Hiển thị các bài đăng có nhãn Đà Lạt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đà Lạt. Hiển thị tất cả bài đăng

Ghi chép về Đà Lạt - Mảng xanh trên “Đồi Dinh”

Mai Thái Lĩnh

Trong cuộc tranh luận chưa có hồi kết kéo dài 4 năm nay, giới báo chí thường gọi mảng xanh trên Đồi Dinh Thị trưởng Đà Lạt là “mảng xanh duy nhất còn sót lại ở Khu Trung tâm Hòa Bình”…

Nhìn vào đồ án thiết kế năm 1923 của kiến trúc sư Hébrard, chúng ta thấy một ngọn đồi cao ở phía đông-bắc của Khu người Việt (Quartier annamite), trên đỉnh đồi ghi dòng chữ Ancienne Résidence (Tòa công sứ cũ). Phía nam của ngọn đồi này là nơi đồn trú của Đội vệ binh bản xứ (Garde Indigène). Đây chính là đồi 1525 - ngọn đồi cao nhất cạnh Hồ nước (Lac, tức hồ Xuân Hương), báo chí ngày nay thường gọi là “Đồi Dinh Tỉnh trưởng”.[1]

Như chúng ta đã biết, Thị trưởng (Maire) đầu tiên của Đà Lạt là Paul Champoudry – cựu Chủ tịch Hội đồng Thành phố Paris. Sau thất bại trong kỳ bầu cử năm 1900, ông đã được bổ nhiệm làm Thị trưởng Dalat và giữ chức vụ này trong 14 năm (1902-1916). Trong suốt quãng thời gian này, “Trạm nghỉ dưỡng” (Station d’altitude) Đà Lạt chỉ là một làng người Việt nằm giữa một vùng cao nguyên hoang vắng. Phần lớn người Thượng thuộc bộ tộc Lat sống tập trung ở phía tây-bắc – đông nhất là làng Dankia nằm cạnh dòng suối đầu nguồn của sông Đồng Nai. Cái gọi là Trung tâm người Âu (Centre européen) chỉ bao gồm gia đình Champoudry và vài viên chức người Pháp. Vào thời kỳ này, chưa có chỗ ở chính thức của thị trưởng; nơi ở và làm việc của Champoudry chỉ là những căn nhà gỗ kiểu miền núi Thụy Sĩ (chalet). Trong một bài viết công bố vào năm 1916, Thanh tra Công chánh Constantin cho biết vào thời đó, khu nhà ở của người Âu chỉ có tám căn nhà gỗ “hoàn toàn làm bằng gỗ thông địa phương”.[2] Hai mươi năm sau, ngày 6-2-1936, Thống đốc Nam kỳ đã ký sắc lệnh cho phép dùng ngân sách mua lại một số bất động sản, trong đó có “Ngôi nhà gỗ ngày xưa của Champoudry” (Ancien  chalet  Champoudry) - bao gồm một lô đất rộng 4.367 m2 và một tòa nhà làm bằng gỗ với tầng trệt được nâng cao, tọa lạc trên đường Prenn (Route de Prenn, có lẽ là đường Mimosa hiện nay).[3]

Bài 3: Tìm về đầu nguồn của Sông Cam Ly

Thời gian qua BVN đã cho đăng những ghi chép rất công phu của ông Mai Thái Lĩnh, thể hiện cái nhìn trăn trở, đầy trách nhiệm của ông với mảnh đất Đà Lạt.

Xin mời độc giả BVN xem tiếp câu chuyện của ông.

Logo - Ghi_chep_DL.jpg

Cao nguyên Lang-Bian với độ cao trung bình 1.500 m là nơi phát nguyên của ba dòng sông: dòng chính là Sông Da Deung (có khi được ghi là Da Dung, Da Dong, Da Dâng) và hai phụ lưu: Cam Ly và Da Nhim. Sông Da Deung chảy gần đến đồng bằng thì hợp lưu với Sông La Ngà thành Sông Đồng Nai. Dòng Cam Ly nằm trên địa bàn Đà Lạt thường được gọi là Suối Cam Ly (Source de Cam Ly), gồm hai nhánh chính: một nhánh bắt nguồn từ một dãy đồi núi ở phía Đông-Bắc  – trong đó cao nhất là Hòn Bồ (Lap Bé Sud), và nhánh thứ hai bắt nguồn từ Hòn Ông (Lap Bé Nord). Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu đầu nguồn của nhánh thứ hai - liên quan đến Hồ Than Thở và Hồ Mê Linh.

Bản_đồ LapBe Nord & Sud.jpg

Hình 1 : Trích bản đồ Đà Lạt 1965

Những bản đồ Đà Lạt do Nha Địa dư Quốc gia phát hành trước năm 1975 – kể cả những bản đồ với tỷ lệ 1/10.000 và 1/12.500 đều không cho thấy đầu nguồn của Suối Cam Ly. Vì vậy nhiều người đã lầm tưởng Hồ Than Thở là hồ đầu nguồn. Thật ra, cách hồ này khoảng 3,5km về phía bắc còn có một hồ nước khác: Hồ Thái Phiên (xem hình 1). Đây mới là hồ đầu nguồn, như chúng ta thấy trong bản đồ tỷ lệ 1/50.000 phát hành năm 1965, tờ Đà Lạt, 6632-I. [1]

Phần I: Hòn Bồ

1. Tình trạng hiện nay của vùng đầu nguồn Suối Cam Ly:

Đường tỉnh lộ 723 (ngày nay là quốc lộ 27C) nối liền Đà Lạt với tỉnh Khánh Hòa đã mở ra một hướng phát triển mới cho thành phố về phía Đông-Bắc. Con đường dài 121 km này được khởi công vào năm 2004 và hoàn thành năm 2007, nối liền Đà Lạt với quốc lộ 1 tại thị trấn Diên Khánh (thủ phủ của tỉnh Khánh Hòa dưới thời Nhà Nguyễn). Báo chí trong nước hết lời ca tụng đây là “Con đường nối Biển và Hoa”, vì nó giúp rút ngắn đoạn đường nối liền hai thành phố du lịch nổi tiếng Đà Lạt và Nha Trang, không cần phải đi qua Phan Rang. Nhưng trong khi tán tụng một chiều sự phát triển du lịch và xu hướng đô thị hóa vùng phía bắc cao nguyên Lang-Bian, truyền thông đại chúng cũng như giới nghiên cứu khoa học hầu như làm ngơ trước nguy cơ tiềm ẩn: công cuộc khai phá và phát triển vùng này nếu không dựa trên các khảo sát, nghiên cứu thật sự khoa học và không được điều hành một cách nghiêm ngặt có thể dẫn đến sự hủy hoại môi trường sinh thái của vùng đầu nguồn Sông Đồng Nai.

Đường Đà Lạt- Nha Trang.jpg

Hình 2: Quốc lộ 27C (tên cũ: Tỉnh lộ 723)

Chỉ tính riêng hệ thống hồ - suối liên quan đến Sông Cam Ly chảy ngang qua thành phố Đà Lạt, kể từ khi con đường nối liền quốc lộ 20 (tức quốc lộ 11 cũ) với quốc lộ 27C – ngày nay được đặt tên là đường Huỳnh Tấn Phát, các hoạt động phá rừng và mua bán đất đai đã diễn ra như một cơn sốt điên cuồng. Bên cạnh xu hướng “bê-tông hóa” tại khu trung tâm thành phố mà báo chí quốc nội đã nhiều lần nhắc đến trong những năm qua, cần phải kể đến xu hướng xây dựng hàng loạt “nhà kính” đủ loại khiến cho nhiều chuyên gia phải lên tiếng báo động, nhất là trong những năm gần đây, mỗi khi mùa mưa đến, nạn ngập lụt trên “thành phố ngàn thông” nổi tiếng này trở thành thường xuyên và ngày càng trầm trọng hơn. Vào tháng 8 năm 2019, trang báo Zing đã phải báo động: “Nhà kính trồng rau, hoa bao vây Đà Lạt tứ phía. Hàng nghìn công trình màu trắng phủ kín những đồi thông được cho là nguyên nhân gây ngập úng khi mưa lớn.”[2]

Cách giải thích dễ dãi và vô trách nhiệm nhất là đổ lỗi cho người dân, như tuyên bố của ông Phạm S., Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Lâm Đồng: “Đã có những khuyến cáo từ sớm về việc cải tạo cây xanh, đất dốc thì không nên làm nhà kính. Tuy nhiên, nông dân không ai nhường ai cả. Yếu tố lợi nhuận đã chi phối họ trước biến đổi môi trường.”[3]

Muốn biết nguyên nhân chính: do người nông dân chạy theo “lợi ích riêng” hay do các đại gia địa ốc được sự tiếp tay của chính quyền, hoặc do chính chủ trương của Đảng và Nhà nước,… thiết tưởng không thể kết luận một cách vội vàng như lời ông S. vừa nói, mà cần phải chịu khó tìm hiểu thực tế.

Ghi chép về Đà Lạt (bài 2)

Mai Thái Lĩnh

Chuỗi hồ trên Suối Cam Ly

1. Ý tưởng về “một chuỗi hồ” của Ernest Hébrard:

Thành phố Đà Lạt trong thực tế là một thành phố “hai bên sông”. Khác với các thành phố “hai bên sông” ở vùng đồng bằng, Đà Lạt nằm trên một cao nguyên với độ cao trung bình 1.500 mét so với mặt biển, địa hình nhấp nhô, lại gần với đầu nguồn nước. Vì thế “sông” ở đây chính là những dòng suối, thậm chí là những lạch nước (creek). Trong quá trình thành lập thành phố, nhiều dòng suối đã được đắp đập để tạo thành những hồ nước. Vì thế, việc bảo vệ các hồ nhân tạo và các dòng suối nối liền các hồ nước phải được coi là trọng tâm hàng đầu của công tác thiết kế và quản lý đô thị. 

Plan Hébrard.jpg

Hình 1: Đồ án Ernest Hébrard [L’Illustration N° 4172, 1923]

Trở lại với đồ án chính thức đầu tiên của Đà Lạt năm 1923, chúng ta có thể thấy rõ ý tưởng của Ernest Hébrard  về một chuỗi hồ, nghĩa là một hệ thống các hồ nước nhân tạo trong đó hồ nước lớn nhất nằm ở trung tâm thành phố (Hình 1). Chuỗi hồ này chính là sự thay thế cho một dòng sông, và thành phố trong tương lai sẽ phát triển dọc theo hai bên “dòng sông nhân tạo” này.

Trong thực tế, việc thực hiện chuỗi hồ không hoàn toàn theo đúng dự kiến của Hébrard. Thay vì lấy dòng chính là suối nước bắt nguồn từ ngọn Lap Bé Bắc (tức Hòn Ông), các hồ nước gần đầu nguồn đã được xây dựng trên dòng suối thứ hai – phát nguyên từ dãy đồi núi ở phía đông-nam – trong đó cao nhất là ngọn Lap Bé Nam (tức Hòn Bồ). Tính cho đến đầu thập niên 1970, nếu chỉ tính các hồ quan trọng phía trên Thác Cam Ly, ngoài Hồ Xuân Hương, chúng ta thấy có các hồ :  Than Thở, Mê Linh, Vạn Kiếp (Hình 2).[1] 

Bản_đồ Đà Lạt_1965 - crop_edited.jpg

Hình 2: Trích bản đồ du lịch Đà Lạt năm 1971 

2. Tình trạng hiện nay của chuỗi hồ Cam Ly :

Từ sau tháng 4/1975, do không quan tâm đúng mức đến chức năng du lịch - nghỉ dưỡng của Đà Lạt, nhiều hồ nước thuộc hệ thống Suối Cam Ly bị bồi lấp, thông xung quanh hồ bị chặt phá, đất đai bị chiếm dụng làm đất sản xuất. Nghiêm trọng nhất là ba hồ nước : Vạn Kiếp, Mê Linh và Than Thở. 

Vào năm 2010, trên tờ Tiền Phong (tờ báo của Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng sản) xuất hiện bản tin nhan đề “Khôi phục chuỗi hồ nhân tạo ở Đà Lạt” với nội dung: “… lãnh đạo TP Đà Lạt, Lâm Đồng, cho biết, từ nay đến 2015 sẽ triển khai nâng cấp khôi phục hàng loạt hồ nước rộng lớn như Mê Linh, Vạn Kiếp, Than Thở, Quảng Thắng… để ngăn chặn tình trạng khí hậu nóng lên ở miền đất vốn trong lành, mát mẻ như Đà Lạt.[2] 

Ý định này thật ra không mới, vì trong cuốn Địa chí Đà Lạt xuất bản vào năm 2008, chính quyền thành phố đã thừa nhận tình trạng xuống cấp của các hồ nhân tạo. Tại phần Tổng luận của cuốn sách, có đoạn viết: “Thành phố hiện nay đang sử dụng hàng loạt biện pháp bảo vệ lưu vực các suối chính chống sự ô nhiễm và bồi lắng: nhà máy và hệ thống xử lý nước thải được hoàn thiện trong năm 2008; tiếp tục đầu tư khôi phục, chỉnh trang các suối hồ đã bị bồi lấp để tăng diện tích mặt nước (hồ Than Thở, hồ Mê Linh, hồ Vạn Kiếp, Đập I Đa Thiện). [3] 

Thực tế diễn biến ra sao? Chúng ta thử xem xét vài trường hợp điển hình:

 Hồ Vạn Kiếp

Hồ Vạn Kiếp được hình thành cùng một lúc với việc xây dựng khu cư xá Decoux (Cité Decoux) vào đầu thập niên 1940. Hồ nước này lúc đầu không có tên riêng. Đến đầu thập niên 1950, hồ được đặt tên là Đa Thành (Lac de Đa Thành), đến thời Việt Nam Cộng Hòa đổi tên thành Hồ Vạn Kiếp. (Hình 3 và 4)


da_lat-1963 hồ vạn kiếp.jpg


Hình 3: Trích bản đồ Đà Lạt 1952



Hồ Vạn Kiếp - satellite_img.jpg


Hình 4: Trích bản đồ Đà Lạt 1963



Khu cư xá Decoux còn được gọi là Khu cư xá Các đỉnh núi (Cité des Pics), có lẽ vì từ vị trí đó có thể nhìn thấy các đỉnh núi Lang-Bian (pic trong tiếng Pháp có nghĩa là đỉnh). Hai tấm ảnh cũ đăng kèm cho thấy Khu cư xá Decoux nằm trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng cạnh hồ nước, xa xa về phía bắc là dãy núi Lang-Bian hùng vĩ (hình 5 và 6).


Hồ Vạn Kiếp - satellite_img.jpg


Hình 5: Cầu băng qua suối (Cư xá Decoux) 



Photo_06 Lac Cité_des_Pics.jpg


Hình 6: Cư xá Decoux và hồ nước



Năm 2014, bốn năm sau ngày chính quyền địa phương tuyên bố “triển khai nâng cấp khôi phục hàng loạt hồ nước”, một bản tin trên tờ Thanh Niên [4] báo động: “Ngày 28.11, phóng viên Thanh Niên Online có mặt tại hồ Vạn Kiếp thuộc phường 7, TP. Đà Lạt (Lâm Đồng) chứng kiến nhiều xe tải nối đuôi nhau chở đất đá, xà bần để lấp lòng hồ.”

Từ đó đến nay đã sáu năm, Hồ Vạn Kiếp đã được nạo vét hay chưa? Độc giả chỉ cần vào mạng Internet xem ảnh vệ tinh cũng có thể thấy thực tế: hồ nước vẫn là một bãi đất sản xuất nông nghiệp (hình 7). Xem ra giữa lời nói và việc làm, có cả một khoảng cách sâu thẳm, không thể khắc phục. 


ho-van-kiep (4).jpg


Hình 7: Hồ Vạn Kiếp hiện nay (ảnh vệ tinh)



Đại học dân lập Yersin.jpg


Hình 8: Đại học dân lập Yersin



Điều đáng nói hơn nữa : trước tháng 4/1975, trên ngọn đồi cạnh Hồ Vạn Kiếp còn có một trường trung học công lập dành cho nam sinh mang tên Trần Hưng Đạo - vị anh hùng dân tộc chỉ huy trận đánh tại Vạn Kiếp vào thế kỷ 13. Nhưng không bao lâu sau ngày thành phố được “giải phóng”, vì những lý do nào đó đến nay vẫn chưa được làm rõ, ngôi trường danh tiếng này đã bị xóa sổ. Đầu năm 1995, khi chấm dứt nhiệm kỳ tại Hội Đồng Nhân Dân TP. Đà Lạt và sắp trở về “làm dân”, tôi đã nghe một vị lãnh đạo của UBND Thành phố Đà Lạt thông báo “sẽ khôi phục lại trường Trần Hưng Đạo - trước mắt là một trường trung học cơ sở (cấp 2)”. Vậy mà sau đó, ngôi trường này lại được giao cho tư nhân để thành lập một trường “đại học dân lập” mang tên Yersin!

Quyết định xóa bỏ Trường Trung học Trần Hưng Đạo để thay bằng một trường khác là một vết chém làm đau lòng hầu hết các thế hệ cựu học sinh của trường ở quốc nội cũng như ở hải ngoại. Trong một truyện ngắn khá nổi tiếng [5], nhà văn Lại Văn Long đã nói lên cảm tưởng của  mình khi trở về thăm lại xóm Vạn Kiếp - nơi ông đã từng sống thời thơ ấu, thấy Hồ Vạn Kiếp biến mất, còn ngôi trường cạnh hồ lại biến thành trường khác, ông viết : “Tôi nhìn lên quả đồi của trường trung học Trần Hưng Đạo ngày nào nay có trường đại học Yersin mới xây dựng bề thế. Đây là trường đại học buồn nhất vì phải phủ định một trường học khác để có chỗ ra đời! Thật đáng sợ khi giáo dục phủ định giáo dục, văn hóa phủ định văn hóa và cái bao tử nhỏ bé của con người nuốt chửng cả thiên nhiên bao la lẫn huyền tích sâu lắng mấy ngàn năm của tôn giáo!”

Độc giả có thể tin đây là ý kiến khách quan, không thuộc loại “thông tin xấu, độc của các thế lực thù địch”, vì nhà văn này chưa từng học tại Trường Trần Hưng Đạo, lại  là đảng viên, công tác tại một tờ báo Công an!

Hồ Mê Linh

Hồ Mê Linh lúc mới hình thành có tên là Hồ Saint Benois (Lac Saint Benois), gắn liền với Khu Cư xá Saint Benois (Cité Saint Benois) của quân đội Pháp. Từ thời Pháp thuộc cho đến năm 1975, khu vực này gắn liền với các cơ quan quân sự. Trên tờ bản đồ Đà Lạt đầu thập niên 1950 (hình 9), chúng ta thấy gần  Hồ Saint Benois là Trường Võ Bị Liên Quân (École Inter-Armes). 



Lac Saint-Benois_Map.JPG


Hình 9: Trích bản đồ Đà Lạt thập niên 1950


stbenoit.jpg


Hình 10: Hồ Saint Benois



Lake Saint Benois.jpg


Hình 11: Nhà hàng La Rotonde cạnh Hồ Saint Benois



Có thể nói dưới thời Pháp thuộc, Hồ Mê Linh là một địa điểm du lịch sang trọng (xem hình 10 và 11). Đến đầu thập niên 1960, khi hình thành  khu dân cư người Việt (Khu Chi Lăng) và Trường Võ Bị Quốc Gia mới được xây dựng thì Trường Võ Bị cũ trở thành Trường Chỉ huy và Tham mưu. Khu vực này nói chung vẫn là khu quân sự. 

Ngày nay, nếu trở lại Khu Chi Lăng, những người đã từng sống ở Đà Lạt ngày xưa sẽ ngạc nhiên khi thấy khu vực này hoàn toàn thay đổi. Kể từ khi kinh tế thị trường phát triển theo “định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhiều khu quân sự trước đây đã trở thành khu dân cư hay khu thương mại. 

Năm 2010, trên tờ Tuổi Trẻ có đăng bản tin “Đà Lạt: Khôi phục hồ Mê Linh” với nội dung: “UBND TP Đà Lạt chính thức khởi công sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Mê Linh nằm trên địa bàn phường 9 (TP Đà Lạt), với tổng số tiền đầu tư hơn 49 tỉ đồng từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ.” Bản tin còn cho biết hồ sẽ được phục hồi “nguyên trạng” và hoàn thành vào năm 2012.[6]


Hồ Mê Linh April_2019.JPEG


Hình 12: Hồ Mê Linh ngày nay


Đường Mê Linh April_2019.JPEG

Hình 13:  Đường Mê Linh ngày nay


Nếu nhìn vào thực tế hiện nay (xem hình 12 và 13), Hồ Mê Linh không được phục hồi “nguyên trạng”, cũng không được “nâng cấp”. Ngắm cảnh hồ và khu vực xung quanh, chúng ta không thấy còn lại chút gì của khung cảnh cũ để có thể hình dung một khu cư xá lịch sự, sang trọng của người Pháp ngày xưa. Hồ nước không còn là một thắng cảnh hấp dẫn mà chỉ là một cái “hồ thủy lợi” tầm thường, nhếch nhác,  không xứng với một thành phố du lịch, lại càng không xứng với cái danh hiệu “thiên đường du lịch”!


Hồ Mê Linh April_2019.JPEG


Hình 14: Trích Bản đồ Đà Lạt 1963



Hồ Mê Linh (2) crop.jpg


Hình 15: Hồ Mê Linh 2020 (ảnh vệ tinh)



Cũng cần lưu ý đến nhiệm vụ của hồ nước nhằm giữ cho dòng suối được trong sạch tương tự như ở các thành phố văn minh trên thế giới. Độc giả dù  không có điều kiện đến xem tận mắt cũng có thể lên mạng xem hình ảnh vệ tinh để thấy rằng Hồ Mê Linh sau khi nạo vét một cách tốn kém đã nhanh chóng bị bồi lấp vì dòng nước chảy ở thượng lưu vẫn tiếp tục bị ô nhiễm do rừng bị chặt phá, đất đai tiếp tục bị chiếm dụng để tăng gia sản xuất, có lẽ nhằm đạt chỉ tiêu về GDP ! (xem hình 14 và 15)

2.3.Hồ Than Thở 

Nối liền với Hồ Mê Linh là Hồ Than Thở. Hồ nước này là một trong những  hồ nhân tạo đầu tiên và là một thắng cảnh nổi tiếng hàng đầu của thành phố. Người Pháp gọi tên hồ này là Lac des Soupirs, dịch sát nghĩa là “hồ của những tiếng thở dài”; về sau đổi tên thành Hồ Than Thở. Sau năm 1975, đã có lúc các nhà lãnh đạo “cách mạng” dị ứng với tên gọi đẫm mùi “tiểu tư sản” đó nên đã đổi tên thành Hồ Sương Mai, nhưng danh xưng mới đầy tính “lạc quan cách mạng” đã không thể tồn tại  lâu dài , vì thế hồ nước được trả lại cái tên cũ : “Hồ Than Thở”.



IMG_4143.JPG


Hình 16: Lac des Soupirs



Photo_17 Hồ Than Thở - 1960s.jpg


Hình 17: Hồ Than Thở thập niên 1960



Độc giả có thể nhìn vào hai tấm ảnh in kèm (hình 16 và 17) để có thể hình dung vẻ đẹp ban đầu của hồ nước - vào thời Pháp thuộc và thời Việt Nam Cộng Hòa. Chính vẻ đẹp tự nhiên làm say đắm lòng người đó đã khiến cho Hồ Than Thở cùng với Thác Cam Ly đi vào văn chương, nghệ thuật, … 

Photo_18 1963 - Mê Linh và Than Thở.jpg


Hình 18: Trích bản đồ Đà Lạt 1963

Nhiều du khách chỉ biết đến Hồ Than Thở do mủi lòng vì câu chuyện truyền thuyết “Đồi thông hai mộ”. Thật ra, trước đây tại khu rừng cạnh Hồ Than Thở còn có một địa điểm thiêng liêng (Đài Lục Hòa) của Gia đình Phật tử - một tổ chức thanh thiếu niên Phật giáo.  Từ khu du lịch nhìn về phía bên kia đường, còn có một rừng thông thường gọi là “Đồi Tùng Nguyên”- một Trại trường (địa điểm huấn luyện) của tổ chức Hướng Đạo Việt Nam (hình 18 và 19). 

Bản_đồ_vệ_ tinh Mê Linh - Than Thở.jpg

Hình 19 : Hồ Mê Linh và Hồ Than Thở (ảnh vệ tinh)

Sau tháng 4 1975, toàn bộ xã hội dân sự biến mất – bao gồm cả hai tổ chức thanh thiếu niên vừa nêu : Hướng đạo và Gia đình Phật tử. Các khu vực này gần như bị bỏ hoang. Đến thời “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”,  thay vì đứng ra khôi phục, chỉnh trang, Nhà nước lại giao khu du lịch Hồ Than Thở cho một doanh nghiệp tư nhân. Trong thực tế, tư nhân chỉ khai thác khu rừng còn sót lại theo kiểu “du lịch đám đông” (mass tourism), còn 2/3 hồ nước vẫn tiếp tục bị bồi lấp, rừng thông bị đốn trụi để … sản xuất nông nghiệp. Riêng Đồi Tùng Nguyên ngày nay được rào lại, không ai chăm sóc, có lẽ để “tìm nhà đầu tư” …


IMG_1694.JPEG


Hình 20:  Hồ Than Thở ngày nay



IMG_1699.JPEG


Hình 21:   Hòn Bồ nhìn từ Hồ Than Thở

Nhìn vào thực trạng của Hồ Than Thở hiện nay (hình 20 và 21), quả thật không ai có thể hình dung xưa kia nó đã từng là một nguồn cảm hứng cho các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ và ca sĩ nổi tiếng một thời ...

Như vậy là chúng ta đã lướt qua hiện trạng của một số hồ nước thuộc “chuỗi hồ Cam Ly”. Có lẽ độc giả đã hiểu được phần nào nguyên nhân gây ra tình trạng “xuống cấp” thê thảm của môi trường thiên nhiên và thắng cảnh tại Đà Lạt. Và cũng có thể đoán ra lý do khiến cho trong những năm gần đây, Đà Lạt thường xuyên bị lũ lụt vào mùa mưa. 

Từ thực tế đó, không thể không đặt câu hỏi : tại sao các vị lãnh đạo Lâm Đồng - Đà Lạt tỏ ra hăng hái, say sưa với các “siêu - dự án” (điển hình là xây dựng tòa cao ốc 10 tầng trên Đồi “Dinh Thị trưởng”cạnh một khu trung tâm thương mại vốn đã chật chội, chồng chất quá nhiều khối bê-tông) nhưng lại không mặn mà, thậm chí vô trách nhiệm đối với việc giữ gìn, khôi phục “chuỗi hồ trên dòng Cam Ly”? 

Trách nhiệm này thuộc về những ai? Hay sẽ tiếp tục rơi vào quên lãng nhằm mục tiêu “giữ vững ổn định chính trị”?

                                    Đà Lạt 29 tháng 8 năm 2020

M.T.L.

GHI  CHÚ:

[1] Trước tháng 4/1975, có ba hồ nước ở khu Đa Thiện: 1,2 và 3. Hai hồ Đa Thiện 1 và 2 chỉ nhằm mục đích thủy lợi. Riêng Hồ Đa Thiện 3 (về sau trở thành điểm du lịch, được gọi tên là Thung Lũng Tình Yêu) không thuộc hệ thống Cam Ly mà chảy về phía tây-bắc nhập vào Sông Da Deung.

[2] “Khôi phục chuỗi hồ nhân tạo ở Đà Lạt”, Tiền Phong 21/07/2010:

https://www.tienphong.vn/xa-hoi/khoi-phuc-chuoi-ho-nhan-tao-o-da-lat-507371.tpo

[3] Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Đà Lạt, Địa chí Đà Lạt, Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2008, tr. 409.

[4] “Hồ Vạn Kiếp Đà Lạt bị xâm hại nghiêm trọng”, Thanh Niên 28/11/2014:

https://thanhnien.vn/thoi-su/ho-van-kiep-da-lat-bi-xam-hai-nghiem-trong-512817.html

[5] Lại Văn Long, “Hồ Vạn Kiếp”, Báo Văn Nghệ TP.HCM ra ngày 1/8/2013:

http://leminhquoc.vn/the-loai-khac/tac-pham-cua-ban-be/1551-lai-van-long-ho-van-kiep.html

[6] “Đà Lạt Khôi phục hồ Mê Linh”, Tuổi trẻ 26/09/2010:

https://tuoitre.vn/da-lat-khoi-phuc-ho-me-linh-402478.htm

Ghi chú về bản đồ và hình ảnh:

1) Những hình ảnh cũ về Đà Lạt được lấy từ trên mạng Internet qua các trang: Dalat: The Lost Shangri-La (vnafmamn.com), bộ sưu tập của Mạnh Hải trên Flickr (www.flickr.com), Pinterest (www.pinterest.com), DALATARCHI của kiến trúc sư Trần Công Hòa, v.v… Những hình ảnh về Đà Lạt ngày nay là của tác giả.

2) Bản đồ du lịch Đà Lạt 1971 : trong Tập san Sử Địa số 23&24 (đặc khảo Đà-lạt), Sài-gòn 1971. 

3) Bản đồ Đà Lạt 1952 : University of Toronto [Map and Data Library] : Service Geographique de l'Indochine, Plan de Dalat 1:5.000, Dalat, 1952: 

 https://mdl.library.utoronto.ca/collections/scanned-maps/dalat

4) Bản đồ Đà Lạt 1963 : USAMSFE (U.S. Army Map Service, Far East), Vietnam City Maps 1:12,500, Đà Lạt (Dalat) Series L909, Edition 1-AMS, 1963.

5) Bản đồ Đà Lạt thập niên 1950: Không rõ nguồn gốc.

Tác giả gửi BVN

Ghi chép về Đà Lạt (bài 1)

Logo.jpg

Mai Thái Lĩnh

Chuyện kể về Hồ Xuân Hương – Đà Lạt

1. Nguồn gốc của Hồ Xuân Hương

Hồ nước lớn ở trung tâm thành phố Đà Lạt không phải là một hồ nước tự nhiên, mà là một hồ nhân tạo. Vào năm 1944, trong một bài phỏng vấn của tạp chí Indochine, ông Cunhac (Tỉnh trưởng Tỉnh Lang Bian trong thời gian 1917-1920) cho biết như sau:

“Hồ được hình thành tương đối gần đây. Thực vậy, do sáng kiến của tôi, hồ được làm vào năm 1919, do kỹ sư công chánh Labbé thực hiện. Vào khoảng 1921-1922, theo lệnh của Công sứ Garnier, đập đất cũ chống đỡ con đường đã được nâng cao và kéo dài thêm và năm sau đó, một cái đập thứ hai được xây dựng ở hạ lưu, như vậy hình thành hai hồ nước. Do không có đập tràn (déversoir), cả hai đập bị vỡ do những cơn dông dữ dội của trận bão tháng 5 năm 1932; ngay sau đó chúng được làm lại trong cùng những điều kiện như trước. Con đập bằng đá được xây dựng vào khoảng 1934-1935, xa hơn một chút về phía hạ lưu so với các con đập cũ.” [1]

Thật ra, sáng kiến xây dựng một hồ nước không phải bắt nguồn từ Cunhac. Ngay từ đầu thế kỷ 20, người phụ trách công chánh (travaux publics) ở Đà Lạt là ông Rousselle đã trình bày dự án này cho công sứ Phan Rang là Odend’hal (năm 1902, Dalat trực thuộc tỉnh Phan-Rang)[2].

image

Hình 1: Trên Hồ Đà Lạt (1930)

Kiến trúc sư Louis-Georges Pineau – tác giả của Đồ án chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt năm 1933 – đã đánh giá tầm quan trọng của hồ nước này như sau:

“Hồ nước là trung tâm và là sức hấp dẫn của Đà Lạt. Không có hồ nước thì khi đi ngang qua thành phố, thung lũng Cam Ly chỉ là một vùng trũng sình lầy. Baguio – trạm nghỉ dưỡng vùng cao của Philippines, đã hiểu quá rõ tầm quan trọng của nước trong một phong cảnh miền núi và trong một thành phố nghỉ dưỡng, nhưng đành phải bằng lòng với Công viên Burnham (Burnham Park) của một bồn trũng hình chữ nhật – thua xa vẻ đẹp của Hồ Đà Lạt.”[3]

Trong quá trình hình thành và phát triển thành phố, hồ nước này được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau. Lúc đầu, người Pháp chỉ gọi nó bằng cái tên đơn giản: Lac (Hồ) hoặc Lac de Dalat (Hồ Đà Lạt) – như trong Hình 1 (trích từ cuốn Petit Guide touristique của André Bon, xuất bản tại Hà Nội năm 1930). Về sau, khi có thêm nhiều hồ nước khác, nó được gọi tên là Hồ Lớn (Grand Lac), như chúng ta thấy ghi trong bản đồ 1/5.000 năm 1952 (xem hình 2):

image

Hình 2: Trích bản đồ 1/5.000 (1952) của Nha Địa Dư Đông Dương

Vào thời điểm đó, đã có thêm nhiều hồ khác như: Hồ Saint-Benoit (Lac Saint-Benoit, tức là Hồ Mê Linh sau này), Hồ Than Thở (Lac des Soupirs), …

Mãi đến năm 1953, Hồ Đà Lạt mới đổi tên thành Hồ Xuân Hương (xuân hương: hương mùa xuân). Theo nhiều cư dân sống lâu năm ở địa phương, nhà văn Nguyễn Vỹ – lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Thị xã – đã đặt tên Xuân Hương cho Hồ Lớn. Rất tiếc là cho đến nay, chưa tìm được bằng chứng để xác nhận thông tin truyền miệng này.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đăng phổ biến

Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn