Hiển thị các bài đăng có nhãn Thủy điện Lancang (TQ). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thủy điện Lancang (TQ). Hiển thị tất cả bài đăng

Thủy điện Lancang-Mekong gây khát nước và đói phù sa cho đồng bằng sông Cửu Long cách nào? (为什么澜沧-湄公河水电在湄公河三角洲造成严重的口渴和泥沙缺乏?)

KS Phạm Phan Long, P.E., Viet Ecology Foundation 20-3-2020

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang chịu cơn khát chưa từng có, dân cư phải mua nước giá 250.000 đồng/ mét khối, trong khi ở San Diego, nhà máy khử mặn nước biển thành nước uống, bán với giá 30.000 đồng/mét khối.

Trước tình cảnh như thế, ngoài tác động khí hậu, họ rất cần thông tin chính xác về vai trò thủy điện trên lưu vực. Các kênh truyền thông có nhiều thông tin nhưng có những thông tin không chính xác, gây hoang mang cho dư luận nên chúng tôi tìm câu trả lời từ các nghiên cứu khoa học sau đây chia sẻ cùng các bạn.

  1. Các phụ lưu theo quá trình lịch sử đóng góp lượng nước vào Mekong như thế nào?
  2. Các con đập cắt giảm phù sa của Mekong như thế nào?
  3. Các hồ thủy điện Lancang-Mekong tích trữ bao nhiêu nước?
  4. Nước về Đồng bằng sông Cửu Long xuống từ nguồn nào?
  5. Con đường giải thoát cho lưu vực?

***

  1. Các phụ lưu theo quá trình lịch sử đóng góp lượng nước vào Mekong như thế nào?

Theo Báo cáo Thủy văn[1] của Mekong River Commission, trung bình mỗi năm các lưu vực góp phần vào dòng  chảy theo bảng tỉ lệ sau, Trung Quốc 16%, Lào 35%, Thái Lan, Cam Bốt đều 18%, Việt Nam 11% và Miến 2%. Do đó, Việt Nam không phải vô can vì cũng xây nhiều thủy điện trên phụ lưu tại Việt Nam, nhưng đứng thứ năm trong sáu nước, không có nhiều nước để cất giữ gây ra đại hạn như hiện nay.

Lượng nước đóng góp vào Mekong theo Wikipedia[2]

Vào mùa khô, Lancang (Lan Thương 澜沧, tên gọi sông Mekong của Trung Quốc ở phần thượng nguồn thuộc Trung Quốc) nhờ có tuyết tan từ Hy Mã Lạp Sơn nên lưu lượng từ Vân Nam góp vào lên gần đến 80% vào dòng chảy tại Vientiane và 40% vào dòng chảy tại Kratie, tỉ lệ này là báo cáo của Mekong River Commission[3].

Vào những năm ít mưa nặng hạn, tỉ lệ nước từ Vân Nam có thể còn cao hơn nhiều, với 40 tỉ mét khối thể tích các hồ chứa Vân Nam, Trung Quốc có trong tay quyền lực quyết đoán lưu lượng Mekong những mùa có hạn hán.  Những quan sát viên chỉ dựa vào 16% trung bình năm để coi nhẹ tác hại chuỗi dập thủy điện Vân Nam khác gì biện bạch cho Trung Quốc.     

Thật vậy, xem xét tác động sinh thái cần nghiên cứu toàn diện. Theo giới chuyên gia môi trường, tác động các hồ chứa thủy điện hay chuyển nước của thủy nông phải được khảo sát cả hai mùa, theo ba hoạt cảnh, năm mưa bình thường, năm mưa nhiều và năm khô hạn. Khi đó sẽ thấy việc vận hành thủy điện có thể gây hạn chồng hạn, lũ chồng lũ cho hạ lưu. Sự việc đáng tiếc này đã xảy ra ở Việt Nam.

Tương tự thế, không thể kết luận là Trung Quốc không lấy nước của Mekong với lý luận đơn giản là họ chỉ tạm giữ ở các hồ chứa và xả ra sau. Muốn biết rõ, phải làm phân tích cân bằng khối lượng (mass balance) từ những số liệu nước ra và vào, cùng với thể tích, mực nước của tất cả các hồ chứa, và lượng nước chuyển đi ra khỏi lưu vực sử dụng từng giờ qua nhiều năm. Nhưng những thông số này rõ ràng Trung Quốc cố tình không công bố, khiến sự ngờ vực càng tăng khi hạn hán kéo dài. Dân cư ĐBSCL thì nhìn sự kiện hạn lụt sụt lở với nước mắt.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn