Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Châu Trinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Châu Trinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Khai Dân trí – Con đường duy nhất còn lại

Trần Huỳnh Duy Thức

Có những tư tưởng không bao giờ cũ.

Chỉ có con người là chưa lớn lên để hiểu hết giá trị của nó.

Hơn một thế kỷ trước, Phan Châu Trinh đã nhìn thấy điều mà đến hôm nay thế giới đang phải thấm thía: Một dân tộc không thể được giải phóng bằng quyền lực, mà chỉ có thể được giải phóng bằng sự thức tỉnh của chính con người.

Chuyện thêm về Phan Châu Trinh*

Thái Hạo

Có lẽ phần lớn người Việt mình đến nay vẫn không thực sự biết Phan Châu Trinh là ai. Nhân 100 năm ngày mất của nhà chí sĩ yêu nước có óc khai sáng lớn nhất Việt Nam thế kỷ 20, xin trích một lá thư Nguyễn Tất Thành gửi cho cụ:

Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Phan Châu Trinh (24/3/1926 - 24/3/2026)

Nguyên Ngọc

24-3-2026

Ngày 24/3/2026, chúng ta có một kỷ niệm lớn: 100 năm ngày mất của Phan Châu Trinh và mấy ngày sau là đám tang vĩ đại của ông mà Nguyễn Ái Quốc, trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản hồi đó, đã viết: “Trong lịch sử người An Nam chưa hề được chứng kiến một sự kiện to lớn như vậy bao giờ…”.

Nếu Phan Châu Trinh…

Nguyễn Đình Cống

1. Vào đề

Có nhiều bài viết ca ngợi tầm nhìn, tư tưởng của Phan Châu Trinh (PCT) với khẩu hiệu KHAI DÂN TRÍ, ChẤN DÂN KHÍ, HẬU DÂN SINH. Gần đây tôi để ý đến hai bài có những ý mới lạ. Đó là bài của TSKH Nguyễn Quang A: “Vì sao PCT chưa thành công” và bài của TS Hà Sĩ Phu “Nhà cách mạng PCT như tôi đã hiểu” (1).

Nhà cách mạng Phan Châu Trinh như tôi đã hiểu

(Nhân ngày giỗ thứ 97 cụ Phan Châu Trinh 24/3/2023)

Hà Sĩ Phu

Ngày 21/3/2006 báo Nhân dân đã đăng một bài của nhà văn Nguyên Ngọc, tán thành ý kiến của 2 người đồng chí thân thiết nhất của Phan Châu Trinh (PCT) là Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý cáp, rằng “PCT là NHÀ CÁCH MẠNG ĐẦU TIÊN của VN”, chứ không chỉ là nhà giáo dục, nhà văn hóa, nhà yêu nước hay chiến sĩ giải phóng dân tộc… như nhiều người quan niệm [1].

Thổi bùng lại ngọn lửa Phan Chu Trinh

Lê Thân – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng

Bất cứ nhà cách mạng nào muốn vận động làm thay đổi vận nước cũng đều phải đặt cho mình 3 câu hỏi cơ bản:

- Một là, mục đích cuối cùng là gì, và để đạt được mục đích, từng giai đoạn cần phải tiến hành như thế nào?

- Hai là, lực lượng nào là chủ lực của cuộc cách mạng này?

- Ba là, thực hiện cuộc cách mạng này bằng phương pháp nào để có thể đem lại hiệu quả cao nhất với cái giá phải trả thấp nhất (có nghĩa không cần hoặc ít hi sinh nhân mạng, tài lực vật lực)?

Như chúng ta đều biết, khi Pháp xâm lược Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX cũng là lúc Việt Nam đang còn rất lạc hậu so với thế giới, các vua triều Nguyễn còn phải cầu viện triều đình Nhà Thanh giúp chống Pháp trong khi chính nước Trung Hoa cũng đã bị xâu xé chà đạp bởi các cường quốc phương Tây! Pháp xâm lăng Việt Nam là hành động xấu nhưng một mặt khác của hành động thực dân này là tác dụng khách quan đem lại các phương tiện của nền văn minh và lối sống văn hóa mới của phương Tây vào làm thay đổi một xứ sở Việt Nam đang chìm đắm trong vòng tăm tối lạc hậu của chế độ phong kiến.

Nói cách khác, Pháp đặt nền cai trị ở Đông Dương (bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia), và trước hết để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa vì quyền lợi thực dân, họ cũng đồng thời mang lại cho dân bản xứ các lợi ích và điều kiện sinh hoạt tốt hơn xưa gấp bội, như hệ thống đường sá cầu cống hiện đại (đường nhựa, đường xe lửa, đường hàng không…), một nền y tế và giáo dục mới, với các trường/ viện nghiên cứu khoa học trên đủ mọi lĩnh vực (cơ khí, nông nghiệp, y học, mỹ thuật, báo chí, xuất bản, các khoa học xã hội nhân văn và tự nhiên khác…), kể cả những tư tưởng - học thuyết chính trị - xã hội về nhân quyền, dân quyền và thể chế dân chủ tự do với bản hiến pháp và hệ thống tổ chức chính trị tam quyền phân lập, cũng được du nhập phổ biến, thông qua sách vở viết bằng tiếng Pháp hoặc qua những bản dịch chữ Hán của Trung Quốc mà các nhà nho ta tìm đọc để mưu cầu việc canh tân đất nước và đấu tranh giành lại chủ quyền cho dân tộc. Mãi cho đến nay, nhiều người vẫn còn đang nói đến một thế hệ Việt Nam vàng, trong đó nở rộ một tầng lớp trí thức mới có tinh thần yêu nước và trình độ chuyên môn vững vàng vốn được đào tạo không đâu khác hơn mà chính là từ nền Tây học do thực dân Pháp đưa vào.

Về nguồn gốc chủ nghĩa cộng hòa Việt Nam. Lưu thông toàn cầu và các mối quan hệ thuộc địa

Christopher Goscha
Minh Toàn dịch văn bản chính
Nguyên Ngọc biên tập, dịch và bổ sung các chú thích

Lời giới thiệu:

Hôm nay, 24 tháng 3 năm 2020, là vừa đúng kỷ niệm 94 năm ngày mất của Phan Châu Trinh, một nhân vật đặc sắc và rất độc đáo của lịch sử Việt Nam cận đại. Huỳnh Thúc Kháng, một trong những người đồng chí gần gũi và thân thiết nhất của Phan Châu Trinh đã gọi ông là “nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam”. Còn Christopher Goscha, học giả uyên bác ở Đại học Québec, Canada, chuyên gia về Đông Nam Á, Đông Dương và Việt Nam, trong công trình công phu và sâu sắc “Về nguồn gốc chủ nghĩa cộng hòa Việt Nam” mà hôm nay Viện Phan Châu Trinh mong muốn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc, thì đặt câu hỏi: “Có phải Phan Châu Trinh là nhà Cộng hòa đầu tiên của Việt Nam?”. Hỏi như thế, tức cũng là đã trả lời. Như vậy, cách nay hơn một thế kỷ, Phan Châu Trinh là người Việt Nam đầu tiên, sớm một cách khác thường, đã vươn đến những tư tưởng tiến bộ nhất của nhân loại, và tha thiết, kiên định coi đó là con đường duy nhất đúng để thật sự giải phóng cho dân tộc, giải phóng căn bản và triệt để nhất cho con người Việt Nam.

Những éo le khắc nghiệt của lịch sử đã đưa chúng ra đi theo một lựa chọn khác, một con đường khác, cho đến tận một hôm nay vẫn còn biết bao rối rắm, nhọc nhằn.

Có thể vì vậy mà, thêm một lần nữa, cố gắng hiểu thêm, hiểu thấu, hiểu cho đến nơi Phan Châu Trinh, khám phá của ông, tư tưởng của ông, như lần này C. Goscha giúp đã đi thêm một bước, vẫn là chuyện còn rất thời sự.

Viện Phan Châu Trinh
Hội An – Quảng Nam

Dường có xu hướng đề cao quá mức sự quan trọng của véctơ "hiện đại của thực dân" trong việc phổ biến tư tưởng cộng hòa ở Việt Nam, như thể sức mạnh thực dân một mình nó đã có thể cùng lúc đem lại vừa sự thống trị lẫn phương tiện giải phóng. Bằng cách quay trở về khoảng thời gian dài lâu của chu trình dịch thuật và phổ biến các văn bản phương Tây đến từ Trung Quốc và Nhật Bản, tác giả cho thấy sự truyền bá tư tưởng cộng hòa ở Việt Nam đã đi theo những hành trình phức tạp hơn ta nghĩ, và có lẽ có thể mở ra những sự thực lịch sử khác.

Phan Châu Trinh người Việt Nam và Ferhat Abbas người Algérie chưa từng gặp nhau. Trinh xuất thân trong một gia đình quan lại. Khi cha mất, trong thời kỳ chiến tranh Pháp-Việt những năm 1880, ông chuyên tâm cho việc học với hy vọng ra làm quan cho triều đình Việt Nam dưới sự bảo hộ của Pháp. Abbas cũng là con một quan chức hành chính, gia đình ông đã khốn đốn trong các cuộc nổi dậy chống thực dân những năm 1870. Thoạt tiên ông học trong các trường thuộc địa trước khi tiếp tục việc học ở Đại học Alger. Ông trở thành dược sĩ, rồi dấn thân vào chính trị. Sách sử Việt Nam và Algérie ca ngợi hai con người này là những nhân vật yêu nước lỗi lạc, họ đúng là như thế. Tuy nhiên, khởi đầu sự nghiệp của họ, cả hai thiên về chính sách hợp tác với Đệ tam Cộng hòa Pháp trong mục đích phổ biến tư tưởng cộng hòa, đề cao các thiết chế dân chủ và bình quyền trong đất nước mình. Cả hai ban đầu không bênh vực cho sự nổi dậy chống thuộc địa.

Làm sao và khi nào những tư tưởng cộng hòa đã đến được với họ? Chúng đi qua những hành trình và những trung gian nào? Trong trường hợp Việt Nam, ta có lẽ bị cám dỗ trả lời bằng một sự hiển nhiên: đó là qua ngả thực dân, qua các trường Pháp-bản xứ, qua sách giáo khoa của thực dân, qua việc xuất bản của thực dân, tóm lại là qua "sự hiện đại" được đưa vào trong lòng xã hội Việt Nam. Không chối bỏ sự quan trọng của nhân tố này, nhưng cũng không nên vì thế phóng đại sự trung chuyển của thuộc địa, vì mọi thứ không phải đều đến từ nước Pháp. Khác Ferhat Abbas, Phan Châu Trinh không rành tiếng Pháp. Ông chưa từng theo học trường Pháp. Ông rất kém tiếng Pháp, ông không hề đi học ở một trường Pháp, ông diễn đạt tư tưởng của mình bằng chữ Hán, không bao giờ bằng tiếng Pháp, và hiếm khi bằng tiếng Việt được viết bằng chữ latinh, tức chữ quốc ngữ. Bất chấp việc người Pháp đã định cư ở Đông Dương khi bước sang thế kỷ 20, Phan Châu Trinh tiếp tục sống theo nhịp điệu của nền văn minh Đông Á mà nước ông thuộc về từ nhiều thế kỷ. Trước khi đến Paris năm 1909[1], đầu tiên ông đến thăm Trung Quốc và Nhật Bản để học hỏi chủ nghĩa cải cách Châu Á và những tư tưởng mới đến từ thế giới Đại Tây Dương.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn