Hiển thị các bài đăng có nhãn Quan hệ Việt Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quan hệ Việt Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Quan hệ Việt-Mỹ: Điều gì cản trở nâng cấp ‘đối tác chiến lược toàn diện'?

1 tháng 1 2023

Nhân tố 'Trung Quốc' và hồ sơ nhân quyền yếu kém của Việt Nam đang cản trở khả năng nâng cấp quan hệ song phương giữa Washington và Hà Nội lên 'đối tác chiến lược toàn diện', theo hai chuyên gia khoa học chính trị nói với BBC.

clip_image002

NGUỒN HÌNH ẢNH: GETTY IMAGES

'Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện' được xem là mức cao nhất, mức tiếp theo là 'đối tác chiến lược' và 'đối tác toàn diện'.

Tiến sĩ Huỳnh Tâm Sáng, nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế từ Taiwan NextGen Foundation và Pacific Forum nói với BBC, 'đối tác chiến lược' có thể được xem là bước đệm quan trọng để đưa quan hệ song phương tiệm cận mối quan hệ đồng minh, dù có thể chưa chính thức như một đồng minh hiệp ước.

"Mối quan hệ được nâng cấp cũng được xem là gắn kết về khía cạnh an ninh và quốc phòng, và hai bên sẽ chia sẻ với nhau nhiều thông tin và hợp tác chặt chẽ hơn," Tiến sĩ Huỳnh Tâm Sáng cho biết.

Năm 2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố về mong muốn Việt Nam sẽ thiết lập các mối quan hệ đối tác chiến lược với năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (UNSC).

Cho đến nay, chỉ có hai thành viên thường trực UNSC có 'quan hệ đối tác chiến lược toàn diện' với Việt Nam là Trung Quốc (năm 2008), Nga (năm 2012).

Có phải Việt Nam đang tìm cách lấy lòng Hoa Kỳ?

RFA

Tổ biên tập Tiểu ban Kinh tế - Xã hội Đại hội XIII của Đảng đã đến Mỹ để nghiên cứu thực tiễn chính sách của Mỹ. Screen capture from NDTV

Vào ngày ngày 10 tháng 9 năm 2019, trong chuyến đến Mỹ để nghiên cứu thực tiễn chính sách của nước này, Tổ biên tập Tiểu ban Kinh tế - Xã hội Đại hội XIII của Đảng CSVN do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng dẫn đầu đã tới thủ đô Washington DC của Hoa Kỳ.

Cách sáng tạo của Đảng Cộng sản

Việc này mang ý nghĩa như thế nào, khi một đảng cầm quyền theo đường lối Chủ nghĩa Xã hội, lại đi học hỏi từ một quốc gia Tư bản?

Trao đổi với RFA hôm 16/9, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam cho rằng, đây là một hiện tượng lạ, trước giờ chưa có tiền lệ.

“Tôi còn nhớ trước chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng đến Washington vào tháng 7 năm 2015, đã không có đoàn quan chức Việt Nam nào đi học hỏi chính sách kinh tế thực tiễn của Mỹ. Mặc dù lúc đó Việt Nam đã “đầu tư” vào Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược CSIS của Hoa Kỳ tới vài triệu đô la rồi, thì có thể nói việc Tổ  biên tập Tiểu ban Kinh tế - Xã hội Đại hội XIII của Đảng đi nghiên cứu thực tiễn chính sách của Mỹ vào thời điểm được cho là cận với chuyến đi được dự kiến vào tháng 10 năm 2019 của ông Nguyễn Phú Trọng sang Hoa Kỳ, là điều nhạy cảm và thú vị, nó cho thấy Việt Nam muốn phát đi một thông điệp là có một sự gần gũi hơn một chút giữa hệ thống triết lý của hai ý thức hệ”.

Tin cho biết, phái đoàn Đảng cộng sản Việt Nam đã đến Mỹ sẽ có các buổi làm việc với Ngân hàng Thế giới WB, Viện Brookings, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế CSIS và The Asia Group.

Phái đoàn Việt Nam sẽ làm việc với phía Mỹ trong nhiều lĩnh vực, ngoài vấn đề chính là giải pháp kinh tế cho Việt Nam, còn có các chủ đề về chính trị.

Theo trang thông tin của Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ biên tập Tiểu ban Kinh tế-Xã hội Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhóm chịu trách nhiệm chính trong việc tổng hợp ý kiến và hoàn thiện dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội từ năm 2021-2023 và Phương hướng phát triển kinh tế xã hội từ năm 2021-2025.

Trao đổi với RFA qua điện thoại hôm 16/9/2019, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, một nhà nghiên cứu độc lập tại Singapore, nhận định về sự kiện này:

“Họ đi thì họ có gặp một số chỗ như Viện Brookings, rồi Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế - CSIS… hai chỗ này là hai kênh rất mạnh, có thể nói là mạnh nhất ở Mỹ cũng như trên thế giới. Việc đi như vậy cho thấy Việt Nam quan tâm làm thế nào để phát triển kinh tế, làm thế nào trong Khóa XIII của Đảng cầm quyền có những bước đổi mới về phát triển kinh tế”.

Biển Đông: 'Nếu quá đà, TQ chỉ càng đẩy VN tới gần Mỹ hơn'

BBC

iển Đông

Cuộc 'khủng hoảng' bãi Tư Chính mùa Hè năm 2019 như cách gọi của một số nhà phân tích đang đặt ra nhiều câu hỏi cho tam giác quan hệ Việt - Trung - Mỹ

Theo nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế, Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp từ Viện Iseas Yusof Ishak, Singapore: Hành động ở bãi Tư Chính và khu vực lân cận của Trung Quốc để 'gây sức ép' khiến Việt Nam không dám tăng cường quan hệ với Mỹ là một 'sai lầm,' vì Bắc Kinh càng ép thì Hà Nội càng có lý do để tăng cường quan hệ với Washington nhằm 'cân bằng lại' trước sức ép đó.

Hành xử được cho là 'vô lối' ở khu vực đối đầu trong hai tháng Bảy và Tám năm 2019 của Trung Quốc đang làm Việt Nam 'xa' Trung Quốc nhiều hơn nếu 'nói một cách chính xác hơn'. Cũng nên nhắc lại là từ năm 2014, Trung Quốc đã 'làm mất niềm tin chiến lược' đối với Việt Nam.

Cũng theo TS L.H.Hiệp: "Tham vọng của Trung Quốc với Biển Đông đã tồn tại từ rất lâu rồi và được Trung Quốc theo đuổi một cách rất kiên định và họ xác định Biển Đông là lợi ích quốc gia cốt lõi của Trung Quốc. Chính vì vậy bất chấp những vấn đề rắc rối mà Trung Quốc đang gặp phải, tôi cho rằng họ vẫn có nguồn lực và sự quan tâm để tiếp tục theo đuổi các yêu sách của mình ở Biển Đông, trong đó có việc quấy nhiễu các vùng Biển của Việt Nam. Điều này đã xảy ra nhất quán từ trước tới nay với rất nhiều sự kiện khác nhau và vụ này cũng không hoàn toàn là mới về mặt tính chất so với những vụ trước đây.

Tuy nhiên, tôi cho rằng “hoạt động của Trung Quốc ở vùng biển, nếu như để ép Việt Nam trong quan hệ Việt - Mỹ thì sẽ phản tác dụng”.

Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông đang đẩy Việt Nam lại gần Mỹ hơn

Lê Hồng Hiệp

Sau một thời gian tạm lắng ngắn ngủi khi Bắc Kinh dường như kiềm chế không tiến hành các hành động gây hấn đối với các bên tranh chấp khác ở Biển Đông, Trung Quốc lại bắt đầu dương oai diễu võ trong những tuần gần đây. Từ giữa tháng 6, một tàu Hải cảnh Trung Quốc đã quấy rối các tàu Việt Nam đang phục vụ giàn khoan dầu Hakuryu-5 của Nhật Bản tại Bãi Tư Chính, nơi Việt Nam coi là thềm lục địa của mình nhưng Trung Quốc đòi là một phần thuộc quần đảo Trường Sa đang tranh chấp.

Từ ngày 3 tháng 7, Trung Quốc cũng đã cử tàu khảo sát Haiyang Dizhi 8 để thực hiện một cuộc khảo sát dầu khí tại một khu vực rộng lớn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hộ tống tàu khảo sát này có ít nhất ba tàu hải cảnh, khiến Việt Nam phải gửi các tàu cảnh sát biển và kiểm ngư của mình tới hiện trường để theo dõi đội tàu Trung Quốc. Cuộc đối đầu này gợi nhớ đến một cuộc tranh chấp tương tự vào năm 2014 vốn đưa quan hệ song phương xuống mức thấp nhất trong nhiều thập niên.

Vào ngày 19 tháng 7, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã đưa ra một tuyên bố mạnh mẽ lên án các hành động của Trung Quốc và, thú vị hơn, đã kêu gọi “tất cả các bên liên quan và cộng đồng quốc tế” đóng góp vào việc duy trì trật tự, hòa bình và an ninh ở Biển Đông.

Ngày hôm sau, Hoa Kỳ dường như đáp lại lời kêu gọi của Việt Nam khi Bộ Ngoại giao nước này đưa ra tuyên bố bày tỏ quan ngại về “sự cưỡng ép của Trung Quốc đối với hoạt động dầu khí ở Biển Đông” nói chung và sự can thiệp của Trung Quốc vào “các hoạt động thăm dò và khai thác lâu nay của Việt Nam” nói riêng. Tuyên bố cũng kêu gọi Trung Quốc “chấm dứt hành vi bắt nạt và không tham gia vào loại hoạt động gây khiêu khích và bất ổn này”.

Mấy nguy cơ lớn Viêt Nam phải đối phó

Nguyễn Quang Dy

Mấy năm qua, thế giới biến động “khó lường”, làm trật tự thế giới biến đổi sâu sắc. Nay đối đầu Mỹ-Trung đang làm các nước khác như Việt Nam bị mắc kẹt, vì “trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết”. Bài này chỉ đề cập vắn tắt mấy nguy cơ lớn có thể gây ra hệ lụy cho đất nước, phải cảnh giác. Muốn “biến nguy thành cơ”, Việt Nam cần khôn ngoan và linh hoạt, nhưng quan trọng nhất phải đổi mới thể chế, hệ quy chiếu, và tư duy quản trị/điều hành.

Mấy nguy cơ lớn

Thứ nhất, các nguy cơ do đối đầu Mỹ-Trung, đặc biệt là chiến tranh thương mại “vừa đánh vừa đàm” chưa có hồi kết, như “con dao hai lưỡi”, làm Việt Nam “vừa được vừa mất” (a winner and loser). Theo Investor’s Services, có 4 nước được lợi là Malaysia, Thailand, Taiwan, Việt Nam, và 4 nước bị thiệt hại là Mongolia, Singapore, Hong Kong, Việt Nam.

Cách đây không lâu, khi ông Trump gặp ông Kim tại Hà Nội (27-28/2/2019) đã ca ngợi Việt Nam là mô hình để Bắc Triều Tiên học hỏi. Nhưng khi trả lời phỏng vấn Fox Business Network (26/6/2019), Trump bỗng tuyên bố thẳng thừng “Việt Nam hầu như là kẻ lạm dụng tồi tệ nhất so với tất cả mọi người” (It's almost the single worst abuser of everybody).

Sau đó (2/7/2019), Bộ Thương mại Mỹ đã đánh thuế 456% lên thép từ Việt Nam có xuất xứ từ Đài Loan hay Hàn Quốc. Đây là “phần nổi của tảng băng chìm” vì các doanh nghiệp đang chuyển ồ ạt từ Trung Quốc sang Việt Nam. Đừng quên là tháng 12/2017, Mỹ đã đánh thuế 531% và 238% lên thép cuộn của Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc.

Theo Stratfor (3/7/2019) Việt Nam nằm trong tầm ngắm (cross hairs) mà Mỹ theo dõi (watch list). Chính quyền Trump ngày càng bực mình (displeasure) với Việt Nam vì: (1) Thâm hụt thương mại xếp thứ 5 thế giới (US$ 38 tỷ/2017), tăng mạnh đầu 2019; (2) Vi phạm bản quyền (điều “Special 301”); (3) Thao túng tiền tệ (currency manipulation).

Tuy ông Trump tính khí thất thường, nhưng đã nói là làm quyết liệt. Quan hệ Mỹ-Việt đang phát triển tốt đẹp (nhất là về hợp tác chiến lược) nên Mỹ có thể nhân nhượng Việt Nam như “đối tác thân cận”. Nhưng Trump vẫn sẵn sàng trừng phạt Việt Nam (hay các đồng minh khác) nếu tiếp tay cho Trung Quốc, trung chuyển hàng hóa nhằm trốn thuế của Mỹ.

Việt Nam đã mua nhiều máy bay Boeing (trị giá US$ 20 tỷ) làm “Trump vui”. Việt Nam đang tăng cường giám sát và xử lý các doanh nghiệp gian lận thương mại để tái xuất và trốn thuế (như công ty điện tử Asanzo), nhưng vẫn chưa đủ. Mỹ muốn Việt Nam nhập thêm nhiều hàng hóa của Mỹ (như năng lượng và vũ khí) để giảm thiểu thâm hụt thương mại.

Thứ hai, nguy cơ mất chủ quyền biển đảo và tài nguyên tại Biển Đông (như dầu khí và hải sản) đang đe dọa không gian sinh tồn của Việt Nam. Nếu để mất hai nguồn thu lớn đó cho ngân sách, thì rất nguy hiểm cho an ninh năng lượng và “chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển” (nghị quyết 36-NQ/TW). Vì vậy, đây là nguy cơ mà Việt Nam phải hóa giải.

Trong bối cảnh Trung Quốc áp đặt “đường chín đoạn”, bất chấp phán quyết PCA, tiếp tục quân sự hóa các đảo họ chiếm giữ và bồi đắp tại Hoàng Sa và Trường Sa, để biến Biển Đông thành cái ao của họ, thì hợp tác chiến lược với Mỹ tại Biển Đông theo tầm nhìn Indo-Pacific là thiết thực để bảo vệ chủ quyền và triển khai dự án “Cá Voi Xanh”. Dự án này không chỉ có ý nghĩa lớn về kinh tế (trước mắt) mà còn có có ý nghĩa chiến lược (lâu dài).

Chiến tranh 1978-79: Nhắc lại thời VN 'bớt bạn thêm thù'


Ông Trần Quang Cơ đón TNS Mỹ John Kerry đến Bộ Ngoại giao ở Hà Nội ngày 15/05/1993 để bàn về vấn đề POW/MIA. Các hãng thông tấn ghi rằng khi đó, ông Cơ là 'quyền Bộ trưởng Ngoại giao' của VN. HOANG DINH NAM

Trước dịp kỷ niệm 40 năm cuộc chiến 1979 mời các bạn đọc lại cuộc phỏng vấn của BBC với cựu Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ hồi 2009:
Ông Trần Quang Cơ: Căn nguyên (của cuộc chiến Việt - Trung) là xung quanh vấn đề quyền lợi nước lớn, liên quan tới vấn đề Đông Dương. Nói sát ra, thì nó dính tới cuộc chiến ở biên giới Tây Nam.
Tháng Giêng 1979, Việt Nam giải phóng Phnom Penh, thì sau đó xảy ra sự kiện tháng Hai 1979. Lúc đó Trung Quốc cũng tuyên bố rõ ràng là 'dạy cho Việt Nam một bài học', và cụ thể là hòng cứu nguy cho Pol Pot.
Khi Pol Pot vào các tỉnh biên giới phía Nam, giết hại nhiều người thì việc đầu tiên Việt Nam phải làm là bảo vệ biên giới, bảo vệ người dân của mình.
Dân Việt Nam vừa mới hoàn hồn, vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh với Mỹ xâm lược, năm 1975 giải phóng đất nước, thì Pol Pot đã có chủ trương gây chiến và cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

Hợp tác với Mỹ

Vũ Quang Việt

(1 tháng 6 năm 2015)

Vài lời nói thêm

(11/13/2018)

Bài này viết từ năm 2015 nhưng chỉ được trao đổi trong nhóm nhỏ những người quan tâm. Có lẽ công bố bây giờ cũng không muộn.

Tập Cập Bình tháng 10 mới đây bỏ 4 ngày thăm căn cứ quân sự miền Nam TQ, lên tiếng cho rằng TQ sẽ không từ bỏ một tấc đất thuộc chủ quyền của họ và lệnh cho lực lượng quân sự TQ ở thế sẵn sàng chiến đấu. Cuộc họp mới đây giữa Mỹ và TQ (9/11/2018) cũng thất bại vì Mỹ đòi hỏi TQ thi hành cam kết không quân sự hoá Biển Đông và tôn trọng quyền tự do hàng hải và không lưu ở đó mà TQ đang vi phạm. Còn TQ đòi hỏi Mỹ chấm dứt thực hiện quyền đi lại của chiến hạm Mỹ, và trả lời lấp liếm cho rằng TQ bồi đắp và xây dựng là ở vùng lưỡi b (gần 80% Biển Đông Nam Á) thuộc chủ quyền của họ, không phải với mục đích quân sự mà là “xây dựng những cơ sở an ninh nhất định đáp lại các mối đe dọa tiềm năng từ bên ngoài”, và “không có chuyện tự do hàng hải và đường bay trên không bị cản trở”. Tất nhiên hiện nay TQ chưa đủ lực để cản trở nhưng trong tương lai khi điều kiện chín muồi, họ sẽ đòi hỏi các nước khác xin phép và cho tầu chiến ra bảo vệ hoạt động khai thác của họ ở Vùng lưỡi bò (tức là Biển Đông Nam Á) như đánh cá, khai thác dầu khí và khoáng sản và xua đuổi các nước khác “xâm phạm lãnh thổ họ”.

Tình hình ở Biển Đông Nam Á căng thẳng hơn trước, không chỉ vì Trump trở thành Tổng thống Mỹ. Thực tế là cả hai đảng Dân chủ và Cộng hoà đã thấy rõ ý đồ muốn kiểm soát Biển Đông Nam Á của TQ và đều muốn có những hành động không chấp nhận những bãi cát mà TQ đã xây lên từ khu vực thuộc hải phận quốc tế và muốn ngăn chặn TQ biến chúng thành căn cứ quân sự. Mỹ đã cho tầu chiến đi vào trong vùng 12 dặm quanh các vùng TQ bồi lên ở vùng biển quốc tế mà theo Luật Biển LHQ không thể thuộc chủ quyền của riêng ai.

Tuy thế trong hiện tại và tương lai, không có nghĩa là Mỹ muốn và có khả năng quân sự và chính trị để cô lập TQ như đã làm với Liên Xô trước đây. Ngay cả các nước khu vực cũng không muốn thế, vì nó ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế đang có với TQ của mọi nước. Tuy vậy, các nước có quyền lợi ở Biển Đông Nam Á đều có thể hợp tác nhằm tự vệ và bảo vệ quyền lợi chung như quyền đi lại và quyền tham dự khai thác khu vực quốc tế ở Biển Đông, theo đúng như Luật Biển LHQ. Qua tuyên bố của Phó Tổng thống Pence (4/10/2018), Mỹ cũng “muốn có một quan hệ mang tính xây dựng đối với Bắc Kinh mà sự thịnh vượng và an ninh của chúng ta cùng nhau thay vì rẽ lối lớn mạnh” và “quả quyết rằng chúng tôi sẽ không lùi bước chừng nào quan hệ với TQ chưa đặt trên nền tảng công bình, có qua có lại, và tôn trọng chủ quyền của chúng tôi”.

Như thế, nhu cầu hiển nhiên là việc thiết lập một cơ chế mới gồm các nước tham gia hợp tác chiến lược bảo vệ hòa bình và công lý, kể cả việc hợp tác khai thác tài nguyên ở vùng biển quốc tế (the Area) trong Biển Đông Nam Á, mà tài nguyên ở đó theo đúng Luật Biển LHQ là tài nguyên chung của nhân loại (Điều 136, Luật Biển) đặt dưới sự quản lý khai thác của Cơ quan Công quyền Đáy Đại dương Quốc tế (International Seabed Authority). Có thể gọi đó là Ủy ban liên quốc gia thực hiện Luật Biển LHQ nhằm bảo vệ hoà bình và khai thác chung ở vùng biển quốc tế thuộc Biển Đông Nam Á. Tất nhiên các thành viên sẽ chào đón Trung Quốc tham gia nếu họ đồng ý với những điểm cơ bản của Ủy ban, đó là Luật Biển LHQ, bời vì TQ cũng có quyền lợi ở đó.

1. Trung Quốc đã nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc kinh tế, với dự trữ ngoại tệ lên tới 3800 tỷ USD vào cuối năm 2013, có GDP năm 2013 tính bằng USD là 9.2 ngàn tỷ, bằng 55% GDP của Mỹ (16.8 ngàn tỷ) và gần gấp đôi Nhật (4.8 ngàn tỷ) mà vào năm 1970, chỉ bằng 14% Nhật và 4% Mỹ. Nếu TQ tăng với tốc độ trung bình năm là 5% và Mỹ là 3% thì TQ sẽ bằng Mỹ vào năm 2045, sau 32 năm. Dù dân chúng sẽ vẫn có mức thu nhập thua xa Mỹ và nhiều nước khác, TQ vì có có nền kinh tế lớn, và lại là một nước độc tài, có thể dễ dàng đẩy cao thêm tỷ lệ GDP chi cho quân sự. Và TQ hiện nay đã thực sự làm thế, tăng chi cho quân sự từ 1.7% GDP những năm 1990 lên 2.1% những năm gần đây, nhưng dù thế, khó có thể so với Mỹ có lúc lên đến gần 6% GDP và hiện nay là 3.8%; đó là chưa kể tới chi tiêu của các nước đồng minh của Mỹ. Với mục tiêu phục hồi giấc mộng bá vương ít nhất là ở châu Á, TQ đã và đang xây dựng lực lượng hải quân, tuyên bố và có hành động kiểm soát Biển Đông Nam Á, lợi dụng lúc Mỹ đang phải chi phí lớn cho các cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. TQ đang trở thành mối đe dọa cho rất nhiều nước ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, nhưng trơ trọi một mình. Vì thế, cuộc phiêu lưu quân sự nhằm đòi hỏi quyền lợi này chỉ thành công nếu các nước trong khu vực, Mỹ và đồng minh của Mỹ bấm bụng chịu nhường để tránh chiến tranh hoặc rã đám vì lợi ích riêng. TQ chỉ chờ có thế.

2. Chính sách bành trướng và yêu sách đòi chủ quyền trên vùng biển quốc tế, và tranh chấp chủ quyền với nước khác là lý do mà một số nước khu vực nghĩ đến chiến lược liên minh với Mỹ nhằm tự bảo vệ mình. Nhưng cũng chính vì vậy, chữ đồng minh (alliance) hay liên minh đã được dư luận ở Việt Nam dùng rất tùy tiện hoặc hiểu một cách tùy tiện. Vậy đồng minh là gì? Nội dung của đồng minh nếu có với Mỹ là gì? Trên cơ sở mục tiêu nào cho phép đánh giá vào thời điểm hiện nay và trong tương lai gần, có thể có tình thế nghiêm trọng đến mức mà người Mỹ cần liên minh với VN để sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình, coi như nhiệm vụ bảo vệ VN cũng là nhiệm vụ bảo vệ chính mình không? Nếu tình thế chưa đến mức nghiêm trọng thì cấu trúc hợp tác với Mỹ và các nước nên mang hình thức gì nhằm bảo vệ hòa bình ở khu vực Biển Đông Nam Á Nam Á? Câu hỏi sau là vấn đề bài viết lý giải.

Bộ trưởng Quốc phòng Jim Mattis lại đến Việt Nam để làm gì?

Phạm Chí Dũng

Ông Mattis và đồng nhiệm Ngô Xuân Lịch gặp nhau tại đối thoại Shangri-La, Singapore, tháng Sáu, 2018. 

Ông Mattis và đồng nhiệm Ngô Xuân Lịch gặp nhau tại đối thoại Shangri-La, Singapore, tháng Sáu, 2018.

Chắc chắn các cơ quan tình báo quân đội và Hoa Nam của Trung Quốc đang và sẽ đặc biệt theo dõi và phân tích động cơ lẫn mục đích chuyến thăm Việt Nam bất ngờ vào trung tuần tháng Mười năm 2018 của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jim Mattis.

Chuyến công du Việt Nam của Jim Mattis diễn ra trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang tiến vào giai đoạn căng thẳng của chiến dịch dựng đứng hàng rào thuế quan đầu tiên do Tổng thống Donald Trump là tổng đạo diễn, trong khi các Hạm đội 7 và Hạm đội 5 của Hải quân Hoa Kỳ ngày càng áp sát Biển Đông, trong bối cảnh ngày 10/10/2018 Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật cắt đứt Đường lưỡi bò của Trung Quốc trên Biển Đông.

Còn tương lai về một cuộc xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ tại khu vực này đang dâng lên như một cơn sóng thần cấp độ vừa phải.

Chuyến công du trên cũng là lần thứ hai liên tiếp trong vòng 10 tháng kể từ khi Jim Mattis nhận lãnh chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - một mật độ ‘thăm viếng’ khá dày đặc đối với quốc gia cách Mỹ đến nửa vòng trái đất.

Hiệu ứng USS Carl Vinson?

Lần đầu tiên Jim Mattis đặt chân đến Hà Nội là vào tháng Giêng năm 2018, tiếp liền sau chuyến đi Washington của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch mà có thể hiểu như lời cầu cứu rõ như ban ngày: chính thể độc đảng ở Việt Nam liên tiếp bị ‘bạn vàng’ Trung Quốc gây sức ép cả về chiến thuật ‘ngoại giao tàu cá’ lẫn tàu hải giám và tàu quân sự vây bọc khu vực mỏ Cá Rồng Đỏ ở Bãi Tư Chính phía Đông Nam Việt Nam - một chiến dịch mà Bắc Kinh đã quá thành công trong việc ‘hù’ Việt Nam, khiến Công ty dầu khí Repsol của Tây Ban Nha (liên doanh với Việt Nam) phải cuốn cờ tháo chạy khỏi mỏ dầu khí này.

Khi đó, tình cảnh của Bộ Chính trị Việt Nam thật chẳng khác gì ‘mỡ treo miệng mèo’: ngay cả dầu khí trong vùng biển được xem là ‘chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam’ cũng không làm cách nào ‘ăn’ được.

Trong khi đó, Mỹ lại đang cần đến cái gật đầu của Việt Nam để phát triển triết lý ‘tàu Mỹ đi qua vô hại’ ở Biển Đông - như một cách lý giải của Bộ Ngoại giao Việt Nam cho báo giới quốc tế, bắt đầu từ năm 2016 và vẫn tồn tại cho đến giờ. Tuy vậy, các Hạm đội châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ không phải cần đến sự chuẩn thuận của giới chóp bu Việt Nam như một điều kiện cần, mà chỉ là điều kiện đủ trong bối cảnh dù Việt Nam có gật hay lắc thì các tàu chiến Mỹ cũng đã áp sát quần đảo Hoàng Sa - trên danh nghĩa là thuộc Việt Nam nhưng đã thuộc về sự chiếm cứ của ‘người đồng chí tốt’ từ hơn bốn chục năm qua.

Chỉ vài tháng sau chuyến đến Việt Nam lần đầu tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jim Mattis, đến tháng Ba năm 2018 đã hiện ra một hình ảnh chưa từng có tiền lệ kể từ thời điểm 1975: một hàng không mẫu hạm của Mỹ là USS Carl Vinson cập cảng Đà Nẵng - vùng biển mà 5 năm trước lần đầu tiên đã có 3 tàu chiến của Mỹ cập bến để ‘giao lưu hải quân’ với phía Việt Nam.

Tuy nhiên, Trung Quốc không phải là tay mơ, đặc biệt liên quan đến những động tác tâm lý chiến. Chẳng bao lâu sau khi USS Carl Vinson hiện diện trong vùng biển Việt Nam, một Hạm đội lớn của Trung Quốc với hàng không mẫu hạm Liêu Ninh đã tiến hành một cuộc tập trận phô trương, khiến giới lãnh đạo Việt Nam - vốn trước đó đã quen ‘thần phục’ sức mạnh Trung Quốc - hầu như ngay lập tức ‘tắt đài’.

Cho đến nay, khó có cơ sở nào để cho rằng việc xuất tướng của Jim Mattis đến Việt Nam, và cả USS Carl Vinson vào đầu năm 2018, đã mang lại một kết quả ‘tăng cường hợp tác quốc phòng song phương Việt - Mỹ’ như mong muốn.

Bởi hệ lụy sau đó đối với Việt Nam là không thể rõ ràng và chán ngán hơn: ngay sau khi hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson rút về nước và công ty Repsol của Tây Ban Nha cùng đối tác của nó ở Việt Nam một lần nữa thử khai thác dầu khí ở mỏ Cá Rồng Đỏ, nỗi nhục Bãi Tư Chính lại nổ ra lần thứ hai và phủ đầy khắp bộ mặt chính thể Việt Nam: một lần nữa Repsol phải tháo chạy khỏi mỏ dầu khí này sau khi Trung Quốc lại ra tay dọa dẫm. Và đó là lần mà Repsol có vẻ ‘một đi không trở lại’. Còn ‘bản lĩnh Việt Nam’ đã chỉ hiển hiện đến mức cúi đầu chấp nhận bồi thường cho Repsol hơn 200 triệu USD chi phí ban đầu, nhưng đã không thể, và trong thực tế là còn lâu mới dám hó hé trước sức ép ngày càng thô bạo của Trung Quốc.

Song Cá Rồng Đỏ không phải là nạn nhân duy nhất của Đường lưỡi bò mà Trung Quốc vừa vẽ lại và đã liếm qua gần hết các lô dầu khí mà Việt Nam dự định khai thác để bù đắp cho cái túi thủng ngân sách đang rộng ngoác như hàm cá mập, cũng như để cứu vãn cho tình trạng cạn kiệt ngoại tệ để trả nợ nước ngoài và còn chi cho nhiều nhu cầu khác của đảng cầm quyền. Mỏ Cá Voi Xanh - một dự án ở ngoài khơi Quảng Nam - Quảng Ngãi liên doanh với tập đoàn dầu khí lớn nhất của Mỹ là Exxonmobil, và cả mỏ Lan Đỏ - liên doanh giữa Vietsopetro của Việt Nam với tập đoàn dầu khí lớn của Nga là Rosneft, cũng lần lượt bị Trung Quốc gây sức ép phải chấm dứt khoan thăm dò hay khoan khai thác.

Chưa bao giờ ‘bản lĩnh Việt Nam’ bị thách thức và đe dọa đến thế: tiền nằm ngay trong túi mà không làm sao lấy ra được.

Trong suốt thời gian trên, giới chóp bu Việt Nam còn bị hành hạ không ngớt bởi cái bóng của Vương Nghị - ngoại trưởng Trung Quốc với gương mặt lạnh như tiền - và lời đề nghị như thể chiếu chỉ của họ Vương về ‘Trung Quốc và Việt Nam cùng hợp tác khai thác dầu khí trên biển’. Nếu chấp nhận đề nghị này, giới chóp bu Việt Nam đương nhiên phải mời kẻ cướp vào nhà mình và tự nguyện dâng hiến tài sản cho y.

Cho đến tháng Mười năm 2018 và trước khi có tin về chuyến thăm Việt Nam của Jim Mattis, toàn bộ thông tin về việc khai thác các mỏ Cá Rồng Đỏ, Cá Voi Xanh và Lan Đỏ vẫn ngậm tăm.

Thậm chí, chuyến thăm Nga của ‘Đảng trưởng’ Nguyễn Phú Trọng vào tháng Chín năm 2018 có vẻ chẳng mang lại kết quả khả quan nào. Mặc dù trong các văn bản được ký kết giữa hai bên có đề cập đến cơ chế khai thác dầu khí, dường như Tổng thống Putin đã không có tác động nào đối với đồng minh Trung Quốc để Bắc Kinh nương tay cho Việt Nam cùng Tập đoàn Rosneft khai thác dầu khí ở mỏ Lan Đỏ.

Một tháng sau đó, Hội nghị trung ương 8 của đảng cầm quyền diễn ra ở Việt Nam, với một trong những nghị quyết đáng chú ý là “chiến lược lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để từng bước đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, dựa vào biển và hướng ra biển”.

Nhưng vì sao phải ‘hướng ra biển’?

Đáp số Cam Ranh?

Về thực chất, tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam đã hầu như cạn kiệt, bao gồm cảnh nạn khai thác khoáng sản vô thiên lủng từ nhiều năm qua, trong khi độ che phủ rừng thực tế đã giảm xuống dưới 20% và khiến Việt Nam, thay vì xuất khẩu gỗ như cách đây ba chục năm, đã và đang phải nhập khẩu gỗ từ các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Chỉ còn biển và trữ lượng dầu khí dưới biển là còn tiềm năng để mang lại ngoại tệ cứu đảng trong một thời gian có hạn, có thể chỉ đến năm 2022.

Chẳng phải tự nhiên mà trong một kỳ họp quốc hội vào năm 2017 - trùng thời gian với ‘nỗi nhục bãi Tư Chính’ lần đầu tiên, một số ‘nghị gật’ đã đề nghị tăng sản lượng khai thác dầu khí hàng năm từ 1,5 triệu tấn lên 2,5 triệu tấn hoặc thậm chí hơn thế.

Hẳn là người Mỹ cũng biết khá rõ là trong túi Việt Nam còn được bao nhiêu tiền, và làm thế nào để có được ngoại tệ trả nợ nước ngoài.

Chính sách thương mại của Mỹ dưới thời Donald Trump ngày càng thực dụng. Bên lề cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung đang bùng nổ, Việt Nam chỉ là một con muỗi mà sẽ quá dễ dàng bị đập nát bét chỉ với nguyên tắc ‘công bằng và đối ứng’ của Trunp - tức thực thi một hàng rào thuế quan cao ngất mà sẽ khiến con số xuất siêu trên 30 tỷ USD mỗi năm của hàng Việt Nam vào thị trường Mỹ lao dốc ít nhất 60 - 70%.

Một lần nữa, quan điểm ‘giãn Trung, dựa Mỹ’ lại trỗi dậy trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Bây giờ không còn là lúc đu dây, mà phải dùng toàn bộ ‘trí tuệ’ của đảng để xác quyết ‘kẻ thù số một’ và ‘kẻ thù số 2’ - ai mạnh hơn.

Một cách nào đó, Việt Nam sẽ ‘đi lên từ biển, hướng ra biển và làm giàu từ biển’ bằng sức mạnh của Hải quân Mỹ.

Triết lý ‘tàu Mỹ đi qua vô hại ở Biển Đông’ gần ba năm về trước xem ra không còn phù hợp với quan niệm của giới ngoại giao Việt Nam. Mà biết đâu đấy sẽ là khái niệm ‘tàu Mỹ đi qua có ích ở Biển Đông’ trong tương lai gần.

Nhưng nếu cả sự hiện diện của hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson của Mỹ mà còn không dọa nổi Trung Quốc, sẽ cần đến chiến thuật gì khác?

Muốn ‘bảo kê’ cho Việt Nam khai thác dầu khí, Mỹ cần đến một sự hiện diện nhiều hơn và hẳn phải đầy đủ hơn là những cuộc ‘giao lưu hải quân’, ‘tập trận giả’ chỉ có bề ngoài hào nhoáng như trước đây.

Cam Ranh chăng?

Nếu lần đầu tiên Jim Mattis đến Việt Nam chỉ mới chứng kiến cái nhu cầu quá thiết thân và quá khẩn cấp của chính thể cộng sản nhằm giành giật từng tấn dầu khí với ‘người đồng chí tốt’ Trung Quốc, thì lần này Việt Nam còn phải hứng chịu dư chấn của cơn bão chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và nguy cơ một cuộc xung đột quân sự giữa hai nền kinh tế nhất nhì thế giới này.

Không loại trừ việc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jim Mattis đến Hà Nội vào trung tuần tháng Mười năm 2018 sẽ nhắm đến một cách thực chất việc tăng cường sự hiện diện của tàu Mỹ tại vùng biển Việt Nam, trong đó có Quân cảng Cam Ranh, với một thái độ và mức độ nhượng bộ nào đó của Việt Nam để có thể ‘đưa quan hệ quốc phòng Việt - Mỹ lên một tầm cao mới’ - như lối nói đãi bôi chẳng biết chừng nào mới sửa được của thói đầu môi chót lưỡi Hà Nội.

P.C.D. Tác giả gửi BVN.

Mike Pompeo đến Việt Nam thực ra để làm gì?

Phạm Chí Dũng

Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam là Nguyễn Phú Trọng lại đang cần đến ‘nâng cao uy tín Việt Nam trên trường quốc tế’ hơn bao giờ hết, nhất là sau việc mật vụ Việt Nam bị Nhà nước Đức công khai tố cáo đã bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay tại Berlin vào tháng Bảy năm 2017, kéo theo hàng loạt hậu quả ghê gớm về ngoại giao, và thực chất đã trở thành một cuộc khủng hoảng ngoại giao không nhỏ lắm giữa Việt Nam với không chỉ người Đức mà cả Liên minh châu Âu.

Và sau ‘có tiếng’ là những gì thuộc về ‘có miếng’. Uy tín chính thể Việt Nam hay hình ảnh cá nhân Nguyễn Phú Trọng sẽ tan biến như bọt sâm banh nếu không thể xoa dịu bàn tay sắt đá của Trump trong chính sách ‘công bằng và đối ứng’, mà ngay trước mắt Việt Nam phải bảo vệ được thành quả xuất siêu khoảng ba chục tỷ đô la hàng năm vào thị trường Mỹ chứ không bị Trump cho dựng hàng rào bảo hộ thương mại để đánh tụt giá trị ấy xuống còn phân nửa hoặc chỉ còn một phần ba. Chỉ có thế mới níu kéo được chân đứng kinh tế, một cái chân của ngân sách quốc gia đã mấp mé bờ huyệt và do đó mới không khiến rường cột của chế độ chính trị ở Việt Nam khỏi bị gãy sụp quá nhanh.

P.C.D.

Mike Pompeo và Nguyá»…n Phú Trọng (phải) tại Hà Ná»™i, 8 tháng Bảy, 2018.   

Mike Pompeo và Nguyễn Phú Trọng (phải) tại Hà Nội, 8 tháng Bảy, 2018.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn