Hiển thị các bài đăng có nhãn Đầu tư Trung Quốc & Nguy cơ xâm lược mềm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đầu tư Trung Quốc & Nguy cơ xâm lược mềm. Hiển thị tất cả bài đăng

Vành đai & Con đường hàng nghìn tỷ USD của Trung Quốc đã thay đổi thế giới như thế nào?

Sylvia Chang - BBC Tiếng Trung

17 tháng 10 2023

Các nhà lãnh đạo thế giới và đại diện của 130 quốc gia đang tới Trung Quốc nhân dịp kỷ niệm 10 năm Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI), một kế hoạch đầy tham vọng nhằm thiết lập hai tuyến thương mại mới nối nước này với phần còn lại của thế giới.

Chụp lại hình ảnh: Diễn đàn Vành đai và Con đường lần thứ ba đang diễn ra tại Bắc Kinh. Nguồn hình ảnh: Getty Images

Các thủ tướng và tổng thống ­– bao gồm Vladimir Putin của Nga – đang tập trung tại Bắc Kinh để kỷ niệm sự kiện này, từ 17-18/10.

Số lượng lớn các quốc gia tham dự là dấu hiệu cho thấy tác động lớn mà sáng kiến trị giá hàng nghìn tỷ USD này đã mang lại trên toàn cầu, và mức độ sở hữu của nhà nước và các công ty Trung Quốc ở nước ngoài.

Trong thập kỷ qua, 150 quốc gia chiếm 3/4 dân số thế giới đã tham gia sáng kiến này. Tuy nhiên, nó đã phải đối mặt với cả thành công lẫn thất bại.

Việt Nam trước Sáng kiến “Vành đai - Con đường của Trung Quốc”: “cẩn tắc vô áy náy”!

RFA

2023.10.17

Công nhân Trung Quốc dỡ bỏ khán đài Hội nghị cấp cao BRI ở Bắc Kinh ngày 24/4/2019. AFP

Một số chuyên gia tại Việt Nam cho rằng Sáng kiến Một vành đai - Một con đường (BRI) của Trung Quốc tiềm ẩn nhiều rủi ro cho Việt Nam, và Hà Nội phải thận trọng trong việc hợp tác với Bắc Kinh khi phát triển cơ sở hạ tầng của mình.

Truyền thông Nhà nước đưa tin Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dẫn đầu đoàn đại biểu sang Bắc Kinh dự Diễn đàn “Vành đai - Con đường (BRI)” lần thứ ba trong chuyến thăm kéo dài bốn ngày từ ngày 17/10.

Hồi tháng 11/2017, Việt Nam và Trung Quốc ký Bản Ghi nhớ về việc thúc đẩy kết nối khuôn khổ “Hai hành lang, Một vành đai kinh tế” (một dự án kết nối ASEAN với Trung Quốc) với BRI. Đây được xem như là sự ủng hộ của Hà Nội đối với Sáng kiến “Vành đai-Con đường”.

Tiến sĩ khoa học Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Tư vấn, Phản biện chính sách độc lập (IDS – đã tự giải thể), nhận định rằng dường như các dự án phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam có liên quan đến BRI chủ yếu là các dự án giao thông đường sắt.

Nguồn vốn nước ngoài tăng tốc rút khỏi Trung Quốc - 5 công ty nước ngoài xác nhận đầu tư vào Indonesia

Thanh Hương

Đất lành chim đậu?

Sự thật rõ ràng ở Việt Nam là BOT trùng trùng lớp lớp, giá xăng dầu cao ngất so với thế giới, chưa kể tới một lực lượng hùng hậu cảnh sát GT đứng ở mọi nẻo đường đất nước “làm luật”, mãi lộ đã làm gia tăng rất nhiều chi phí vận chuyển hàng hóa.

Giá điện, xăng cao hơn các nước trong khu vực, thuế phí chồng chéo, thủ tục hành chính rắc rối không minh bạch làm tăng giá thành sản phẩm.

Nhân công có rẻ nhưng thiếu tay nghề vì xã hội người ta bắt con trẻ học tích phân, thi vào đại học để đi chạy Grap

v.v …

Chẳng dại đậu vì đất sẽ nhậu luôn “Đại bàng”

Lãn Tử

Đầu tư nước ngoài đang tăng tốc rút vốn khỏi Trung Quốc đại lục, và khu vực Đông Nam Á là một trong số những lựa chọn của các nhà đầu tư. Tổng thống Indonesia Joko Widodo đã tuyên bố vào ngày 30/6 rằng có 7 công ty nước ngoài đã quyết định chuyển sản xuất đến Indonesia, 5 trong số đó là đến từ đại lục, và 17 công ty nước ngoài khác cũng đang có ý định đầu tư vào Indonesia.

Lại có thêm một trường đại học Mỹ đóng cửa Viện Khổng Tử do ĐCS Trung Quốc tài trợ

Văn Thiện

Viện Khổng Tử trong khuôn viên Đại học Troy ở Alabama vào ngày 16/3/2018. (Kreeder13/Wikimedia Commons

Vào hôm thứ Ba (5/5), Đại học California-Davis (UC-Davis), Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng họ sẽ đóng cửa Học viện Khổng Tử, tổ chức do Bộ Giáo dục Trung Quốc giám sát, trong bối cảnh các chương trình trao đổi văn hóa đang được Bắc Kinh sử dụng để tẩy não sinh viên Mỹ và truyền bá các tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).

Đại học California-Davis là trường đại học mới nhất trong số các trường đại học đóng cửa Viện Khổng Tử, sau khi các quan chức Mỹ lo ngại rằng Trung Quốc đang lạm dụng chương trình mở các viện này.

Theo một lá thư vào ngày 28/4 mà Hiệu trưởng Đại học California Gary S. May gửi cho Phòng Hanban - trụ sở chính của Viện Khổng Tử - của Bộ Giáo dục Trung Quốc vào ngày 28/4, đại học này sẽ để ngỏ khả năng các chương trình mới với Viện Khổng Tử tại đây.

Ông May viết: “Đã đến lúc chúng ta phải xem xét những cách mới thông qua việc xây dựng các chương trình trao đổi văn hóa tương tự như những chương trình mà Viện Khổng Tử từng thúc đẩy”.

Chuyên gia Quan hệ Truyền thông và Tin tức của UC-Davis Julia Ann Easley nói với Campus Reform: “Vào tháng 12/2019, Phòng Hanban của Bộ Giáo dục Trung Quốc đã tuyên bố tại cuộc họp thường niên của Viện Khổng Tử rằng việc giảng dạy ngôn ngữ tại Viện Khổng Tử sẽ được tập trung đổi mới”.

Bà Easley nói thêm: “Trọng tâm của Viện Khổng Tử tại UC-Davis là văn hóa ẩm thực và đồ uống Trung Quốc. Nhưng cơ sở này không cung cấp các khóa giảng dạy ngôn ngữ. Vì vậy, UC-Davis sẽ tìm kiếm những cách khác với các trường đại học quốc tế".

Viện Khổng Tử

Trần Trung Đạo

Các nước trên thế giới, dù nhỏ hay lớn đều muốn nhân loại biết đến những cái hay cái đẹp của nước mình.

Viện Goethe (Goethe-Institut), đặt tên theo nhà văn và chính khách Đức Johann Wolfgang von Goethe, có 159 cơ sở hoạt động gần khắp thế giới để trao đổi văn hóa và ngôn ngữ. Viện Goethe tự trị về tài chánh và độc lập điều hành với Chính phủ Đức.

Hội Liên minh Pháp (Alliance Française) do một số trí thức Pháp trong đó có nhà khoa học Louis Pasteur, nhà văn Jules Verne, sáng lập từ 1883, có mặt trên 137 quốc gia với tổng số gồm 850 trung tâm cũng hoạt động độc lập với Chính phủ Pháp.

Các nước Phi châu tuy nghèo nàn, lạc hậu về kỹ thuật, bị thực dân xâm lược rồi nội chiến triền miên nhưng không phải vì thế mà họ không kiêu hãnh với nền văn hóa và cũng luôn tìm mọi cách để giới thiệu cùng nhân loại những nét đặc thù của dân tộc họ.

Hiến chương Phục hưng Văn hóa Phi châu được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chuẩn y ngày 24 tháng Giêng 2006 đã tạo điều kiện phục hưng các giá trị và giới thiệu văn hóa Phi châu đến các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc. Ngày nay nhiều viện văn hóa Phi châu do tư nhân tài trợ có mặt nhiều nơi trên thế giới.

Phát huy văn hóa là lẽ tự nhiên và đáng ca ngợi. Ngoại trừ những kẻ tự thu mình trong góc tối, sống trong ảo tưởng “quê hương mình là đẹp hơn cả” dù suốt đời không ra khỏi nhà để rồi trở nên ngày thêm u mê lạc hậu, phần lớn các lãnh đạo và con người trên thế giới đều biết trong cái riêng bao giờ cũng có cái chung, văn hóa của một dân tộc là một phần của văn minh nhân loại.

Thế nhưng, những khái niệm văn hóa, độc lập, tự trị, phi Chính phủ của các trung tâm, các viện văn hóa nêu trên không áp dụng trong trường hợp các Viện Khổng Tử của Trung Cộng, bởi vì thực chất của các viện này chỉ là cơ quan tuyên truyền, tình báo và được đặt dưới sự lãnh đạo của Cục Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tuyên truyền là xương sống của chế độ CS. Từ khi thành lập Đảng CSTQ năm 1921 đến nay, tuyên truyền luôn đóng một vai trò quyết định trong việc thực thi các chính sách của đảng. Cục Tuyên truyền Trung ương do Lý Trường Xuân, Ủy viên Bộ Chính trị đứng hàng thứ năm, làm Cục trưởng.

Tại sao là Viện Khổng Tử mà không là Viện Mao Trạch Đông hay Viện Đặng Tiểu Bình?

Mặt trái của những dự án Vành đai kinh tế Con đường tơ lụa

Nguồn: “Chinese investment in Eurasia is not always smooth”, The Economist, 06/02/2020.

Biên dịch: Trần Hùng



Nếu có một nơi nào dọc theo Vành đai và Con đường được hưởng lợi từ sự hào phóng của Trung Quốc, thì đó chính là Pakistan. Đất nước này được coi là đồng minh duy nhất của Trung Quốc, một đối tác trên sườn Tây dễ bị tổn thương của nước này, và cũng là nhân tố giúp Trung Quốc cân bằng lại Ấn Độ.
Trung Quốc đã trao cho các nhà khoa học Pakistan bí quyết và vật liệu để chế tạo bom nguyên tử. Hai nước từ lâu đã lũ lượt đưa ra những tuyên bố về một tình hữu nghị còn “cao hơn cả dãy Himalaya”. Vì vậy, mặc dù việc cấp vốn cho các dự án BRI ở khắp nơi đã chậm lại trong năm qua (xem biểu đồ), Pakistan dường như vẫn là nơi BRI cắm rễ một cách tự nhiên.

Giá trị đầu tư và hợp đồng xây dựng của TQ trên toàn cầu.

Tuy nhiên, tại trung tâm hội chợ triển lãm Karachi, nhân viên từ 120 công ty Trung Quốc hiện đang có rất ít thành công khi họ đứng cầm các tài liệu quảng cáo và thiết bị dịch thuật điện tử trong tay, chào mời mọi thứ từ vòi nước, máy bơm, đến khung cửa sổ.
Alex Hou, làm việc cho một công ty ở tỉnh Chiết Giang chuyên bán phim nhựa PVC cho các nhà máy, cho biết các quan chức Pakistan lẽ ra nên làm nhiều hơn nữa để quảng bá sự kiện này. Nhìn rộng hơn, Pakistan là một bài học về cách Trung Quốc lóng ngóng trong khía cạnh chính trị của chính sách đối ngoại hàng đầu của mình như thế nào.
Khi BRI ra đời năm 2013, nó cần một dự án tiêu biểu. Câu trả lời là Hành lang kinh tế Trung Quốc-Pakistan (CPEC), dự án mà Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường gọi là một chương trình kinh tế có tác động biến đổi “giúp đưa người dân thoát khỏi chủ nghĩa tôn giáo cực đoan”.

Không làm đường sắt Lào Cai – Hải Phòng cho Trung Quốc

Nguyễn Ngọc Chu

1. Liên tục mấy ngày qua hàng triệu người Việt Nam đã lo lắng đến mất ăn mất ngủ vì số phận người Hong Kong. Qua mạng xã hội, hàng triệu người Việt Nam đã lên tiếng, bày tỏ thiện cảm, ủng hộ người Hong Kong và lên án chính quyền Trung Quốc đàn áp dã man sinh viên Hong Kong.

Sống trong hoàn cảnh khó khăn thua kém người Hong Kong nhiều lần, nhưng người Việt Nam lại lo lắng cho số phận người Hong Kong sẽ bị xấu đi khi chính quyền Trung Quốc thắt chặt dần sự cai trị lên Hong Kong. Đó là bằng chứng đẹp cho thấy người Việt Nam yêu mến người Trung Quốc, rằng giữa nhân dân các nước không bao giờ có thù hận.

Điều mà người Việt Nam thù hận đó chính là nhà cầm quyền Trung Quốc dã tâm xâm chiếm Việt Nam. Người Hong Kong cũng thù hận và không chịu cùng đợi trời chung với là nhà cầm quyền Trung Quốc. Tội lỗi không phải từ người dân mà là từ nhà cầm quyền.

2. Điều giận dữ và đau xót khác của người Việt Nam là hiện nay có một nhóm người Việt Nam cam tâm chịu sự sai khiến của nhà cầm quyền Trung Quốc. Biết hợp tác với nhà cầm quyền Trung Quốc là mang tai họa cho Việt Nam mà họ vẫn liều lĩnh tiến hành. Họ đã mang về cho nhân dân Việt Nam bao nhiêu dự án đại họa từ nhà cầm quyền Trung Quốc mà họ chưa sáng mắt, lại còn tiếp tục rước về Việt Nam những dự án đại họa khác.

3. Đoàn công tác của Bộ GTVT mới đây vừa làm việc với UBND TP Hải Phòng, UBND tỉnh Hải Dương và UBND tỉnh Hưng Yên về phương án xây đựng đường sắt khổ 1,435m Lào Cai – Hải Phòng dài 392 km. Đoạn Hà Khẩu – Lào Cai sẽ do Trung Quốc xây dựng.

Ngán ngại về đề nghị đầu tư của Trung Quốc vào cảng Vũng Áng!

RFA 2019-11-06

Tweet

Cảng Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh. Nguồn: Facebook Cảng Vũng Áng - Hà Tĩnh

Báo trong nước loan tin cho biết Tập đoàn Cảng Hạ Môn của Trung Quốc vào ngày 27/10 đã có buổi làm việc với Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về việc mở tuyến container tại cảng Vũng Áng, từ đó nối với cảng Hạ Môn ở tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.

Cũng trong buổi gặp gỡ, Chủ tịch Công ty TNHH Tập đoàn Cảng Hạ Môn cho biết ông thấy cảng Vũng Áng ở Hà Tĩnh có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển trong việc kết nối với các cảng quốc tế cũng như hệ thống giao thông đường bộ kết nối qua Lào, Thái Lan…

Có thể từ sau Vũng Áng, Trung Quốc có thể phát triển mô hình đó qua những cảng biển khác mà chẳng hạn người ta đang lo ngại một số các đặc khu trước đây, trong đó cũng liên quan đến hệ thống cảng biển trong sáng kiến Một vành đai – Một con đường của Trung Quốc.

ThS. Hoàng Việt

Do đó, ông bày tỏ mong muốn được lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh hỗ trợ Tập đoàn Cảng Hạ Môn có được cơ hội hợp tác và đầu tư.

Cảng Hạ Môn là 1 trong 7 cảng hàng đầu của Trung Quốc và là cảng container lớn thứ 16 thế giới.

Trao đổi với Đài Á Châu Tự Do, Thạc sĩ Hoàng Việt, chuyên gia nghiên cứu Biển Đông và Trung Quốc cho rằng việc đầu tư này nằm một phần trong dự án Vành đai – Con đường của Trung Quốc vì trong dự án này, Trung Quốc muốn phát triển các hạ tầng, đặc biệt là một số cảng biển. Vì vậy ông cho rằng việc này hoàn toàn phù hợp với chiến lược Vành đai – Con đường của Bắc Kinh. Ông nói thêm:

“Thực ra mà nói thì Vũng Áng chưa phải là vị trí tốt nhất, nhưng mà nó sẽ là khởi đầu vì nếu Trung Quốc thành công ở Vũng Áng thì nó kiểm soát toàn bộ khu vực miền Trung của Việt Nam. Miền Trung cũng là khu vực rất quan trọng, hiểm yếu. Cũng có thể từ sau Vũng Áng, Trung Quốc có thể phát triển mô hình đó qua những cảng biển khác mà chẳng hạn người ta đang lo ngại một số các đặc khu trước đây, trong đó cũng liên quan đến hệ thống cảng biển trong sáng kiến Một vành đai – Một con đường của Trung Quốc”.

Còn theo ông Đỗ Thái Bình, kỹ sư đóng tàu, thành viên Hội Khoa học Biển thành phố Hồ Chí Minh, từng làm trong Cục Cơ khí Bộ Giao thông Vận tải, cho rằng việc giao lưu buôn bán giữa Việt Nam với các nước xung quanh là việc bình thường, nhất là hiện nay, chính phủ Hà Nội giao lưu buôn bán với Bắc Kinh bằng đường biển cũng rất lớn. Vấn đề nhập khẩu từ các cảng Trung Quốc sang Việt Nam cũng như Việt Nam buôn bán với Trung Quốc qua các cảng như Mũi Dầu ở Mao Minh phía Quảng Đông, tất cả mua bán rất bình thường ở các cảng đó. Tuy nhiên, vẫn có lo ngại:

Nhà máy thép Formosa tại Hà Tĩnh. Ảnh chụp ngày 12/4/2015. AFP

“Việc lập ra một cảng riêng của Trung Quốc ở Vũng Áng thì bản thân Vũng Áng là khu vực có vị trí địa lý điểm quan trọng ở vùng biển. Việc đó đã có nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề này. Đặc biệt là nó gần với khu vực Formosa chuyên về vấn đề thép do Đài Loan - Trung Quốc đã xây dựng ở đó. Tuy rằng của Đài Loan nhưng có rất nhiều yếu tố Trung Quốc trong đó. Bây giờ việc xây dựng hẳn một cảng của Trung Quốc thì ta thấy rằng kế hoạch Một vành đai – Một con đường của Trung Quốc đã đưa ra từ lâu và rất muốn Việt Nam phải tham gia con đường đó. Thực ra kế hoạch đó của Trung Quốc cũng muốn để thâu tóm và đặt quyền lợi Trung Quốc trên hết, các nước có cái đó hoàn toàn chỉ mang tính chất phụ thuộc. Cho nên tôi cho rằng để một cảng chuyên dùng của Trung Quốc ở vùng đó (Vũng Áng), không phải một cảng container chuyên dùng mà còn có hệ thống logistic để hoạt động mạnh mẽ thì theo tôi là điều bất lợi về phía chủ quyền của Việt Nam ở trên biển”.

'Quân Nguyên' ở Hải Phòng

Minh Châu

Trong tuyên bố đầy bất ngờ rạng sáng 2-8, Tổng thống Donald Trump tuyên bố từ ngày 1-9 tới sẽ áp thuế 10% lên 300 tỉ USD hàng hoá từ Trung Quốc, đồng nghĩa với việc toàn bộ hàng hóa của Bắc Kinh sẽ chịu thuế nhập khẩu cao tại Mỹ.


Khu Công nghiệp Thâm quyến tại Hải phòng

“Tôi nghĩ Việt Nam chịu thiệt hại nặng nề trong vụ áp thuế mới này, vì ở Hải Phòng, các doanh nghiệp Trung Quốc ‘đông như quân Nguyên’ vậy!”. Bà Nguyễn Thị Oanh, Hội Tư vấn Thuế, cho biết trong một trao đổi với phóng viên trang Việt Nam Thời Báo, sáng ngày 2-8 tại Sài Gòn.
* Thưa bà, một thông tin của cánh báo chí lại nói rằng ‘quân Nguyên’ ở Hải Phòng thật ra không hề nhắm chính đến lợi nhuận thương mại, do vậy nên thiệt hại vụ áp thuế này từ Việt Nam vẫn chưa rõ ràng.
+ Bà Nguyễn Thị Oanh: Dân kế toán cũng râm ran tin tức tương tự. Khu công nghiệp VCEP (Vietnam-China Economic and Trade Cooperation Park) do Trung Quốc đầu tư tại phía đông bắc của Hải Phòng, và thuộc sở hữu của chính quyền thành phố Thâm Quyến, đến nay đúng vẫn là một trong những khu công nghiệp phát triển chậm nhất tại Việt Nam.

Các nguy cơ gắn liền với đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam

Chấn Minh

Tóm tắt: Có hai hệ lụy hay rủi ro lớn khi chấp nhận đầu tư Trung Quốc: sập bẫy nợ Trung Quốc và bị de dọa về chủ quyền quốc gia và an ninh quốc phòng. Mức độ trầm trọng của hai hệ lụy này tăng theo số tiền vay Trung Quốc. Theo các số liệu mới nhất (8/2018) từ hai viện nghiên cứu/cố vấn chính sách có trụ sở tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ, tổng trị giá các đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam khi chỉ kể các dự án có trị giá trên 100 triệu USD là 24,4 tỷ trong thời khoản 2005-2018. Nếu tính thêm các dự án đầu tư dưới 100 triệu USD, tổng trị giá đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam có thể ước tính giản đơn thấp là 36 tỷ USD và cao là 72 tỷ USD. Vì vốn đầu tư Trung Quốc đi vào Việt Nam như là tiền Trung Quốc cho vay, vì Trung Quốc cho vay để thúc đẩy thực hiện các mục tiêu địa chính trị, quốc phòng và chiến lược quân sự của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, vì tỷ lệ công nợ/GDP của Việt Nam cao, vì tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam thấp, xác suất Việt Nam đã hay đang sập bẫy nợ Trung Quốc sẽ rất cao. Ngoài ra, chủ quyền quốc gia cũng như an ninh quốc phòng của Việt Nam sẽ bị đe dọa bởi các cảng thiết kế dọc theo bờ biển Đông và vịnh Thái Lan và các nhà máy thiết kế tại Tây Nguyên khi các cảng và nhà máy này dùng vốn vay từ Trung Quốc, vì Trung Quốc có thể dùng các cơ sở này để làm bàn đạp hay nơi đổ quân vào Việt Nam. Nguy cơ này sẽ rất cao trong trường hợp tranh chấp Việt-Trung Quốc nâng cấp từ lạnh thành nóng, hay khi Trung Quốc muốn củng cố lực lượng và hậu cần bằng cách chiếm đóng Việt Nam một khi tranh chấp lạnh giửa Hoa Kỳ và Trung Quốc trở thành nóng.

Việt Nam nay là một những nước được chính sách thực dân mới hậu hiện đại của Trung Quốc chiếu cố đến nhiều nhất vì vị trí địa dư và các quan hệ lịch sử đã kéo dài hàng ngàn năm. Mục tiêu của bài viết này - được rút ra, hiệu đính và cập nhật từ một bài viết trước dài hơn (1) - là xem xét các số liệu hiện có về đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam để (a) xác định tầm vóc đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam và (b) từ đó nhận diện các thách đố gắn liền với đầu tư Trung Quốc. Bài viết sẽ tuần tự:

· Xem lại các số liệu chính thức từ các định chế quốc tế như Ngân hàng Thế Giới và tổ chức ASEAN,

· Phân tích các số liệu từ American Enterprise Institute (Viện Doanh Nghiệp Hoa Kỳ, AEI) và American Heritage Foundation (Cơ sở Di sản Hoa Kỳ, AHF), để từ đó

· Nhận diện các thách đố xuất phát từ đầu tư Trung Quốc trong đó có (a) nguy cơ sập bẫy nợ Trung Quốc và (b) nguy cơ về mặt chủ quyền quốc gia và an ninh quốc phòng xuất phát từ các cảng thường và cảng nhiệt điện vì chúng có thể phục vụ các nhu cầu địa chính trị, quốc phòng và chiến lược quân sự của Trung Quốc bên bờ Biển Đông và Vịnh Thái Lan.

Vì đầu tư nước ngoài của Trung Quốc nay gắn liền với đề án Một Vòng Đai Một Con Đường (VĐCĐ) của Trung Quốc, bài viết cũng sẽ trình bày một số điểm chính có liên hệ của đề án này.

Đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam theo các định chế tài chính quốc tế

clip_image002

Tổng trị giá đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) từ tất cả các nước ngoài vào Việt Nam không nhỏ. Ngân hàng Thế giới (World Bank, WB) ước lượng tổng cộng là 129 tỷ USD từ 1970 đến 2017, như xem được trong hình “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (1970-2017) (2).

Số liệu của Tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (viết tắt là ASEAN) cho con số tổng cộng là 56,6 tỷ USD trong thời khoản 2013-2017. Tổng số này cũng giống như tổng số trong cùng thời khoản 1013-2017 khi dùng số liệu từ WB Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 2013-2017” (3).

clip_image004

Khi xem xét các số liệu từ WB/ASEAN, có một sự kiện nổi bật lên: đó là tính khiêm tốn của đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam. Các đầu tư này đi từ thấp nhất là 1,44% vào năm 2010 đến cao nhất là 10,65% vào năm 2013. Trong 8 năm từ 2010 đến 2017, trị giá tổng cộng của các đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam là 4.047 tỷ USD, và chỉ là 5% của tất cả vốn đầu tư trực tiếp của tất cả các nước ngoài vào Việt Nam là 80.487 tỷ USD.

Con số 4.047 tỷ USD trên là một số liệu xem ra tự nó khó tin vì có vẻ không tương xứng với ảnh hưởng kinh tế và nhất là chính trị của Trung Quốc tại Việt Nam. Sự kiện này đã đòi hỏi phải xét lại các số liệu trên của WB/ASEAN.

Đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam theo số liệu từ AEI và AHF

Việc dò xét lại các số liệu kể trên đã được Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ (American Enterprise Institute, AEI) và Cơ sở Di sản Hoa Kỳ (American Heritage Foundation, AHF) làm bắt đầu từ năm 2005. AEI và AHF là hai định chế nghiên cứu về cách chính sách và sách lược kinh tế và chính trị có khuynh hướng bảo thủ danh tiếng tại thủ đô Hoa Kỳ. Khác với WB và ASEAN đã thu thập, phán đoán và tổng hợp số liệu từ các cơ quan thống kê chính thức của các nhà nước hay định chế kinh tế quốc tế liên hệ để báo cáo về đầu tư trực tiếp nước ngoài, AEI và AHF dùng các nguồn cấp thấp và cơ bản hơn như các bản tin kinh tế của các thông tấn xã, các báo cáo thường niên của các doanh nghiệp Trung Quốc hay các doanh nghiệp có làm ăn với Trung Quốc để thu thập tin tức và số liệu của tất cả các dự án đầu tư và các dự án xây dựng trên thế giới có vốn Trung Quốc trên 100 triệu USD. (Thay vì dùng danh từ dự án như bài viết này đã chọn, AEI/AHF dùng “giao dịch”, tiếng Anh là “transaction” để gọi các dự án đầu tư).

Từ các nguồn này, AEI và AHF liệt kê đích danh các doanh nghiệp Trung Quốc đã bỏ vốn và các công ty hợp tác (nếu biết được) tại một cơ sở dữ liệu mạng gọi là Dụng cụ Theo dõi Đầu tư Trung Quốc trên toàn Thế giới (China Global Investment Tracker, CGIT).

Các số liệu trình bày trong CGIT là: Năm, Tháng, Tên Doanh Nghiệp Trung Quốc Đã Đầu Tư, Trị giá Đầu Tư (Triệu USD), Phần hùn (%), Tên Đối Tác Trong Nước, Ngành, Ngành Phụ, Quốc Gia, Khu Vực, Đầu Tư Đồng Xanh (Tiếng Anh là greenfield, tức là được nhà đầu tư bỏ vốn xây dựng cơ sở kinh doanh từ gốc đến ngọn, Có/Không), Đầu Tư Thuộc VĐCĐ (Có/Không). CGTI có bốn bảng số liệu: Bảng 1 dành cho các dự án đầu tư, Bảng 2 cho các dự án xây dựng, Bảng 3 cho các dự án đang gặp khó khăn, và Bảng 4 là tổng hợp Bảng 1 và Bảng 2.

Cho đến trung tuần tháng Tám 2018, CGIT đã liệt kê trên 2908 dự án (1406 dự án đầu tư và 1502 dự án xây dựng) của Trung Quốc trên toàn thế giới (Lưu ý: các con số này có thể thay đổi khi bài viết này đến với bạn đọc, vì số liệu trên CGIT được cập nhật từng ngày). Các dự án này có trị giá tổng cộng là 1.870.590 triệu USD, trong đó 109.350 triệu USD thuộc về các dự án đầu tư và 780.240 triệu USD thuộc về các dự án xây cất.

Để có số liệu về đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam, ta chỉ cần tải xuống toàn bộ CGIT dưới dạng Microsoft Excel và chỉ chọn các số liệu có “Quốc gia” là Việt Nam. Khi xem xét các dự án Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam như trên, số liệu của AEI/AHF cho thấy Trung Quốc có 45 dự án trị giá trên 100 triệu USD với giá trị tổng cộng trên 24 tỷ USD trong thời khoản 2005-2018. Trị giá tổng cộng này phải xem là một ước tính thấp, vì chưa kể đến tất cả các dự án dưới 100 triệu USD.

Nếu lấy thời khoản 2010-2017, theo AEI/AHF các con số tương đương là 31 dự án có trị giá tổng cộng là 18.250 tỷ USD. So với con số này, con số 4.04 tỷ USD cho đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam do WB/ASEAN đưa ra cho cùng thời khoản 2010-2017 chỉ bằng 22%, tức là quá thấp. Vì tính khả tín của các số liệu của AEI/AHF rất cao, việc dùng số liệu của AEI/AHF khi phân tích đầu tư của Trung Quốc đúng hơn. Vì số liệu của AEI/AHF là một ước tính thấp, các đánh giá dựa trên các số thấp này, nếu xấu, thật sự sẽ xấu hơn (4).

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn