Hiển thị các bài đăng có nhãn Mặt thật cộng sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mặt thật cộng sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Làm sao để 'quan chức, sĩ quan' VN không tẩu tán tài sản và mua hộ chiếu ngoại?

BBC

Chính phủ Việt Nam đang bổ sung luật nhằm ngăn chặn các cá nhân mang tiền ra đầu tư vào bất động sản ở nước ngoài nhằm có hộ chiếu ngoại, sau một loạt vụ việc đầy tai tiếng của quan chức, đại biểu Quốc hội nước này

.

Theo tờ Người Lao Động hôm 27/09/2020, một dự thảo Nghị định Quy định về đầu tư nước ngoài đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến đã bổ sung điều kiện đầu tư ra nước ngoài đối với ngành nghề kinh doanh bất động sản.

Mục tiêu của sửa đổi này là “chỉ nhà đầu tư là doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam mới được phép đầu tư” vào bất động sản ở nước ngoài.

Điều này nhằm ngăn chặn tình trạng cá nhân mang tiền ra đầu tư ở nước ngoài rồi nhận thẻ định cư và hộ chiếu ngoại.

Bài báo cũng trích luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP HCM, nêu ra nhu cầu “cần có quy định chặt chẽ và chế tài nghiêm khắc về việc đầu tư ra nước ngoài đối với cán bộ, công chức, sĩ quan...”.

Theo ông, đây là các “đối tượng dễ lợi dụng chính sách để kiếm lợi, tẩu tán tài sản ra nước ngoài”.

Các bình luận trước đó cho rằng, việc nhập tịch nước ngoài không chỉ giúp “nhà đầu tư” có quyền đi lại trên thế giới với tấm hộ chiếu “có quyền lực” hơn nhiều so với hộ chiếu CHXHCN Việt Nam vốn phải xin visa khó khăn mới vào được rất nhiều nước giàu có hơn.

Chưa kể việc có quốc tịch nước ngoài, nhất là ở một quốc gia thuộc khu vực Bắc Mỹ hay EU, Anh Quốc còn tạo cơ hội cho chính nhà đầu tư và thân nhân thụ hưởng nền giáo dục tốt, y tế văn minh không bị nạn hối lộ hành hạ.

Tuy thế, bài trên tờ Người Lao Động cũng có tựa đề rằng “Không dễ chặn mua nhà nước ngoài để lấy quốc tịch”, vì lý do việc chuyển tiền, tài sản mang tên người khác ra nước ngoài là khó kiểm soát.

Bài báo cũng cho hay theo số liệu chính thức thì từ 2015 đến nay, số nhà đầu cư cá nhân từ Việt Nam đem tiền ra nước ngoài tăng, còn đầu tư của doanh nghiệp có vốn nhà nước giảm.

Tác giả Thoi Nguyễn từ London, người trực tiếp làm dịch vụ định cư ở Anh cho người Việt Nam viết trên BBC News Tiếng Việt gần đây rằng:

“Riêng với nhóm có khi điều kiện kinh tế cho phép, nhiều gia đình Việt Nam ban đầu cho con đi du học nước ngoài, rồi sau đó mở đường cho cha mẹ theo chân sang định cư.

Số lượng người Việt đi dụ học ở các phương Tây tăng nhiều. Hiện tượng du học đã nổi lên rầm rộ hơn 15 năm nay, và nhiều du học sinh đi học và tìm cách ở lại. Lượng người Việt ở nước ngoài tăng lên dần theo diện đoàn tụ gia đình và vì các du học sinh ở lại”.

Trả lời BBC News Tiếng Việt hôm 29/08/2020 nhân vụ 'Hồ sơ Cyprus' nêu tên ĐBQH Phạm Phú Quốc, ông Dominic Volek, người đồng thời là Giám đốc châu Á của Henley & Partners, chuyên về dịch vụ di cư nói Việt Nam là một trong những thị trường tăng trưởng mạnh nhất của công ty ông.

Ông Volek xác nhận “bạn cần đầu tư 2 triệu euro và hiến tặng 200.000 euro đối với người xin nhập tịch Cyprus, bao gồm cả người phối ngẫu”.

Liệu có thể cấm cá nhân mua nhà ở nước ngoài để có quốc tịch, tẩu tán tài sản?

RFA

Hai người Việt Nam trong Hồ sơ Cyprus, công bố ngày 24/8/2020 gồm Đại biểu Quốc hội Phạm Phú Quốc và doanh nhân Phạm Nhật Vũ. RFA Edited

Theo Bộ Kế hoạch và đầu tư (KH&ĐT) sở dĩ lấy ý kiến dự thảo Nghị định về đầu tư ra nước ngoài theo hướng ngăn chặn cá nhân đầu tư bất động sản tại nước ngoài, là để hạn chế rủi ro về pháp lý, an ninh... Vì Nghị định 83 về đầu tư ra nước ngoài hiện hành không có hạn chế đối với cá nhân đầu tư ra nước ngoài. Do đó, từng có nhiều trường hợp lợi dụng kẽ hở này để mua quốc tịch, rửa tiền và để tẩu tán tài sản...

Khó kiểm soát

Trả lời Đài Á Châu Tự Do hôm 28/9, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng Nghị định này chưa rõ ràng:

Tôi thấy đây là biện pháp hành chính mà tác động của nó cần phải được kiểm định, bởi vì khả năng người ta chuyển tiền qua nhiều kênh khác nhau thì không thể cấm được. Thí dụ với các đối tác thì họ có thể chuyển tiền cho nhau trong cùng một công ty, tiền ra nước ngoài rồi thì mua gì khó có thể cấm được. Cho nên ý tưởng ngăn chặn những người có nguồn tiền không rõ ràng, ra nước ngoài mua nhà, đầu tư để có quốc tịch nước ngoài, thì có thể thông cảm. Nhưng về biện pháp thì tôi nghĩ cần phối hợp kiểm soát thu nhập, kiểm soát chuyển tiền ra nước ngoài... Đặc biệt chuyển ngoại tệ bằng các kênh ngầm, thì nghị định mới có tác dụng. Chứ bây giờ biểu cấm thì kiểm tra bằng cách nào? Và bằng cách nào có thể xác minh? Cái đó tôi thấy chưa rõ”.

Cho dù có luật cấm thì một khi đã là một nhu cầu tự nhiên tất sẽ có những dịch vụ chợ đen cung cấp các hỗ trợ cần thiết để thực hiện việc đầu tư bất động sản ra nước ngoài.

TS. Nguyễn Huy Vũ

Việc Bộ KH&ĐT đề xuất nghị định này cũng dễ hiểu, do những năm qua, xuất hiện nhiều thông tin về việc cán bộ, Đại biểu Quốc hội có quốc tịch nước ngoài do có tiền đầu tư tại nước sở tại. Mới nhất là trường hợp Đại biểu Quốc hội Phạm Phú Quốc, đại diện cho cử tri đoàn thành phố Hồ Chí Minh, đã bị Al Jareeza phanh phui là quan chức đã mua “hộ chiếu vàng” của Cyprus bằng cách chuyển tiền ra nước ngoài đầu tư.

Hay vào năm 2016, Bà Nguyệt Hường, khi đó là Đại biểu Quốc hội, nhưng có cả quốc tịch Malta... Sau khi bị cơ quan chức năng phát hiện, bà đã lặng lẽ xin từ bỏ tư cách Đại biểu Quốc hội.

Tuy nhiên, khi trao đổi với Đài Á Châu Tự Do hôm 28/9 từ Na Uy qua tin nhắn, Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Huy Vũ cho rằng, việc cấm đầu tư bất động sản ra nước ngoài là một điều không khả thi và không hiệu quả. Có nhiều nguyên nhân:

Thứ nhất là việc đầu tư bất động sản ra nước ngoài một cách hợp pháp là một nhu cầu tự nhiên của một nhóm các nhà đầu tư liên quan đến các hoạt động kinh doanh, sinh sống của họ. Cho dù có luật cấm thì một khi đã là một nhu cầu tự nhiên tất sẽ có những dịch vụ chợ đen cung cấp các hỗ trợ cần thiết để thực hiện việc đầu tư bất động sản ra nước ngoài. Các hoạt động chợ đen này tất sẽ có lót tay những quan chức. Và khi có tiền thì đến lượt các quan chức lại muốn đầu tư bất động sản ra nước ngoài để rửa tiền và định cư. Cái vòng luẩn quẩn này sẽ tiếp tục vì các quan chức muốn hỗ trợ đầu tư bất động sản ra nước ngoài để họ còn có thể kiếm chác”.

Và thứ hai theo Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ, là muốn điều tra các cá nhân đầu tư bất động sản ở nước ngoài thì cần phải có sự hợp tác ở nước sở tại. Nhưng không nước sở tại nào lại đi dại dột công khai danh tính những nhà đầu tư ở nước mình vì nếu làm vậy thì họ khác nào xua đuổi những nhà đầu tư tiềm năng khác, vì thường những nhà đầu tư không ai muốn các thông tin riêng tư liên quan đến các hoạt động kinh doanh của mình, bị người khác công bố mà không có sự cho phép của mình.

Hình minh hoạ. Cựu đại biểu quốc hội Nguyễn Thị Nguyệt Hường cand.com.vn

Vụ Đồng Tâm: Ban Dân vận Hà Nội vô can

Nguyễn Đình Ấm

Do cơ quan dân vận không sâu sát vận động nên dẫn đến dân Đồng Tâm làm sai mà Ban Dân vận không biết để vận động dân làm đúng và tham mưu cho chính quyền cách xử lý để dẫn đến cuộc tập kích kinh hoàng hôm 9/1 ở địa phương này.

VNTB – Vụ Đồng  Tâm: Ban dân vận Hà Nội vô can

Hôm 29/4/2020 Bí thư Hà Nội Vương Đình Huệ làm việc với Ban Dân vận Thành ủy, ông Phạm Hải Hoa, Phó Ban Dân vận nói: “Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác dân vận còn có những tồn tại, hạn chế trong đó có đánh giá, dự báo tình hình nhân dân, đặc biệt là các địa bàn phức tạp, nhạy cảm là chưa kịp thời, sâu sát từ đó dẫn đến việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền giải quyết các sự việc phát sinh trong nhân dân còn hạn chế như vụ ở Đồng Tâm…” (Đất Việt ngày 9/4/2020).

Đọc đoạn nhận định này ai chưa tường tận vụ Đồng Tâm sẽ hiểu: Do cơ quan dân vận không sâu sát vận động nên dẫn đến dân Đồng Tâm làm sai mà Ban Dân vận không biết để vận động dân làm đúng và tham mưu cho chính quyền cách xử lý để dẫn đến cuộc tập kích kinh hoàng hôm 9/1 ở địa phương này.

Tôi xin ý kiến như sau:

1. Dân Đồng Tâm cực kỳ tin vào Đảng CS, ông Nguyễn Phú Trọng trong việc chống tham nhũng, không có hành vi gì sai trái ngoài việc chống tham nhũng “tự phát” quá bài bản gây tiếng vang lớn trong nước và quốc tế. Họ tưởng đó là thành tích làm theo hiệu triệu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhưng ngược lại. Riêng cuộc giam giữ 38 CSCĐ và một số cán bộ hôm 15/4/2017 là thế này:

Cán bộ quân đội, cụ thể là sĩ quan Mạc Văn Tin, Nguyễn Văn Tài và công an Hà Nội lừa cụ Lê Đình Kình hơn 80 tuổi ra đồng Sênh để “kiểm tra mốc giới” nhưng khi bà con ra theo đông, họ lại bảo cụ Kình khuyên dân về hết “mới làm việc được”. Khi dân về gần hết, bất thình lình trung tá Trần Thanh Tùng đá cụ Kình văng 3 mét làm cụ gẫy xương đùi, rạn xương chậu rồi ném lên ô tô chạy đi (theo tường trình của cụ Kình, bà con Đồng Tâm và bằng chứng cho thấy). Thực chất là họ “điệu hổ ly sơn” cướp tài liệu, thủ tiêu người đứng đầu giữ cánh đồng Sênh. Do lừa, đánh cụ già dã man bắt cóc cụ cùng 3 công dân khác của làng mang đi nên dân phẫn nộ khuyên 38 CSCĐ, cán bộ đang bảo vệ việc cướp đất vào nhà văn hóa thôn Hoành và giữ lại để bảo đảm tính mạng cụ Kình và 3 công dân của họ.

30/4/1975 - ‘Quan nhất thời, dân vạn đại, chế độ này phải thay đổi’

Khánh An

Công dân Việt Nam gốc Pháp, ông Andre Menras Hồ Cương Quyết, cho rằng xã hội Việt Nam “không thực sự hòa bình” như trên bề mặt của nó.
Công dân Việt Nam gốc Pháp, ông Andre Menras Hồ Cương Quyết, cho rằng xã hội Việt Nam “không thực sự hòa bình” như trên bề mặt của nó.

Một người Pháp đã cắm “cờ giải phóng” của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trước Hạ nghị viện của Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1970 nói với VOA rằng những năm tháng dài sinh sống và đồng hành cùng người dân Việt Nam đã giúp ông nhìn thấy rõ chế độ mà ông từng ủng hộ nay đã trở thành một hệ thống mafia chính trị kết hợp với kinh tế, đầy tham nhũng và chà đạp con người, “không xứng đáng” và không phù hợp với quan niệm sống của ông “về con người và nhân quyền”.

Từng được chính quyền Việt Nam tôn vinh như một “anh hùng quốc tế” và được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đặc cách cấp quốc tịch Việt Nam với tên “Hồ Cương Quyết” vào năm 2009, ông Andre Menras nói với VOA rằng ngày xưa ông ủng hộ chính quyền miền Bắc vì không thể chịu nổi cảnh người dân chết chóc trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam, và vì nghĩ rằng chỉ có cách đó mới giúp chấm dứt “cái ác” do chiến tranh gây ra.

“Bởi vì tôi không đi theo chính quyền nào. Tôi không đi theo một ý thức hệ nào. Tôi đi theo con người, tình trạng của con người tại chỗ. Hồi xưa, tôi là giáo viên. Tôi 20 tuổi, là cao thủ bóng bầu dục ở Pháp, có nghĩa là tôi không quan tâm đến chính trị, không biết Marx-Lenin, không thuộc về công đoàn nào. Khi tôi đi xe gắn máy ở nông thôn [Việt Nam] năm 1968, Tết Mậu thân 1869, thì tôi thấy tình trạng của người nông dân ở đó bị đánh bom, bị giết ở trên đường, bị thương ở bụng… Làm sao [tôi] chịu nổi? Chiến tranh là ác nhất trong thế giới này. Vậy nên tôi phản ứng như một thanh niên Pháp yêu đời và không chấp nhận tình trạng đó. Tôi đã làm như thực tế tôi thấy, không phải theo ý thức hệ”, ông Menras kể lại với VOA.

Tuy nhiên, điều mà chàng thanh niên Andre Menras lúc đó không ngờ tới là vài chục năm sau đó, chính mình lại là người lên tiếng phản đối chính quyền mà mình đã từng tâm huyết ủng hộ.

Trong hình ảnh có thể có: 4 người, mọi người đang đứng và ngoài trời
André Menras cầm biểu ngữ đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Biển Đông. Ảnh: FB Võ Văn Tạo

Nhớ lại ngày 23/4 của hơn 70 năm trước

Vũ Cao Đàm

Trên các phương tiện truyền thông, chúng ta nhiều lần nghe nhiều người có chức quyền thể hiện lòng biết ơn Tàu Cộng đã chi viện cách mạng Việt Nam, nhưng chưa bao giờ được nghe các nhà lãnh đạo Tàu Cộng nhắc đến công ơn của các chiến sỹ Quân đội nhân  dân Việt Nam, ngay từ khi còn non yếu, đã hy sinh xương máu chi viện cho công cuộc giải phóng Hoa Lục của họ.

Bài viết sau đây của tác giả Vũ Cao Đàm đã nhắc lại Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, một sự kiện hầu như chưa từng được nhắc đến trong các văn kiện có tính chất chính sử của Việt Nam.

Nhắc lại sự kiện này, người Việt Nam luôn cảm thấy đau xót trước sự phản bội của bè lũ Tàu Cộng đang phát xít hóa, ngày một lấn tới trong tham vọng xâm lược Việt Nam, một sự phản bội trắng trợn đã xúc phạm tình hữu nghị của dân tộc Việt Nam đối với dân tộc láng giềng Trung Hoa anh em.

Nhắc lại sự kiện này, cũng là để giúp người Việt chúng ta rút ra được một chân lý hết sức bổ ích nhằm truyền lại cho muôn đời con cháu: Chỉ có mối quan hệ quốc gia trên tinh thần tôn trọng độc lập tự chủ của nhau, vì con đường phát triển dân chủ tự do của mỗi dân tộc, mới là quan hệ bền vững có thật, ngoài ra mọi thứ khẩu hiệu ngọt ngào “bốn phương vô sản đều là anh em”, v.v... mà dân chúng được nghe cán bộ tuyên giáo một thời giải thích, mê mẩn tin theo, thì cũng giống như những khẩu hiệu "4 tốt", "16 chữ vàng" từ hàng chục năm nay quan chức Cộng sản hai bên lúc nào cũng đem ra làm đầu câu chuyện mỗi khi gặp mặt chúc tụng nhau, đó toàn là lời lẽ ngoại giao nhằm che đậy những âm mưu nham hiểm chết người.

Đặc biệt, trong tình hình khẩn trương hiện tại, nếu phía chính quyền đến giờ này vẫn không biết nghe theo ý nguyện dân chúng, tỉnh táo ra ngay và kịp thời có biện pháp đối phó thật bài bản, thì hai gọng kìm "Biển Đông" và "hàng chục con đập trên dòng Lan Thương làm nguồn nước sông Cửu Long cạn kiệt" là hai "món quà ân nghĩa bậc nhất" do Bắc Kinh ân cần đáp tặng, chắc chắn sẽ như hai múi thòng lọng siết lấy cổ dải đất hình chữ S cho đến kỳ lọt hẳn vào lãnh thổ Đại Hán, không còn cách nào dẫy ra được.

Bauxite Việt Nam

Đầu năm 1949, trên đường tiến xuống phía Nam để giải phóng toàn bộ Hoa Lục, Cộng sản Tàu đã có lời đề nghị Quân đội nhân dân Việt Nam đưa quân chi viện để giải phóng miền Nam Hoa Lục.

Ngày 23/4/1949, mặc dầu lực lượng kháng chiến còn vô cùng non yếu, Bộ Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã phát Mệnh lệnh phái một lực lượng quân đội tiến vào phía Nam Hoa Lục giúp Tàu Cộng "Xây dựng một khu giải phóng ở vùng Ung-Long-Khâm (chỉ ba huyện Ung Châu, Long Châu và Khâm Châu thuộc hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây) liền với biên giới Đông Bắc Việt Nam, thông ra bể, tạo điều kiện khuếch trương lực lượng, đón Đại quân Nam Hạ của Tàu Cộng".

Sự kiện này được gọi là “Chiến dịch Thập vạn đại sơn”. Chiến dịch được diễn ra ở vùng núi có tên là “Thập vạn đại sơn”

Dãy núi Thập Vạn Đại Sơn (mười vạn quả núi lớn), ranh giới tự nhiên giữa Quảng Tây và Quảng Đông, cao hơn 1.000m, đường rừng hiểm trở. Riêng việc hành quân vượt Thập Vạn Đại Sơn đã là một chiến tích. Dân địa phương kể lại rằng chưa từng thấy ai, kể cả quân đội của Tưởng Giới Thạch, vượt qua được dãy núi này, vừa rất hiểm trở, vừa là sào huyệt lâu đời của bọn thổ phỉ khét tiếng tàn bạo.

Tôi đã hết sức cố gắng tìm các tài liệu viết về sự kiện Thập vạn đại sơn, cả trên các trang mạng chính thống của Tàu Cộng, và cả trên các trang lề trái chống Tàu Cộng, nhưng hầu như không ở đâu nhắc đến sự kiện này. Cuối cùng tôi tìm được vài mẩu tin ngắn trên trang Wikipedia (1) và một bài của tác giả Phạm Quý trên trang điện tử Quân đội Nhân dân ngày 27/07/2007 với tiêu đề “Những chiến sỹ quốc tế” nói về cuộc chi viện Trung Cộng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Theo những gì đăng trên Wikipedia, thì theo yêu cầu chi viện của Tàu Cộng, Bộ Tư lệnh QĐND Việt Nam đã phái một số đơn vị thuộc 3 trung đoàn 28, 174 và 95 thâm nhập 3 huyện Ung Châu, Long Châu và Khâm Châu dưới sự chỉ huy của Tướng Lê Quảng Ba, phối hợp với quân địa phương thuộc 3 huyện Ung-Long-Khâm dưới sự chỉ huy của một viên chỉ huy quân địa phương là Chen Mingjiang (Trần Minh Giang 陈明江) trong Chiến dịch Thập vạn đại sơn bắt đầu từ Tháng 6 đến Tháng 10/1949.

Theo Mệnh lệnh phát đi từ 23/4, tháng 6 năm đó, lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiến vào Hoa Lục theo hai hướng, Khâm Châu và Long Châu.

Vật liệu đã thiêu cháy 3 sĩ quan công an trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng

Hoàng Xuân Phú

Giáo sư Toán học Hoàng Xuân Phú chứng minh: thứ vật liệu đã thiêu cháy 3 sĩ quan công an trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng.

Như vậy, cáo buộc dân Đồng Tâm đổ xăng thiêu cháy 3 chiến sĩ công an là dối trá.

Trích Phần 2 bài viết "Viết thêm về tội ác Đồng Tâm"

(https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=10158143783249679&id=85922774678&__tn__=K-R)

VẾT TÍCH VỤ CHÁY DƯỚI ĐÁY HỐ KỸ THUẬT 

Ảnh 2.1: Dấu vết vụ cháy trong hố kỹ thuật (chụp từ miệng hố kỹ thuật).

Để chứng minh Thứ vật liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng, tôi đã dựa vào Ảnh 2.1 và Ảnh 2.2 để chỉ ra các hiện tượng sau:

- Chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen rất khác nhau, trong đó chiều cao của vùng bị ám khói đen trên vách hố phía bên trái bức ảnh lớn hẳn so với ba phía còn lại.

- Trên vách hố phía bên trái bức ảnh có mấy vết rạn tường mới tinh, trong khi trên vách hố các phía khác không có vết rạn nào, chứng tỏ nhiệt lượng sinh ra ở phía trái cao hơn hẳn.

- Ở một số vị trí, chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen tương đối nhỏ, và vùng vách hố bị ám khói đen dừng lại khá đột ngột, chứ không nhạt dần đều khi lên cao.

Các hiện tượng đó không thể xảy ra, nếu thứ nhiên liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an ở dạng lỏng.

Bởi nếu đổ vào hố kỹ thuật một lượng lớn nhiên liệu lỏng, thì chất lỏng phải phủ đều toàn bộ đáy hố kỹ thuật. Vì vậy, mức độ cháy phải đồng đều trên toàn bộ đáy hố, khiến nhiệt phân bố đều bốn phía, và chiều cao của vùng bị ám khói đen trên vách hố phải tương đối bằng nhau. Hơn nữa, với lượng nhiên liệu lỏng lớn, lại cháy trong một hố kỹ thuật vừa sâu (415 cm) vừa hẹp (77 cm x 138 cm), và với mấy tử thi bị thiêu cháy đến mức ấy, thì chiều cao của vùng vách hố bị ám khói đen phải khá lớn, và màu đen phải nhạt dần đều khi lên cao.

Trí khôn của độc tài

Tuấn Khanh

Hồi 20/3, công an Trung Quốc đã tìm cách xoa dịu dân chúng bằng cách cho đồn công an ở đường Zhongnan (Trung Nam 中南) nhận lỗi đã làm sai, là nơi đã bắt giữ bác sĩ Li Wenliang (Lý Văn Lượng 李文亮), sau khi ông lên tiếng cảnh báo những ca bệnh Covis-19 đầu tiên xuất hiện. Một làn sóng phẫn nộ và chí trích chính quyền đã lan nhanh, không chỉ ở Trung Quốc mà cả thế giới, sau khi bác sĩ Li Wenliang qua đời do chính căn bệnh mà ông cảnh báo. Để chứng tỏ là chính quyền Trung ương không làm sai, mà chỉ có cấp dưới, trưởng công an và các công an viên ở đồn Zhongnan đã phải kiểm điểm và xác nhận là đã “ban hành các hướng dẫn không phù hợp”.

Dĩ nhiên, cấp trên của các chế độ độc tài không thể sai. Phía dưới của họ, luôn luôn có những con tốt thí như các công an viên ở đồn Zhongnan.

Nhưng những câu chuyện sai lầm và phản ứng của cả thế giới không xoay chuyển gì được bản chất thật của hệ thống độc tài. Một mặt thì rửa tay với cái chết của Bác sĩ Li, một mặt khác công an Trung Quốc phát động chiến dịch trừng phạt tất cả những ai đã viết, đã lên tiếng hay ghi chép trung thực về những gì đã diễn ra trong đại dịch. Nhiều người đã bị cảnh sát đến nhà đưa đi, không thấy trở về. Ông Ren Zhiqiang (Nhậm Chí Cường 任 志强), một doanh nhân thành đạt ở Trung Quốc sau nhiều bài chỉ trích Tập Cận Bình, và khẳng định rằng Bắc Kinh có hẳn một bộ chính sách ngầm về việc tiêu diệt mọi tiếng nói bất đồng, cũng đã bị đưa đi trong thời gian chống dịch tại Vũ Hán. Giáo sư Luật tại Đại học Thanh Hoa Xu Zhangrun (Hứa Chương Nhuận 许章润), một người rất nổi tiếng, cũng đã bị cách chức và có thể sẽ bị bắt, sau khi viết bài phê phán cách chống dịch của Trung Quốc. Rất nhiều người khác, ít tên tuổi hơn, đã không còn thấy xuất hiện nữa, theo những cách viện dẫn luật rất mơ hồ.

Nhân 100 ngày Lão nông chí sĩ Lê Đình Kình bị sát hại: Tôi tố cáo

Nguyên Ngọc

Vụ tập kích thôn Hoành vào rạng ngày 9-1-2020 đã gây một chấn thương trong toàn xã hội Việt Nam, đặc biệt là trong những lớp người nhạy cảm và luôn quan tâm đến tình hình đất nước. Tính đến nay đã gần hai tháng mà vẫn không ai không cảm thấy nhói lòng mỗi lần chợt nhắc đến hai từ “Đồng Tâm”. Nhưng hình như cũng có một xu hướng muốn tránh nhắc đến hai từ đó, vì sợ động đến một "vết đạn bị bắn bất thình lình" làm ngất xỉu song may không chết, và hiện tại đang lên da non, khiến nó trở lại mưng mủ thì còn nguy hơn.

Chúng tôi nghĩ, đó là tâm lý chung của con người, ai cũng vậy, chỉ mong được sớm quên nhanh những nỗi đau, dù là nỗi đau do bất kỳ ai gây ra cho mình. Tuy nhiên, hãy bình tâm một chút và ngẫm nghĩ rộng hơn, sẽ thấy sự cố Đồng Tâm vẫn đang sừng sững trước mắt như một ung nhọt sưng tấy làm đau nhức cơ thể xã hội Việt Nam chứ không phải riêng cho một nhóm người nào, một khu vực xã hội nào.

Đó chính là một vụ án chưa được mổ xẻ và có nguy cơ sẽ không được mổ xẻ một cách đúng đắn theo chuẩn mực của pháp luật từ lâu đã được loài người văn minh công nhận, mà ngược lại, sẽ bị giấu nhẹm đi những kẻ đích thực là lũ sát nhân để đẩy những con người oan khuất đang chịu muôn vàn khốn khổ phía sau song sắt nhà tù thành tội nhân, với những bản án nặng nề giáng lên đầu họ. Nếu đúng như vậy thì cái ung nhọt mà thể chế gây nên ngay sát trước Tết năm Canh Tí này sẽ biến thành một thảm kịch trong một phạm vi rất rộng, một vết nhơ bôi bẩn lên cả một dân tộc vẫn được tiếng là can đảm trong trường kỳ lịch sử vì vận mệnh sinh tồn của chính mình. Nỗi đau chốc lát sẽ trở thành nỗi đau muôn đời, còn gì đau xót hơn!

Cũng vì lý do đó, trang BVN quyết sát cánh cùng nhiều mạng XHDS khác, sẽ vẫn thường xuyên nhắc đến sự cố Đồng Tâm. Chúng tôi sẽ đăng lại, mỗi nửa tháng một lần, ba bài báo sau đây: 1. Tôi tố cáo của nhà văn Nguyên Ngọc; 2. Tội ác Đồng Tâm3. Viết tiếp về tội ác Đồng Tâm của GS Hoàng Xuân Phú.

Rất mong bạn đọc xa gần hưởng ứng bằng cách bớt chút thì giờ đọc lại, nghiền ngẫm lại, để hâm nóng lại những tình cảm phẫn nộ chính đáng của mình, trước khi có thể đẩy hẳn mọi chuyện vào quá khứ.

Bauxite Việt Nam

90 năm ĐCSVN được đánh dấu bằng một hoạt động có một không hai: một Trung đoàn cảnh sát cơ động trực thuộc Bộ CA, trang bị tận răng, tập kích trong đêm ngay trước Tết âm lịch để giết và mổ bụng một cụ già 84 tuổi đang mang thương tật, lại là đồng chí trung kiên trong hàng ngũ của mình, chỉ để cướp cho được một mảnh giấy chứng nhận quyền sở hữu mảnh đất Đồng Sênh của một thôn Hoành từ bao đời nay vẫn cấy cày trên đó để đóng góp cho công cuộc kháng chiến kiến quốc theo lời kêu gọi của Đảng.

Coi như mục tiêu đầu tiên và cao quý nhất của một đảng công nông từ khi mới ra đời - người cày có ruộng - được công khai xoá bỏ bằng một vụ cướp và khủng bố rùng rợn, ở thời điểm tuổi đời của nó đang đạt đến cái ngưỡng gần đất xa trời theo quy luật tự nhiên của Tạo hóa. Một sự xác nhận "giải thể" không còn gì hoàn hảo hơn.

Bauxite Việt Nam nhiệt liệt hưởng ứng lời tuyên bố nóng hổi của nhà văn Nguyên Ngọc và qua trang mạng chúng tôi cũng như nhiều phương tiện thông tin đại chúng khác, rất mong tiếng nói tố cáo trung thực của nhà văn sớm lan tỏa rộng rãi khắp trong nước và trên toàn thế giới.

Bauxite Việt Nam

Trong nhiều năm qua, nhân dân thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thuộc thủ đô Hà Nội, dưới sự lãnh đạo của một số lão nông tri điền đứng đầu là Cụ Lê Đình Kình đã kiên trì đấu tranh quyết giữ cánh đồng Sênh mà cha ông họ đã khai thác, bồi bổ, xây dựng từ ngàn đời, và từ trước đến nay chưa hề có bất cứ lệnh thu hồi của nhà nước cho bất cứ mục đích gì, chống lại âm mưu cướp đoạt cánh đồng này của chính quyền Hà Nội cấu kết với một nhóm lợi ích có tính chất mafia. Cụ Lê Đình Kình là một đại lão nông, năm nay đã 84 tuổi, là một chiến sĩ cách mạng, 58 tuổi đảng, là cựu chiến binh trung kiên của mấy cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, là bậc hiền nhân được nhân dân rộng rãi coi là một vị Bồ Tát nhân hậu và ôn hòa, luôn chủ trương chấp hành mọi chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, trung thành triệt để với quyền lợi chính đáng của nhân dân.

Đối mặt với một con người chân chất, hiền minh, thâm thúy, và nhân hậu như vậy, trong những năm qua nhà cầm quyền cấu kết với bọn mafia âm mưu cướp đất đã không từ một thủ đoạn thâm hiểm và độc ác nào. Năm 2017 chúng đã một lần lừa Cụ ra cánh đồng Sênh nhờ đo ranh giới đất rồi bất ngờ đá Cụ gãy chân, gây tàn tật suốt đời. Sau đó là liên tiếp những âm mưu lừa bịp, dụ dỗ, uy hiếp, đe dọa, tráo trở, thậm chí cho cả bọn lưu manh len lỏi luồn sâu làm nội gián… không từ một thủ đoạn thô bạo, hung ác và đê tiện nào… Nhưng mềm dẻo, ôn tồn, thông minh, thôn Hoành, Đồng Tâm, dưới sự chỉ đạo bình tĩnh, ôn hòa của Cụ Lê Đình Kình và các bậc cao niên đoàn kết chặt chẽ cùng các tầng lớp nhân dân vẫn đứng vững.

Cuối cùng bọn quyết tâm chiếm đất mặt người dạ thú đã giở đến trò độc ác nhất. Trong đêm mồng 8 rạng sáng ngày mồng 9 tháng 1 năm 2020 (nhằm đúng ngày rằm tháng Chạp, mọi người đang nô nức chuẩn bị đón Tết Canh Tý), gần 3000 quân thuộc lực lượng vũ trang chính quy của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trang bị đầy đủ vũ khí hiện đại và các khí tài công nghệ tác chiến tiên tiến đã được huy động (bởi ai, theo lệnh của cá nhân hay cơ quan tối cao nào?), bất ngờ tấn công vào thôn Hoành, lập tức bao vây không chế tất cả các nhà trong làng bằng cách phun hơi cay, bắt bớ đánh đập tàn bạo tất cả trai gái già trẻ, nhằm không cho ai chi viện để tập trung đột kích vào nhà Cụ Lê Đình Kình và hai con trai Cụ, dùng vũ khí phá cửa nhà Cụ Kình, phun hơi cay, xông thẳng vào giường Cụ Kình, kéo vợ Cụ vất ra bên ngoài, đánh đập tra tấn Cụ máu me lênh láng khắp phòng, chĩa thẳng súng bắn đúng vào tim Cụ, vào đầu Cụ, bắn nát chân Cụ, ngoài ra còn một số vết đạn khác nữa.

Giết người đi đôi với cướp của: họ còn bắn nát một tủ sắt và cướp mang đi một tủ gỗ trong đó Cụ Kình vẫn cất giữ chu đáo tất cả giấy tờ bản đồ chính thức về Đồng Tâm và riêng Đồng Sênh.

Theo lời thú nhận công khai của ba vị đại diện bộ công an, trong đó có cả Trung tướng Thứ trưởng Lương Tam Quang, tất cả vụ tấn công quy mô và giết người kinh hoàng ở thôn Hoành, Đồng Tâm được thực hiện mà không có bất cứ một văn bản mệnh lệnh có tính pháp lệnh phê chuẩn của Viện kiểm sát, không có lệnh khám xét bắt bớ của công an, không có lệnh tòa án hay của bất kỳ cơ quan pháp luật nhà nước nào hết.

Xác Cụ Kình, vị đại lão từ nay sẽ trở thành Thành Hoàng bất tử của làng Hoành ấy, sau đó không biết đã bị những kẻ giết Cụ mang đi đâu, bị mổ phanh thây không biết để lục tìm hay lấy đi những gì trong lục phủ ngũ tạng.

Hôm sau người thân trong gia đình được gọi lên nhận lại xác Cụ với yêu cầu khốn nạn: phải ký xác nhận là Cụ chết trong khi xung đột với lực lượng cưỡng chế ở Đồng Sênh, cách thôn Hoành 3 km.

Một vụ án mạng đặc biệt nghiêm trọng đã diễn ra tại nhà Cụ Lê Đình Kinh ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm, giữa thủ đô Hà Nội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nạn nhân là đại lão gia Lê Đình Kình, công thần của Tổ quốc Việt Nam, đã bị các lực lượng vũ trang của chính quyền Việt Nam xử tử hình với hình thức tàn bạo nhất, không theo bất cứ quy định và trình tự pháp luật nào hết. Cho đến hôm nay, mồng 4 tháng 2 năm 2020, nghĩa là gần một tháng sau sự vụ, chưa hay không hề thấy mảy may động thái của toàn bộ hệ thống tư pháp của cái đất nước được coi là có pháp chế này khởi tố một vụ án giết chết công dân Lê Đình Kình.

Nhân 100 ngày Lão nông chí sĩ Lê Đình Kình bị sát hại: Tội ác Đồng Tâm

Hoàng Xuân Phú

Có lẽ, tội lớn nhất của cụ Kình là… vô tội. Bởi nếu có tội thì cụ đã bị bắt, bị xét xử và bị kết án. Và nếu như vậy thì bây giờ cụ vẫn còn sống. Song vì vô tội, nên cụ buộc phải chết.

Phải chăng, bi kịch lớn nhất của cụ Lê Đình Kình là phải sống trong một thể chế, mà người quá tốt cũng buộc phải chết?

Cuộc tấn công Đồng Tâm và giết hại cụ Kình là lời cảnh cáo muôn dân, đừng có mơ giữa ban ngày, mà dại dột đua nhau đòi đất?

Hoàng Xuân Phú

***

Cụ Kình chết, đơn giản chỉ vì cụ quá thuộc và hết lòng tin vào chủ thuyết "Độc lập, tự do, hạnh phúc cho toàn dân" cũng như “Người cày có ruộng” của ông Hồ Chí Minh và Đảng CSVN. Hơn thế nữa, dân Đồng Tâm, dưới ngọn cờ của cụ, đã chứng tỏ họ biết thực hiện một cách bài bản và rất mực ôn hòa – có thể nói là nêu cao được sức mạnh chính nghĩa và nhân ái – của chủ thuyết ấy từ ba năm trước.

Ngẫm cho kỹ, cụ không chết mới là chuyện lạ.

Bauxite Việt Nam

***

Một bài viết hết sức công phu, tuyệt vời của một Giáo sư toán, cũng đồng thời là người từng có nhiều bài bình luận về luật pháp trong nhiều năm nay, được cả nhiều luật sư có tiếng kính nể.

Có lẽ bài này cũng sẽ giúp nhiều cho các luật sư tham gia bảo vệ cho các bị can vụ Đồng Tâm. Và biết đâu, nó cũng sẽ làm cho các cơ quan pháp luật tham gia vụ này phải… thay đổi thứ “kịch bản-án bỏ túi” của mình.

Ba Sàm

(Trích từ nguồn: basamnguyenhuuvinh.wordpress.com)

Sáng sớm ngày 9/1/2020, Bộ Công an công bố “Thông báo về vụ việc gây rối trật tự công cộng và chống người thi hành công vụ tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”. Trong đó viết:

“Từ ngày 31/12/2019, một số đơn vị của Bộ Quốc phòng phối hợp với lực lượng chức năng tiến hành xây dựng tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn, thành phố Hà Nội theo kế hoạch. Trong quá trình xây dựng, sáng ngày 9/1/2020, một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng… tấn công lực lượng chức năng, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng, dẫn đến hậu quả 03 cán bộ chiến sĩ Công an hi sinh, 01 đối tượng chống đối chết, 01 đối tượng bị thương.”

Cáo buộc đó hoàn toàn sai sự thật. Bởi cuộc tấn công vào thôn Hoành (thuộc xã Đồng Tâm) diễn ra cách xa Sân bay Miếu Môn mấy cây số, lại bắt đầu vào lúc trời còn tối, khi người người còn đang ngủ, và công việc xây dựng hàng ngày tại Sân bay Miếu Môn còn lâu mới được bắt đầu. Vì thế, không thể có chuyện một số đối tượng tấn công lực lượng chức năng trong quá trình xây dựng tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn vào sáng ngày 9/1/2020.

Sau màn dối trá dạo đầu ấy, họ tiếp tục tung ra nhiều thông tin sai trái khác, được đài báo đồng thanh truyền tải đến nơi nơi. Tiếc thay, nhiều người đã tin đó là sự thật.

Khi bị dư luận am hiểu vạch trần thì họ sửa kịch bản. Sửa hết lần này sang lần khác. Mà lần nào cũng tránh xa sự thật. Bởi sự thật tồi tệ đến mức không thể thừa nhận, dù chỉ một phần.

Mục đích của bài viết này là tìm kiếm sự thật, nhằm trả lại công bằng cho người đã khuất, đồng thời cảnh tỉnh những người nhẹ dạ cả tin, vì quá tin lời dối trá mà căm thù và xúc phạm những nạn nhân vô tội. Hơn nữa, cũng giúp những người có lương tâm trong bộ máy điều tra và xét xử tránh lầm đường lạc lối.

1. Cái chết của cụ Lê Đình Kình

“Tối 10/1, Thiếu tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, Người phát ngôn Bộ Công an cho biết, Bộ Công an xác nhận người tử vong trong các đối tượng chống đối người thi hành công vụ tại Đồng Tâm là ông Lê Đình Kình. Theo báo cáo của Công an thành phố Hà Nội, khi khám nghiệm tử thi, trên tay của ông Lê Đình Kình cầm giữ quả lựu đạn.”

Đó là thông tin đã được đăng tải nhiều nơi, chẳng hạn như Vietnamnet, Người lao động, Đất Việt, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày nay, VTC News

Thử hỏi, một cụ già đã 84 tuổi, lại từng bị công an đánh gãy xương đùi vào năm 2017, thì lấy đâu ra sức lực để chống đối người thi hành công vụ? Cụ bị què chân, nằm trên giường ngủ, thì cầm lựu đạn để làm chi? Đám vận chuyển tử thi từ nhà cụ Kình đến nơi khám nghiệm tử thi có bị trục trặc thần kinh không, mà để mặc người chết cầm giữ quả lựu đạn trên tay suốt thời gian vận chuyển đường xa? Và nếu đúng như vậy, thì tại sao không trưng ra bức ảnh chụp cụ Kình đã chết mà trên tay vẫn cầm quả lựu đạn? Chẳng có khó khăn gì, khi dúi quả lựu đạn vào tay người đã chết để chụp ảnh. Có lẽ công đoạn ấy đã có trong kịch bản, song diễn viên quên diễn, sau khi mọi việc đã qua đi thì mới chợt nhớ ra. Thành thử, đành ngụy tạo ra bức ảnh với 7 quả lựu đạn, trong đó một quả được kèm theo chú thích: “Trên tay Lê Đình Kình” (xem Ảnh 1).

Nhân 100 ngày Lão nông chí sĩ Lê Đình Kình bị sát hại: Viết thêm về tội ác Đồng Tâm

Hoàng Xuân Phú

… chẳng lẽ, chỉ vì muốn đổ tội cho gia đình cụ Kình và người dân Đồng Tâm, nhằm biện hộ cho Tội ác Đồng Tâm và đảo chiều dư luận phê phán, mà lại đang tâm lên kế hoạch thiêu cháy một lúc ba sĩ quan công an hay sao? Nghi ngờ này nghiêm trọng và kinh khủng đến mức khó tin, hay chẳng muốn tin. Do đó nảy sinh câu hỏi: Cái lô-gic được trình bày ở trên sai chỗ nào? Phải chăng sai ở Mệnh đề 3?

Phần 2 của bài viết này sẽ khẳng định một lần nữa, Mệnh đề 3 là hoàn toàn đúng. Hơn nữa, phần 3 sẽ trả lời câu hỏi: Vật liệu cháy đã được sử dụng trong hố kỹ thuật là thứ vật liệu gì?

***

Với việc tấn công vào Đồng Tâm và giết hại cụ Lê Đình Kình hoàn toàn phi pháp, phía công an đã tự phủ định tư cách của một cơ quan bảo vệ pháp luật. Vì vậy, họ không còn tư cách để đứng ra điều tra vụ án Đồng Tâm, mà phải là đối tượng bị điều tra. Trước hết là điều tra về tội giết người có tổ chức, theo Điểm o, Khoản 1, Điều 123 của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13.

Đích thân Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang và Chánh Văn phòng kiêm người phát ngôn Bộ Công an Tô Ân Xô đã đứng ra công bố những thông tin hoàn toàn sai trái về vụ Đồng Tâm 9/1/2020. Điều đó chứng tỏ, lãnh đạo Bộ Công an phải chịu trách nhiệm trực tiếp về hành động tấn công và giết người phi pháp ở Đồng Tâm. Vì vậy, việc điều tra vụ án Đồng Tâm phải cho một cơ quan độc lập (không thuộc Bộ Công an) tiến hành.

Trong thời gian chờ đợi, không thể chấp nhận việc công an tiếp tục đứng ra giam giữ và điều tra những người dân Đồng Tâm đã bị bắt. Đặc biệt, phải chấm dứt ngay việc phái công an đến quấy nhiễu, hạch sách và khủng bố tinh thần những người phụ nữ và trẻ con còn lại trong gia đình cụ Lê Đình Kình.

Điều quan trọng là phải sớm thừa nhận tội ác đã phạm. Sớm bao nhiêu thì hậu quả đỡ trầm trọng bấy nhiêu. Như đã viết trong bài "Một số điều cần trao đổi nhân vụ Trịnh Xuân Thanh": "Nếu thừa nhận đủ sớm, thì còn có cơ hội đổ lỗi cho 'phường đánh máy' và dễ khắc phục hậu quả hơn. Ngược lại, im lặng hay cố cãi càng lâu, thì chứng tỏ cấp ra lệnh càng cao." Tương tự, trong vụ Đồng Tâm cũng vậy: Lặng thinh càng lâu thì chứng tỏ vị trí của thủ phạm đích thực trong bộ máy cầm quyền càng cao. Đừng đợi đến lúc cơn hồng thủy dâng tràn, ngập lút cả thiên đình.

Kết thúc phần 2 của bài "Tội ác Đồng Tâm", tôi đã viết:

"Mục đích cao nhất của bài viết này không phải là xác định đích danh thủ phạm giết người, mà là minh oan cho cụ Lê Đình Kình, cùng những người dân Đồng Tâm đang bị giam giữ và sẽ bị đem ra xét xử. Để họ không bị kết án oan sai. Và cũng giúp cơ quan điều tra, xét xử không kết tội oan sai. Hơn nữa, giúp những người quá tin vào cái gọi là thông tin chính thống bình tâm nghĩ lại, tránh lên án và xúc phạm những nạn nhân vô tội."

Để đạt được mục đích đó, tôi đã phải kiềm chế tối đa, hơn hẳn mức kiềm chế thường vận dụng khi viết các bài phản biện khác. Với thiện chí ấy, hy vọng những người có trách nhiệm bình tĩnh đọc hết bài "Tội ác Đồng Tâm", để hiểu rằng: Cả kịch bản, đạo diễn và dàn diễn viên của vở kịch mang tên Đồng Tâm đều quá tồi tệ. Và tìm được trả lời hợp lý cho câu hỏi: Phải làm gì khi âm mưu tệ hại đã bị bại lộ?

Cuối bài "Tội ác Đồng Tâm", tôi đã đưa ra mấy lời khuyên chân thành:

"Với tội ác Đồng Tâm, nhà cầm quyền đã tự tay giáng đòn trí mạng vào tử huyệt của chế độ. Muốn giải huyệt, thì phải thừa nhận tội ác, chấm dứt ngay chiến dịch vu khống, xuyên tạc sự thật, chấm dứt giam giữ và bức cung những người vô tội. Nếu tiếp tục bức cung, rồi dựa vào đó để kết án, thì chỉ đổ thêm dầu vào lửa, khiến cho tình hình ngày càng thêm trầm trọng và bế tắc."

"Để làm dịu nỗi đau do tội ác Đồng Tâm gây ra, đã hô hào học tập và làm theo, thì cũng nên học theo cách ứng xử của Hồ Chí Minh và Trường Chinh sau sai lầm của Cải cách ruộng đất. Chí ít cũng xin lỗi gia đình cụ Lê Đình Kình và nhân dân Đồng Tâm."

Tiếc rằng, thế lực cầm quyền vẫn chẳng có biểu hiện nào tỏ ra hối tiếc. Ngược lại, còn để cho đám lâu la mang sắc phục công an trâng tráo tới nhà cụ Lê Đình Kình hết lần này đến lần khác. Ngày 12/2, chúng đòi cưa thanh sắt có vết đạn trên cửa xếp. Ngày 13/2, chúng trao giấy triệu tập cụ bà Dư Thị Thành (vợ cụ Lê Đình Kình). Ngày 20/2, chúng đòi khám nhà. Thử hỏi, còn gì để khám nữa? Bởi lẽ, từ sáng sớm 9/1/2020, công an đã chiếm đóng và tha hồ lục soát ngôi nhà nhỏ của gia đình cụ Kình suốt hơn ba ngày đêm, trước khi để cho vợ và con cháu cụ trở về nhà. Rõ ràng là muốn phi tang, đồng thời tiếp tục hành hạ, khủng bố tinh thần mấy người phụ nữ và trẻ con tội nghiệp còn lại trong gia đình cụ Kình. Vì vậy, tôi buộc phải viết thêm bài này, nhằm vạch rõ hơn chân tướng của vụ thiêu cháy ba sĩ quan công an.

Tại sao các cấp lãnh đạo của chế độ này lại để mặc cho đám kiêu binh tiếp tục hành xử như vậy? Chả lẽ, đến bây giờ vẫn chẳng có ai trong bộ máy cầm quyền nhận ra lỗi lầm của vụ đàn áp Đồng Tâm hay sao? Hay phải chăng, có đủ quyền lực thì thiếu minh mẫn, còn đủ minh mẫn thì lại thiếu quyền lực? Hay nếu đủ cả quyền lực và minh mẫn, thì lại thiếu đạo đức?

Hy vọng, trong giới cầm quyền vẫn còn có nhiều người vừa có quyền lực, vừa minh mẫn, vừa có đạo đức. Nhưng những năm tháng đằng đẵng hít thở bầu không khí độc tài ngột ngạt đã thiến dần dũng khí, để lại những tâm hồn bị nhiễm nặng bản năng ngậm miệng triền miên, hay luôn quá thận trọng, như mắc phải một chứng bệnh kinh niên. Thành thử, với một số người, có thể những chứng cứ và lập luận đã được trình bày vẫn chưa đủ thuyết phục. Vậy thì mời đọc thêm bài này.

1. Nối mạch tư duy

Đang đêm, khi hầu hết mọi người sống trên đất Việt còn đang chìm sâu trong giấc ngủ, thì mấy nghìn cảnh sát tấn công vào xã Đồng Tâm. Tâm điểm của trận tấn công là nhà cụ Lê Đình Kình. Đối tượng chính của cuộc tấn công chính là cụ Lê Đình Kình.

Sau khi vãi đạn vào ngôi nhà nhỏ, chúng đã tra tấn cụ Kình hết sức dã man, bắn vỡ tung đầu gối chân trái của cụ. Vâng, đúng cái chân mà đám thi hành công vụ đã từng đá vỡ xương đùi, khi lừa cụ ra đồng để bắt cóc vào năm 2017. Kết thúc cuộc đời cụ Kình bằng phát súng bắn thẳng vào tim, rồi chúng mang thi thể cụ đi mổ phanh thây, kéo một đường suốt từ cổ xuống đáy bụng.

Để biện hộ cho cuộc tấn công và giết người hoàn toàn phi pháp, họ bịa ra chuyện "trong quá trình xây dựng, sáng ngày 9/1/2020, một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng... tấn công lực lượng chức năng, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng". Hơn nữa, họ còn vu khống trắng trợn, rằng "trên tay của Lê Đình Kình vẫn còn một quả lựu đạn, sau khi ném một quả không nổ".

Buồn thay, những lời dối trá trên cả trơ trẽn ấy lại đánh lừa được khối người nhẹ dạ cả tin, hoặc quá lười suy nghĩ, hoặc chăm suy nghĩ nhưng lại không đủ khả năng tư duy.

Tuy nhiên, dư luận tỉnh táo đã nhanh chóng vạch trần những luận điệu giả dối, khiến Bộ Công an phải liên tục sửa kịch bản. Song thực chất đã sai, thì sửa mấy vẫn cứ sai.

Lẽ ra, kể cả những người tin đảng, yêu chế độ cũng khó kiềm chế phê phán việc công an giết hại cụ già tàn tật đã 84 tuổi. Nhưng cái chết của Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh, Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân và Trung úy Phạm Công Huy đã đảo chiều dư luận. Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang tuyên bố: "Từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi, giữa 2 nhà có một hố thông gió, hố kỹ thuật khá sâu, gần 4 mét, anh em ngã xuống hố... Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt." Ba cái chết bi thảm khiến bao người căm thù cụ Lê Đình Kình và những người dân Đồng Tâm sát cánh bên cụ. Cơn phẫn nộ mạnh đến mức xóa tan những băn khoăn về cuộc tấn công phi pháp và việc giết hại cụ Kình.

Tuy nhiên, tuyên bố ấy của Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cũng chỉ là một mắt xích then chốt trong chuỗi xích thuần chất dối trá của Bộ Công an trong vụ Đồng Tâm. Để bác bỏ, tôi đã khẳng định trong bài "Tội ác Đồng Tâm".

Mệnh đề 4: Cáo buộc mấy người dân Đồng Tâm đã đổ xăng để thiêu cháy ba sĩ quan công an là sai sự thật.

Mệnh đề trên là hệ quả trực tiếp của

Mệnh đề 3: Thứ vật liệu đã thiêu cháy ba sĩ quan công an trong hố kỹ thuật không phải là chất lỏng.

Bài "Tội ác Đồng Tâm" không chỉ bác bỏ tuyên bố của Thứ trưởng Bộ Công an về khía cạnh "các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt", mà còn bác bỏ cả khía cạnh "anh em ngã xuống hố", thông qua

Mệnh đề 2: Không thể có chuyện cả ba sĩ quan công an cùng bị ngã xuống hố kỹ thuật.

Một điều mà Bộ Công an chưa cáo buộc, nhưng vẫn phải phòng xa mà khẳng định trước, đó là

Mệnh đề 1: Người dân Đồng Tâm không hề đẩy ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật.

Từ Mệnh đề 1 và Mệnh đề 4 ta rút ra: Người dân Đồng Tâm không hề có lỗi trực tiếp hay gián tiếp đối với cái chết của ba sĩ quan công an. Họ không hề làm gì khiến ba sĩ quan công an bị rơi xuống hố kỹ thuật. Và họ cũng không hề đổ xăng xuống hố kỹ thuật rồi châm lửa đốt ba sĩ quan công an, như Bộ Công an đã cáo buộc.

Từ Mệnh đề 1, Mệnh đề 2 và Mệnh đề 4 ta rút ra: Có kẻ đã hạ gục ba sĩ quan công an và ném họ xuống hố kỹ thuật để thiêu cháy, và kẻ đó không phải là người dân Đồng Tâm.

Câu hỏi hết sức tự nhiên là: Không phải là người dân Đồng Tâm, lại có thể đến gần ba sĩ quan công an được trang bị đầy đủ súng ống để hạ gục họ, thì hung thủ có thể đến từ đâu, nếu không phải từ đám tấn công vào Đồng Tâm? Vừa đọc xong câu hỏi, hẳn đã tự có câu trả lời.

Câu hỏi tiếp theo là: Tại sao hung thủ lại giết ba sĩ quan công an? Do tư thù, hay thi hành công vụ, một thứ công vụ khốn nạn như bao công vụ khác ở xứ này?

Rõ ràng, không thể do tư thù. Thịnh và Quân đều công tác tại Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô. Nhưng Thịnh là Thượng tá Phó Trung đoàn trưởng, còn Quân chỉ là Thiếu úy Tiểu đội trưởng, hai vị trí công tác xa nhau đến mức khó có va chạm với cùng một kẻ thù chung. Hơn nữa, Thịnh và Quân thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động của Bộ Công an, còn Huy là cán bộ Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Khu vực 3, trực thuộc Công an Thành phố Hà Nội. Nghĩa là xa lắc xa lơ, đến mức có thể chưa hề biết mặt nhau, trước khi cùng nhau đi đến chỗ chết. Vì vậy, Trung úy Phạm Công Huy càng không thể có chung một mối tư thù với cả Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh và Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân.

Vậy chẳng lẽ, chỉ vì muốn đổ tội cho gia đình cụ Kình và người dân Đồng Tâm, nhằm biện hộ cho "Tội ác Đồng Tâm" và đảo chiều dư luận phê phán, mà lại đang tâm lên kế hoạch thiêu cháy một lúc ba sĩ quan công an hay sao? Và phải chăng, điều đó lý giải tại sao lại có cái quyết định khen thưởng bất thường và tại sao lại sinh ra một tổ công tác ba người với đội hình quái lạ, như đã phân tích trong phần 2.1 và phần 2.4 của bài"Tội ác Đồng Tâm"?

Phần 2 của bài viết này sẽ khẳng định một lần nữa, Mệnh đề 3 là hoàn toàn đúng. Hơn nữa, phần 3 sẽ trả lời câu hỏi: Vật liệu cháy đã được sử dụng trong hố kỹ thuật là thứ vật liệu gì?

Nhân 100 ngày Cụ Lê Đình Kình bị sát hại: An ninh lại canh nhà những người công khai phản biện!

RFA

Minh họa: Cảnh sát cơ động tại vùng Đồng Tâm. FB

Anh Lã Việt Dũng vào ngày 16 tháng Tư xác nhận với RFA tình trạng nhà anh đang bị an ninh canh chừng:

“Về lý do bị canh nhà là vì một, hai hôm nữa sẽ là ngày giỗ của cụ Lê Đình Kình và họ đã canh nhà phần lớn các anh em (nhà hoạt động) ở Hà Nội, trong đó có cả nhà mình. Lúc dịch bệnh thế này họ vẫn bắt 3-4 người ngồi trước ngõ.

Nói chung, mình nghĩ (việc ngăn, chặn) là quy trình từ trên xuống dưới của họ rồi, đặc biệt là ở Hà Nội và Sài Gòn. Khi mà có sự kiện nào đó mà họ cho rằng là nhạy cảm, chứ không cần phải là sự kiện có khả năng chống phá nhà nước gì cả, thì họ sẽ xua quân đi canh những người mà họ không lường trước được rằng những nhà hoạt động này sẽ làm gì, nên họ sẽ đi canh thôi”.

Có nên cách chức Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan?

Nguyễn Ngọc Chu

1. Cuối cùng thì con virus Vũ Hán đã xé được tấm áo dày nhất trong tất cả các tấm áo che lưng bộ trưởng. Đó là Bộ Tài chính.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Ý Tế, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông Vận tải - là những bộ hay có nhiều vụ bê bối nổi lên bề ngoài, liên quan trực tiếp đến đời sống, nên chịu sự phản ứng tức thì của dư luận xã hội.

3. Nhưng Bộ có nhiều bê bối thuộc nhóm số 1, lại được che kỹ lưỡng nhiều lớp, khó bị thoát hơi bề nổi, chính lại là Bộ Tài chính.

4. Nếu ở mỗi Bộ, các cấp dưới phải chạy cấp trên để có nguồn tài chính, thì đó mới là xiềng xích 1 lớp – chỉ trong một Bộ. Với Bộ Tài chính là xiềng xích nhiều lớp.

Có Bộ nào mà không phải chạy tiền? Có dự án nào mà không cần tiền? Tất cả phải chạy Bộ Tài Chính. Lãnh đạo các Bộ cũng phải chạy Bộ Tài chính. Ưu tiên số 1 như Bộ Quốc Phòng cũng không ngoại lệ. Đó là sự khác biệt của uy quyền Bộ Tài chính.

Chưa hết, Bộ Tài Chính còn có nhiều “đao phủ” khác. Tổng cục Thuế. Tổng cục Hải quan. Toàn những "sát thủ" khét tiếng.

Nói không ngoa, Bộ Tài chính là thủy tổ của tiêu cực. Thế mà, ngoài ông thứ trưởng “sái miếng” vì vợ là hoa hậu hay khoe ảnh, còn lại thì chưa thấy thanh củi nào “vào lò”.

5. Nay thì con virus Vũ Hán đã xé áo ông Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan và xé luôn áo ông Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Thủ tướng vưà yêu cầu ông Bộ trưởng Bộ Tài chính và ông Bộ trưởng Bộ Công thương tường trình về việc xuất khẩu gạo (https://tuoitre.vn/hai-bo-cong-thuong-tai-chinh-phai-bao-ca…).

Thêm một người dân xã Đồng Tâm bị bắt giữ giữa dịch COVID-19

RFA

Hình minh hoạ. Cổng vào xã Đồng Tâm, ngoại thành Hà Nội hôm 21/4/2017. Reuters

Công an Hà Nội cho bắt thêm một người dân Đồng Tâm với cáo buộc có liên quan đến vụ đụng độ đổ máu giữa công an và người dân địa phương vào ngày 9 tháng 1 năm 2020 vừa qua. Thông tin này được một người dân xã Đồng Tâm xác nhận với Đài Á Châu Tự Do vào chiều ngày 6/4/2020.

Đây là người dân thứ 28 bị bắt ở Đồng Tâm sau vụ việc ngày 9/1. Những người này bị cáo buộc các tội bao gồm giết người, chống người thi hành công vụ, tàng trữ và sử dụng vũ khí trái phép.

Người bị bắt là bà Lê Thị Loan, sinh năm 1966, một người dân ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức.

Ông Trịnh Bá Phương một nhà hoạt động ở Hà Nội có liên hệ mật thiết với người dân Đồng Tâm cũng cho biết như sau:

“Bà Lê Thị Loan là một người có tiếng nói đấu tranh mạnh mẽ đã sát cánh cùng với cụ Lê Đình kình đứng lên để giữ khu đất Đồng Sênh, trong cái sự kiện ngày 9 tháng 1 khi hàng nghìn cảnh sát cơ động đến tấn công thôn Hoành, xã Đồng Tâm thì khi đó bà Loan đã không có ở địa phương.

Vài lời về “Góc nhìn Nguyễn Ngọc Lập”

Nguyễn Đình Cống

Thể theo lời nhắn gửi của tác giả, chúng tôi xin đăng bài viết này lên, nhưng xin được xem như đây là những lời trao đổi của vị GS bạn bè của BVN với một người mà chúng tôi không có hân hạnh quen biết và dân chúng Việt Nam cũng không ai biết, chỉ có ĐCSNV mới chú ý đến những dạng người như thế này. Vì thế, BBT BVN không có trách nhiệm gì ở đây. Và sự phản hồi, nếu có, xin gửi về cho tác báo chính thống trong nước, như Nhân dân, Tuyên huấn, hoặc trên video "Góc nhìn Nguyễn Ngọc Lập" mà GS Nguyễn Đình Cống từng có theo dõi, thì tiện hơn cả.

Trân trọng.

Bauxite Việt Nam

Tôi vô tình xem Video “Góc nhìn Nguyễn Ngọc Lập” (ghi ngày 19/9/ 2019), phát hiện vài điều hơi lạ. Sau đó tôi tìm nghe tiếp một số bài khác của ông để có cái nhìn chung.

Nguyễn Ngọc Lập (NNL), sinh năm 1951, nguyên Thiếu úy trong quân lực VNCH, sau 1975 bị tù vài năm dành cho sĩ quan quân đội thất trận. Ra tù một thời gian ông Lập sang Mỹ, trở thành một người chống cộng có tiếng. Năm 2012  NNL được TS Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ ngoại giao VN tiếp và mời về thăm đất nước. Năm 2014 ông Lập về VN, được đón tiếp tử tế, được mời thăm đảo Trường Sa, thăm nghĩa trang  quân đội VNCH và vài nơi quan trọng khác.

Tại Mỹ, ông Lập, với những “độc thoại” có chất hùng biện cao, đã chinh phục nhiều thính giả. Ông đã có cách  trình bày hùng hồn với những dẫn chứng, những số liệu rõ ràng. Ông  tự hào với đầu óc chứa rất nhiều tri thức và thông tin,  với cái lưỡi sắc bén. Ông đã thẳng thắn vạch  ra  những dối trá, những bí mật của chính quyền, của quân đội VNCH, của đồng minh Hoa Kỳ. Tuy vậy  trong bài “Góc nhìn…”  và một số bài khác nữa  người ta bỗng nhiên nghe ông nói tốt cho  cộng sản trong một số công việc. Có ý kiến cho rằng ông đã bị cộng sản mua chuộc. Nhưng bản thân ông và một số khác lại cho rằng NNL không hề  bị mua chuộc mà đã mạnh dạn, thẳng thắn nói lên nhận thức đúng đắn, có lý trí, hợp đạo nghĩa, nhằm tôn vinh sự thật, nhằm thực hiện sự hòa hợp, hòa giải dân tộc theo nghị quyết 36 của ĐCSVN. Tôi không có nhận xét hoặc đánh giá gì về việc NNL có bị mua chuộc hay không, chỉ phân tích một số ý kiến trong bài “Góc nhìn Nguyễn Ngọc Lập”, vạch ra một số nhầm lẫn và ngụy biện.

Trước hết xin  tóm tắt một số ý của video “Góc nhìn…”.  NNL dẫn ra lời của Chúa rằng “Hãy yêu thương kẻ thù…”,  dẫn Kinh Phật rằng : “Hãy lấy ân báo oán…”, dẫn đạo nghĩa của dân tộc  “Đánh người chạy đi không đánh người chạy lại”, dẫn Găng Đi và Lu Thơ King với đề cao tình yêu, xóa bỏ hận thù. Rồi ông vận dụng vào cho quan hệ giữa cộng sản VN và những người chống cộng. Ông Lập cho rằng CS xem người chống cộng là những kẻ lạc đường, đáng thương vì đi theo đế quốc, CS đã thả để họ đi lập nghiệp ở Mỹ. Còn người chống cộng xem CS là kẻ thù, quyết không đội Trời chung.  Ừ thì xem là kẻ thù, mà theo Chúa và Phật thì phải thương yêu kẻ thù chứ, sao lại chống đối. Mà nghị quyết 36 nhằm hòa giải dân tộc thì sao lại phản bác, chọc gậy bánh xe.

Ông Lập dẫn lời Linh mục Thanh Lãng cho rằng CS phạm 10 tội trong đó tội số một là đem chủ thuyết vô thần về VN. Ông quy cho Pháp Mỹ xâm lược, còn CS tuy vô thần nhưng chống xâm lược, giành độc lập nên về lý trí thì CS đúng. Ông Lập cho rằng được mời về  thăm đất nước vì chính quyền VN xem ông là người thực tâm, có nhân cách, rằng ông là người siêu đẳng về chính trị.  Ông liên hệ 36 kế của Tôn Tử  với NQ 36 của CS, cho rằng nó nhằm đem lại hòa bình. Thế mà người Việt ở hải ngoại chống lại nó, đó là chống lại lý trí và lương tâm. NQ 36 bị thất bại, đầu tiên là do các tôn giáo. Trong các nhà thờ, trong các chùa không một linh mục nào, không một nhà sư nào dám nói đến yêu thương CS như lời răn của Chúa, của Phật. Ông Lập  nhận xét rằng người Việt có tính kèn cựa, không dám nói lỗi tại tôi, không nhận ra kẻ thù chính là Pháp Mỹ, rằng chính Pháp Mỹ gây ra thù oán. Ông Lập tôn phục Lão Tử, tuyên bố rằng ông theo người đánh Pháp như Phạm Hồng Thái chứ không theo đảng phái như Quốc Dân đảng, ông theo CS đánh Pháp chứ ai theo CS lên chủ nghĩa xã hội thì kệ. Ông Lập nhấn mạnh CS đặt an ninh tổ quốc lên trên hết, rằng họ đề cao việc tôn trọng pháp luật.

Ông Lập tỏ ra rất tự tin trong độc thoại, cho rằng mọi dẫn chứng, mọi số liệu ông đưa ra đều là sự thật, nhưng thực ra đó chỉ là một phần sự thật mà thôi. Mà một phần của bánh mỳ vẫn là bánh mỳ, còn một phần của sự thật nhiều khi là dối trá.

 Mỗi sự việc được biểu hiện ra dưới nhiều góc độ, dưới nhiều khía cạnh, trong đó có những biểu hiện là cốt lõi, thuộc bản chất và những biểu hiện phụ, kèm theo. Có biểu hiện lộ rõ và  biểu hiện bị che kín. Khảo sát một sự việc thường không thể kể ra và đánh giá hết mọi biểu hiện. Khi tìm ra được biểu hiện thuộc bản chất thì có thể nói đã biết sự thật, còn nếu chỉ thấy biểu hiện phụ mà tưởng là sự thật thì đã nhầm to. Ông Lập đã có cái nhầm như vậy, vì rằng với việc làm và tuyên truyền của CS thì biểu hiện phụ thường lộ rõ, dễ thấy, biểu hiện bản chất thường bị che lấp, khó thấy.

Một vấn đề nữa liên quan đến sự thật là mục đích của công việc. Với người trung thực thì nghĩ thế nào nói ra như thế. Nhưng với những kẻ có nhiều thủ đoạn, lắm mưu mô thì điều họ nói khác với điều họ nghĩ, và điều họ không nói ra mới là bản chất. Người ngoài, để biết sự thật phải khai thác được điều tuyệt mật hoặc chỉ có thể phỏng đoán rồi kiểm chứng.

Ông Lập thừa biết cộng sản lắm mưu mô nhưng không biết rằng ông đã bị CS lợi dụng. Ông tưởng họ mời ông vì những lý do đã nêu ở trên (thông minh, chân thật…). Không phải !. Họ thấy ở ông một người chống cộng theo phong trào chứ không phải chống cộng vì thấy được bản chất phản nhân loại của họ. CS biết  rằng dùng được những người có quá trình chống cộng như ông Lập sẽ rất lợi cho họ và biết rằng để lôi kéo được ông phải có người giỏi thuyết phục như TS Nguyễn Thanh Sơn. Ông Sơn đã dùng phương pháp ngụy biện rất cao, đã cảm hóa được ông Lập. Việc này, chúng tôi, một số trí thức đã từng theo CS không lạ gì cả. Tôi đã đàm luận với nhiều bạn bè là tiến sĩ, là giáo sư có nhiều năm tuổi đảng, xem chúng tôi đã bị CS dụ dỗ và bị mắc lừa như thế nào. Không những chúng tôi mà nhiều người thầy của chúng tôi như Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo vẫn bị CS lừa. Một số khá đông người Việt, lúc trẻ vì lòng yêu nước mà gia nhập ĐCS, ở trong đó nhiều năm mới nhận ra bản chất xấu xa của nó rồi họ đã từ bỏ. Điển hình là nhà văn Nguyên Ngọc, GS Chu Hảo, GS Tương Lai.

Ông Lập có thể đọc rất  nhiều, biết nhiều thông tin, nắm được nhiều  bí mật, nhưng tôi đánh giá thấp các khả năng của ông về tư duy, về hiểu biết những mưu ma chước quỷ của CS, về việc đề ra rồi kiểm chứng giả thuyết, về phương pháp phát hiện bản chất sự vật.

Khi nói đến CS ông Lập đề cao việc chống Pháp, chống Mỹ của họ. Ông đã  phân biệt chiến sĩ chống Pháp là  Phạm Hồng Thái và Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng với CS không thấy ông phân biệt người đảng viên yêu nước, chống Pháp với chủ thuyết CS. Giữa lòng yêu nước của người Việt và ĐCSVN có duyên nợ. Tuyên truyền của CS cho rằng họ là chỗ dựa cho Lòng yêu nước. Chúng tôi cho rằng CSVN đã dựa vào lòng yêu nước của nhân dân để tồn tại và phát triển. CSVN giống như cây tầm gửi, sống bám vào  cây chủ là dân tộc, là đất nước VN. Chủ thuyết của CS là đấu tranh giai cấp, là thiết lập vô sản chuyên chính, là độc quyền đảng trị theo Mác Lê. Muốn vậy phải giành được chính quyền. Muốn giành chính quyền thì trong nước họ phải dựa vào dân, ngoài nước phải dựa vào cộng sản thế giới. Và rồi CSVN đã dẫn cả dân tộc trở thành tên lính xung kích của cộng sản thế giới, trở thành phụ thuộc vào Nga Xô và Trung cộng về ý thức hệ, về tổ chức và nhiếu lĩnh vực khác. Lê Duẩn công nhận rằng Việt nam đánh Mỹ là đánh cho cả Liên xô và Trung quốc.

Xét về bản chất của ĐCSVN thì việc đánh Pháp là như gạt một cục đá cản đường để thiết lập chuyên chính vô sản nhằm xây dựng một xã hội theo mô hình Mac Lê. Khi CS đã nắm được chính quyền họ trở thành đảng thống trị tàn bạo.

Chủ thuyết CS đã thất bại ở Liên xô, Đông Âu và Mông Cổ, đã bị Hội Đồng Châu Âu lên án là phản nhân loại. Hiện nay lực lượng CS hùng mạnh nhất là  Trung quốc, nó đang bị  đa số nhân loại tẩy chay vì lộ rõ những dã tâm. Trước đây Mỹ tích cực chống cộng chính là muốn ngăn ngừa thảm họa cộng sản. CSVN tuyên truyền rằng Mỹ xâm lược VN, nhưng chính phủ và nhân dân Mỹ nói rằng họ không xâm lược mà chỉ giúp đồng minh ngăn chặn CS để cứu cho một phần nhân loại thoát ách độc tài. Nhiều người Việt có kiến thức và trung thực cũng nghĩ như vậy. Ông Lập đã nhập Pháp Mỹ vào cùng nhau. Phải chăng là sự nhầm lẫn hay cố tình lẫn lộn. Mỹ vào VN có mục đích khác hoàn toàn với Pháp. Quân Pháp nhằm chiếm và giữ đât, quân Mỹ nhằm ngăn chặn CS.

Bầy sâu và con sâu bự nhất

 Phạm Đình Trọng

Tiếp theo Phần 1 và 2 đã được BVN đăng tải, BVN tiếp tục đăng phần cuối bài viết của nhà văn Phạm Đình Trọng bình luận về nhóm tham nhũng Lê Thanh Hải, do tác giả mới gửi tới Tòa soạn chúng tôi hôm nay.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Bauxite Việt Nam

3.TỘI ÁC ĐƯỢC BAO CHE, DUNG TÚNG

Hành động cướp đất và hành xử man rợ, tàn bạo của đàn em Lê Thanh Hải với dân Thủ Thiêm không phải chỉ táng tận lương tâm, mất tính người về đạo lí mà còn là sự lộng hành của những người nhân danh pháp luật nhưng chà đạp lên pháp luật, dùng bạo lực nhà nước đàn áp dân, tước đoạt cả mạng sống người dân, là những vụ việc phạm pháp trắng trợn và nghiêm trọng.

Lũ sai nha của Lê Thanh Hải cướp đất dùng vũ lực đánh bà Trần Thị Chuốt và quăng bà Chuốt lên ô tô như quăng một con heo làm bà Chuốt bị gãy xương, giập gan, chết trong đau đớn. Đó là tội giết người theo định dạng của khoản 1, điều 127 bộ luật Hình sự 2015 “Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm”.

Lê Thanh Hải chính là kẻ chủ mưu, đầu vụ gây ra cái chết thảm thương cho bà Trần Thị Chuốt. Lòng tham cướp đất, rắp tâm tham nhũng, Lê Thanh Hải đã đẩy cả một bộ máy chính quyền làm điều phạm pháp, chà đạp lên pháp luật, gây ra cái chết thương tâm của anh Trương Việt Hiếu, cái chết đau lòng của anh Trần Văn Phúc.

Quyết định 6565/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2005 chỉ là quyết định cấp thành phố mà dám “Quyết định này thay thế Quyết định số 367/TTg ngày 04 tháng 6 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ” là quyết định phạm pháp và kẻ ký quyết định 6565QĐ-UBND đã phạm tội lạm quyền được xác định tại khoản 1, điều 357 bộ Luật Hình sự 2015 “Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm”.

Quyết định 6565 QĐ-UBND còn liên quan đến hai khoản khác của điều 357 Luật Hình sự là:

Khoản 2 phạm tội có tổ chức, bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm.

Khoản 4 gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.

Lạm quyền gây thiệt hại chỉ 1,5 tỉ đồng đã bị tù tới 20 năm. Dù ai kí quyết định 6565QĐ-UBND cũng chỉ là đàn em của Lê Thanh Hải, do Lê Thanh Hải chủ mưu. Quyết định lạm quyền 6565 QĐ-UBND của Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đua đã gây thiệt hại hàng ngàn ngàn tỉ đồng. Thiệt hại thời Lê Thanh Hải gây ra ở Thủ Thiêm lớn gấp nhiều lần thiệt hại do Đinh La Thăng, Dương Chí Dũng gây ra

Chiến tranh Trung-Mỹ

Lê Quốc

Lợi dụng chính sách sai lầm của nhiều đời Tổng thống Mỹ, Trung Cộng (TC) đã cài một mạng lưới gián điệp khắp các cơ quan trọng yếu của Mỹ - chiến lược bí mật của TC để thay thế Mỹ trong vai trò lãnh đạo thế giới

Cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và TC đã âm ỉ từ lâu trong não trạng của các lãnh tụ Đảng Cộng sản Trung Quốc, khởi sự từ Mao Trạch Đông và bùng nổ đời thứ V của vương triều đỏ: Tập Cận Bình.

Phía TC: Lợi dụng chính sách sai lầm của nhiều đời Tổng thống Hoa Kỳ, TC đã cài một mạng lưới gián điệp khắp các cơ quan trọng yếu của Mỹ: Từ Ngũ Giác Đài, các viện nghiên cứu chiến lược quốc tế đến các cơ quan hành pháp, lập pháp, thậm chí cả đến cơ quan tối cao về chiến lược CSIS (Center for Strategic and International Studies) hoặc NSA (National Strategic Agency) của Hoa Kỳ.

Giám đốc FBI Christopher Wray báo động: Nguy cơ gián điệp TQ trên khắp 50 tiểu bang của Mỹ – từ lãnh vực nông nghiệp, đến lãnh vực công nghiệp cao, tạo ra mối đe dọa lớn nhất cho Hoa Kỳ (Báo Business Insider).

Phía Hoa Kỳ: Áp dụng một chính sách sai lầm là nuôi dưỡng TC cho giàu mạnh lên, với hy vọng là khi dân chúng có đời sống khá giả hơn sẽ áp lực làm thay đổi thể chế cộng sản thành chế độ tự do, dân chủ, gia nhập cộng đồng thế giới. Và TQ sẽ là một thị trường lớn tới 1,4 tỷ người lao động cho Hoa Kỳ. Nhưng kết quả ngày nay chứng minh Hoa Kỳ đã sai lầm. Hoa Kỳ cũng như các nước Tây Phương đã không hiểu tường tận cộng sản, nhất là Trung Cộng, CS Á Châu.

Nhân vật khám phá ra đường đi nước bước, chiến lược bí mật kéo dài cả trăm năm của TC chính là Tiến Sĩ Michael Pillsbury – Giám đốc Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Hudson Institute – cũng là tác giả quyển sách nổi tiếng “The Hundred Year Marathon” do nhà xuất bản Henry Holt and Co. phát hành năm 2015.

Chiến tranh Mỹ-Trung đã khởi phát từ não trạng các lãnh tụ CS

Bản chất của dân du mục Hán tộc là bành trướng lãnh thổ, xâm chiếm nước người. Bản chất này lại nẩy mầm, sinh sôi nẩy nở trên đất CS, sẽ là một cái họa lớn cho nhân loại. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận xét: “CS là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh sôi nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời”.

Hai khuynh hướng bành trướng của nòi Hán và chiến tranh của chủ nghĩa CS sáp nhập với nhau, dưới sự lãnh đạo hiện nay của Đại đế Đỏ Tập Cận Bình, đang gây sóng gió khắp thế giới – đặc biệt là muốn soán ngôi Hoa Kỳ.

Thử xem lịch sử cận đại của dòng Hán tộc CS Trung Hoa:

Nhìn lại lịch sử cận đại của Hoa Lục – dù là thể chế dân chủ hay CS – các lãnh tụ đều nuôi mộng làm bá chủ thế giới:

– Tôn Trung Sơn: Lãnh tụ phát động cuộc Cách mạng Dân chủ, lật đổ vương triều Mãn Thanh, tuyên bố: “TQ phải chiếm vị trí siêu cường quốc đứng đầu thế giới”;

– Mao Trạch Đông: Thực hiện bước “Đại nhảy vọt, vượt Anh, đuổi kịp Mỹ”: “Trong vòng 75 năm nữa, TQ có thể bắt kịp và vượt qua Mỹ” (Lưu Minh Phúc dẫn từ sách “Giấc Mộng trung hoa”);

– Đặng Tiểu Bình: “Ẩn mình chờ thời” (thao quang dưỡng hối): Ẩn mình, che giấu thực lực, để chờ thời cơ chín muồi đứng lên giành vị trí đệ nhất siêu cường làm bá chủ thế giới;

– Tập Cận Bình – đời thứ năm, kể từ Mao Trạch Đông thành lập CHNDTH (1949) theo chủ trương trỗi dậy của Hồ An Cương (Hu Angang 胡鞍钢) – Giáo sư Đại Học Thanh Hoa (Bắc Kinh) và “Giấc mộng Trung Hoa” của Lưu Minh Phúc (Liu Ming Fu 刘明福). Ông Tập – tại Đại Hội ĐCSTH 19, ngày 18-10-2017 – đọc bài diễn văn 3000 chữ, dài 3 tiếng, 23 phút, nhắc lại 26 lần từ siêu cường hoặc cường quốc, nhấn mạnh “Giấc mộng Trung Hoa”: “Sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa – giấc mơ lớn nhất của TQ trong thời kỳ cận đại là TQ sẽ trở thành cường quốc hàng đầu thế giới vào năm 2049”.

Ông Tập Cận Bình ôm giấc mộng Trung Hoa, với vũ khí “Nhất Đới Nhất Lộ” và chương trình “made in China 2025″ đi chinh phục thế giới.

Bằng chứng rõ ràng và cụ thể: Những lời tuyên bố trên đây của Tôn Dật Tiên và 5 thế hệ CS tiếp theo kể từ Mao Trạch Đông đã chứng minh các ông con Trời, dù dân chủ hay CS đều muốn xâm lấn các nước khác và đến Tập cận Bình – tham vọng càng lớn hơn gấp bội: Lớn hơn cả Mao, vượt qua Đặng, bỏ đằng sau Giang, Hồ, tàn bạo hơn cả Tần Thủy Hoàng, Ngô Khởi qua cuộc thanh trừng đẫm máu “Đả hổ diệt ruồi”, tiếp tục tiêu diệt Pháp Luân Công để bán nội tạng, tàn sát và đồng hoá các sắc tộc Mông, Hồi, Mãn, Tạng và đặt quan Thái Thú người Việt để cai trị Việt Nam. Không cần phải che giấu, Tập Cận Bình đã công khai ý đồ thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa” trong buổi thăm viếng Viện Bảo tàng Trung Hoa và trong bài diễn văn đọc tại ĐHĐCS 19 mơ làm bá chủ toàn cầu

Tập Cận Bình muốn lấy tay che mặt trời

Trước đây, qua mấy trào tổng thống Hoa Kỳ, từ Nixon bắt tay TC năm 1972, hy sinh VNCH, hy sinh 58,000 nhân mạng chiến sĩ Mỹ, 3 triệu thanh niên hai miền Nam Bắc, đến Bush cha, Bush con, Clinton, Obama-Hillary đều sai lầm trong chính sách nuôi dưỡng cho TC mạnh lên. Họ cho rằng nhân dân TQ khá giả là họ sẽ chuyển biến thành thể chế tự do dân chủ, gia nhập cộng đồng các nước Dân Chủ thế giới. Thực tế cho thấy Hoa Kỳ đã sai lầm: “Nuôi ong tay áo”. Quả thật vậy, nay TC mạnh lên, đủ sức quay lại cắn Mỹ, trở thành một địch thủ đáng gờm của Mỹ và trở thành đại họa cho cả thế giới.

Tiến Sĩ M.Pillsbury đã xác nhận sự sai lầm này trong tác phẩm của ông: “CUỘC CHẠY ĐUA MARATHON 100 NĂM 1949 – 2049”. Năm 1949 – 2049 là 100 năm.

Năm 1949 Mao thành lập nước CHNDTH. Năm 2049, Hậu duệ đời thứ V Tập Cận Bình tuyên bố sẽ làm lễ kỷ niệm 100 năm thành lập CHNDTH tại Hoa Lục. Mức đến của cuộc đua Marathon 100 năm này sẽ là TQ trở thành một đệ nhất siêu cường thay thế Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới.

Đây là cuộc chạy đua không công bằng. TC đã đi trước 69 năm, đi trên giấc ngủ yên, lòng tự mãn và chính sách sai lầm của Hoa Kỳ. Họ đã đi hết 2 phần 3 thời gian của 100 năm. Tổng Thống D. Trump chính thức đối phó công khai với TC năm 2018. Như vậy TC đã đi trước 69 năm tính từ năm 1949.

Hoa kỳ chỉ có 31 năm để chạy Marathon với TC.

Do vậy, đây là cuộc chạy đua khủng khiếp để TC vuợt Mỹ, soán ngôi Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới.

Tác giả quyển sách “The Hundred-Year Marathon” vạch trần những âm mưu trong chiến lựợc dài hạn 100 năm của TQ, để mong trở thành một siêu cường thay thế Mỹ.

Bầy sâu và con sâu bự nhất

Phạm Đình Trọng

Phần Một

1.4.2020

Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là “chết” cái đất nước này (Trương Tấn Sang, Thường trực Ban Bí thư. 7.5.2011)

Bầy sâu lúc nhúc

Dốt nát và tham lam, năng lực trống rỗng và nhân cách thấp hèn nhưng tiến thân mau lẹ lên cấp nhà đỏ, cấp chóp bu triều đình cộng sản rồi dùng quyền lực nhà đỏ, quyền lực nhà nước tác yêu tác quái, tàn phá nền kinh tế đất nước, vơ vét của công, cướp bóc của dân, chà đạp lên cuộc đời, lên mạng sống người dân lương thiện. Đám quan cộng sản đó, bầy sâu đó đông vô kể.

Điểm đi điểm lại, người dân cũng không thể điểm hết mặt những tên tội phạm đã bị lộ vốn là quan cấp nhà đỏ hoặc ngấp nghé nhà đỏ triều đình cộng sản. Hồ Xuân Mãn. Đinh La Thăng. Hoàng Trung Hải. Triệu Tài Vinh. Vũ Văn Ninh. Vũ Huy Hoàng. Võ Kim Cự. Phương Minh Hòa. Nguyễn Văn Hiến. Nguyễn Văn Tình. Trần Việt Tân. Bùi Văn Thành. Phan Văn Vĩnh. Trần Quốc Cường. Nguyễn Hồng Trường. Trịnh Xuân Thanh. Nguyễn Xuân Anh. Trần Văn Minh. Nguyễn Bắc Son. Trương Minh Tuấn. Lê Thanh Hải. Lê Hoàng Quân. Tất Thành Cang . . .

Đó mới chỉ là những gương mặt nhem nhuốc đã phơi bày ra trước ánh sáng. Những tên quan tham còn rúc trong đống rơm nhiều như kiến trong tổ. Cũng chưa tính đến những quan cộng sản quyền uy trùm thiên hạ cũng phạm tội trùm thiên hạ. Như quan đầu sứ Nguyễn Bá Thanh đã cùng cả dàn quan chức một vùng lãnh thổ phạm tội, biến một vùng lãnh thổ non xanh nước biếc của dân của nước thành tài sản riêng của vài ông quan và vài tên cướp.

Như tướng cảnh sát Trần Đại Quang đã làm tha hóa, hư hỏng cả băng tướng lĩnh của bộ sức mạnh, đẩy cả một đám tướng hai sao, ba sao của bộ sức mạnh vào tội phạm. Đám tướng bổng lộc đầy miệng, quyền uy đầy mình đã mang quyền lực và sức mạnh nhà nước ra làm tay sai cho một kẻ thất học, bất lương, lưu manh thâu tóm đất đai, tài nguyên của dân của nước. Cũng cần phải nhắc đến khu mả Trần Đại Quang quái gở, kệch cỡm, thô bỉ mà hoành tráng, mênh mông gấp trăm lần mồ mả vua chúa phong kiến. Để thấy không những của cải, tài sản ông cò cảnh sát cộng sản vơ vét của dân của nước khủng khiếp như thế nào, mà còn thấy được một kẻ tâm hồn bệnh hoạn, lí tưởng sống thấp hèn, đốn mạt như vậy mà leo lên tới tướng cảnh sát bốn sao, leo lên tới chủ tịch nhà nước cộng sản. Để thấy những quan cộng sản tội lỗi, thấp hèn và nhố nhăng như thế nào.

Như ông Nguyễn Tấn Dũng dù có khai học tại chức để có bằng Cử nhân luật nhưng nền tảng văn hóa thực sự của ông Dũng vẫn là văn hóa của một y tá ở rừng. Với vốn văn hóa đó, mười năm đứng đầu Chính phủ, điều hành bộ máy quản trị đất nước, ông Dũng cùng đám thuộc hạ đã phá nát nền kinh tế đất nước, tạo ra một xã hội hỗn loạn, bon chen, cướp bóc, một thời kì đen tối nhất của đất nước, thời khốn cùng nhất của người dân.

Mười năm ông Dũng làm Thủ tướng đã mở ra một thời kì sức mạnh nhà nước, sức mạnh đồng tiền và sức mạnh xã hội đen cấu kết với nhau gây ra những vụ cướp đất thảm khốc, man rợ đẫm máu và nước mắt dân lành.

Mười năm ông Dũng làm Thủ tướng đã nảy nòi ra những băng nhóm lợi ích bất lương mọc lên như cỏ mùa xuân, như dòi bọ ở bãi rác, thao túng quyền lực nhà nước, thâu tóm của cải, tài nguyên đất nước, cướp bóc người dân.

Mười năm ông Dũng làm Thủ tướng, mười năm đất nước chìm đắm trong những tai họa khủng khiếp. Tai họa Boxit Tây Nguyên. Tai họa Formosa Vũng Áng. Tai họa Vinashine. Tai họa Vinalines. Tai họa nhà máy điện than công nghệ cổ lỗ, máy móc phế thải mọc lên khắp nước, đầu độc môi trường, giết chết sự sống. Nhà máy điện than Cái Lân ngay sát kì quan thế giới Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh. Nhà máy điện than Vĩnh Tân, Bình Thuận phủ bụi than giết sự sống cả dải bờ biển giàu đẹp miền Trung. Nhà máy điện than Sông Hậu rải bụi độc giết dần màu xanh thảm lúa đồng bằng sông Cửu Long.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải đã đưa nền kinh tế đất nước đến vạch xuất phát của sự phát triển. Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động lành mạnh, hiệu quả trong luật doanh nghiệp, trong sự quản lí nghiêm minh của bộ máy nhà nước. Như cây cỏ mùa xuân đồng loạt đâm chồi nảy lộc, hàng trăm ngàn doanh nghiệp tư nhân náo nức ra đời, hoạt động hiệu quả đã huy động được tiềm năng trong dân, khai thác sức lao động dư thừa, tạo ra nguồn hàng hóa lớn cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Một bình minh xán lạn đánh thức nền kinh tế đất nước sau đêm dài bao cấp trong giấc ngủ li bì để quên đi đói nghèo.

Đám tội phạm điểm tên ở trên đều là đàn em, là băng nhóm của ông Thủ tướng Dũng, đều bắt đầu con đường tội phạm từ thời ông Thủ tướng Dũng. Họ đã phá tanh bành thành quả của hai đời Thủ tướng Kiệt, Thủ tướng Khải, bóp chết sức sống của nền kinh tế, dìm nền kinh tế đất nước vào thua lỗ, nợ nần. Mở đường cho chủ các doanh nghiệp nhà nước hối hả vơ vét, tham nhũng nhưng cũng khép lại con đường sống của các doanh nghiệp đó. Những doanh nghiệp tư nhân làm ăn chân chính hầu hết đều khốn đốn, chết đứng, phá sản, giải thể. Những doanh nghiệp sân sau của quan chức, những doanh nghiệp đi đêm với quan chức bỗng giàu vọt lên, từ vô danh, từ bóng tối bỗng chói lọi như mặt trời, có tầm cỡ của cả hệ mặt trời, Sun Group! Và giàu sang phú quí đến muôn đời, Vạn Thịnh Phát!

ĐBSCL 2020 Cánh đồng chết và 45 năm ảo vọng trí thức

Ngô Thế Vinh

GS Nguyễn Duy Xuân (trái) và GS Phạm Hoàng Hộ

Tưởng nhớ GS Nguyễn Duy Xuân, GS Phạm Hoàng Hộ,

Hai tượng đài trí tuệ kiệt xuất, bất khuất của Miền Nam

Lời Dẫn Nhập: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ sau khi hoàn tất bộ sách đồ sộ "Cây cỏ Việt Nam" mà Giáo sư gọi là “công trình của đời tôi” và vào mấy năm cuối đời, như một Di chúc, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho:

“Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước.

Tặng Giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên Viện trưởng Đại học Cần Thơ, mất ngày 10-11-1986 tại trại Cải tạo Hà-Nam-Ninh.

Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.

Thế hệ sinh sau 30 tháng 4, 1975 nay cũng đã 45 tuổi rồi, cũng là 45 năm của một chính sách ngu dân lãng phí/huỷ diệt nguồn chất xám, và lăng nhục cả một thế hệ trí thức Miền Nam. Và nghĩ xa hơn, một Đồng bằng Sông Cửu Long sẽ không chết như ngày nay nếu có một nhà nước biết trân trọng sử dụng nguồn chất xám ấy, mà biểu tượng là hai trí tuệ kiệt xuất của Miền Nam như Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, là hai thành viên sáng lập Viện Đại học Cần Thơ năm 1966, và sau 1975 cả hai có cùng một ý nguyện chọn ở lại để xây dựng đất nước sau chiến tranh và thống nhất.

Để rồi, GS Nguyễn Duy Xuân thì chết thảm sau 11 năm bị đày đọa trong trại tù cải tạo Hà-Nam-Ninh ở Miền Bắc, và GS Phạm Hoàng Hộ thì trải qua một chặng đường vô cùng đau khổ qua “một thời kỳ sống trong ảo vọng là sẽ thấy đất nước đi lên, giai đoạn đi xe đạp, ăn gạo hẩm, tưởng hoa sẽ nở trên đường quê hương”để rồi kết thúc là một cái chết buồn bã xa nửa vòng Trái đất bên ngoài quê hương, một quê hương mà ông suốt đời gắn bó và chẳng bao giờ muốn xa rời. Hình ảnh một Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, một Giáo sư Nguyễn Duy Xuân những năm sau 1975, là tấm gương và cũng là một trải nghiệm đau đớn cho cả một thế hệ trí thức Miền Nam. Trang sử ảm đạm ấy là một bài học đắng cay cho cả một dân tộc sẽ không thể và không bao giờ quên. Với các thế hệ trẻ sau 1975 ở khắp năm châu, cùng với bản tiếng Việt, nay có thêm bản tiếng Anh để các bạn dễ dàng tiếp cận hơn với bài học lịch sử ấy.

Những năm ảo vọng, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và bộ sách "Cây cỏ Việt Nam"

Peter Shaw Ashton, Giáo Sư Charles Bullard, Ngành Lâm Học, Đại Học Harvard

“Với những ghi chú bằng tiếng Anh, cùng với những nét minh hoạ tinh vi của hơn 10.500 chủng loại, bộ sách Họa hình Cây cỏ Việt Nam/Illustrated Flora of Vietnam của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã cung cấp cho giới độc giả tiếng Anh lần đầu tiên và cập nhật một tài liệu tham khảo thấu đáo mà chúng tôi ít biết đến. Công trình này sẽ đứng như một tượng đài của sự quyết tâm, cống hiến, và uyên bác với lòng can đảm của tác giả. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hầu như đơn độc hình thành một công trình sinh học thực vật có tầm vóc hàn lâm/ academic tại Đại học Sài Gòn giữa những năm tháng khó khăn. Trong hoàn cảnh cực kỳ thử thách ấy, Giáo sư Hộ đã sưu tập được những chất liệu cho bộ sách đặc sắc này và cả những chuyến du khảo nhằm thu thập những mẫu vật để minh hoạ. Và nay công trình được xuất bản, đó sẽ là nguồn khích lệ cho các nhà sinh học trẻ ở Việt Nam và cả ở hải ngoại.

“Cây cỏ Việt Nam có thể lên tới 12.000 chủng loại. Bởi vì xứ sở này nằm sát bờ Thái Bình Dương Á Châu nhiệt đới, đó là hành lang cho những chuyển dịch theo chu kỳ Bắc-Nam/periodic North-South migration của thảm thực vật vô cùng phong phú từ phía Nam Trung Hoa và phong phú hơn nữa là thảm thực vật xích đạo Mã Lai / equatorial flora of Malaysia. Trên các rặng núi vẫn còn lưu lại những chủng loại tùng bách / conifer và thực vật có hoa / angiosperm taxa có tầm quan trọng vô song, trong khi các vùng bình nguyên mang dấu ấn của quá khứ có liên hệ tới các vùng hải đảo Phi Luật Tân và Borneo Nam Dương. Đến nay sự phong phú này hầu như tiêu vong. Những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong chiến lược trồng cây tái sinh và bảo tồn sẽ được hỗ trợ bởi công trình của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ như một hồ sơ theo dõi các thảm thực vật đến nay còn tồn tại.” 

Tiểu sử:

GS Phạm Hoàng Hộ, trên giấy tờ ngày sinh là 3 tháng 8 năm 1931 tại An Bình, Cần Thơ. Nhưng theo cáo phó mới đây của gia đình thì GS Hộ sinh năm Kỷ Tỵ 1929, mất ngày 29 tháng Giêng năm 2017 tại Montréal, Canada hưởng thọ 89 tuổi. Anh Phạm Hoàng Dũng, con trai GS Phạm Hoàng Hộ xác nhận là “Ba tôi sinh năm Kỷ Tỵ 1929, nhưng theo lệ ngày xưa thì lâu sau đó mới khai sinh, là năm 1931”.

Văn bằng:

– 1953: Cử nhân khoa học, thủ khoa Thực Vật học, Paris

– 1955: Cao học Vạn Vật học, Paris

– 1956: Thạc sĩ / Agrégé Vạn vật học

– 1962: Tiến sĩ Khoa học / Vạn vật học, Paris

Chức vụ:

– 1957-1984: Trưởng phòng Thực vật Đại học Khoa học Sài Gòn

– 1965-1984: Giáo sư Thực vật học Đại học Khoa học Sài Gòn

– 1962-1966: Giám đốc Hải học viện Nha Trang

– 1963-1963: Khoa trưởng Đại học Sư phạm Sài Gòn

– 1963: Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục

– 1966-1970: Viện trưởng sáng lập Viện Đại học Cần Thơ

– 1978-1984: Chủ bút tuần báo Khoa học Phổ thông Sài Gòn

– 1984-1989: Giáo sư Khảo cứu tại Viện bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris

Hội viên Khoa học:

— 1956: Hội viên Hội Thực vật học Pháp

— 1963: Hội viện Hội Tảo học Quốc tế (International Phycological Society)

— 1964: Hội viên Sáng lập Hội Sinh học Việt Nam

— 1965: Phó Chủ tịch Uỷ ban Danh từ Việt Nam

— 1967: Hội viện Hội Viện trưởng Đại học Quốc tế (APU)

— 1969: Sáng lập viên Niên san Đại học Cần Thơ

— 1971: Hội viên Uỷ ban Thẩm định hậu quả chất Da cam tại Nam Việt Nam, Viên Hàn lâm Khoa học Quốc gia, Hoa kỳ.

— 1973: Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Quốc Tế Sông Mekong (MRC)

Ấn phẩm:

— 1960: Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam (Flore Illustrée du Sud Vietnam) – Bộ Giáo dục Việt Nam: 1 vol., 803 pp., 275 pls.

— 1964: Sinh học Thực vật – Bộ Giáo dục Việt Nam: 1 vol., 861 pp., nhiều hình

— 1968: Hiển hoa Bí tử – Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 506 pp., 264 pls.

— 1969: Rong Biển Việt Nam – Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 558 pp., 493 figs.

— 1970: Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam, in kỳ 2, quyển I – Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 1115 pp., figs. 2787

— 1972:  Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam, in kỳ 2, quyển II – Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 1139 pp., figs. 5272

Cây cỏ Việt Nam: An illustrated Flora of Vietnam

— 1991, Tập 1 Quyển I: Khuyết Thực Vật. Lõa Tử. Hoa-cánh-rời đến Tiliaceae

— 1992, Tập 1 Quyển II Hoa-cánh-rời từ Eleagnaceae đến Apiaceae

— 1993, Tập 1 Quyển III Từ Smilacaceae… Cyperaceae… Poaceae… đến Orchidaceae

— 1991, Tập 2 Quyển I Hoa-cánh-rời từ Sterculiaceae đến Fabaceae

— 1993, Tập 2 Quyển II Từ Daphniphyllaceae… Fagaceae…  Apocynaceae  đến Scrofulariaceae

— 1993, Tập 2 Quyển III Từ Smilacaceae… Cyperaceae… Poaceae … đến Orchidaceae

— 1998: Cây cỏ có vị thuốc ở Việt Nam – NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh: 860 pp., Mô tả 2149 loài có vị thuốc gặp ở Việt Nam

Vẫn trong bản Tóm lược sự nghiệp Khoa học, GS Phạm Hoàng Hộ tâm sự: “Có lẽ vì lúc còn rất nhỏ tôi đã sống ở nơi vườn tược, ruộng đồng xanh um vùng châu thổ sông Cửu Long, nên từ nhỏ tôi đã thích cây cỏ. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh của bông Súng ở ruộng hay ao, lộng lẫy dưới ánh mặt trời ban mai, hay hình ảnh của bông Nhãn lồng phơi mình dựa bờ ruộng. Nên Thực vật học và Sinh học Nhiệt đới đã hấp dẫn tôi lúc đi du học. Và lúc học ở Đại học Khoa học Paris, tôi đã bắt đầu tìm hiểu Cây cỏ Đông Dương. Tiếp xúc đầu tiên một cách khoa học với Cây cỏ ấy, tôi thực hiện ở Viện Bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris. Lúc mới học Vạn vật, tôi đã vào nhà kiếng của Viện này để tìm coi có loại nào ở nước nhà hay không. Và một số loài đã được vẽ từ lúc ấy! Tôi nhớ một số Lan đã được vẽ từ năm 1950, trong nhà kiếng ấy. Đó là những hình “xưa” nhất của bộ Cây cỏ của tôi. Sau này khi làm luận án Cao học, cũng ở Viện ấy, tôi mới có dịp vào Thảo Tập, và nhiều hình, nhất là của giống Ficus, khó, vì chưa nhiều loài đã được vẽ vì ngại sự khó khăn ấy về sau khi về bên nhà mà tài liệu thật là khó kiếm. Thật ra lúc ấy tham vọng của tôi vô cùng khiêm tốn, là sau này được biết các loại Ficus Việt Nam mà thôi! Cũng đã quá sung sướng rồi. Sau khi thi đậu Thạc sĩ / Agrégation hạng sáu, trên 300 thí sinh, và chỉ có 30 đậu, năm 1956 tôi về nước.

[* Ghi chú của người viết: cần phân biệt với bằng Thạc sĩ hiện nay ở Việt Nam tương đương với cao học/ master, trong khi Thạc sĩ / Agrégé ở Pháp là học vị về sư phạm, trải qua kỳ thi tuyển khó khăn, nếu thi đậu sẽ trở thành giáo sư thực thụ / professeur titulaire từ bậc trung học / lycée tới các trường cao đẳng / enseignement supérieur thuộc các ngành Khoa học, Y dược, Luật khoa]

Giáo sư Hộ viết tiếp: “Lúc ấy tham vọng của tôi chỉ là về dạy học ở một trường Trung học, và lúc rảnh rang sẽ tìm hiểu cây cỏ của vùng Lục tỉnh mà thôi, nhưng Viện Đại học Sài Gòn và Hải học viện Nha Trang “kéo” tôi về giảng dạy và trông nom Hải học viện. Khi làm việc ở Nha Trang tôi khảo cứu Rong biển, như là một phận sự. Và sau vài năm khảo cứu dưới sự hướng dẫn của Giáo sư J. Felmann, tôi hoàn thành luận án Tiến sĩ mà tôi trình ở Đại học Paris, năm 1961. Công trình này được đăng trong Niên san Khoa học Đại học đường Sài Gòn, và trong quyển Rong biển Việt Nam, cũng như một số ấn phẩm trong vài tạp chí khoa học.

Ở Sài Gòn, phận sự chính của tôi là giảng dạy Thực vật và Sinh học Thực vật (thay thế Giáo sư Pháp Roger, một nhà chuyên môn về nấm gây bệnh cây) cho sinh viên dự bị và chuyên khoa. Chính vì muốn giảng dạy tốt, thích nghi vào điều kiện nhiệt đới Việt Nam, các môn ấy mà tôi lục lạo và sau đó cho ra đời công trình mà sau này sẽ là công trình của đời tôi là Cây cỏ Việt Nam. [trích dẫn tư liệu gia đình GS. Phạm Hoàng Hộ: Văn Bằng, Sự Nghiệp Khoa Học của Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Thực vật học].

1959-1960, tôi / người viết bài này mới chỉ là sinh viên lớp dự bị Y khoa PCB / Physique Chimie Biologie tại Đại học Khoa học Sài Gòn và được học Thầy Hộ mới tốt nghiệp Thạc sĩ ở Pháp về, dạy môn Sinh Học Thực vật. Tuy chỉ được học Thầy một năm, nhưng Thầy đã để lại cho đám sinh viên và riêng tôi một niềm cảm hứng với những dấu ấn rất khó phai mờ. Vào trường Y khoa rồi, không còn được học Thầy Hộ nhưng tôi vẫn mang lòng ngưỡng mộ và cả theo dõi những bước đi và sưu tập những bộ sách công trình nghiên cứu khoa học của Thầy.

Vào đầu thập niên 1990, giới khoa học trong nước và hải ngoại rất đỗi vui mừng khi bộ sách Cây cỏ Việt Nam của GS. Phạm Hoàng Hộ được lần lượt xuất bản. Theo GS Thái Công Tụng, hiện định cư tại Montréal thì các sách của GS. Phạm Hoàng Hộ hiện có đầy đủ ở Bibliothèque Jardin botanique Montréal, Canada, và dĩ nhiên là có trong nhiều thư viện lớn trên thế giới.

Trọn bộ Cây cỏ Việt Nam gồm hai tập, mỗi tập 3 quyển, tổng cộng khoảng 3.600 trang, chưa kể Phần Từ Vựng tên Việt Nam và Từ Vựng tên Khoa học các Giống (Chi) bao gồm thêm cả công trình của những năm tháng Giáo sư rời quê hương Việt Nam sang Pháp, vẫn tiếp tục cặm cụi làm việc.

Riêng tôi / người viết đã sớm có được trọn bộ 6 Quyển Cây cỏ Việt Nam xuất bản ở hải ngoại do bác sĩ Phạm Văn Hoàng nguyên Giám đốc Trung Tâm Phục Hồi Cần Thơ, một đàn anh trong Y khoa gửi tặng, anh Phạm Văn Hoàng chính là bào đệ của GS Phạm Hoàng Hộ.

Tưởng cũng nên ghi lại ở đây, là trước 1975, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã từng là Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Sông Mekong/ Mekong River Committee và khoảng năm 1974 hai Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và Thái Công Tụng đã có một nghiên cứu chung về Môi sinh Đồng bằng Sông Cửu Long: The Mekong Delta, Its environment, Its Problems; [do Bộ Canh nông VNCH xuất bản, Sài Gòn 1974]; khi tìm kiếm tới tài liệu có tính cách lịch sử ấy, tôi được anh GS Thái Công Tụng bùi ngùi cho biết: là đã mất hết sau cơn binh lửa…

Để tìm hiểu thêm tại sao, các tác phẩm khoa học của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ lại được ưu tiên xuất bản bằng tiếng Việt cho dù ngôn ngữ chính thông thạo của GS. Hộ trong suốt quá trình đào tạo và giảng dạy là tiếng Pháp.

Trong lời mở đầu quyển Rong biển Việt Nam xuất bản năm 1969, GS. Phạm Hoàng Hộ viết: “Lúc đầu, quyển sách này được thảo bằng ngoại ngữ, khi làm việc ở Hải học viện Nha Trang và ở Museum, và tôi có hoài bão được xuất bản trong ngoại ngữ ấy để công bố công trình khảo cứu của mình ra bốn phương, như lời hứa ngầm lúc trình luận án.

Song nay tôi đã đổi ý và cho xuất bản bằng tiếng Việt Nam. Đó là để chứng minh rằng ngôn ngữ nào, miễn được chăm sóc, đều có thể diễn tả kiến thức ở mọi trình độ. Tôi biết rằng có nhiều người cho rằng không ấn hành trong một ngôn ngữ quốc tế là phí công, giới khảo cứu làm sao biết đến. Nhưng tôi thấy chẳng cần đến việc ấy. Được mấy mươi triệu người Việt Nam biết và dùng, có giá trị hơn là được vài ngàn học giả chuyên môn thưởng thức. Tôi đã bỏ cái tự hào sai là tranh đua cùng người ngoài để tự tạo lấy thanh danh, “làm thơm lây dân Việt”. Tôi tin rằng cái tự hào ấy không thực tế, vì một người Việt Nam hay, không bằng nhiều người Việt Nam khá: cầm đuốc soi thành phố người có vẻ không thức thời trong khi nước nhà còn u ám. Cái tự hào trên thật ra chỉ để che đậy sự trốn trách nhiệm, sự bỏ phận sự trước con cháu chúng ta một cách không tha thứ được. 

Tạo ra cho chúng ta một nền văn chương khoa học là một công trình rất bao la. Vì thấy nó quá to tát nên nhiều học giả chấp nhận giải pháp dễ nhất: học ngay trong văn chương khoa học ngoại ngữ vô cùng phong phú, dồi dào. Cái học như vậy sẽ cho ta những người giỏi, nhưng ta không quên rằng nền văn minh bây giờ là văn minh của đại chúng chứ không phải của vài người được nữa. Ta đừng để cho sự phong phú của văn hoá nước ngoài đè bẹp ta. Người Nhật, cách đây một thế kỷ, há đã không hoảng sợ trước sự hùng mạnh của khoa học nước ngoài sao? Mà nay họ đã tự tạo được một một nền văn chương khoa học riêng biệt đã đến lúc gần hay hơn cả những nước ấy!

Hơn lúc nào hết, câu của Nguyễn Văn Vĩnh vẫn còn vẳng bên tai: “Nước Việt Nam ta sau này hay hay dở là ở chữ quốc ngữ”. Trong thế giới tương lai, sự lệ thuộc về văn hoá, nhất là về văn hoá khoa học sẽ là sự lệ thuộc chánh”. [Lời mở đầu của quyển Rong biển Việt Nam; Trung tâm Học liệu, Bộ, Giáo dục xuất bản 1969].

 

Chặng đường đau khổ

Hình ảnh một Giáo sư Phạm Hoàng Hộ những năm sau 1975, là một tấm gương và cũng là một trải nghiệm đau đớn cho cả một thế hệ trí thức Miền Nam mà Giáo sư Phạm Hoàng Hộ là một biểu tượng. Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ thì bộ sách Cây cỏ Việt Nam đã được thực hiện qua bốn giai đoạn:

Nghiên cứu giai đoạn một: hợp tác với GS Nguyễn Văn Dương về phần dược tính, Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1960 mô tả 1.650 loài thông thường của Miền Nam, “Đó là giai đoạn còn mò mẫm, học hỏi một thực-vật-chúng chưa quen thuộc đối với một sinh viên vừa tốt nghiệp từ vùng xa lạ mới về.

- Nghiên cứu giai đoạn hai: kỳ tái bản lần hai 1970 bộ Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, số loài lên được 5.328 [Hình 2]. “Đó là giai đoạn mà tôi xem như vàng son của một nhà thực vật học Việt Nam chúng ta. So với bây giờ, lúc ấy tôi yên ổn làm việc, có nhiều phương tiện cá nhân cũng như của non nước và nhất là được sự khuyến khích của mọi giới, bạn bè cũng như chính quyền.

Nghiên cứu giai đoạn ba: tiếp tục công việc nghiên cứu sau 1975, đưa thêm được vào bộ sách Cây cỏ Miền Nam Việt Nam 2.500 loài và bộ được nới rộng cho toàn cõi Việt Nam.

Sau biến cố 1975, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cũng như người bạn đồng hành trí tuệ của ông là Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã cùng chọn ở lại để xây dựng đất nước sau chiến tranh và thống nhất, nhưng với cái giá rất đắt mà sau này được GS Hộ ghi lại là: “Thời kỳ sống trong ảo vọng là sẽ thấy đất nước đi lên. Giai đoạn đi xe đạp, ăn gạo hẩm, tưởng hoa sẽ nở trên đường Quê hương.”

Tuy Giáo sư Phạm Hoàng Hộ vẫn còn chức danh là Hiệu phó [Phó Khoa trưởng] Đại học Khoa học, nhưng chính quyền mới chỉ sử dụng trí thức cũ như ông chủ yếu là “làm kiểng”, không có vai trò tương xứng trong giáo dục. Vì không là đảng viên, nên khi có vấn đề gì thì Đảng bộ họp riêng và quyết định, có việc ông không bao giờ được biết. Năm 1977 sau trải nghiệm những ngày học chính trị, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức Miền Nam tổ chức tại TP.HCM; từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”. [Huy Đức, Bên Thắng Cuộc]

Rồi phải chứng kiến một thiểu số trí thức cũ xu thời, mau chóng hợp tác toàn diện với chế độ mới, bất chấp sự liêm khiết, sẵn sàng cống hiến những công trình mệnh danh khoa học theo phong trào để mừng các ngày lễ hội 3-2 hay 19-5 như các bài báo chứng minh “ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò” hoặc là “ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo”… những công trình “giả khoa học / pseudo-science ” ấy đã mau chóng trở thành giai thoại đầy mỉa mai được lan truyền trong các trại tù Cải tạo, nơi mà đám tù nhân Miền Nam đang bị thiếu ăn suy dinh dưỡng với thực phẩm cung cấp chủ yếu là gạo hẩm “đại mễ” của Trung Cộng cùng với bo bo và khoai mì / ngoài Bắc gọi là sắn.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn