Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng

Vàng, nợ công và kỷ nguyên Tân Gilded – Hoa Kỳ dưới thời Trump và bài học từ lịch sử

Hoàng Anh Tuấn biên dịch 

(Theo bài phỏng vấn Giáo sư Niall Ferguson trên kênh “The Master Investor Podcast” với nhà báo Wilfred Frost, tháng 10 năm 2025)

Bài trả lời phỏng vấn rất đáng đọc – đối với các nhà nghiên cứu chiến lược, đầu tư và hoạch định chính sách – của một trong những nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất thế giới hiện nay.

Đâu mới là cuộc khủng hoảng kinh tế thực sự của Trung Quốc?

Zongyuan Zoe Liu, “China’s Real Economic Crisis,” Foreign Affairs, 06/08/2024

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Tại sao Bắc Kinh không chịu từ bỏ một mô hình thất bại?

Nền kinh tế Trung Quốc đang bế tắc. Sau quyết định của Bắc Kinh – đột ngột chấm dứt chính sách “zero COVID” hà khắc vào cuối năm 2022, nhiều nhà quan sát cho rằng động lực tăng trưởng của Trung Quốc sẽ nhanh chóng quay trở lại. Sau nhiều năm phong tỏa vì đại dịch khiến một số lĩnh vực kinh tế gần như đình trệ, việc đất nước mở cửa trở lại được cho là sẽ châm ngòi cho một sự phục hồi mạnh mẽ. Nhưng thay vào đó, sự phục hồi đã chững lại, với GDP tăng trưởng chậm chạp, niềm tin của người tiêu dùng sụt giảm, xung đột ngày càng gay gắt với phương Tây, và giá bất động sản lao dốc khiến một số công ty lớn nhất nước vỡ nợ. Vào tháng 7/2024, dữ liệu chính thức của Trung Quốc tiết lộ rằng tăng trưởng GDP đang tụt lại sau mục tiêu của chính phủ, khoảng 5%. Chính phủ cuối cùng đã cho phép người dân Trung Quốc rời khỏi nhà, nhưng họ không thể ra lệnh cho nền kinh tế trở lại sức mạnh trước đây.

Triển vọng kinh tế toàn cầu và Việt Nam năm 2024

Trần Quốc Hùng

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu được dự báo tăng trưởng chậm lại bởi nhiều yếu tố rủi ro bất định, nền kinh tế Việt Nam còn tồn tại những khó khăn riêng cản trở sự phát triển.

Còn đó những rủi ro bất định toàn cầu

Nền kinh tế toàn cầu bước vào năm 2024 với nhiều khó khăn tồn tại và thử thách nghiêm trọng. Mức tăng trưởng sẽ chậm lại, thấp hơn so với các thập kỷ trước vì nhiều lý do. 

Lý do thực sự đằng sau chủ nghĩa bảo hộ của phương Tây

Gideon Rachman, “The real reasons for the west’s protectionism,” Financial Times, 18/09/2023

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Mỹ và EU tin rằng không chỉ nền kinh tế mà cả sự ổn định chính trị và xã hội của họ đang bị đe dọa.

“Hãy trao đổi thương mại tự do với Trung Quốc và thời gian đang đứng về phía chúng ta”. Đó là quan điểm đầy tự tin của George W. Bush, cựu tổng thống Mỹ, trước khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2001. Một thế hệ sau, nhiều người ở phương Tây đã đi đến kết luận rằng, trên thực tế, thời gian đã đứng về phía Trung Quốc.

Quốc gia nào có thể thay thế Trung Quốc như một động cơ thúc đẩy kinh tế toàn cầu?

Cù Tuấn biên dịch bình luận chuyên sâu của New York Times

Trung Quốc rõ ràng đã yêu cầu các nhà kinh tế của mình ngừng bình luận – một chiếc garô chặn để giữ cho những tin tức xấu không bị rò rỉ ra ngoài. Đất nước này đang phải đối mặt với tình trạng giảm phát và có thể xảy ra suy thoái, gánh nặng nợ nần khổng lồ, năng suất lao động sụt giảm và tỷ lệ thanh niên thất nghiệp trên 20%. Bên ngoài một số ít thành phố giàu có, mọi thứ thậm chí còn tồi tệ hơn. Đầu tư nước ngoài đang sụp đổ, các dự báo tăng trưởng đang được điều chỉnh giảm xuống và sự phục hồi được mong đợi sau đại dịch đã không thành hiện thực.

Những dự báo dài hạn thậm chí còn nghiệt ngã hơn. Một vài năm trước, hầu hết các nhà bình luận kinh tế đều tin rằng họ đang theo dõi sự trỗi dậy của một đế quốc khổng lồ, thậm chí có thể là sự xuất hiện của một thế kỷ của Trung Quốc. Ngày nay, người ta thường nghe nói về sự suy giảm dân số, về GDP bình quân đầu người của Trung Quốc sẽ không bao giờ vượt qua được Mỹ và thực tế là về khả năng, với tất cả quy mô và sức mạnh của Trung Quốc, nền kinh tế của nước này cuối cùng có thể đi theo con đường của Nhật Bản, quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng khiến người Mỹ lo sợ trước khi rơi vào nhiều thập kỷ “mất mát”.

Kinh tế thế giới đối mặt thách thức lớn nhất kể từ Thế chiến II

Thảo Phương

Theo người đứng đầu IMF, xung đột Nga - Ukraine kéo tụt tăng trưởng toàn cầu, đẩy giá cả leo thang, khiến thế giới nghèo đi và đối mặt nhiều nguy cơ hơn.

Theo Financial Times, tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới diễn ra ở Davos (Thụy Sĩ), bà Kristalina Georgieva - Giám đốc điều hành Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) - cảnh báo rằng nền kinh tế toàn cầu có thể phải đối mặt với "thách thức lớn nhất kể từ sau Thế chiến II".

Theo bà Georgieva, xung đột Nga - Ukraine đã "tàn phá cuộc sống, kéo tụt tăng trưởng và đẩy lạm phát lên cao". Bà kêu gọi các quốc gia "không đầu hàng trước sức mạnh của sự chia rẽ địa - kinh tế". Bởi điều đó sẽ khiến thế giới nghèo đi và đối mặt nhiều mối nguy hơn.

Kinh tế thế giới có quay lại bình thường trong năm 2022?

Trần Hùng dịch từ Nguồn: “Will the world economy return to normal in 2022?”, The Economist, 8/11/2021.

Liệu tình trạng lạm phát đi kèm tăng trưởng đình trệ (stagflation) đang tác động lên nền kinh tế thế giới có kéo dài?

Trong suốt năm 2021, các ngân hàng trung ương và hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng các yếu tố khiến lạm phát tăng đi kèm tăng trưởng chậm sẽ chỉ mang tính tạm thời. Các nút thắt trong chuỗi cung ứng sẽ được khơi thông, giá năng lượng sẽ quay trở lại mặt đất, và công nhân ở các nước giàu trên thế giới đang không tham gia lực lượng lao động — vì những lý do không ai hiểu rõ — sẽ quay trở lại làm việc. Nhưng khi năm 2021 sắp kết thúc, các thị trường tài chính, công chúng và thậm chí chính các ngân hàng trung ương bắt đầu mất dần niềm tin.

Cơn tăng giá 300% của silicon gây thêm cú sốc cho nền kinh tế thế giới

Chánh Tài

Theo Bloomberg

(KTSG Online) – Silicon (hay còn gọi là silic), nguyên tố chiếm tỷ trọng dồi dào thứ 2 trong vỏ trái đất (chỉ sau oxy), đang trở nên khan hiếm, đe dọa một loạt ngành công nghiệp bao gồm linh kiện ô tô, chip máy tính, điện mặt trời và gây thêm một lực cản cho nền kinh tế thế giới.

Giá silicon tăng vọt do nguồn cung giảm mạnh sau khi Trung Quốc yêu cầu các nhà sản xuất cắt giảm sản lượng để tiết kiệm điện. Ảnh: Getty

Giá tăng hơn 300% chỉ trong chưa đầy 2 tháng

Silicon đã tăng giá hơn 300% chỉ trong chưa đầy 2 tháng khi nguồn cung giảm mạnh do chính sách hạn chế tiêu thụ điện ở những lĩnh vực phát thải nhiều carbon ở Trung Quốc, nhà sản xuất silicon lớn nhất thế giới.

Silicon, kim loại chiếm 28% trọng lượng của vỏ trái đất, là một trong những vật liệu cơ bản có nhiều ứng dụng nhất của nhân loại. Nó được sử dụng cho mọi thứ từ chip máy tính cho đến thủy tinh và linh kiện ô tô. Nó có thể được tinh chế thành một vật liệu dẫn nhiệt giúp chuyển ánh sáng mặt trời thành điện năng ở các tấm quang năng.

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: Dân chủ Xã hội và Xã hội Chủ nghĩa (Bài 25)

Đoàn Hưng Quốc

Người viết vốn dị ứng với xã hội chủ nghĩa và cảnh nhà nước lạm dụng quyền lực cho nên nghe đòi mở rộng vai trò của chính quyền để phục vụ xã hội là dán nhãn Mác-Xít theo cách nhìn nhà nước chẳng những không giải quyết mà còn tạo thêm vấn nạn (Government is not the solution to our problem, government is the problem – như Tổng Thống Ronald Reagan phát biểu). Tuy nhiên nghĩ lại thì oan uổng cho thành phần cấp tiến (progressive) khi một số đông trong đó vừa chống tư bản bất công lại chống độc tài cộng sản. Cho nên thiết tưởng cần phân biệt giữa hai mô hình Dân chủ Xã hội và Xã hội Chủ nghĩa, cộng thêm một khuôn mẫu mới là Xã hội Chủ nghĩa theo màu sắc Trung Quốc.

Mô hình Dân chủ Xã hội thường được gắn liền với kinh tế gia nổi tiếng John Manyard Keynes. Ông này sống vào đầu thế kỷ 20 nên chứng kiến cảnh Chủ nghĩa Tư bản phát triển quá độ dẫn đến chế độ thực dân, bất công xã hội và cuộc Đại Khủng Hoảng 1929. Keynes lại sang Nga nhìn thấy giáo điều Mác-Lenin chà đạp lên quyền tự do cá nhân và làm kiệt quệ nền kinh tế, rồi Đức với sự bùn nổ của tư tưởng Quốc Xã dẫn đến Thế chiến thứ hai thảm khốc. Từ đó Keynes đưa ra giải pháp nhà nước phải đóng vai trò tích cực nhằm ngăn ngừa những quá độ của tư bản, bằng không bất công kinh tế sẽ dẫn đến phẫn nộ và  trào lưu dân túy cùng mầm mống Cộng Sản hay Phát Xít đe doạ hủy diệt quyền tự do cá nhân. Nói cách khác, chính quyền cần mang đến cơ hội đồng đều về kinh tế (economic opportunities – khác với sang bằng giàu nghèo) thì mới bảo vệ được tự do. Nhà nước phải chống độc quyền (monopoly) phát triển dân sinh (giáo dục, y tế, quyền lợi lao động) tạo điều kiện để mọi người tìm ra được công ăn việc làm tốt (full employment) và chống đỡ nền kinh tế mỗi lần gặp khủng hoảng nhằm giảm thiểu tình trạng bất công và nghèo đói trước khi tâm lý phẫn uất lan tràn.

Kinh tế thời Covid-19: 'VN đừng mong đón đại bàng'

Getty Images

Việt Nam thông báo chính thức là không có một ca tử vong nào vì Covid-19.

Thế nhưng nền kinh tế lại đang gánh chịu thiệt hại to lớn, thất nghiệp cao vì dịch virus corona. Từ Florida, Tiến sỹ Phạm Đỗ Chí, cựu chuyên gia cao cấp Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), chia sẻ với BBC News Tiếng Việt những đánh giá của ông về viễn cảnh kinh tế Việt Nam, và hướng đi mà ông cho là phù hợp với tình thế hiện thời.

Tiến sỹ Phạm Đỗ Chí: Với thông báo chính thức về việc cho đến nay không có ca tử vong nào do Covid-19, Việt Nam đã đạt được uy tín trên thế giới về thành tích đối phó với đại dịch Covid-19, nhưng nền kinh tế xã hội lại lâm vào khủng hoảng trầm trọng không dễ gỡ.

Thứ nhất là vấn đề tăng trưởng GDP năm nay khó được đặt ra như mọi năm vì các ẩn số kinh tế mà ngay Chính phủ cũng không kiểm soát nổi, và số lượng thống kê GDP của VN vốn đã bấp bênh lại càng không chắc chắn trong năm nay và năm 2021.

Chi bằng sẽ không cần đặt ra mục tiêu GDP nữa, mà giải pháp là bắt tay vào hai vấn đề cốt lõi dưới đây.

Hai vấn đề chính: Thất nghiệp và Xuất khẩu bế tắc

Theo tin chính thức từ báo chí, số lao động thất nghiệp, nghỉ luân phiên hay giãn việc tại VN lên tới con số 7,8 triệu người tính đến cuối tháng 6.

Thế nhưng tình trạng thực sự còn căng thẳng hơn. Theo ước tính của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, là "gần 31 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc, giảm thu nhập..." Số người bị giảm thu nhập ước tính lên tới 57%. Số lao động mất việc tập trung vào các ngành xuất khẩu, nhất là trong công nghệ chế biến, và trong các ngành dịch vụ du lịch, hay các dịch vụ khác như buôn bán lẻ, vận tải kho bãi, hiệu ăn...

Vì vấn đề du lịch quốc tế còn rất phức tạp và phải chờ ít nhất đến cuối năm các đường giao thông quốc tế, nhất là từ Hoa Kỳ, nên VN đã bắt đầu bằng việc khuyến khích du lịch trong nước.

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: tại sao Mác vẫn chưa chết? (Bài 24)

Đoàn Hưng Quốc

Tư tưởng Mác phá sản. Chủ nghĩa Mác bị chôn vùi trong đám tro tàn lịch sử. Vậy mà Mác đang đội mồ sống dậy và trở nên thời thượng (fashionable) trong giới trí thức Tây Phương, khi báo chí mỗi ngày nêu nổi bật khoảng cách giàu nghèo (wealth gap) và bất công (inequality) xã hội. Giới cấp tiến mà tiêu biểu là Thomas Piketty (Pháp) hay Bernie Sanders (Mỹ) dù có hay không tự nhận là Mác-xít, tuy sự nghiệp chính trị chưa thành nhưng tư tưởng và trào lưu xã hội do họ vực dậy không hề suy giảm mà có khả năng làm thay đổi cấu trúc tư bản Âu-Mỹ trong vài thập niên sắp tới.

Căn bản của Mác là phản kháng chống lại những quá độ của chủ nghĩa tư bản. Cho nên vào đầu thế kỷ thứ 20 và 21 khi tư bản phát triển nhanh chóng dẫn đến hai cuộc Đại Khủng Hoảng 1929, 2008 cộng thêm nỗi bất mãn do chênh lệch giàu nghèo quá đáng thì tư tưởng của Mác lại trở nên thịnh hành. Nói cách khác, Mác và Tư Bản như Âm và Dương, Thiện và Ác, bóng đêm giữa ban ngày: khi tư bản lên đến tột đỉnh thì Mác lồm cồm trỗi dậy!

Chủ trương của Mác là dùng nhà nước để xây dựng bình đẳng kinh tế. Ở Âu-Mỹ ngày nay mọi người dân đều được bảo đảm mực sống tối thiểu và có quyền đi bầu nên không ai (hay chưa ai) hô hào cách mạng vô sản lật đổ dành chính quyền. Thay vào đó trào lưu Dân chủ Xã hội [1] dùng lá phiếu quần chúng để đưa nhà nước (thay vì tư nhân) nắm vai trò trọng tâm trong kinh tế. Nhưng nhà nước nắm giữ kinh tế tức là có thêm quyền lực; quyền lực tăng thì cơ nguy lạm dụng quyền hành cũng tăng. Cho nên dù trí thức cánh tả có tự xem là cấp tiến (liberal) đi chăng nữa thì chính họ lại cấm đoán tư tưởng tự do (liberty) nếu mang quan điểm đối nghịch với mục tiêu bình đẳng tuyệt đối. Dùng thí dụ cho dễ hiểu, nếu tôn giáo và văn hóa ngăn cản hôn nhân đồng tính thì cánh cấp tiến đả phá tôn giáo và bôi nhọ truyền thống. Dù chưa nắm được chính quyền nhưng cánh tả đã áp đặt bình đẳng tuyệt đối - nay không chỉ giới hạn trong kinh tế - bằng cách đe dọa và kiểm duyệt quyền tự do ngôn luận trên báo chí và học đường.

Nhà nước hứa hẹn sẽ mang lại bình đẳng bằng cách bảo đảm y tế, giáo dục, nhà ở và thu nhập cho mọi người: health care for all, education for all, basic housing for all, universal basic income for all. Vì vậy đối với người viết FOR ALL không gì khác là tiếng lóng (codeword) của xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội đặt trọng tâm vào phân phối của cải (wealth distribution) thay vì tạo ra của cải (wealth creation) khiến xã hội trở nên nghèo khó.

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: các nước đang mở mang và đại dịch Vũ Hán (Bài 21)

Đoàn Hưng Quốc

Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.

  1. Từ 2008 đến nay Trung Quốc là đầu tàu phát triển cho nhiều nước trên thế giới. Thương mại lên trên 1 ngàn tỷ USD thu mua khoáng sản từ Úc và Phi Châu, dầu hỏa ở Nga và Trung Đông và lương thực của Á Châu và Nam Mỹ (để so sánh thì Hoa Kỳ phung phí 4 ngàn tỷ USD vào chiến trường Afghanistan và Iraq mà không được gì hết!) Nay kinh tế Âu-Mỹ-Nhật-Hoa đều chậm lại nên không thể tìm ra nguồn tiền mới tiếp tục cho tăng trưởng.

  1. Do lãi xuất ở Âu-Mỹ-Nhật cực thấp nên một khoảng tiền trên thế giới đổ vào các nước đang mở mang cho vay mượn tìm phần lời cao. Nợ nước ngoài thường tính bằng Euro và USD. Trong số này thì nợ từ Trung Quốc tăng nhanh nhất với kế hoạch “Vành Đai Con Đường” chiếm trên 200 tỷ USD nhưng với sổ sách và điều kiện cho vay không minh bạch. Khi khủng hoảng do ôn dịch Vũ Hán xảy đến thì USD trở nên khan hiếm, đô-la Mỹ tăng giá trong lúc thu nhập của các quốc gia đang mở mang lại sa sút. Tình trạng này khiến nhiều nước nghèo khó không còn khả năng trả nợ.

  1. Chiến tranh dầu hỏa giữa Nga, Saudi và công nghệ dầu đá phiến ở Mỹ bùng nổ ngay vào lúc ôn dịch Vũ Hán hoành hành khiến giá dầu thô sụp đổ. Hai nước Nga và Saudi có khoảng dự trữ ngoại tệ trên dưới 500 tỷ USD đủ để chịu lỗ trong một thời gian; Hoa Kỳ có thể in tiền cứu trợ công nghệ dầu đá phiến vì lý do an ninh quốc gia. Ngược lại kinh tế Iran và Venezuala lệ thuộc phần lớn vào dầu hỏa nên sẽ lâm nguy; Brazil, Mễ Tây Cơ, Ai Cập, Sudan, Iraq v.v… đều là những nước bán dầu đều bị thiệt hại nặng nề.

  1. Những quốc gia với quỹ dự trữ ngoại tệ dồi dào như Nam Hàn, Đài Loan, Nga, Saudi, Việt Nam, v.v… có thể gồng mình gánh chịu trong khi nhiều nước còn lại (trong đó có Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp và những quốc gia nghèo khó) sẽ rơi vào tình trạng xáo trộn cả kinh tế lẫn chính trị. Giá dầu rẻ mạt phần nào giúp đỡ dân nghèo, nhưng do nhu cầu tiêu thụ sụp đổ trên toàn thế giới trong khi khuynh hướng bảo hộ mậu dịch sẽ gia tăng vào những năm sắp tới nên việc thúc đẩy xuất cảng nhằm gây dựng quỹ dự trữ sẽ trở nên khó khăn.

  1. Ngành du lịch sụp đổ ảnh hưởng nặng nề đến nhiều nước trong đó Pháp, Ý, Thái Lan, Việt Nam, v.v…

  1. Đại dịch nếu bùng phát ở Phi Châu, Nam Mỹ và Nam Á sẽ là một thảm họa nhân loại vì những nước này vừa không đủ tiền lại không có cơ sở y tế để chống trả. Biện pháp cách ly ngăn ngừa dịch bệnh bắt đầu mang lại nạn đói tập thể do không có công ăn việc làm ở nhiều quốc gia. Ngay trong hoàn cảnh sáng sủa nhất ôn dịch không lan rộng nhưng hàng trăm triệu hay tỷ người trên thế giới vẫn rơi trở lại vào cuộc sống bần cùng do tác động kinh tế dây chuyền.

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: nước Mỹ rạn nứt (Bài 10)

Đoàn Hưng Quốc

Bài này tóm lược những phân tích trước đây về 3 cách nhìn khác nhau đối với khoảng cách giàu nghèo trong nước Mỹ.

Cách mổ xẻ thứ nhất, là vạch một đường phân chia giữa nhóm siêu giàu (super rich - có thu nhập trung bình 26 triệu USD) với 99.99% dân chúng còn lại. Trong số này gồm các tỷ phú Bill Gates (Microsoft) và Jeff Bezos (Amazon) vốn đã lập nên sự nghiệp vĩ đại từ bàn tay trắng, nhưng ngược lại cũng có nhiều chủ ngân hàng suýt làm sụp đổ nền kinh tế Mỹ năm 2008 mà không hề bị phạt vạ; hoặc các CEO lương bổng hàng chục hay trăm triệu USD trong khi nhân viên thất nghiệp và hãng xưởng di dời ra ngoại quốc.

Cách nhìn này dễ gây khích động trong quần chúng. Tuy nhiên Hoa Kỳ là một nước tự do nên phải chấp nhận khoảng cách giàu nghèo cùng những ưu điểm và khuyết điểm của chủ nghĩa tư bản. Nhà giàu như Bill Gates hay Jeff Bezos thuộc loại “tư bản tốt” vì đã tạo ra của cải và hàng trăm ngàn công ăn việc làm với đồng lương lớn trong nước Mỹ nên cần được khuyến khích thay vì bị ganh ghét và đòi phải trừng phạt theo như quan điểm của cánh tả Bernie Sanders và Elizabeth Warren. Ngược lại nhà nước cần thay đổi mô hình kinh tế để thúc đẩy hãng xưởng không chạy theo lợi nhuận trước mắt mà phải đầu tư lâu dài nhằm tạo công ăn việc làm trong nước Mỹ, đồng thời lấp đầy các lổ hổng thuế má nhằm ngăn chặn kẻ quyền thế làm giàu bất lương cho dù là không phạm phát.

Cách mổ xẻ thứ nhì, là vạch một đường thẳng phân chia giữa 15% trí thức trung lưu trở lên và 85% dân chúng còn lại. Thành phần trí thức trung lưu gồm các chuyên viên có trình độ đại học và thích ứng với toàn cầu hóa nên lương cao, lại sở hữu chứng khoáng và nhà đất ở những vùng tăng giá nhanh như Cali, Seattle, New York, Washington DC. Con cái họ sẽ vào các đại học nổi tiếng nên có tương lai sáng lạng. Không ít các gia đình di dân gốc Ấn, Hoa và Việt Nam nằm trong số 15% trí thức trung lưu này. Ngược lại 85% còn lại trong nước Mỹ, hoặc không có bằng đại học hay có loại bằng cấp khó tìm việc làm nên thành công nhân hay nhân viên cấp thấp trong những ngành nghề vốn bị đe dọa bởi toàn cầu hóa và tự động hóa. Công ăn việc làm bấp bênh, lương bổng ngay cả đủ sống nhưng vẫn chật vật vì bảo hiểm y tế, tiền giữ trẻ và giá nhà tăng nhanh. Nhiều gia đình trong số này chỉ lo sống qua ngày mà không chuẩn bị cho lúc tuổi về hưu hay đại học cho con cái, cho nên họ không tin rằng tương lai sẽ khá hơn cuộc sống hiện thời. Tình trạng này dẫn đến phân biệt đẳng cấp vì lớp 85% không thấy có cơ hội tiến thân như thiểu số 15% còn lại. GDP Mỹ tăng liên tục trong suốt 30 năm qua nhưng mức thu nhập của đa số dân chúng lại không tăng, tức là thành quả kinh tế rơi trọn vào thượng tầng hưởng lợi. Nhiệm vụ của nhà nước là tạo cơ hội (opportunity) nhất là về giáo dục để bắt nhịp cầu cho đa số 85% tiến lên, nhưng đồng thời lại không đè gánh nặng thuế má thành cản trở sự phát triển của thiểu số 15% dẫn đầu.

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: đi tìm nguyên nhân khoảng cách giàu nghèo trong xã hội (Bài 5)

Đoàn Hưng Quốc

Kinh tế gia gốc Á Châu Richard Koo trong quyển Mặt trái của kinh tế vĩ mô và tương lai của Toàn cầu hóa (The Other Half of Macroeconomics and the Fate of Globalization) nhận xét rằng một nền kinh tế thường trải qua 3 giai đoạn trong quá trình phát triển: tiền công nghiệp, công nghiệp và sau đó là…bị rượt (pursued phase)! Những trường hợp tiêu biểu gồm Hoa Kỳ bị Nhật Bản đuổi theo vào thập niên 1970-80, hay Trung Quốc hiện chạy đua với khối Tây Phương. Mỗi giai đoạn trong tiến trình nói trên làm thay đổi mức cung cầu về lao động khiến giới công nhân có thế mạnh hay yếu khi tranh đấu đòi tăng lương bổng và chia sẻ thành quả kinh tế trong xã hội, theo đó hố sâu giàu nghèo sẽ tăng hay giảm.

Vào giai đoạn tiền công nghiệp dân chúng ở nông thôn đổ dồn về thành phố để tìm công ăn việc làm trong các hang, xưởng như trường hợp Việt Nam và Trung Quốc hiện thời hay Hoa Kỳ và Âu Châu ở cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Mức cung lớn hơn cầu cho nên giới lao động ở vào thế yếu khi tranh đấu đòi tăng bổng lộc, dù có biểu tình hay đình công thì lương bổng và các quyền lợi an sinh xã hội (y tế, nhà ở, giáo dục con cái, hưu trí, v.v…) vẫn không được cải tiến xứng đáng so với nhịp độ tăng trưởng của GDP. Do lương trả công nhân ít trong khi nhu cầu về vốn đầu tư và đất đai đô thị nhảy vọt nên tài sản của giới chủ và thành phần có nhà đất ở thành thị tăng nhanh so với thu nhập của người lao động, từ đó tạo ra hố sâu giàu nghèo trong giai đoạn tiền công nghiệp.

Sau đó nền kinh tế tiến lên khúc quanh từ tiền công nghiệp sang công nghiệp. Lượng người ở thôn quê và thành thị trở nên cân xứng cho nên nhân lực dồn vào thành phố để tìm việc trong hãng xưởng giảm dần (mốc điểm này còn gọi là Lewis Turning Point ,viết tắt là LTP). Trung Quốc hiện đang ở khúc ngoặc LTP. Mức cung ít lại nên giới lao động ở thế mạnh khi đòi tăng lương và bổng lộc (y tế, nhà ở, giáo dục con cái, hưu bổng, môi trường, v.v…) khiến thành quả kinh tế được phân phối đồng đều hơn giữa chủ và thợ. Khoảng cách giàu nghèo giảm bớt trong giai đoạn công nghiệp như từng xảy ra tại Âu-Mỹ những năm 1950-70.

Giai đoạn công nghiệp cũng là lúc mà giới công nhân Tây Phương tiến lên giai cấp trung lưu. Tại Hoa Kỳ vào thập niên 1950-1970 một công nhân không có bằng đại học nhưng làm việc tại các hãng Ford, GM, v.v… vẫn được hưởng lương cao, việc làm bảo đảm trọn đời, tiền hưu trí, có bảo hiểm y tế và đủ khả năng mua nhà và xe hơi. Do không thể nào trong một nước ai cũng có bằng đại học cho nên nhiều kinh tế gia đã nhận xét rằng các công xưởng sản xuất (manufacturing) chính là cỗ máy đào tạo giai cấp trung lưu – công nhân, trong khi giới trung lưu là nền móng của xã hội dân chủ.

Mốc chuyển từ tiền công nghiệp sang công nghiệp cũng chính là lúc mà người dân ở Đài Loan và Nam Hàn tranh đấu thành công đòi dân chủ vào cuối thế kỷ 20. So với các cuộc cách mạng khác trong cùng khoảng thời gian ở Phi Luật Tân, Indonesia và Argentina thì nền dân chủ của Đài Loan và Nam Hàn vững chắc hơn nhiều khi được hậu thuẫn bởi một tầng lớp trung lưu lớn mạnh thay vì chỉ đơn thuần là các phong trào quần chúng bộc phát như tại các nước còn lại.

Nhưng nền kinh tế không dừng lại trong giai đoạn công nghiệp mà theo nhịp độ toàn cầu hóa bị … rượt đuổi. Các quốc gia chậm tiến dựa vào mô hình phát triển của những nước đi trước để chạy theo. Công xưởng sản xuất ở Tây Phương di dời sang Đông Á để xử dụng nguồn nhân công rẻ (so với giá lao động cao ở Âu-Mỹ) và luật lệ lỏng lẻo.

Không thể phủ nhận lợi ích vô cùng to lớn của toàn cầu hóa vốn đã nâng cao sức tiêu thụ và đem hàng tỷ con người ra khỏi ngưỡng cửa nghèo khó trên toàn thế giới. Toàn cầu hóa, trên lý thuyết, là sự tái phân phối dây chuyền từ sáng tạo (innovation), thiết kế (design), sản xuất (manufacturing), phân phối (distribution) và tiêu dùng (consumption) cho phù hợp với lợi thế của từng quốc gia nhằm hữu hiệu hóa nền kinh tế toàn cầu. Nhưng nếu chỉ tái phối trí trong phạm vi của một quốc gia thì dân chúng ở những vùng bị mất việc sẽ di cư sang các địa phương có công ăn việc làm mới và tốt hơn. Còn với toàn cầu hóa khi sản xuất di dời sang các nước như Trung Quốc hay Việt Nam thì không thể nào một người công nhân Âu-Mỹ theo đó dọn nhà qua Châu Á để đi tìm việc!

Trở lại với các nước công nghiệp bị rượt đuổi, trước đây là Hoa Kỳ bị Nhật Bản rượt vào thập niên 70-80, rồi Nhật bị Nam Hàn – Đài Loan đuổi, nay đến lúc Trung Quốc chạy đua với Âu-Mỹ-Nhật, Hoa Lục lại sẽ bị các nước Đông Nam Á và Ấn Độ rượt. Điểm đáng nói là tình trạng đuổi rượt ngày càng gấp rút như Việt Nam chưa hoàn thành công nghiệp hóa đã bị Bangladesh rượt trong các lãnh vực may mặc và lắp ráp, nhưng đây sẽ là đề tài của một bài khác về cuộc chạy đua xuống đáy vực – race to the bottom - lại cũng liên hệ đến hố sâu giàu nghèo nhưng ở các nước đang mở mang.

Trong giai đoạn đuổi rượt hiện tại khiến nhiều công xưởng sản xuất ở các nước công nghiệp bị di dời sang những quốc gia đang mở mang. Nền dân chủ ở Tây Phương đánh mất đi cỗ máy sản xuất thành phần trung lưu – công nhân không có bằng đại học. Mức cầu giảm nên giới lao động Âu-Mỹ nằm trong thế yếu khi đòi tăng lương bổng hay để bảo vệ các bổng lộc trước đây như tiền hưu trí (pension). Rõ ràng dễ mất việc thì chẳng ai hó hé đòi tăng lương!

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: Lãi suất âm

(Bài 1)

Đoàn Hưng Quốc

Lãi suất tại nhiều nước gồm Đức, Nhật, Thụy Điển, Đan Mạch hiện nằm ở mức âm hay gần con số không. Tổng Thống Trump vào tháng 11/2019 lại đòi Mỹ phải hạ tiền lời xuống mức tương đương, trong khi cựu Thống Đốc Quỹ Dự Trử Liên Bang Alan Greenspan tiên đoán vào tháng 9/2019 rằng Hoa Kỳ rồi cũng sẽ tiến đến lãi suất âm.

Lãi suất âm hiểu đơn giản thay vì con nợ trả phân lời để vay mượn như trước đây thì nay chính chủ nợ lại phải đưa tiền năng nỉ cho các nước công nghiệp và dân chúng Âu-Mỹ đi vay. Chủ nợ ở đây gồm cả tư nhân, các quỹ hưu trí và bão hiểm cùng những nước đang mở mang muốn mua nợ công của các nước phát triễn hay cần bỏ tiền tiết kiệm vào các ngân hàng Tây Phương. Chủ nợ cũng lại chính là Ngân Hàng Trung Ương hạ thấp phân lời để thúc giục các ngân hàng con cho vay không lời hay chịu lổ để khuyến khích tư nhân mượn tiền đầu tư hoặc tiêu xài. Một thí dụ là ngân hàng Đan Mạch cho mượn tiền mua nhà với lãi suất âm 0.5% mỗi năm, có nghĩa nếu mượn 100 đồng thì sau 10 năm chỉ cần trả 95 đồng cho chủ nợ!

Nhiều người cho rằng tình trạng kỳ quặc này không hề có trong suốt 2000 năm Tây Lịch nên nếu kéo dài có thể làm đảo lộn hệ thống tư bản ở Âu-Mỹ, nhưng không ai biết sẽ đảo lộn như thế nào vì chưa từng xảy ra! Động cơ của tư bản là để dành tiền sau đó cho vay hay đầu tư để kiếm lời. Lãi xuất âm xảy ra khi những nước công nghiệp không đủ doanh nghiệp hay tư nhân mượn tiền đầu tư (do thiếu cơ hội đầu tư) hoặc tiêu xài (vì muốn dành giụm cho ngày mai.) Tình trạng này xảy ra có nhiều nguyên do:

  1. Nhiều doanh nghiệp hay tư nhân còn đang lo trang trải nợ nần trước đây do hệ lụy của quả bóng tài chánh bùng nổ năm 2007 ở Mỹ và 2010 ở Âu Châu – các chuyên gia gọi đây là balance sheet recession;
  2. Tình trạng lão hóa ở Đức, Nhật, v.v… khiến người già ít có nhu cầu tiêu thụ so với thời còn trẻ;
  3. Thặng dư tiết kiệm (savings glut) từ các nước đang mở mang vốn chú trọng vào xuất cảng nhằm thu vào ngoại tệ để rồi sau đó mua nợ công của Hoa Kỳ và Âu Châu để (a) kềm giá đồng bạc so với USD hay Euro (b) dự phòng trường hợp chảy máu ngoại tệ hay đầu tư ngoại quốc tháo vốn (c) đây là hai nơi gởi tiền an toàn;
  4. Ngân Hàng Trung Ương ở Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản liên tục hạ lãi suất đồng thời bơm nhiều khoản tiền khổng lồ để kích cầu từ năm 2008 đến nay.
  1. Ai cũng cần có chổ an toàn để giữ tiền. Nếu chỉ 100 đồng thì bỏ túi, 10 ngàn đem giấu dưới gầm giường còn 100 triệu phải gởi ngân hàng do sợ bị cướp. Tư nhân là vậy nhưng với quốc gia thì chỉ có ít chỗ gởi tiền an toàn như nợ công của Mỹ. Một phần tiền tiết kiệm có thể dành mua vàng nhưng vàng không đủ để bán và chưa chắc giá vàng tăng nhanh hơn đô-la, cho nên tư nhân, các quỹ hưu trí và ngoại tệ dự trữ của các nước đang phát triển gồm cả Trung Quốc cùng các nước Đông Á và Trung Đông phải tiếp tục cho Hoa Kỳ vay mượn với giá rẻ mạt cho dù Mỹ đang mang núi nợ khổng lồ.

Tiền bạc ứ đọng (!) do quá ít tư nhân vay mượn đầu tư hay tiêu xài khiến giá cả và lạm phát không tăng mặc dù Ngân hàng Trung ương Âu-Mỹ đã nhiều lần hạ thấp phân lời. Tình trạng này ở Tây Phương gọi là suy trầm có hệ thống (secular stagnation) dẫn đến nhiều sự mất cân đối trong xã hội:

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn