớm nhận ra Toàn cầu hoá không phải là một sân chơi tự do mà là phương tiện để ĐCSTQ thực hiện âm mưu bá chủ thế giới.

Tổng thống Donald Trump vừa quyết định dừng tài trợ cho Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và lên án tổ chức này cùng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) lợi dụng Mỹ. Đây chỉ là một trong một loạt các hành động thể hiện sự phản đối các tổ chức quốc tế từ khi ông làm chủ Nhà Trắng.

Ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Donald Trump quyết định rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vì cho rằng TPP gây tác hại cho nền kinh tế Hoa Kỳ và ảnh hưởng đến việc làm của người lao động Mỹ. Ông cũng rút khỏi Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, ông gọi đây là trò lừa bịp do Trung Quốc tạo ra nhằm làm tê liệt ngành công nghiệp Mỹ. Mỹ cũng rút khỏi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO); rút ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc; rút khỏi hiệp định hạt nhân với Iran; rút khỏi Hiệp ước về tên lửa tầm trung (INF) với Nga; Nhà Trắng rút khỏi Liên minh Bưu chính thế giới UPU kéo dài 1 năm và chỉ rõ: quy định hiện hành của UPU đã khiến Mỹ lâm vào tình trạng bị cạnh tranh không công bằng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến thu nhập của ngành bưu chính Mỹ.

Tổng thống Donald Trump đã nhận ra từ rất sớm, có lẽ trước khi ông ấy tranh cử tổng thống Mỹ, rằng ĐCSTQ đã đang thống trị toàn thế giới dưới vỏ bọc mỹ miều của toàn cầu hoá, tự do thương mại, kinh tế phát triển…

Nghị sĩ Anh Tom Tugendhat chỉ ra rằng, giống như tất cả các chế độ độc tài, Chính phủ Trung Quốc rất xảo trá, họ bất chấp tất cả để duy trì quyền lực và kiểm soát người dân, vì vậy họ phải che đậy sự thật về virus vì có thể gây ảnh hưởng đến uy quyền của họ. Ủy ban Ngoại giao của Hạ viện do ông Tugendhat làm chủ tịch tuyên bố rằng Trung Quốc đang quyết tâm xây dựng một trật tự toàn cầu mới do họ lãnh đạo.

trump, đcstq
Tổng thống Trump đã nhận ra âm mưu của ĐCSTQ từ trước khi ông ra tranh cử Tổng thống. (Ảnh: NICHOLAS KAMM / AFP qua Getty

1. Trung Quốc thao túng thế giới thông qua toàn cầu hoá như thế nào (中国如何通过全球化操纵世界)

Toàn cầu hoá bắt đầu từ phương Tây, là con đường mà chủ nghĩa tư bản mở rộng trên toàn cầu. Toàn cầu hoá về hình thức khiến cho kinh tế thâm nhập lẫn nhau, làm các quốc gia liên kết, hợp tác và phụ thuộc vào nhau trong một chuỗi cung ứng sản xuất tiêu thụ. Điều bất hạnh là, ĐCSTQ với bản tính ma mãnh đã nhận ra toàn cầu hoá chính là cơ hội vàng để thao túng thế giới, làm các nước mất đi chủ quyền quốc gia, phá hoại cơ sở kinh tế dân tộc, nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng là làm bá chủ thế giới.

Khi đại dịch bùng nổ, cả thế giới chao đảo vì nguồn cung y tế và dược phẩm cũng như 90% hàng hoá phụ thuộc vào Trung Quốc. Các quốc gia tiếp tục phải nhập khẩu từ Trung Quốc và nhận được bài học cay đắng khi trong cơn khủng hoảng, Trung Quốc dùng chính thảm hoạ để trục lợi họ bằng việc đầu cơ hàng tỷ khẩu trang của thế giới rồi bán lại, bán các thiết bị y tế như máy thở với giá cắt cổ và các bộ xét nghiệm cho kết quả sai 80%, với khẩu trang y tế được làm từ đồ lót.

Ngày nay cả thế giới chìm ngập trong sản phẩm hàng hóa made in China, nó đã trở thành thương hiệu của toàn cầu hoá khi một mình Trung Quốc thao túng mọi nguồn lực. Thông qua toàn cầu hoá, ĐCSTQ xâm nhập vào các ngành nghề, các tầng diện trong xã hội trong mọi phương diện về chính trị, kinh tế, pháp luật, giáo dục, truyền thông, nghệ thuật và xã hội, văn hoá.

Làm cách nào mà con virus ĐCSTQ đã thao túng cả thế giới, trong mấy thập kỷ qua, và mỗi chúng ta đều là một mắt xích trong kế hoạch thống trị và huỷ diệt của nó.

ĐCSTQ xâm nhập vào các ngành nghề
Thông qua toàn cầu hoá, ĐCSTQ xâm nhập vào các ngành nghề, các tầng diện trong xã hội trong mọi phương diện. (Ảnh: Shutterstock)

2. Toàn cầu hoá: dịch chuyển nguồn lực ‘bơm máu' cho Trung Quốc (全球化:将全球资源转移到中国以为自己的经济注入血液)

Chủ nghĩa thực dân thế kỷ 21 của riêng Trung Quốc bắt đầu chiêu bài là những khoản cho vay hậu hĩnh, lãi suất thấp để xây dựng hạ tầng đổi lấy nguyên liệu và sự xâm nhập thị trường nội địa. Từ đó, các nước thay vì dùng lao động tại chỗ, Trung Quốc sẽ mang vào đội quân kỹ sư và công nhân khổng lồ của nó để xây dựng đường cao tốc, đường sắt, cảng và hệ thống viễn thông, mở đường khai thác và vận chuyển nguyên vật liệu, chuyển về lại các công xưởng tại các thuộc địa của Trung Quốc, sau đó bán lại thành phẩm của nó vào thị trường các nước, bằng cách đó xóa bỏ các ngành sản xuất tại chỗ của những nước này, đẩy họ vào tình cảnh thất nghiệp và đói nghèo.

Trên thực tế toàn cầu hóa chính là thông qua việc dịch chuyển một lượng lớn của cải của thế giới vào tay Trung Quốc, khiến Trung Quốc có thể giàu lên nhanh chóng trong khi nó có đạo đức tệ hại nhất, bức hại nhân quyền nghiêm trọng nhất, khiến hành tinh ô nhiễm trầm trọng nhất. Toàn cầu hóa khiến Trung Quốc tận dụng khai thác toàn bộ tài nguyên, sở hữu trí tuệ, thị trường tiêu thụ khổng lồ của thế giới, thị trường nhân công nô lệ.. mà trở nên “hoá rồng”, vô cùng lớn mạnh, với dã tâm soán đoạt vị trí của Mỹ, thống trị thế giới, khiến cả thế giới im lặng trước tội ác của chính quyền Trung Quốc về nhân quyền, vốn là mục tiêu quan trọng nhất của chế độ phản nhân loại này.

Toàn cầu hoá đồng thời khiến cho kinh tế thị trường phụ thuộc lẫn nhau, và hoàn toàn nằm trong vòng thao túng từ vốn, hạ tầng, sản xuất, tiêu thụ, nhưng không phải bởi cơ chế tự do và minh bạch mà bằng mua chuộc, hối lộ, cưỡng ép, lũng đoạn... khiến cho phương Tây đứng trước phương diện lợi ích kinh tế, mà vứt bỏ các giá trị đạo đức cơ bản, lương tri đạo nghĩa và giá trị phổ quát trở thành món hàng rẻ mạt mà Trung Quốc dễ dàng mua bán, để mặc chính quyền Trung Quốc lợi dụng sức ép kinh tế uy hiếp thế giới tiến tới thống nhất thiên hạ. Rất nhiều chính phủ quốc gia, công ty lớn và doanh nhân trên bề mặt hoặc nhất thời có thể đạt được cái gọi là “lợi ích” từ ĐCSTQ, nhưng việc hy sinh các nguyên tắc đạo đức rốt cuộc lại khiến họ “được chẳng bõ cho mất”. Lợi ích bề mặt đó thực ra đều là thuốc độc mà đến khi xảy ra đại dịch họ mới bừng tỉnh.

Lợi ích bề mặt đó thực ra đều là thuốc độc mà đến khi xảy ra đại dịch họ mới bừng tỉnh. (Ảnh: Shutterstock)
Lợi ích bề mặt đó thực ra đều là thuốc độc mà đến khi xảy ra đại dịch họ mới bừng tỉnh. (Ảnh: Shutterstock)

Từ một phương diện khác, toàn cầu hoá kinh tế khiến ngày càng nhiều người mất đi điều kiện để tự do sản xuất, mất việc làm và đói nghèo, các quốc gia lạc hậu thường trở thành một khâu của chuỗi cung ứng, như vậy dẫn đến việc chủ quyền kinh tế của quốc gia suy yếu, chính là sự thất bại của quốc gia trước thể kinh tế toàn cầu hoá. Cơn khủng hoảng kinh tế trong đại dịch đã khiến cả thế giới mở mắt bừng tỉnh trước nguy cơ phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào Trung Quốc khiến xuất nhập khẩu đình trệ có thể dẫn đến ảnh hưởng kinh tế nghiêm trọng. Hơn bao giờ hết, giờ đây các nước đã nhận ra hậu quả tai hại của việc chạy theo toàn cầu hoá dưới sự thao túng của ĐCSTQ thay vì nỗ lực củng cố xây dựng một nền kinh tế độc lập bền vững mang bản sắc quốc gia dân tộc.

Sau khi bình thường hoá quan hệ Na Uy bắt đầu giữ im lặng về phương diện nhân quyền của Trung Quốc.
Sau khi bình thường hoá quan hệ Na Uy bắt đầu giữ im lặng về phương diện nhân quyền của Trung Quốc. (Ảnh: Shutterstock)

3. Toàn cầu hoá để đánh cắp trí tuệ thế giới (全球化以窃取世界智慧)

Bất cứ công ty nào muốn leo qua "Bức Vạn Lý Trường Thành bảo hộ" của Trung Quốc và bán hàng vào thị trường nước này phải chịu thứ phí nhập cuộc là giao nộp công nghệ của họ cho đối tác Trung Quốc. Đồng thời phải chuyển cơ sở nghiên cứu và phát triển sang Trung Quốc, bằng cách này, Trung Quốc đã cướp không tài sản trí tuệ mà mỗi công ty phải bỏ ra đến 20% cho các nghiên cứu phát triển. Dù không mất một khoản chi phí nghiên cứu lớn, nhưng đường sắt cao tốc Trung Quốc lại bước vào thời kỳ phát triển nhảy vọt, họ đã xây dựng được tuyến đường sắt cao tốc dài nhất thế giới. Chỉ trong vài năm, Trung Cộng đã tiếp thu được công nghệ của phương Tây, biến thành cái gọi là “Tự chủ về sở hữu trí tuệ”.

Mới đây Charles M. Lieber, nhà bác học Sinh-Hoá tại Harvard, đã bị bắt vì nhận hàng triệu USD từ Trung Quốc để thành lập phòng thí nghiệm nghiên cứu tại Đại học Vũ Hán. Số tiền này được chuyển thông qua chương trình “Ngàn người tài" của Trung Quốc, nhằm mục đích săn trộm các chuyên gia công nghệ và khoa học tài giỏi từ phương Tây và đưa họ đến Trung Quốc làm việc trong các lĩnh vực công nghệ sinh hoá học. Nhà bác học này chỉ là một ví dụ trong vô số gián điệp đã bán mình cho Trung Quốc, phản bội lại đất nước đã cưu mang họ và ăn cắp các công nghệ vũ khí tiên tiến nhất cho kẻ thù Trung Quốc.

Liệu Coronavirus có chấm dứt Toàn Cầu Hóa như chúng ta biết hiện nay không?

Henry Farrel & Abraham Newman

Mặc Lý dịch

(Bản dịch bài "Will the Coronavirus End Globalization as We Know It?" của Henry Farrel & Abraham Newman, đăng trên tạp chí Foreign Affairs, 16/03/2020)

.

Trận đại dịch COVID-19 đang đặt toàn cầu hóa vào một thử thách rất lớn. Khi chuỗi cung gián đoạn và các quốc gia đang thu gom các tiếp liệu y tế và hạn chế đi lại, khủng hoảng này đã làm người ta phải đánh giá lại toàn bộ nền kinh tế thế giới hiện đang gắn kết với nhau. Không những việc toàn cầu hóa làm cho bệnh tật lây lan nhanh chóng khi có bệnh truyền nhiễm, nó còn làm cho các công ty và quốc gia tùy thuộc lẫn nhau, dễ sụp đổ khi có những biến động bất thường. Nay, các công ty và quốc gia đã hiểu ra là họ dễ bị sụp đổ như thế nào.

Công nhân Thiểm Tây, Trung Quốc, tháng Hai 2020. Liu Xiao Xinhua / eyevine / Redux

Nhưng bài học từ trận đại dịch do con vi khuẩn mới này không phải là toàn cầu hóa thất bại. Bài học ở đây là toàn cầu hóa dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động, mặc dù có những ích lợi (hay chính vì có những ích lợi). Trong nhiều thập niên vừa qua, các công ty cố gắng không ngừng để làm giảm những giai đoạn không cần thiết và từ đó đạt giá trị tài sản cao chưa từng thấy trước đây. Nhưng những cố gắng này cũng làm giảm những nguồn sản xuất bình thường không dùng tới – các kinh tế gia gọi là “slack” – khi ta quan sát toàn thể kinh tế thế giới. Trong lúc bình thường, các công ty thường xem “slack” như độ đo lường về khả năng sản xuất đang nằm không, thậm chí đang phí phạm. Nhưng trong những lúc khủng hoảng, slack lại làm toàn bộ hệ thống tiếp tục vận hành, như những van an toàn.

Thiếu những van an toàn như vậy có thể làm gián đoạn chuỗi cung, như ta đã thấy trong vài lãnh vực y tế khi trận đại dịch này xẩy ra. Các nhà sản xuất tiếp liệu y tế thiết yếu, bỗng nhiên thấy sự tăng vọt của chuỗi cầu thế giới, thấy quốc gia này cạnh tranh với quốc gia kia để tìm nguồn cung. Kết quả là ta thấy có sự thay đổi quyền lực của các khối kinh tế quốc gia lớn trên thế giới, khi những quốc gia đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc chiến đấu với trận đại dịch này thì hoặc là đã thu gom được nguồn cung vật liệu cho chính họ hoặc là để giúp cho các quốc gia khác. Kết quả là họ có thể mở rộng ảnh hưởng của họ trên bàn cờ thế giới.

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: nhà nước và chính sách công nghiệp (Bài 15)

Đoàn Hưng Quốc

Trung Quốc và Nam Hàn là hai quốc gia thành công với chính sách công nghiệp quốc gia (National Industrial Policy). Việt Nam thất bại khi những “quả đấm thép” chỉ mang đến thất thoát, nợ nần và cơ hội tham nhũng. Hoa Kỳ dù không có chiến lược công nghệ do nhà nước đề ra nhưng vẫn dẫn đầu trong nhiều ngành kỹ thuật tiên tiến nhờ vào khu vực tư nhân đầy sáng tạo và năng động. Tuy nhiên ngày càng thêm nhiều lời kêu gọi chính quyền Mỹ nên khẩn cấp hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trước đà cạnh tranh của đối thủ chiến lược là Trung Quốc.

Tiêu biểu cho chính sách công nghệ quốc gia của Trung Quốc là kế hoạch “Made in China 2025” đầu tư ồ ạt nhằm dẫn đầu hay ngang bằng với Âu-Mỹ-Nhật trong 10 ngành công nghiệp chiến lược bao gồm Điện toán, Trí tuệ nhân tạo, Điện tái tạo, 5G, Hàng không, Y khoa, v.v… Sách lược nói trên là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và việc Hoa Kỳ lập rào cản đối với công ty Huawei nhằm kềm hãm đà tiến của Trung Quốc. Ngược lại chính mối lo sợ này cũng cho thấy nhịp độ tăng trưởng đáng sợ của Bắc Kinh là hiện thực.

Bên cạnh sách lược công khai “Made in China 2025” nhà nước còn hỗ trợ doanh nghiệp nội địa qua nhiều cách khác nhau: ưu tiên cho các công ty Trung Quốc dành thị phần trọng điểm thay vì mua hàng hóa Tây Phương; kiềm giá đồng Nhân Dân Tệ nhằm hỗ trợ xuất khẩu; ép buộc hãng xưởng Âu-Mỹ chuyển giao công nghệ; cung cấp vốn và đất đai giá rẻ cho doanh nghiệp nội địa; áp dụng chính sách hộ khẩu để nhà nước và doanh nghiệp chú trọng vào đầu tư thay vì chi phí an sinh xã hội cho công nhân viên; xây dựng cơ sở hạ tầng; gởi sinh viên ra nước ngoài du học và đào tạo kỹ sư trong nước; thúc đẩy cạnh tranh giữa các đại công ty Huawei và ZTE, giữa Alibaba - Tencent - Baidu nhưng vẫn mở cơ hội cho các công ty nhỏ như OnePlus, Xaomi tiến lên bất ngờ chiếm lĩnh thị phần nhằm khuyến khích thị trường không mất tính năng động. Cho nên chiến lược phát triển quốc gia của Trung Quốc rất toàn diện bao gồm mọi lãnh vực từ mậu dịch, tiền tệ, ngân hàng, công nghiệp mũi nhọn, quản lý đất đai và lương bổng, đầu tư vào hạ tầng & giáo dục; nay được hỗ trợ bởi kế hoạch vòng đai con đường, Ngân hàng phát triển hạ tầng châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank) và khối mậu dịch RCEP. Nếu nền kinh tế Trung Quốc vượt qua Hoa Kỳ năm 2030 để hỗ trợ các kế hoạch nói trên thành công thì tác động sẽ ngang bằng hay hơn cả nỗ lực xây dựng IMF, World Bank và kế hoạch Marshall của Mỹ từ sau Thế chiến thứ hai.

Nhà nước Nam Hàn đặt trọng tâm vào 3 khu vực trọng điểm gồm điện thoại di động, mỹ phẩm và giải trí (K-Pop, K-drama). Bộ Kế hoạch và Bộ Ngoại giao tham gia vận động cho K-Pop và K-drama lan tràn khắp thế giới để quảng bá cho thương hiệu Hàn Quốc, qua đó giới thiệu ngành phục vụ sắc đẹp cùng những sản phẩm điện tử của Samsung, LG và xe hơi Hyundai. Mô hình của Nam Hàn là phát triển qua các đại tập đoàn Chaebol.

Việt Nam noi theo Hàn Quốc với các “quả đấm thép” theo kiểu Chaebol nhưng thất bại. Nền kinh tế Việt Nam phát triển nhờ vào đầu tư từ nước ngoài, giá nhân công rẻ và khu vực tư nhân năng động trong khi nhà nước là một loại ký sinh trùng hút sức sống từ máu mủ quốc gia. Các “quả đấm thép” cùng những công trình xây dựng hạ tầng (đường xá, xe lửa, đô thị, v.v…) là cơ hội cho tham nhũng, thất thoát và nợ nước ngoài. Hiện vài tập đoàn tư nhân tại Việt Nam bỏ vốn vào sản xuất điện thoại cầm tay và xe hơi, nhưng nếu không chỉ lắp ráp và dán nhãn (và được nhà nước cung cấp đất đai và phân lời giá rẻ dùng vào “việc” khác) mà còn muốn tiến lên vẽ mẫu (design) và dành thị trường thì đây là những ngành công nghiệp phức tạp nhiều cạnh tranh nhất thế giới. Chưa có dấu hiệu nào cho thấy cả nhà nước lẫn tư nhân Việt Nam có tầm nhìn chiến lược lâu dài thay vì những “bốc hốt” ngắn hạn.

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: kinh tế và văn hóa trong nước Mỹ (Bài 9)

Đoàn Hưng Quốc

Một nghịch lý xã hội ở chỗ Đảng Dân chủ chủ trương bảo vệ dân nghèo, nhưng ngược lại giới công nhân thợ thuyền da trắng lại bỏ phiếu cho nhà tỷ phú địa ốc Donald Trump cho dù họ bị thiệt thòi nhiều nhất nếu các chương trình trợ cấp xã hội bị cắt giảm. Điều này khiến các kinh tế gia cánh tả - trong đó có ông Paul Krugman nổi tiếng của tờ New York Times - vò đầu nát óc vì không tìm ra lời giải thích.

Lý do khi cuộc sống trở nên bất an (do toàn cầu hóa) thì bản năng của con người tụ họp gần lại với cộng đồng cùng màu da và chung nền văn hóa để tìm sự an toàn và đồng cảm. Người Mỹ gọi đây là tribalism hay là chủ nghĩa bộ tộc. Giới thợ thuyền da trắng sống rải rác ở vòng đai han rỉ (rust belt) gồm nhiều tiểu bang nằm sâu trong nội địa Hoa Kỳ trước đây không có phương tiện kết hợp để có tiếng nói mạnh trong chính trường, nay dùng Facebook liên kết với nhau trở thành một lực lượng chính trị quan trọng làm khuynh đảo cuộc bầu cử 2016. Họ chọn bỏ phiếu không vì chính sách kinh tế của Đảng Dân chủ hay Cộng hòa mà để tìm sự đồng cảm - trớ trêu thay nơi chính là nhà tỷ phú địa ốc Donald J. Trump. Cho nên cựu Thống đốc Quỹ Dự trữ Liên bang Alan Greenspan đã nhận xét rằng trào lưu dân túy không phải là một chủ nghĩa nhưng là tiếng kêu cầu cứu tìm kiếm sự đồng cảm giữa kẻ người thua thiệt bị bỏ rơi.

Trước khi phân tích thêm về hiện tượng Donald Trump tưởng nên bắt đầu với lý do tại sao giới thợ thuyền da trắng lại từ bỏ Đảng Dân chủ vốn từng được xem như đảng của dân nghèo và của người lao động. Đảng Dân chủ trong những thập niên 1930-60 là đại diện cho giai cấp công nhân với các chính sách về an sinh xã hội và quyền lợi người lao động (New Deal) bắt đầu từ thời Tổng thống Roosevelt sau cuộc Đại Khủng hoảng 1929.

Đến thập niên 1960 thì Tổng thống Dân chủ Lyndon Johson tuy một mặt mở rộng thêm mạng lưới an sinh xã hội nhưng đồng thời lại kèm thêm với dân quyền (Civil Rights) bênh vực nữ phái và người da đen. Khởi đi từ lúc đó và do những định kiến xã hội còn tồn tại nên giới thợ thuyền da trắng bắt đầu tách ly ra khỏi Đảng Dân chủ.

Sang thập niên 1990 cho đến năm 2016 thì Đảng Dân chủ đổi sang chính sách Tân Tự do (neo-liberalism) với Tổng thống Bill Clinton, rồi sau đó đến Obama (tuy khoảng giữa có cánh Tân Bảo thủ (neo-conservative) của Tổng thống Bush nắm quyền). Trào lưu dân quyền (Civil Rights) được khai triển để bao gồm quyền lợi của người thiểu số, di dân và đồng tính trong khi lại hạn chế các sinh hoạt Ki-Tô giáo (Christian Judaism) ngoài công cộng - trong khi tinh thần Ki-Tô giáo vốn được xem là nền tảng của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Cả hai cánh Tân Tự do và Tân Bảo thủ đều cùng một quan điểm khuyếch trương WTO, toàn cầu hóa và Tự do mậu dịch (free trade). Phe Tân Bảo thủ lại chủ trương dùng sức mạnh quân sự để can thiệp quốc tế (interventionism) nhằm phát huy Tự do và Dân chủ toàn cầu, nhưng với kết quả thảm hại là sự sa lầy ở Afghanistan và Iraq.

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: khoảng cách giàu nghèo và cơ hội ở Mỹ (Bài 8)

Đoàn Hưng Quốc

Hoa Kỳ là một quốc gia tư bản. Giải quyết hố sâu giàu nghèo không phải bằng cách san bằng quyền sở hữu tài sản theo kiểu cộng sản mà phải tạo ra cơ hội (opportunity) để mọi người có điều kiện thăng tiến như nhau không phân biệt gốc gác gia đình, giới tính, màu da hay tôn giáo. Người ta ganh tỵ nhau vì giàu nghèo nhưng lại bất mãn và buông thả nếu không thấy con đường tiến thân dù là cho chính mình hay cho con cái.

Steve Jobs (Apple) và Jeff Bezos (Amazon) là hai người con không cha. Elon Musk (Tesla) là người Nam Phi. Nước Mỹ không thiếu trường hợp những người lập ra sự nghiệp vĩ đại từ hai bàn tay trắng. Những người này đều đồng ý rằng Hoa Kỳ phải tiếp tục đón nhận di dân và tạo cơ hội cho mọi tầng lớp xã hội vươn lên thì mới tận dụng được những tài năng tiềm tàng trong đất nước.

Nhưng ngược lại nền tư bản Mỹ cũng tiến vào giai đoạn xơ cứng nên vô hình chung tạo ra đẳng cấp. Khi phân tích giàu nghèo thì đa số chĩa mũi dùi vào giới 0.01% các tỷ phú nhưng sự thật gần gũi hơn nhiều. Giới trung lưu trí thức - trong đó có rất nhiều gia đình người Mỹ gốc Việt - sống tập trung vào các khu vực có công ăn việc làm và trường học tốt để chuẩn bị cho con cái được nhận vào những đại học danh tiếng. Trong khi đó thì người nghèo da đen lại tụ họp sâu trong các khu đô thị cũ kỹ (inner city), còn giới lao động nghèo da trắng lại rải rác ở nhiều tiểu bang nằm sâu trong nội địa (rust belt). Cả hai khu inner city và rust belt đều là những địa phương bị ma túy và tội phạm hoành hành. Thanh thiếu niên sinh ra ở đây có hơn 95% cơ hội vướng mắc vào tội phạm, cần sa hay sinh con dưới tuổi vị thành niên (teenage pregnancy). Khoảng cách giàu nghèo đáng sợ ở chỗ 85% dân chúng trong các khu vực này không thấy cơ hội để tiến lên 15% thành phần trung lưu trí thức. Tình trạng “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa” sẽ tạo thành đẳng cấp nên là kẻ thù của dân chủ và giết chết tính sinh động của tư bản, và cũng chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều xáo trộn chính trị hiện giờ.

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: đi tìm nguyên nhân khoảng cách giàu nghèo trong xã hội (Bài 4)

Đoàn Hưng Quốc

[Tiếp theo Bài 1, Bài 2, Bài 3]

Có rất nhiều nghiên cứu về khoảng cách giàu nghèo ở Âu-Mỹ nhưng bài này chỉ chọn ra 2 giải thích được người viết xem như đáng chú ý nhất: quan điểm thứ nhất của kinh tế gia người Pháp Thomas Piketty cho rằng khoảng cách giàu nghèo là tất yếu một khi tài sản tích tụ trong xã hội tư bản, và lập luận thứ hai của kinh tế gia người Mỹ gốc Nhật Richard Koo cho thấy hố sâu giàu nghèo hiện là hậu quả của toàn cầu hóa. Hai gốc nhìn này có thể bổ túc lẫn nhau như giữa hai yếu tố nội tại và khách quan. Riêng phạm vi bài này sẽ sơ lược về Piketty và ảnh hưởng đến nền chính trị cánh tả Tây Phương, bài sau sẽ trình bày về Richard Koo và kế đó là một bài tổng hợp.

Thomas Piketty nổi tiếng với tác phẩm đồ sộ Vốn tư bản trong thế kỷ 21 (Capital in the Twenty-First Century) nhưng tóm gọn trong 2 câu nói dân gian là “nhà giàu ngày càng giàu” để rồi “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa”.

Hố sâu giàu nghèo trong xã hội được san bằng sau khi trải qua một cơn đại biến như Trận dịch Đen (khiến 200 triệu người chết vào tế kỷ 14) hay Đại chiến (Thế chiến thứ II) tàn sát cả giới chủ lẫn người lao động. Vì tài sản bị hủy diệt cho nên chỉ còn lao động, trí tuệ và lương bổng của từng cá nhân là những yếu tố chính để mỗi người tự vươn lên. Những người thành công sau đó lại bắt đầu sở hữu tài sản. Trong khi lương bổng không thể chuyển nhượng từ cha sang con thì tài sản lại trở thành gia tài nên lâu ngày tích tụ trở thành yếu tố chính phân biệt giàu nghèo trong xã hội. Tài sản (nhà đất, cổ phiếu, v.v…) còn được dùng làm “vốn tư bản” (Capital) để đầu tư sinh lợi, và lợi tức từ tài sản có thể tăng nhanh hơn lương bổng (thí dụ giá nhà hay cổ phiếu có thể nhảy vọt 20% trong một năm trong khi lương chỉ tăng 5%). Một khi tài sản và lợi tức của xã hội tích tụ vào trong tay một thiểu số ưu đải thì lương bổng của đa số dân chúng còn lại không thể nào chạy theo kịp. Nói đơn giản nhà giàu ngày càng giàu.

Một thí dụ dễ hiểu là một gia đình có nhà trị giá 800 ngàn đô-la ở Sài Gòn để lại gia tài thì con tự động giàu, trong khi một thanh niên khác từ quê lên học và làm việc dù tài giỏi bậc nào cũng không thể nào mơ mộng mua được nhà ở thành phố nếu chỉ với đồng lương vài ngàn đô-la mỗi tháng.

Toàn cầu hoá chết rồi và chúng ta cần tạo ra một trật tự thế giới mới

Michael O'Sullivan

Nguyễn Quang A dịch

Một trích dẫn sách và phỏng vấn với Michael O'Sullivan, tác giả của “The Levelling”

https://www.economist.com/sites/default/files/20190629_OPP503.jpg

Open Future Jun 28th 2019 by K.N.C.

THẾ GIỚI có đã chứng kiến “dân chủ tột đỉnh”? Có phải thế giới tương lai trong đó các xã hội với các thị trường tự do ganh đua vì ảnh hưởng về công việc toàn cầu với các nước độc đoán theo chủ nghĩa tư bản nhà nước? Chính các câu hỏi gợi lên một nỗi luyến tiếc một quá khứ có vẻ đơn giản hơn. Đối với Michael O’Sullivan, trước đây là một nhà ngân hàng đầu tư và kinh tế gia tại Đại học Princeton University, là hữu ích hơn để xem xét tương lai.

Cuốn sách của ông O’Sullivan, “The Levelling: What's Next After Globalization-Sự San bằng: Cái gì Tiếp sau Toàn cầu hoá” cho một lộ trình. Ông thấy một thế giới đa cực đang hình thành nhưng các định chế quốc tế chưa được chuẩn bị trước cho việc này. Ông lên tiếng lo ngại về một thế giới tăng trưởng thấp và nợ nần cao - và kêu gọi một “hiệp ước thế giới về rủi ro” để cho các ngân hàng trung ương chỉ dùng đến các biện pháp như nới lỏng định lượng (quantitative easing) dưới các điều kiện đã thoả thuận.

Nhưng sự định khung hấp dẫn nhất của ông về các vấn đề là sự so sánh của ông về thế giới ngày nay với các Cuộc tranh luận Putney (Putney Debates) của Anh Quốc thế kỷ thứ 17, khi những vấn đề thực tế của một nền dân chủ dựa vào các quyền (rights-based democracy) lần đầu tiên được đề ra bởi một phái gọi là “The Levellers-Những người San bằng” (mà đã gây cảm hứng cho tiêu đề của cuốn sách). Thế giới, ông tin, sẽ tách ra thành các nước “San bằng” mà theo các quyền và các quyền tự do, và các nước “Leviathan-Thuỷ quái” mà thoả mãn với sự tăng trưởng do nhà nước-quản lý và ít các quyền tự do hơn.

Như phần của sáng kiến Tương lai Mở (Open Future initiative) của The Economist, chúng tôi đã thăm dò các ý tưởng của ông O’Sullivan trong một phỏng vấn ngắn. Dưới cùng là một trích đoạn từ cuốn sách của ông, về sự kết thúc của toàn cầu hoá.

* * *

The Economist: Mô tả những gì đến sau toàn cầu hoá - ông đoán trước thế giới sẽ giống thế nào?

O'Sullivan: Toàn cầu hoá đã ở đằng sau chúng ta rồi. Chúng ta phải nói lời tạm biệt với nó và hãy chú tâm đến thế giới đa cực đang nổi lên. Thế giới này sẽ bị chế ngự bởi ít nhất ba khu vực lớn: Mỹ, EU và một châu Á với Trung Quốc là trung tâm. Chúng sẽ ngày càng theo những cách tiếp cận rất khác nhau đối với chính sách kinh tế, tự do, chiến tranh, công nghệ và xã hội. Các nước cỡ trung như Nga, Anh, Australia và Nhật Bản sẽ vật lộn để tìm chỗ của họ trên thế giới, trong khi các liên minh mới sẽ nổi lên, như một “Liên minh Hanseatic 2.0” của các nhà nước nhỏ, tiên tiến như các nhà nước Scandinavia và các nước Baltic. Các định chế của thế kỷ thứ 20 - Ngân hàng thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) - sẽ có vẻ ngày càng không hoạt động.

The Economist: Cái gì đã giết toàn cầu hoá?

Michael O'Sullivan: Ít nhất hai thứ đã chấm dứt toàn cầu hoá. Thứ nhất, sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu đã chậm lại, và như một kết quả, sự tăng trưởng đã trở nên “được tài chính hoá” hơn: nợ đã tăng lên và đã có nhiều “hoạt động tiền tệ (monetary activism) hơn” - tức là, các ngân hàng trung ương bơm tiền vào nền kinh tế bằng việc mua các tài sản, như các trái phiếu và trong một số trường hợp thậm chí cổ phiếu - để duy trì sự bành trướng quốc tế. Thứ hai, các tác động phụ, hay đúng hơn các tác động phụ được cảm nhận, của toàn cầu hoá là rõ ràng hơn: sự bất bình đẳng về của cải, sự thống trị của các công ty đa quốc gia và sự phân tán của các chuỗi cung toàn cầu, mà tất cả đã trở thành các vấn đề chính trị nóng bỏng.

Việt Nam - toàn cầu hoá nhà nước độc đảng

Börje Ljunggren
Khánh Anh dịch
Việt Nam đã đi theo hướng chủ nghĩa tư bản và hệ thống thị trường nhiều hơn bất chấp sự cai trị của cộng sản. Việt Nam vẫn là một quốc gia độc đảng, với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản được ghi trong Hiến pháp, và Hiến pháp cũng quy định rằng nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang Việt Nam là để bảo vệ không chỉ đất nước mà cả Đảng. Hai hình ảnh dường như không tương thích xuất hiện, hình ảnh một quốc gia ngày càng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và hình ảnh của đảng quyết tâm duy trì độc quyền trong thời đại khi truyền thông xã hội đã trở nên một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgMfZf4lFOmTtXpCX0kNsaARoNQ3SeF4MkeM2NuzJAe1tXXoHXoiB95jX17gH4-mne966RElUhQWUHchJGksNNjUh68SD8G-TsJh_L8CGa4i-YkVL2AzCYK-bJdGsMcsL0AsHjeQBY8FD8/s640/VietnamLjunggren_Banner_Mar2019+copy.jpg
"Chủ nghĩa xã hội toàn cầu hoá"

Toàn cầu hoá

Đối với Tổng thống Mỹ Donald Trump, Hội nghị thượng đỉnh thứ hai Kim Jong-un là sự kiểm tra thực tế chứ không phải là thành công. Tuy nhiên, đối với chủ nhà Việt Nam, Hội nghị thượng đỉnh chắc chắn là một chiến thắng lớn. Sự phát triển kinh tế nhanh chóng và ngoại giao khéo léo của Việt Nam đã có được sự chú ý chưa từng thấy trong khi không mấy ai chú đến Luật An ninh mạng và việc những người chỉ trích chế độ bị bắt giam gần đây.
Việt Nam đã có được rất nhiều thứ với Trump. Gặp gỡ với Chủ tịch nước và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, ông Trump nói rằng ông “cảm thấy rất tốt về hội nghị thượng đỉnh tại Việt Nam bởi vì Việt Nam thực sự là một ví dụ về những gì có thể xảy ra với suy nghĩ tích cực”. Ông Trump còn nói thêm rằng “không như nơi nào trên trái đất phát triển” như Việt Nam và Việt Nam sẽ trở thành một hình mẫu cho Bắc Triều Tiên. Hai vị lãnh đạo đã giám sát việc ký kết các giao dịch thương mại trị giá 20 tỷ đô la.
Quan hệ tốt với Mỹ cũng tăng cường tình hình an ninh Việt Nam. Sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc đang khiến Hà Nội ngày càng trở nên quan trọng và Hoa Kỳ là đối trọng tự nhiên - bất chấp Chiến tranh Việt Nam tàn khốc kết thúc năm 1975, trong đó có hơn 2,5 triệu lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan rộng ra khỏi Bắc Việt.
Việt Nam đã đi theo hướng chủ nghĩa tư bản và hệ thống thị trường nhiều hơn bất chấp sự cai trị của cộng sản. Việt Nam vẫn là một quốc gia độc đảng, với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản được ghi trong Hiến pháp, và Hiến pháp cũng quy định rằng nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang Việt Nam là để bảo vệ không chỉ đất nước mà cả đảng. Hai hình ảnh dường như không tương thích xuất hiện, hình ảnh một quốc gia ngày càng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và hình ảnh của đảng quyết tâm duy trì độc quyền trong thời đại khi truyền thông xã hội đã trở nên một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn