Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

50 năm kết thúc chiến tranh: Cuộc tranh luận chưa dứt giữa Phan Châu Trinh và Hồ Chí Minh

Tiến sĩ Kevin D. Phạm

Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Amsterdam, Hà Lan

Bùi Văn Phú dịch

Chủ điểm của bài viết này là tìm hiểu về các hệ tư tưởng chính trị tại Việt Nam từ đầu Thế kỷ XX cho đến cuộc cách mạng vào giữa Thế kỷ XX, qua đó cho chúng ta thấy hai ví dụ về phản ứng của người Việt đối với chủ nghĩa thực dân Pháp (1858-1954). 

Nghi vấn lịch sử về quan hệ giữa Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh và “Lưỡng quốc Tướng quân” Nguyễn Sơn: thầy trò hay đối thủ chính trị?

Cao Tuấn

Bài 2: THẦY - TRÒ HAY ĐỐI THỦ?

Với những tài liệu được giải mật cho thấy Nguyễn Sơn đã được ông Hồ Chí Minh rất trọng dụng trong những năm đầu.

Lẽ tất nhiên là phải như thế.

Đảng Cộng sản Việt trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, “ngàn cân treo sợi tóc” rất cần tài năng và kinh nghiệm của Nguyễn Sơn. Nguyễn Sơn đúng là người của tình thế. Nguyễn Sơn lại là tướng tin cẩn của Mao, đặc phái viên của Mao ở Việt Nam đúng lúc Mao, chỉ sau Stalin, là đại lãnh tụ mà người Cộng sản Việt kính nể, sùng bái và tin tưởng nhất. Ngoài ra, kể từ khi Stalin giải tán tổ chức Đệ Tam Quốc Tế năm 1943 để tỏ thiện chí với Anh, Mỹ, hy vọng hai nước đồng minh tư bản này đáp ứng yêu cầu sớm mở thêm mặt trận ở Tây Âu đỡ đòn cho Liên Xô lúc ấy đang kẹt trong cuộc chiến sinh tử với Hitler thì Stalin đã giao hẳn cho Đảng Cộng sản Tầu trách nhiệm trông coi giúp đỡ Đảng Cộng sản Việt - theo đúng ý của Mao.

Nói một cách khác đi, trong phong trào Cộng sản Quốc Tế tại Á Châu, Hồ Chí Minh là thuộc cấp của Mao, nhận chi viện từ Mao, chấp nhận sự lãnh đạo của Mao. Stalin đã hoàn toàn phủi tay. Hồ Chí Minh, muốn hay không muốn, không có lựa chọn nào khác.

▪TỪ HIỆN TƯỢNG...

Tuy thế, qua thời gian, sự mâu thuẫn dẫn tới bất hoà giữa ông Hồ và Nguyễn Sơn đã không tránh được và bộc lộ dần trong khi tình hình kháng chiến chống Pháp tiến triển khả quan. Và có thể chính vì tình hình kháng chiến khả quan mà lại dẫn tới mâu thuẫn bất hoà. Nghịch lý nhưng thật ra dễ hiểu.

1. Tháng 1/1948 để tăng uy thế cho Chính phủ Kháng chiến chống Pháp mà ông lãnh đạo, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm cho 11 cấp chỉ huy cao cấp nhất của quân đội Việt Minh. Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng. Nguyễn Bình được phong Trung tướng. 9 người được phong Thiếu tướng là: Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm, Chu Văn Tấn, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai, Lê Thiết Hùng, Trần Đại Nghĩa và Nguyễn Sơn. Quả thực việc phong quân hàm đã làm tăng uy thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, của Trung tướng Nguyễn Bình, của tất cả các tướng được phong ngoại trừ Nguyễn Sơn.

Thực tế là giảm uy thế của Nguyễn Sơn.

Đối với một người sâu sắc, mưu lược như ông Hồ, sắp xếp phong tướng như vậy khó có thể là một việc làm không có chủ ý.

Ông Trần Độ kể về phản ứng bất bình của Nguyễn Sơn (nguyên văn):“Mọi người đến mừng thì ông đã vặc lại: “chúc mừng cái đ. gì! Tao “thừa tướng” chứ “thiếu” sao!?”. Rồi Tư lệnh kiêm Chính uỷ Khu 4 Nguyễn Sơn gửi “công văn hoả tốc” cho Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh ở Việt Bắc thông báo từ chối không nhận quân hàm Thiếu tướng. Thay vì cách chức và ra lệnh xử bắn Nguyễn Sơn vì tội “khi quân”, “phạm thượng”, “bất tuân thượng lệnh”, ông Hồ cân nhắc lợi hại, ông biết Nguyễn Sơn đến từ đâu, Nguyễn Sơn là người của ai, thế lực của Nguyễn Sơn ở Chiến khu 4 mạnh yếu thế nào, ông chấp nhận tạm thời một bước lùi. Ông viết bài thơ 12 chữ Hán trên một tấm danh thiếp, đúng ra là thu ngắn một bài cổ thi đời Tuỳ - Đường, tặng Nguyễn Sơn, nghe như lời khuyên bảo ngọt ngào của người anh thân thiết:

Tặng Sơn đệ

Đảm dục đại

Tâm dục tế

Trí dục viên

Hành dục phương

(Bản dịch là:

Tặng chú Sơn

Dũng cảm phải lớn

Tấm lòng phải tế nhị

Suy nghĩ phải trọn vẹn

Hành động phải chín chắn

(Sách Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương - trang 310)

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, nguyên Bộ trưởng Y tế, Thứ trưởng Phủ Chủ tịch, đặc phái viên Chính phủ và đại diện cá nhân ông Hồ Chí Minh đã phải lặn lội từ Việt Bắc vào đến Thanh Hoá trao tấm danh thiếp lịch sử nói trên cho Nguyễn Sơn và chuyển lời phủ dụ của ông Hồ. Không ai biết rõ nội dung lời phủ dụ có gồm hứa hẹn nào không nhưng sau đó, ngày 9/10/1948, lễ thụ phong quân hàm Thiếu tướng của Nguyễn Sơn được tổ chức trọng thể tại Chiến khu 4 có mặt Phạm Ngọc Thạch và một số nhân vật quan trọng từ Trung ương đến dự như Lê Đức Thọ, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Khánh Toàn... Cuộc “khủng hoảng quân hàm” kéo dài hơn nửa năm trời tạm kết thúc nhưng “bát nước đã đổ xuống đất...” và có thể đã đổ xuống đất từ trước đó rồi!

Khoảng hơn một năm sau, Nguyễn Sơn mất chức Tư lệnh kiêm Chính uỷ Chiến khu 4 và được giữ lại ở Việt Bắc để chỉ làm công tác quân huấn, tức là làm tướng... không quân.

Nghi vấn lịch sử về quan hệ giữa Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh và “Lưỡng quốc Tướng quân” Nguyễn Sơn – Thầy trò hay đối thủ chính trị?

Cao Tuấn

Bài 1: VỀ MỘT NGƯỜI CỘNG SẢN “KHÔNG GIỐNG AI”

Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh (1890-1969) và “Lưỡng Quốc Tướng Quân” Nguyễn Sơn (1908-1956) là hai nhân vật lịch sử quan trọng của một thời đại và họ có mối quan hệ đặc biệt với nhau. Tìm hiểu thực chất mối quan hệ này không nhằm mục đích phê phán mà là hàm ý muốn tiếp cận sự thực lịch sử, cái sự thực lịch sử rắc rối, phức tạp, không giống như những huyền thoại lưu truyền.

Hành trình đi tìm sự thực bắt đầu bằng sự phân tích, đãi lọc, lượng giá và tổng hợp những tài liệu bán chính thức và chính thức có nguồn gốc từ nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã được tìm thấy trên trên một số websites như sau:

www.tuongnguyenson.com

www.quansuvn.net

www.vnmilitaryhistory.net

...

Và nguồn tài liệu đáng kể nhất là cuốn sách Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương, mang khá nhiều thông tin mới mẻ rất có ý nghĩa.

Đây là quyển sách dịch, được Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội in và lưu hành rộng rãi từ năm 2001 từ nguyên bản chữ Hán Hoàng Hà luyến, Hồng Hà tình do Nhà Xuất bản Thế Giới Đương đại, Bắc Kinh, ấn hành năm 2000. Dịch giả là Thiếu tướng Nguyễn Đồng Thoại của Bộ Quốc phòng Việt Nam. Tác giả là Trần Kiếm Qua, 86 tuổi, đảng viên trung kiên của Đảng Cộng sản Tầu, người vợ Trung Hoa, nay đã mất, của Lưỡng Quốc Tướng Quân. Tuy nhiên nội dung sách gồm cả những tài liệu “bí mật quốc gia” mới được giải mật lần đầu tiên cho thấy thực ra tác phẩm là một công trình tổng hợp của 3 tác giả chính: Trần Kiếm Qua kể lại cuộc đời vợ chồng 7 năm với Nguyễn Sơn, hai tác giả còn lại là Cơ quan Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Tầu và Cơ quan Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt.

Mục đích và đối tượng của cuốn sách này hiện rõ ngay trong lá thư trang trọng ngày 22 tháng 9 năm 2001,được nói là của Trần Kiếm Qua, kèm cả thủ bút và chân dung. Bản dịch của lá thư được in ngay ở phần đầu sách Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương có nội dung chính như sau:

“Thư gửi Nhà Xuất bản Văn học và bạn đọc Việt Nam:

... Hoàng Hà là dòng sông mẹ của Trung Quốc. Hồng Hà là dòng sông mẹ của Việt Nam. Cuốn sách nói về một câu chuyện có thực, ghi lại những thực tế về cuộc chiến đấu kề vai sát cánh giữa hai quân đội, hai Đảng, hai nước Trung Quốc và Việt Nam, phản ảnh thực tế nhất về tình hữu nghị truyền thống của nhân dân hai nước Trung-Việt. Gia đình chúng tôi chính là tượng trưng cho tình hữu nghị đó. Hoàng Hà và Hồng Hà sẽ mãi mãi chẩy xuôi, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung-Việt cũng sẽ mãi bền vững với thời gian...

Kính thư!

Phu nhân tướng Nguyễn Sơn

Trần Kiếm Qua

Có tên như một truyện tình lãng mạn nhưng thực ra cuốn sách lại có bản chất và mục đích chính trị. Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương như thế phải được hiểu là một cố gắng bài bản của cả 2 Đảng Cộng sản Việt và Tầu, nhằm lật ngược tinh thần bài Hoa, chống Tầu trong xã hội Việt từ Nam ra Bắc, hậu quả của những hành động bá quyền lấn hiếp lân bang đang diễn ra trên biển Đông của nhà cầm quyền Trung Cộng và quan trọng hơn nữa, hậu quả của hơn một thập niên Trung-Việt thù nghịch vừa mới “chính thức chấm dứt” trong hội nghị Thành Đô tháng 9/1990.

Độ tận kiếp ba huynh đệ tại

Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu

(Qua cơn sóng gió anh em còn đó

Gặp nhau cười một tiếng quên hết oán thù)

Bỗng nghe vần “THẮNG” vút lên cao

Đỗ Thành Nhân

1968
Chủ nhật 31/12/1967, ông Hồ Chí Minh ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc tết. Chiều 01/01/1968, sau khi căn dặn Bộ Chính trị những công việc cần làm, Ông lên máy bay đi Bắc Kinh chữa bệnh theo quyết định của Bộ Chính trị và hội đồng bác sỹ. (1)
Bài thơ chúc tết được cho là nổi tiếng trong lịch sử hiện đại với câu cuối cùng là: “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta.” như là hiệu lệnh của Hà Nội phát lệnh cho tổng tấn công năm Mậu Thân bắt đầu đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968 (đêm mồng một Tết Mậu Thân).
Theo số liệu Cục tác chiến của Quân Giải phóng, tổn thất của họ trong đợt 1 (từ 29/1 tới hết tháng 3) vào khoảng 17.000 binh sĩ tử trận và 20.000 bị thương, Tổng cộng tổn thất của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh của họ là 9.078 chết, 35.212 bị thương, 1.530 mất tích.(2)
Số người chết, tỷ lệ 1,87. Năm 1969 ông Hồ Chí Minh chết, sau khi kịp ra bài thơ với câu cuối cùng: Bỗng nghe vần “THẮNG” vút lên cao. (1)

Những người bảo vệ di hài lãnh tụ

An Viên dịch

“Biểu tượng Hồ Chí Minh đã có sự cạnh tranh gay gắt và điều đó càng trở nên khó khăn hơn để khiến ông ấy có ảnh hưởng đến thế hệ trẻ này”, Goscha nói với AFP.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgafpjfa-sacI-9nhI_qoqvMvY_RYf0JAADO7EE5rP7_58fTQLUiufSzwu729l1s9P_u6JvH_f5l3Ftc0rZff9Zv5GdbALTUZ8Qd2GxI-W3-ACETPoZ9SNa4DSvxJI7XvRJq9YuPUOS-qE/s640/9d49414b0ead408a785b9157430c3ee77abcab4f.jpg

Bảo vệ thi hài nhà lãnh tụ cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh rất vất vả: các binh lính được tuyển chọn cẩn thận và làm việc bất chấp ngày đêm, giám sát thi hài người sáng lập ra nhà nước cộng sản đã mất cách đây 50 năm.

Bảo vệ Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ yêu nước tối thượng dành cho những người mặc đồng phục trắng. Một ngôi đền dành cho người vẫn tràn ngập đời sống công cộng dù đang mờ nhạt trong giới trẻ.

Công việc là một “giấc mơ được hiện thực hóa” đối với người bảo vệ Nguyễn Xuân Thắng, ngay cả khi nó không phải lúc nào cũng dễ dàng.

“Chúng tôi phải để mắt đến mọi thứ để đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra”, trung tá 41 tuổi nói với AFP.

Suốt cả năm, ông Thắng làm việc tới bốn ca hai tiếng mỗi ngày - thường ở bên ngoài lăng, bất chấp cái nóng mùa hè, mưa gió mùa đông.

Một số ngày thì Thắng có thể làm việc bên trong những căn phòng mát mẻ hơn, nơi cơ thể của Hồ Chí Minh được trưng bày trong lồng kính để phục vụ cho các cuộc thăm viếng của hàng ngàn học sinh, khách du lịch và cựu chiến binh.

Hồ Chí Minh không bao giờ đơn độc, những người lính luôn đứng cạnh ông 24/24.

Lược khảo tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Ngô Đình Diệm

Võ Văn Quản

Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh đều được cho là những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất trong định hình lịch sử Việt Nam hiện đại. Song qua phân tích, tác giả bài viết không nhận thấy được tầm ảnh hưởng đó trong các chính sách mà họ đưa ra. Ảnh: Không rõ nguồn.

Không thể viết lịch sử bằng định kiến.

Cả hai phía của câu chuyện đều cần phải được xét đến,

ngay cả khi chỉ có một phía mà thôi’

John Betjeman, Tình đầu – Tình cuối (1952)

Sẽ quá đơn giản để làm xấu hình ảnh của một con người, đặc biệt khi những người chấp bút viết lại lịch sử không cùng “phe” với người ấy. Sau Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam, Ngô Đình Diệm chắc chắn là một nhân vật đáng thương như vậy.

Ông bị chính các đồng chí của mình ám sát và được chôn cất vội vàng tại nơi ngày nay là Công viên Lê Văn Tám; bị ác quỷ hóa dưới tay báo chí và các công trình nghiên cứu của “bên thắng cuộc”. Điều chắc chắn là chúng ta rất khó phân tích, bình luận di sản chính trị của Ngô Đình Diệm một cách lý tính mà không tránh khỏi sự tức giận từ cả hai phía của chiến tuyến xưa cũ. Thậm chí sẽ có người cho rằng người viết “phạm thượng” khi dám đặt Ngô Đình Diệm ngang hàng với Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, dù nói gì đi chăng nữa, họ Ngô vẫn là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Và sẽ là thiếu sót rất lớn nếu chúng ta không thể nghiên cứu về tư tưởng chính trị, quản trị, pháp luật của Ngô Đình Diệm; đặc biệt trong tương quan so sánh với Hồ Chí Minh – nhân vật đã trở thành ngôi sao chính trị từ thập niên 20 của thế kỷ 19, và vụt sáng trở thành thần tượng lãnh đạo trên toàn Việt Nam sau trận Điện Biên Phủ.

Khảo lược so sánh ngắn này hy vọng có thể cung cấp một cái nhìn khách quan mang tính nội hàm thông tin nhiều hơn là bình luận, phê phán hay ca ngợi bất kỳ định hướng nào.

Tư tưởng về sở hữu đất đai

Đất đai cho đến ngày nay vẫn là vấn đề chính trị nhạy cảm nhất tại Việt Nam. Vậy nên không có gì lạ khi người viết đặt tư tưởng của cả hai vị lãnh tụ này trong vấn đề đất đai là thứ cần được nghiên cứu đầu tiên.

Quan điểm riêng của ông Hồ Chí Minh có phần rất thực dụng. Theo ông, nông dân Việt Nam không chỉ là lực lượng nòng cốt cho hoạt động cách mạng tại Việt Nam, mà còn là những người đóng góp nhiều nhất cho cách mạng. Vì vậy, ngay khi chuẩn bị tiếp quản Hà Nội và các tỉnh thành quan trọng phía Bắc, năm 1953, ông đã khẳng định: “Chính phủ quyết định phải triệt để giảm tô, để nông dân được hưởng lợi ích bước đầu của họ, để nông dân hăng hái đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến”. Cách nhìn này, vì vậy, chưa phản ánh được một quan niệm, hay nói đúng hơn là niềm tin pháp lý thuần túy của riêng ông về tư hữu đất đai. Nó được dùng để phục vụ cho động cơ chính trị nhiều hơn.

Điều này càng được chứng minh rõ hơn khi xem xét cách tiếp cận về đất đai của lãnh đạo Việt Minh trong giai đoạn họ cần nhiều hậu thuẫn của giới tài phiệt, tư bản và những thương nhân rất linh động. Từ năm 1945 đến năm 1949, khái niệm “người cày có ruộng” (land to the tiller) không bao giờ xuất hiện trong những lời cổ động, thông báo chính thức của lực lượng này, nhằm tránh tình trạng tự cô lập mình với sự ủng hộ của các địa chủ và giới tư sản.

Chỉ sau khi hoàn toàn nắm quyền kiểm soát phần phía trên vĩ tuyến 17, Hồ Chí Minh mới có cơ hội thể hiện đầy đủ tư tưởng của mình về sở hữu đất đai.

Tòa án Nhân dân đặc biệt đang thực hiện hoạt động ‘đấu tố’ của mình tại một vùng nông thôn miền Bắc vào năm 1955. Ảnh: The Dmitri Baltermants Collection/CORBIS

Cải cách ruộng đất là một cuộc cải cách khó để phân tích. Đây là cuộc cải cách mà Bắc Việt cho rằng đã thành công tốt đẹp với những mất mát “trong tầm kiểm soát”; trong khi các nhà nghiên cứu miền Nam Việt Nam thời điểm đó thì cho rằng nó là một cuộc “tắm máu” “man rợ”. Do đó, tác giả sẽ hạn chế đưa ra bình luận chủ quan về vấn đề này.

Tuy nhiên, các cách nhìn về mức độ can thiệp của ông Hồ Chí Minh về cải cách ruộng đất, để từ đó hiểu được cách nhìn của ông về vấn đề này, thì vẫn là một đề tài gây tranh cãi.

Trong tác phẩm From Colonialism to Communism của Hoàng Văn Chí, Socialist Transformation in the Democratic Republic of Vietnam của Giáo sư Alec Holcombe hay Communist Land Policy in North Vietnam của tác giả J. Price Gittinger, họ đều đưa ra các dẫn chứng nhận định rằng Hồ Chí Minh có tham gia tích cực vào việc lên kế hoạch và quá trình diễn ra cải cách ruộng đất. Đặc biệt, ông còn sử dụng bút danh để viết các bài báo đánh địa chủ (mà vụ bà Cát Hanh Long thường được nhắc đến), hay cũng có thể kể đến các chuyến thăm Trung Quốc và Liên Xô để nhận hướng dẫn và chỉ thị thực hiện cải cách.

Ngược lại, nhiều thuyết âm mưu được ghi nhận trong giới sử học quốc tế về thời kỳ này như trong Hồ Chí Minh: Một cuộc đời của Giáo sư William Duiker hay quyển Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Vietnam của Tiến sĩ Nguyễn Thị Liên Hằng, lại phổ biến câu chuyện “hậu cung” rằng sai lầm chính sách của cải cách ruộng đất chủ yếu là do phe thiên tả và thiên cộng sản quốc tế như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương chiếm thế thượng phong trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ bấy giờ. Vì vậy, phe dân tộc chủ nghĩa như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp gần như không có vai trò gì trong cải cách ruộng đất.

Dù sao đi chăng nữa, từ năm 1958, Đảng Lao động Việt Nam nhất trí coi việc áp dụng mô hình Xô Viết (vào Việt Nam) là “một vấn đề mang tính bắt buộc”. Ruộng đất của gần như toàn bộ nông dân miền Bắc lại bị đưa vào hợp tác xã để thực hiện kinh tế tập trung, thực tế cải cách ruộng đất gần như không còn ý nghĩa gì nữa. Do đó, có thể nói tầm nhìn của ông Hồ Chí Minh về đất đai, ít nhất là qua các thể hiện chính sách trong thời ông còn sống, không có sự khác lạ, độc đáo nào so với định hướng của quốc tế cộng sản.

Đối với tư tưởng chống cộng rất rõ ràng của Ngô Đình Diệm, công nhận quyền tư hữu đất đai là một câu chuyện hiển nhiên. Đây là điều tốt. Tuy nhiên, góc nhìn về công bằng đất đai của họ Ngô được cho là không sánh được với đối thủ cộng sản của mình.

Theo thông tin tổng hợp ngắn từ trang History (Vốn thuộc A&E Television Networks, là một công ty truyền thông có uy tín của Hoa Kỳ), cải cách ruộng đất ở miền Nam Việt Nam do Ngô Đình Diệm thực hiện quá trễ, quá chậm và quá hời hợt.

Mâu thuẫn của 1 bài hát

Nguyễn Đình Cống

Đó là bài hát Lời Bác dặn trước lúc đi xa của nhạc sĩ Trần Hoàn. Theo tường thuật thì ông Vũ Kỳ đã kể cho ông Trần Hoàn nghe câu chuyện. Quá cảm động, nhạc sĩ đã sáng tác bài hát. Nhiều người thuộc bài này, tôi chỉ xin chép ra một số câu:

Chuyện kể rằng trước lúc Người ra đi, Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế. Nhưng không gian vẫn bốn bề lặng lẽ. Bác đành nằm im… Bác muốn nghe một câu ví… mà xung quanh vẫn lặng ngắt như tờ… Lần thứ ba bác vẫy gọi… Ôi may sao, bỗng có em gái nhỏ, Bước vào gần Bác. Rồi căn phòng xao động trong nước mắt, Những lời ca nức nở tái tê. Rằng "người ơi người ở đừng về". Bác nhìn em rơm rớm hàng mi… Chuyện kể rằng trước lúc Người đi xa.

Để chăm sóc bệnh nhân Hồ Chí Minh, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai cử một đội gồm các Bác sĩ và Y tá giỏi từ Bắc Kinh sang Hà Nội vào ngày 25 tháng 8/1969 Từ đó BS và Y tá Trung Quốc thay người Việt chăm sóc bệnh nhân.

Về việc hát cho Bác nghe, trước đây đã có khá nhiều người dựa vào ngôn từ bài hát của Trần Hoàn để viết ra những bài báo, dựng nên những tiểu phẩm với khá nhiều tình tiết được thêm vào, làm xúc động lòng người. Tuy vậy có vài câu hỏi mà từ lâu không ai đụng đến. Đó là ai hát, hát vào lúc nào, có những ai đã chứng kiến.

Hát vào trước lúc Người đi xa, nhưng vào lúc mấy giờ, ngày nào. Trước vài phút, vài giờ, vài ngày đều là trước. Riêng tên bài hát đã có nói tới là Người ơi người ở đừng về, nhưng có thông tin thêm các bài khác nữa.

Mãi gần đây, từ 2010 mới có người đưa ra các câu trả lời. Theo dõi các tường thuật trên báo, thấy có hai nguồn thông tin khác nhau.

Nguồn A- Xuất hiện trước. Người hát là Vương Tinh Minh Y tá Trung Quốc, hát chiều 31/8, bài hát tiếng Hoa. Tường thuật của Vương Tinh Minh như sau: “Chiều hôm đó sức khỏe của Bác đã có chuyển biến tốt lên một chút, Bác nói muốn nghe một câu hát Trung Quốc. Các đồng chí đề nghị tôi hát. Tôi nói thật là hát cũng không tốt lắm, nhưng để vui lòng Bác, vì tình hữu nghị Trung-Việt, tôi đã hát một bài mà nhiều người thuộc và hát được, bài hát có nội dung chính là ra khơi xa phải vững tay chèo. Bác nghe xong rất vui, Bác nở nụ cười hiền từ. Bác nắm nhẹ tay tôi, tặng tôi một bông hoa biểu thị cảm ơn” (nguồn: Báo QĐND ngày 25/1/2010. Báo Chính luận ngày 22/9/2013. Đường dẫn: http://www.tiengnoicuadan.org/2013/09/ba-lan-bac-cuoi-truoc-luc-di-xa.html).

Nhân ngày 19.5

“PHẠM TỘI GÌ ĐÂY? TA THỬ HỎI

TỘI TRUNG VỚI NƯỚC, VỚI DÂN À?”

Tương Lai

Câu thơ Hồ Chí Minh viết trong “Ngục trung nhật ” cách nay đúng 70 năm bỗng ngân vang trong những ngày tháng Năm cháy bỏng qua lời của Phương Uyên trước tòa án Long An ngày 16.5: Tôi yêu nước, tôi thể hiện lòng yêu nước. Tôi không ngờ tôi bị bỏ tù vì thể hiện lòng yêu nước ấy... Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước, chúng tôi làm xuất phát từ tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn.

Nói “Đi theo con đường Bác Hồ đã chọn” là nói đến con đường nào vậy?

Vũ Cao Đàm

Những ngày này, lòng dân sôi sục trước sự vu cáo bỉ ổi của bọn cộng sản Đại Hán, chúng vừa hăm dọa đánh Việt Nam, vừa cãi trắng những tội ác xâm phạm lãnh thổ mà chúng đang gây ra trên đất nước ta.

Có điều đáng suy nghĩ là, trong tình hình khẩn trương như vậy, chúng ta không nghe được bất cứ tiếng nói nào của các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng? Người ta chỉ nhớ, có lần chính ông bình thản tuyên bố… Biển Đông vẫn lặng sóng yên ổn.

Trong khi đó, tôi nghe được vào rất nhiều lúc, ở rất nhiều nơi, rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam đang quyết trung thành “Đi theo con đường Bác Hồ đã chọn”, rồi vun đắp tình hữu nghị mà hai vị lãnh tụ đã dày công vun đắp (!).

Hồ Chí Minh: Cần một cuộc chiến để xóa bỏ những “hư hỏng cũ kỹ”đang xảy ra

Nguyễn Khắc Mai

Kỷ niệm sinh nhật của Hồ Chí Minh năm nay, tưởng không gì bằng đem những Di chúc của Cụ ra để phân tích, tìm hiểu và thực hành.

Câu nói trên là lời Di chúc của cụ mà Ban Chấp hành Trung ương đã không đưa vào phần di chúc chính thức đã được biên soạn lại. Tuy nhiên nó lại có tầm quan trọng vì đây là thủ bút chính Cụ viết ra bằng bút bi màu lục, có những chỗ được gạch dưới bằng bút bi màu đỏ. Hầu hết những thủ bút này đã được đăng trong bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam xuất bản năm 1989. Thực ra ban đầu Cụ viết “cuộc chiến tranh” rồi có chữ bút đỏ sửa lại là chiến đấu. Tôi tin cái chữ “chiến tranh” đầu tiên mới là trực cảm, là thôi thúc bởi “vô thức”, nó chân thật chứ không phải là chữ “đấu” sau khi “tri thức duy lý” đã xen vào. Nó không còn là khách quan, trực cảm nữa.

Cụ nói rõ “một cuộc chiến tranh”. Ở đây cần phân tích, tại sao không nói như thường lệ mà Cụ cũng hay nói là cuộc chiến đấu (la lutte), cuộc đấu tranh, mà Cụ cũng không dùng “một cuộc chiến”. Lại nói rõ là cuộc chiến tranh. Tôi không mong cuộc chiến tranh này có vũ khí nóng (như từng xảy ra khi đàn áp nông dân Sông Hậu đòi đất (1980), như ở Tiên Lãng (2011), như ở Văn Giang (2012) ... Mà chắc chắn Cụ Hồ cũng không muốn như thế. Nhưng chắc chắn là cần một “la guerre”.

Có làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh không?

Nguyễn Trọng Vĩnh

image Tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Thực tế thì hiện tại "độc lập không hoàn toàn", vì trong đất nước ta hiện có không ít tô giới của nước ngoài: Trên rừng thì có những nơi bị bán (cho thuê dài hạn), vị trí chiến lược thì bị chiếm đóng, ở đồng bằng thì có những công viên vui chơi giải trí do nước ngoài làm chủ, ở biển thì có khu ăn chơi, đánh bạc và những dải trồng đất cây sinh thái... Những tô giới đó người dân Việt Nam tuy là chủ đất nước nhưng không được tự do đặt chân đến. Trên biển thì quần đảo bị chiếm đoạt, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế bị xâm phạm, ngư dân Việt Nam không được tự do đánh bắt hải sản. Vậy, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh chưa được thực hiện như Người mong muốn nếu không nói là đang bị vi phạm.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là: "Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội". Nhưng trong thực tế thì không thấy gì gọi là mầm mống sơ khai của chủ nghĩa xã hội, văn kiện Đảng thì luôn nói đến "định hướng xã hội chủ nghĩa" nhưng không thấy "định hướng" biểu hiện như thế nào, mà chỉ thấy doanh nghiệp tư bản nước ngoài, doanh nghiệp tư bản bản xứ, xí nghiệp liên doanh... phát triển mạnh.

Nghĩ thêm về lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

Bùi Minh Quốc

Lời kêu gọi lịch sử ấy của chủ tịch Hồ Chí Minh đã vang lên lần đầu tiên vào buổi sáng ngày 17.7.1966 tại thủ đô Hà Nội, làm rung động mãnh liệt mọi trái tim Việt Nam yêu nước, yêu dân chủ tự do.Vì độc lập, vì tự do, biết bao người con của Tổ quốc Việt Nam đã không chút đắn do hiến dâng cả tính mạng suốt mấy cuộc chiến đấu trường kỳ.

Thực ra, ngay từ năm 1942, tư tưởng KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO của Hồ Chí Minh – cũng là lẽ sống của bất cứ con người bình thường nào – đã ghi rõ ràng trong bốn câu thơ này :

Trên đời nghìn vạn điều cay đắng

Cay đắng chi bằng mất tự do

Mỗi việc mỗi lời không tự chủ

Để cho người dắt tựa trâu bò

(Hồ Chí Minh - Nhật ký trong tù)

Như thế, độc lập, trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ hạn hẹp ở độc lập dân tộc, dầu rằng độc lập luôn luôn là nỗi ám ảnh nghìn đời của dân tộc ta, và vào thời điểm ra đời những câu thơ trên đang là nhiệm vụ bức thiết hàng đầu. Độc lập, ở Hồ Chí Minh còn một tầng nghĩa nữa sâu hơn, đó là vị thế độc lập của mỗi con người, trước hết là cái quyền suy nghĩ độc lập và công khai nói lên tiếng nói độc lập, để không rơi vào cảnh “mỗi việc mỗi lời không tự chủ để cho người dắt tựa trâu bò”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - điểm tựa cho tinh thần dân tộc của chúng ta

Tâm tư và suy nghĩ nhân kỷ niệm 120 năm ngày 19 Tháng Năm

Nguyễn Trung

“Tình huống hiện nay chỉ cho phép nước ta lựa chọn cách ứng xử như thế nào mà thôi:

- Kịch bản 1: Hoặc là dấn thân đi vào hướng phát triển phồn vinh của dân chủ tự do, để có thực lực, có nhân cách và có tư cách trở thành một đối tác được tôn trọng của Trung Quốc và của cả thế giới?

- Kịch bản 2: Hay là chịu thúc thủ buông xuôi, mặc cho số phận đưa đẩy vào con đường của đổ vỡ do tham nhũng tha hóa bên trong, của quỳ gối lệ thuộc do bị o ép từ bên ngoài, như quá khứ mất nước của chính ta và như kinh nghiệm nhiều quốc gia trên thế giới đã chỉ ra?! Trong tình huống này, nếu được ban phát hòa bình và hữu nghị, thì đó sẽ chỉ là thứ hòa bình – hữu nghị dành cho thằng hầu hay kẻ làm đĩ!

- Không có kịch bản thứ ba! Càng không có một phép trời hay liên minh ý thức hệ nào có thể đẻ ra cho nước ta kịch bản thứ ba. Ta có ngậm miệng hay nhắm mắt, có van xin hay cố giữ hòa hiếu đến đâu đi nữa, cuộc sống khách quan chỉ dành cho nước ta hai kịch bản nói trên để lựa chọn mà thôi!”

“Cục diện thế giới “tranh tối tranh sáng” hiện nay tạo ra cho nước ta điều kiện có thể đóng vai trò tích cực trong nhiều vấn đề “nóng” của thế giới, mang lại cơ hội cho phép nước ta không phải lệ thuộc vào một ai để khẳng định mình, vừa là thời cơ vừa là đòi hỏi Đảng phải rũ bỏ mọi yếu kém của mình để tự thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ từ trên xuống và từ trong Đảng ra: Đổi mới thể chế chính trị của đất nước, phát huy sức mạnh dân tộc của đất nước. Đây chính là chiến trường mới vô tiền khoáng hậu của Đảng. Đất nước không có kịch bản thứ ba, nên Đảng cũng không có kịch bản thứ ba!”

Thưa học giả Nguyễn Trung, tâm huyết và khát vọng nồng cháy vì sự an toàn lãnh thổ và phồn vinh của dân tộc trong những lời kêu gọi của ông ai cũng thấy rõ. Nhưng yêu cầu thay máu cho một tổ chức mà ai cũng nhìn không kém rõ ràng là đối với người cầm chịch chỉ còn là đặc quyền đặc lợi, thì đó là yêu cầu có vẻ như không tưởng. Cho nên, những lời nồng nàn ấy, chỉ cần vấp phải thứ suy nghĩ lạnh tanh máu cá mà phía sau nó là tiếng xủng xoẻng của đồng tiền đã như một hệ thống tư duy chi phối từ trên xuống dưới, thì ông tính xem, chúng còn được bao nhiêu ý nghĩa? Bởi thế, chúng tôi nghĩ, đường đi nước bước thế nào để biến một đảng hiện nay thành một đảng thực sự của dân tộc, đó mới là điều cực kỳ nan giải, mặc dù cũng là điều phải đặt ra – vì không còn bước lùi nào nữa – cho thực tiễn của đất nước.

Bauxite Việt Nam 

Nhân ngày sinh lần thứ 120 Chủ tịch Hồ Chí Minh: Thôi đi, 16 chữ xoa đầu!

Thái Hữu Tình
Bác V. là cán bộ văn phòng Tỉnh ủy, về hưu đã mấy năm nay. Được con cháu hướng dẫn sử dụng máy vi tính, bác mê lắm. Mỗi ngày bác dành vài giờ đồng hồ đọc các báo mạng, trao đổi thư từ. Nhờ trời, chịu học, bác cũng đọc được tiếng Anh tàm tạm.
Một hôm, theo một đường link bác tóm được một bức tranh “cực kỳ”! Đó là kiệt tác “Famous People Painting "Discussing the Divine Comedy with Dante" . Bức tranh phải nói là đẹp và hoành tráng. Ánh sáng, màu sắc lung linh, sang trọng, pha chút huyền bí, thiêng liêng. Hơn trăm con người trong tranh nổi lên như thật, người nào cũng sinh động. Mà giá trị nhất ở chỗ đây toàn là những nhân vật nổi tiếng nhất của nhân loại, từ cổ chí kim, tốt có, xấu có, tụ hội về đây như một “đại hội đại biểu” của toàn thể nhân quần vậy.
clip_image002
Thoáng nhìn dễ nhận ra ngay bác Mao ngồi ở bàn giữa tươi cười với tẩu thuốc trên tay, gần đấy là Lincoln, Các Mác, là Stalin với bộ tóc bộ râu không lẫn vào đâu được. Trên cao, góc trái là Lênin đang giơ tay chỉ lối, gần đấy là Hitler với cái mũi khoằm và mái tóc vạt chéo trước trán, nhưng lại có ai như Quan Công cầm thanh long đao, ai như vua bóng đá Pê lê nữa này... Phi đen, Chê-ghê-va-ra, Yasser Arafat thì trộn vào đâu cho lẫn?

Nhân ngày sinh lần thứ 120 Chủ tịch Hồ Chí Minh: VÌ SAO HỒ CHÍ MINH ĐẶT DÂN CHỦ TRƯỚC GIÀU MẠNH?

Tống Văn Công

I– MỘT TƯ TƯỞNG TỰ DO DÂN CHỦ XUYÊN SUỐT
Tháng 12 năm 2008, tại cuộc Hội thảo Việt Nam học tổ chức ở Hà Nội, GS. Yoshiharu Tsuboi, Đại học Waseda, Nhật Bản, đã thu hút sự chú ý của hàng trăm nhà nghiên cứu Việt Nam và nhiều nước với bài thuyết trình nhận định Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa cộng hòa chứ không phải cộng sản.
Giáo sư cho rằng: "Có lẽ giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời mình là những giá trị của nền cộng hòa", "cơ sở lý luận là Tự do, Bình đẳng Bác ái".
Tóm lược bài thuyết trình: Hồ Chí Minh coi mục tiêu cao nhất là giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước; không chỉ xây dựng chế độ Dân chủ Cộng hòa mà còn xây dựng những con người đóng vai trò gánh vác quốc gia độc lập; không chỉ đất nước được độc lập, nhà nước có chủ quyền, mà phải thực hiện tự do của mỗi người dân. Người dân phải trở thành chủ thể xây dựng từ dưới lên trật tự của nền cộng hòa. Từng cá nhân suy nghĩ, quyết định với tinh thần trách nhiệm cao. Hồ Chí Minh cho rằng mỗi người dân đều có quyền mưu cầu hạnh phúc và phải chủ động, tích cực tranh đấu để giành được hạnh phúc.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn