Hiển thị các bài đăng có nhãn 30/4. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 30/4. Hiển thị tất cả bài đăng

Việt Nam Cộng hòa lừng lững đi vào lòng đất nước

Trần Doãn Nho

1.

30/4/1975, Việt Nam Cộng hòa (VNCH)[1] tức tưởi chết!

Đọc được từ một email tình cờ lạc vào inbox tôi:

“Còn nhớ trưa ngày 30/4/1975 dưới bầu trời u ám như muốn đổ lệ, tôi đứng ngay cổng xe lửa số 6 trên đường Trương Minh Giảng - Phú Nhuận. Lúc đó lính Cộng hòa đã trút bỏ quần áo đi bộ từng đoàn thất thểu. Súng ống, ba-lô, quân phục họ vất đầy lề đường. Xe tăng và các binh đoàn Motolova của Cộng sản đã tràn vào Thủ đô Sài Gòn, chạy rầm rầm hướng về Bộ tổng Tham mưu. Chung quanh ai cũng hốt hoảng lo tìm đường chạy về nhà, giờ này đi di tản kể như đã quá trễ. Lâu lâu lại thấy một vài đứa khốn nạn Cách mạng 30/4 đeo băng đỏ ngồi trên xe Jeep cầm súng chĩa lên trời, chúng bắn từng tràng đạn chào mừng ngày Giải phóng. (…) Sau ngày 30/4 vào khoảng tháng 5 khi có chiến dịch Bài trừ văn hóa đồi trụy Mỹ Ngụy, có một vụ chấn động Sài Gòn là vụ nổ ở một tiệm cho mướn sách cũ. Chủ tiệm lùa hết bọn đeo băng đỏ vào trong rồi mở kíp lựu đạn tự sát cho dính chùm. Nghe đâu chết vài mống Cách mạng 30/4, ông chủ cũng chết. Tiệm này nằm trong phường 10, quận Phú Nhuận (chung với phường của nhà mình bên đường Thiệu Trị - Nguyễn Huỳnh Đức). Còn một vụ khác vào khoảng năm 1976, có một gia đình bên khu đường rầy xe lửa hướng đi ra Cống Bà Xếp. Gia đình này có hai vợ chồng và tám đứa con. Vì căm phẫn chế độ Cộng sản, họ đã tìm ra đường thoát. Hôm đó, họ nấu một nồi cháo vịt, bỏ thuốc giết chuột vô, cả nhà cùng ăn chung bữa cuối cùng rồi nắm tay nhau chết hết.[2]

Đọc được từ một nữ bộ đội miền Bắc, sau này là nhà văn nổi tiếng Dương Thu Hương: “Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ”.[3]

2.

Chao ôi, đã bốn mươi lăm năm rồi kể từ cái ngày tang thương 30/4/1975!

Trong những ngày này, khi tất cả chúng ta ngậm ngùi nhớ lại thời điểm bi thảm đó, thì trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, chính quyền Cộng sản Việt Nam đang cố gắng vô hiệu hóa Công hàm nhượng bộ Trung Quốc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 bằng cách khẳng định tính cách hợp pháp của chế độ VNCH trong cuộc đấu tranh pháp lý giành lại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua hai Công hàm 257-HC năm 2016[4] và A/72/692 năm 2018 do họ gửi cho Liên Hiệp Quốc.[5] Xin dẫn một trích đoạn liên hệ: “Từ khi quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam năm 1956, chính quyền VNCH đã tiếp quản quần đảo Trường Sa từ Pháp. Bằng Sắc lệnh số 143-NV đề ngày 22 tháng 10 năm 1956, Chính phủ nước Việt Nam Cộng hòa đã chuyển quần đảo Trường Sa từ tỉnh Bà Rịa về tỉnh Phước Tuy. Trong khoảng thời gian giữa 1954 và 1975, Việt Nam tạm thời bị chia thành hai phần. Do vị trí địa lý, vào thời gian này, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được đặt dưới quyền cai trị của Chính phủ VNCH (Miền Nam Việt Nam). Như thế, sự kiện Chính phủ VNCH hành xử việc cai trị lãnh thổ hai Quần đảo trong thời điểm đó là phù hợp với thực tế và luật pháp trong bối cảnh của giai đoạn này. Thông lệ quốc tế chỉ rõ rằng trong thời Chiến tranh Lạnh, có sự hiện diện của hai quốc gia giống Việt Nam như Đức, Yemen…(…) Vào năm 1975, sau khi Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa (vào tháng 1 năm 1974), Chính phủ VNCH đã công bố một Bạch thư đưa ra những bằng chứng lịch sử xác định một cách rõ ràng và đầy thuyết phục chủ quyền lâu dài của Việt Nam trên hai quần đảo này”.[6]

Trong lúc nguy cấp, rốt cuộc, nhà cầm quyền Cộng sản buộc phải bỏ cái thói kiêu ngạo cổ hữu, chính thức thừa nhận sự hiện hữu hợp pháp của VNCH như một cái phao cứu sinh.

Đừng khoét thêm vào nỗi đau Tháng Tư nữa*

Nguyễn Tường Thuỵ

Bao giờ thì nhà nước thôi kỷ niệm 30/4 trong tâm thế ăn mày dĩ vãng?

Kỷ niệm 30/4 năm nay, tôi không định viết gì vì năm nào cũng viết rồi. Thế nhưng đã qua ngày 30/4, đây đó trên mạng xã hội vẫn còn những giọng miệt thị, giễu cợt đồng bào trốn chạy cộng sản đợt 30/4/1975.

Có mấy lý do cần chấm dứt chỉ trích nhằm vào đồng bào phải bỏ nước ra đi:

Việt Nam Cộng hòa là bên thua cuộc nhưng họ không có lỗi và càng không có tội. Dịp 30/4 năm nay, có ý kiến gọi là bên bỏ cuộc. Cách gọi này phản ảnh khá sát bản chất của vấn đề mong mọi người suy nghĩ thêm, nhưng trong bài viết xin cứ gọi theo chữ quen dùng là bên thua cuộc đã.

Việt Nam Cộng hòa thua cuộc nhưng không thể trách được họ trước một đối phương mạnh và đông hơn hẳn. Đội quân ấy lại được sự tiếp sức tiền của và phương tiện chiến tranh khổng lồ từ khối xã hội chủ nghĩa trong đó có 2 cường quốc cộng sản là Liên Xô và Trung Quốc, trong khi VNCH bị Mỹ bỏ rơi từ sau Hiệp định Paris.

Sau 45 năm, có nhiều học giả nhìn nhận lại bản chất cuộc chiến tranh. Về cơ bản, đó là cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn do miền Bắc phát động. Hiệp định Paris bị xé bỏ thay vì thành lập Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc.

Trong một cuộc chiến tranh, thua thắng có khi chỉ là nhất thời và tương đối. Bây giờ ý nghĩa của chiến thắng 30/4 như thế nào? Nhìn vào thực trạng đất nước 45 năm sau đã rất nhiều người ngộ ra.

VNCH đã xây dựng được một nền dân chủ cộng hòa đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, giáo dục, an sinh xã hội về nhân quyền, dân chủ mà Việt Nam ngày nay còn lâu mới đạt được. Tuy chưa phải là khuôn mẫu tiên tiến nhất nhưng đó là chế độ mà đa phần nhân loại đang theo đuổi.

Và điều quan trọng nhất là VNCH không gây nên cuộc chiến này.

Vì vậy, bên thắng cuộc chẳng có gì phải tự hào, kiêu hãnh cả, càng không có lý do để sỉ nhục phía bên kia.

30/4/1975 - Tổng quan 45 năm đất nước dưới chế độ cộng sản

Luật sư Đào Tăng Dực

Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến ngày 30 tháng 4 năm 2020 thời gian 45 năm. Đây là một khoảng thời gia rất dài trong đời người và thời gian đủ để một quốc gia, dưới sự lãnh đạo của một tập thể hoặc cá nhân sáng suốt, có thể đưa cả một dân tộc đi lên và xoay chuyển vận mệnh như Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật Bản, Tổng thống Mustafa Kamal Ataturk của Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Tổng thống Phác Chính Hy của Nam Hàn.

Lịch sử phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới chứng minh rằng, trừ những trường hợp vô cùng hiếm hoi, trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia lệ thuộc nhiều vào 2 yếu tố chủ quan nội tại:

a. Một là bàn tay và khối óc của người dân trong quốc gia đó,

b. Hai là tài ba và viễn kiến của giới lãnh đạo,

Nhiều hơn là những yếu tố khách quan bên ngoài như những tài nguyên thiên nhiên hoặc điều kiện địa lý thuận lợi.

Trong trường hợp của dân tộc Việt Nam, chúng ta có 2 giai đoạn lịch sử khách quan rõ rệt: đó là trước năm 1975 và sau năm 1975.

Đất nước chúng ta đã trường tồn qua nhiều ngàn năm lịch sử. Chính vì thế, bàn tay và khối óc của người dân Việt, bất kể Nam hay Bắc đều không sai biệt.

Trước 1975, các dân tộc Đông Á (trừ Nhật Bản lúc đó tuy phát triển nhưng chưa ngang bằng với các quốc gia Tây Phương) đều chậm tiến như Nam Việt Nam và có phong trào cho những sinh viên du học tại các quốc gia Tây Phương như Hoa Kỳ, Pháp, Bỉ, Anh quốc, Đức, Canada, Úc và Tân Tây Lan…

Ngoài Bắc, nhà cầm quyền CSVN cũng có phong trào cho sinh viên du học Liên Xô và các quốc gia Đông Âu tương tự.

Vào thời điểm đó, các sinh viên miền Nam Việt Nam, nói về bàn tay và khối óc, không những không thua gì các sinh viên đến từ các quốc gia như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kong và Singapore. Những sinh viên miền Bắc đến Đông Âu có lẽ cũng đạt được những thành quả tương tự.

Sau năm 1975, thì tính đến hiện nay, có khoảng từ 4 đến 5 triệu người Việt sinh sống tại các nước Tây Phương từ Hoa Kỳ đến Âu Châu và Úc Châu. Bất cứ nơi nào, các cộng đồng người Việt cũng chứng tỏ bàn tay và khối óc của Việt tộc ngang bằng, nếu không nói là về nhiều phương diện vượt trội không những dân bản xứ mà ngay cả các cộng đồng di dân Đông Á khác.

Công đồng người Việt không những thành công vượt trội về các khía cạnh trí tuệ như tỷ lệ người tốt nghiệp đạo học cao mà các nghệ nhân và thương nhân cũng thành đạt không kém.

Câu hỏi hiển nhiên phải đặt ra là:

Tại sao bàn tay và khối óc của dân Việt tỏa sáng tại hải ngoại, nhưng lại lu mờ đến mức độ thảm thương và đưa đến tình trạng đất nước nghèo khổ, kém phát triển và trở thành nỗi nhục của cả dân tộc?

Thật vậy, khi chúng ta so sánh với các quốc gia cùng văn hóa và chiều dài lịch sử như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kong và Singapore thì dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN thật tủi nhục.

30 tháng Tư 1975 - Cột mốc diễn biến của Cộng sản Việt Nam

Nguyễn Khắc Mai

Đối với cột mốc này nhiều người, theo ý kiến riêng, cái chủ kiến của mình, họ đặt cho ngày lịch sử này những cái tên khác nhau.

Tôi cũng có ý riêng của mình. Có lần dễ cũng đã ngót 20 năm nay, trên tờ Tuổi Trẻ (Sài Gòn), tôi đã có bài viết “30 tháng Tư - Một cột mốc lịch sử”. Đại để, tôi nói từ cột mốc ấy, nếu nhìn theo chiều quá khứ, người ta (chủ yếu bên thắng cuộc) chỉ thấy chiến công, chiến thắng. Mấy ngày gần đây tôi cũng lại thấy cái nhìn lịch sử theo chiều quá khứ. Mà với cái nhìn ấy, xã hội không thể không ngậm ngùi về cái bi kịch muôn đời mà nhân loại đã tổng kết: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô!” (một tướng thành công vạn xác người). Vâng, người ta cũng sẽ không thấy cái bi kịch lớn của Dân tộc trong cuộc “nồi da nấu thịt” như giai thoại về hai anh em Tào Phi và Tào Thực con của Tào Tháo.*

Với cái nhìn theo hướng tương lai, phải xóa bỏ hận thù, không coi Việt Nam Cộng hòa là thù địch; phải thật lòng hòa hợp, hòa giải mà mời gọi họ cùng chung tay xây dựng nước. Không phải chỉ có ở Mỹ mới có tư duy hòa giải, hòa hợp, như họ đã chơi rất đẹp sau nội chiến. Ở Việt Nam cũng từng có tư duy hòa hợp hòa giải đó. Năm kia Trung tâm chúng tôi cùng huyện Hải Hậu tổ chức kỷ niệm Ngày thành lập huyện và tôn vinh quan Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ, chúng tôi đã đề cao công đức và tư tưởng hòa giải hòa hợp của ngài. Nguyễn Công Trứ đã lôi cuốn những nông dân nổi loạn, đưa họ vào công cuộc mở làng lập ấp để họ cũng có cuộc sống yên bình. Xa hơn nữa, vào đời Trần, nhà vua đã cho đốt hết những văn bản đầu thú giặc Nguyên của một số tôn thất và làng mạc đã từng trót theo giặc. Huống chi anh em VNCH theo lý tưởng độc lập phi cộng sản, đã hình thành nên một thực thể nhà nước có chính danh trên quốc tế, mà cũng để lại nhiều thành tựu văn hóa xã hội giá trị.

Tôi đem cái nhìn hướng tương lai, để nói đôi điều suy ngẫm của mình về một xu hướng “phi cộng, phi phi cộng” đã và đang từng bước hiện thực trên quê hương Việt Nam, mở đầu từ 30 tháng Tư. Quả thật đây là quá trình vô thức của đảng cộng sản, nhưng lại xảy ra từng bước theo quy luật khách quan không thể cưỡng lại được. Mười năm đầu sau 75 là sự thất bại của đường lối tiến nhanh tiến mạnh tiến thẳng, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa, rập khuôn cứng nhắc theo mô hình xô viết và hỗn hợp với tư tưởng Diên An. Đói, thiếu hàng tiêu dùng, thiếu năng lượng… buộc phải hô hào bung sản xuất ra! Đại hội VI buộc phải thừa nhận sai lầm về đường lối, tiến hành Đổi mới, thực chất là trở về cái cũ hợp quy luật. Từng bước rời bỏ kế hoạch hóa triệt để, công hữu triệt để. Lùi lại từng bước, cho nhạt dần khái niệm công hữu, lấy quốc doanh và kinh tế nhà nước làm chủ đạo, công nhận kinh tế nhiều thành phần. Gần đây phải thừa nhận kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng. Tuy thế vẫn níu kéo từng bước, tuy phải lùi lại, nhưng vẫn giữ quan niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghia. Giữ lại cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa”, thì đây chính là dấu hiệu không dám nói mạnh về tiến lên chủ nghĩa xã hội nữa, mà buộc phải tìm một ngôn ngữ mềm mại, nhẹ nhàng hơn. Trong lòng những người lãnh đạo đã có những chớm hoài nghi “trăm năm nữa liệu có cái xã hội chủ nghĩa thứ thiệt không”…Về đối ngoại buộc phải “làm bạn với mọi người”, xây dựng quan hệ chiến lược với rất nhiều nước mà rốt lại có quá nhiều quan hệ chiến lược nên vẫn giống kẻ lắm mối tối nằm không! Ít ai bênh vực cho khi hoạn nạn. Có người sẵn sàng muốn kết liên minh để sẵn sàng bênh vực cho thì lại sợ.

30/4/1975 - Sài Gòn những ngày cuối tháng 4 năm 1975

Nguyễn Quang Duy

Sau trận Phước Long ngày 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt.

Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công và thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản.

Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị. Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.

Bao vây Sài Gòn

Quân Bắc Việt bị cầm chân tại Xuân Lộc hơn 10 ngày nên tẽ sang các ngã khác, tiến về Sài Gòn.

Tối 21/4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên Đài Truyền hình tuyên bố từ chức, Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay. Phía Cộng sản tuyên bố chỉ nói chuyện với Đại tướng Dương Văn Minh, phía miền Nam chấp nhận, Tổng thống Trần Văn Hương thu xếp từ chức.

Ngày 14/4/1975, miền Bắc ra chỉ thị mọi cánh quân phải tập trung quanh Sài Gòn vào ngày 26/04, khởi sự tấn công ngày 28/4/1975. Cũng đúng ngày, đó Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố nhậm chức Tổng Thống.

Sáng 29/4/1975, Đại tướng Dương Văn Minh gởi Tối Hậu Thư buộc người Mỹ phải rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ.

Người Mỹ di tản

Ngay từ đầu tháng 4/1975, những công dân Mỹ, những người lập gia đình với Mỹ, những người làm việc cho Mỹ và thân nhân được đưa vào Tân Sơn Nhất để rời khỏi Việt Nam.

Ngày 23/4, phát biểu tại Đại học Tulane, tiểu bang Louisiana, Tổng thống Gerald Ford cho biết, Bắc Việt sẽ chiến thắng và chiến tranh Việt Nam đã kết thúc.

Ngày 25/4, Dân biểu Đảng Cộng Hòa tiểu bang Michigan, ông William Broomfield cho biết, phía Hoa Kỳ đã có một thỏa thuận ngầm, Bắc Việt sẽ không tấn công Sài Gòn trước ngày thứ hai 28/4/1975 để Mỹ có đủ thời gian di tản khỏi Việt Nam. Ngoại trưởng Kissinger phủ nhận nguồn tin.

Khoảng 6 giờ chiều ngày 28/04/1975, Bắc Việt sử dụng 5 phi cơ A37 từ phi trường Phan Rang, tấn công Tân Sơn Nhất và đêm hôm đó pháo binh cộng sản từ Cát Lái đã pháo kích vào phi trường.

Đặc công cộng sản cũng đã vào sát phi trường nên các phi cơ chở người di tản không thể cất cánh.

Hoa Kỳ cấp tốc mở chiến dịch di tản bằng trực thăng tại hai địa điểm chính là Trụ sở cơ quan DAO (Defense Attache Office) bên trong phi trường Tân Sơn Nhất và trên nóc Tòa Đại sứ Mỹ.

Đến 7 giờ 30 tối 29/4/1975, Mỹ đã di tản tất cả nhân viên DAO, mang theo những tài liệu quan trọng, rồi đặt mìn giật sập trụ sở DAO, phá hủy máy móc và hồ sơ còn sót còn lại.

Người Việt Nam trên mạng xã hội nói về “ngày giải phóng”

C. Lynh

Những căn nhà đổ nát vì pháo kích của Việt Cộng vào Sài Gòn trong ngày 30 Tháng Tư 1975. (Hình: Getty Images)

Sau 44 năm kể từ khi Sài Gòn thất thủ, quân đội Bắc Việt chiếm toàn miền Nam Việt Nam, rất nhiều người trên mạng xã hội đã bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc về ngày 30 Tháng Tư. Những câu được nhìn thấy nhiều nhất là: “Ngày 30 Tháng Tư, ăn mừng vì điều gì?”

Facebook Đinh Bá Truyền viết trên trang cá nhân: “30 Tháng Tư, 1975, một toán cộng quân tiến chiếm Dinh Độc Lập. Lính tráng rửa ráy ở bồn phun nước trước Dinh. Riêng tay chính ủy bước vào phòng tắm, mở trúng cái vòi nước nóng, phỏng cả người. Y hét lên: “Tiên sư đế quốc Mỹ, rút đi rồi còn cài nước sôi ám hại ông!”

Facebook Đỗ AnhDo chia sẻ: “Chúng ta cùng ôn lại lịch sử 30 Tháng Tư, 1975. Sự đau thương không bao giờ quên.”

Trịnh Bá Tư, một người trẻ sinh ra và lớn lên sau “ngày giải phóng” đăng tải bài thơ của “nhà thơ điên” Bùi Giáng, “Đánh cho Mỹ chút Ngụy nhào” trong đó có đoạn: “… Đánh cho cả nước Việt Nam, Áo ôm khố rách xếp hàng xin cho. Đánh cho hết muốn tự do, Hết mơ dân chủ hết lo quyền người…”

‘31 Tháng Tư,’ tiếc đã muộn!

Ngô Nhân Dụng
https://i2.wp.com/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/04/A1-31-thang-tu.jpg?resize=696%2C464&ssl=1

Cuốn “Hơn Nửa Đời Hư” in ở Sài Gòn của nhà văn Vương Hồng Sển. (Hình: Zing)

Ai cũng biết Tháng Tư chỉ có 30 ngày. Riêng ngày “30 Tháng Tư năm 1975” thì người dân Sài Gòn không thể nào nhớ lộn, không thể nào nói hay viết lầm được.
Nhưng nhà văn Vương Hồng Sển, trong cuốn “Nửa đời còn lại” đã viết ít nhất hai lần “ngày 31 Tháng Tư năm 1975.” Lần đầu, trong bản in năm 1996 của Nhà xuất bản Văn nghệ, California, ở trang 285, cụ viết: “…tôi xin được lẩn thẩn lấy theo sức học đáy giếng mà luận việc trên cao để được tỏ chút nỗi lòng một dân Nam thấp hèn buổi 31-4-1975”.
Xin nhắc lại, Vương Hồ.ng Sển viết: “… một dân Nam thấp hèn buổi 31 Tháng Tư, 1975”
Cụ còn “viết lộn” thêm một lần nữa, trang 291: “… tôi đây đã trải cảnh chịu đựng sau ngày 31-4-1975 ở Sài Gòn, làm tôi bắt nhớ Nguyễn Du năm 1802,…”.
Các “bạn trẻ” dưới 60 tuổi có thể không biết nhà văn Vương Hồng Sển là ai; độc giả sống ở miền Bắc càng ít người biết đến cụ.
Vương Hồng Sển là một “nhân chứng” cho những nhà viết sử. Cụ thường kể chuyện đời mình, để ghi lại cuộc biển dâu diễn ra chung quanh. Lâu lâu mới châm biếm chuyện chính trị. Cụ thường kể chuyện “Sài Gòn năm xưa”, tên một cuốn hồi ký. Cụ rỉ rả bàn về thú chơi đồ cổ, coi hát bội. Cụ tự chế nhạo mình sống “Hơn nửa đời hư”, một cuốn hồi ký khác. Năm 1993, đã ngoài 90 tuổi, cụ vẫn gắng sức ngồi viết kể tiếp những chuyện mình đã từng trải qua cuốn “Nửa đời còn lại”.

Ái Dân và Hiếu Dân… nhưng máu dân cứ đổ (1)

Lưu Trọng Văn
Sáng 30.4 gã cùng Lữ Công Bảy đi Củ Chi dự khánh thành nhà mới cho con gái tử sĩ Hoàng Sa Lương Thanh Thú theo "lệnh triệu tập "của Đỗ Thái Bình người cùng Kim Hạnh, Thế Thanh, Huy Đức, Nguyễn Thị Hậu điều hành Chương trình Nhịp cầu Hoàng Sa.
Bảy vào ngày 19.1.1974 là thượng sĩ tham gia trận đánh bảo vệ Hoàng Sa mà 74 lính hải quân VNCH đã hy sinh. Gã bất ngờ cầm báo tuổi trẻ thấy hình của Bảy trên trang nhất với lời của má của Bảy: các anh em con đứa nào cũng là con của má.
Bảy kể gã nghe đó là lời của má nói trước khi mất khi mong ước ngày hoà bình ba con trai theo cộng sản và bốn con trai theo quốc gia sẽ đoàn tụ một nhà.
Bảy nói với gã ngày thống nhất đất nước anh em của Bảy không ai chia bên này bên kia. Nhưng tiếc rằng đất nước oán và thù vẫn còn hào sâu ngăn và cách dân tộc.
Trong lễ khánh thành nhà mới của con gái tử sĩ Lương Thanh Thú gã gặp bà Ái Dân. Gã bảo phía cộng sản ông Võ Văn Kiệt đặt tên con gái là Hiếu Dân còn bên kia chiến tuyến một người đối nghịch đặt tên con gái là Ái Dân.
Hiếu Dân và Ái Dân.
Bi kịch.
Máu đổ.
Một người nhái hải quân VNCH trước khi ra Hoàng Sa đã có cuộc hẹn hò với cô gái mình yêu. 10 g sáng 19.1.1974 cô gái SG xinh đẹp Ái Dân ấy không thể biết Đỗ Văn Long chiến sĩ biệt hải ấy chính là người hy sinh đầu tiên trong trận chiến Hoàng Sa.
Và, người anh hùng hy sinh bảo vệ tổ quốc kia cũng mãi mãi không hề biết mình đã kịp để lại một đứa con gái ...
Gã chụp tấm hình Lữ Công Bảy và Ái Dân.
Mắt nhoà.

D:\Pictures\Công Bảy và Ái Dân.jpg
FB Lưu Trọng Văn
(1) Đầu đề do BVN đặt

Lại 30/04. LÀM gì ?

Thục Quyên

30/04/1975 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử cận đại của Việt Nam. Dân tộc Việt oai hùng, như vẫn tự nhận, lại không có đủ khôn ngoan để ngày này trở thành "ngày chiến tranh chấm dứt", một cơ hội để anh em cùng dòng máu Việt  tìm hiểu nhau, cùng chung sức xây dựng đất nước. Tiếc thay, và đau thay, chiến tranh súng đạn tuy có chấm dứt nhưng hình thức chiến tranh đã trở nên vi tế hơn, phe thắng thế có thể mặc sức bạo tàn trước phe yếu thế không còn sức tự vệ. Khiến mối quan tâm hàng đầu cho tới ngày nay khi nhắc tới 30/04 vẫn xoay quanh vấn đề kẻ Thua người Thắng.

Nhưng thời gian là thay đổi.

Có bao nhiêu người dân Việt đang sống trên đất Việt  (nghĩa là vận mạng của họ còn dính liền với sự mất còn của đất nước) đang mang trong tim trong óc họ mối quan tâm về ngày 30/04?

So sánh với 1975 dân số Việt Nam nay đã nhân đôi, và nếu nhìn độ tuổi trung vị của Việt Nam (31 tuổi / một nửa dân số trẻ hơn và một nửa già hơn độ tuổi này), thì con số những người ra đời sau 1975 là đa số. Cũng dễ hiểu là trong cuộc sống hàng ngày, đa số này không lưu tâm tới một chuyện đã xảy ra trước khi có mặt họ trên cõi đời này, cho dù những gì đang xảy ra luôn luôn có liên quan nhiều ít đến những gì đã xảy ra trong dĩ vãng. Vậy họ lưu tâm đến những gì?

Tháng Tư - Tản mạn những chuyện vui, buồn

Khoa Duy
Hôm qua, chở đứa cháu đi học, trên đường đi, cháu nhìn tấm băng rôn treo với những câu khẩu hiệu “Nhiệt liệt chào mừng 44 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/3019)”, rồi hỏi tôi: “Ngày Giải phóng” là ngày gì vậy chú?
Nghe cháu hỏi, tôi thấy mình phải có trách nhiệm giải thích cho cháu hiểu. Nhưng nó còn quá nhỏ, mới học lớp 6, nên nếu có cố gắng cũng không thể giúp cháu hiểu ngay được, nên tôi không trả lời thẳng vấn đề, mà nói: “Cái câu khẩu hiệu đó, người ta đã cố tình viết sai chính tả cháu à, hoặc người viết cũng như cháu, chưa đủ nhận thức đúng về cái gọi là ‘Giải phóng miền Nam’! Lẽ ra, phải dùng từ ‘tưởng niệm’ thay cho từ ‘chào mừng’, trong trường hợp này”. Sau đó, tôi hẹn cháu rằng, sẽ giải thích cho nó hiểu vấn đề này sau.
***
Cứ đến những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4 hằng năm, trên khắp đất nước này, từ những con đường làng heo hút, đến những đại lộ được đặt tên những người có công lớn khi có thể giết hại nhiều đồng bào của mình, đâu đâu cũng thấy giăng mắc những băng rôn, áp phích với các khẩu hiệu đại loại như trên. Rồi đến ngày 30/4, rất nhiều cơ quan nhà nước, công ty tư nhân, hộ gia đình và cá nhân tổ chức tiệc tùng, du lịch, ca hát, nhảy múa để “chào mừng” cho cái ngày mà dân tộc lẽ ra phải “tưởng niệm”!

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2019/04/H4-79.jpg

Ngày 21/4/2019, người dân Long Khánh chạy trốn cộng sản. Nguồn: Corbis

Khi Cha tôi còn sống, cứ mỗi khi đến ngày ấy, ông luôn nhắc nhở anh em chúng tôi, làm con người đừng quá khốn nạn đến độ hò reo vui mừng khi nhìn đồng bào vô tội của mình bị giết chết hàng loạt. Đã vậy thủ phạm lại chính là những người đồng bào khác, thì nỗi đau càng bị nhân lên gấp bội.
Trong đám đông tiệc tùng, nhảy múa “chào mừng” ngày 30/4 kia, có thể chia ra làm hai nửa. Một nửa có nhận thức và hiểu biết được bản chất thật của câu chuyện, nhưng họ vẫn cứ “chào mừng”. Thật tởm lợm cho những người này, khi mà họ có thể “hát trên những xác người” lại là chính đồng bào của mình. Nửa còn lại, thì bị nửa kia tuyên truyền, nhồi sọ, thành ra họ có nhận thức lệch lạc vấn đề. Những con người thuộc về nửa bị nhồi sọ chính là nạn nhân, nên họ không đáng trách.
Khoan nói về những hậu quả kinh hoàng bởi những di hại trên tất cả phương diện mà dân tộc này phải gánh chịu kể từ sau ngày 30/4/1975, là ngày thống nhất về mặt địa lý. Chúng ta hãy nói về bản chất của câu chuyện, xem thử có gì đáng để vui, đáng để hò reo, chào mừng cho cái ngày 30/4 tang tóc ấy?!
Trong cuộc sống, có những sự trùng hợp đến lạ kỳ, mà chính nhờ những điều như vậy, đã khiến cho nhân loại phải trăn trở khôn nguôi. Có hai câu chuyện, mà tôi hay kể cho mọi người nghe, mỗi khi có dịp.
Câu chuyện thứ nhất: Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Leonardo Da Vinci là bức vẽ “Bữa tối cuối cùng” - The last Supper. Bức tranh nổi tiếng không chỉ vì sự tinh xảo hay giá trị nghệ thuật trong bức tranh. Không chỉ vì hình ảnh chúa Jesus và 12 vị tông đồ được thể hiện rõ nét cảm xúc hay hệ tư tưởng thể hiện trong tranh. “Bữa tối cuối cùng” còn nổi tiếng vì những câu chuyện xung quanh bức tranh này.
Theo câu chuyện được kể lại, danh hoạ Leonardo Da Vinci đã phải mất 7 năm để hoàn thành bức tranh. Khi bắt đầu vẽ, Da Vinci đã vẽ chúa Jesus đầu tiên. Giữa hàng trăm ngàn người, một người đã được chọn để làm hình tượng chúa Jesus. Thời gian sau đó, ông lần lượt hoàn thành hình ảnh của 11 vị tông đồ trong bức tranh. Tuy nhiên, còn 1 người cuối cùng vẫn chưa được vẽ. Đó chính là kẻ phản bội: Judas Iscariot.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn