Hiển thị các bài đăng có nhãn Thể chế và lối thoát. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thể chế và lối thoát. Hiển thị tất cả bài đăng

Việt Nam cần tránh đi con đường cụt của Trung Quốc?

LS Ngô Ngọc Trai

Gửi bài cho BBC News Tiếng Việt từ Hà Nội

Các vấn đề xung quanh Trung Quốc đang thu hút sự quan tâm chú ý của toàn thế giới. Ở Việt Nam sự thể càng đặc biệt hơn, khi mô hình phát triển của Việt Nam từ lâu nay cũng rập khuôn theo kiểu Trung Quốc.

Vậy nếu đường lối phát triển của Trung Quốc hiện đang gặp rất nhiều khó khăn thì mô hình của họ có là tương lai cho Việt Nam?

Đường lối nào?

Đầu tiên là cần nhìn ra được đâu là đường lối phát triển của Trung Quốc.

Vài ba năm trước, một dịp tôi mua được một cuốn sách viết về quá trình phát triển hóa rồng của Đài Loan, một dạng sách ưa thích viết về quá trình phát triển của các nước. Cuốn sách có tiêu đề Đài Loan - tiến trình hóa Rồng, vừa hăm hở đọc được vài trang thì tôi đã bỏ cuốn sách và không đọc lại nó cho tới tận bây giờ.

Lý do là mới đọc được vài dòng thì thấy tác giả trước khi đi vào bình luận một vấn đề đã đưa ra những lời xúc xiểm miệt thị, một kiểu như xác định lập trường, sau rồi mới đi vào phân tích chuyên môn. Kiểu hành văn hoàn toàn trái ngược không giống gì với những cách hành văn của các tác giả Âu Mỹ mà tôi vẫn đọc.

Những cuốn sách của các tác giả Âu Mỹ, xa xưa thì như cuốn Của cải của các quốc gia của Adam Smith, gần thì như các cuốn Thế Giới Phẳng, Chiếc Lexus và cây Ô liu, Vì sao các quốc gia thất bại, Sự bí ẩn của tư bản.

Đó đều là những cuốn sách chỉ ra chính sách phát triển đúng đắn đưa đến sự thịnh vượng của các nền kinh tế, chúng đều được hành văn một cách khoa học, sáng sủa, nhân văn, logic và đôi khi hài hước.

Nhờ đọc những sách đó, người đọc có thể nói là sẽ thấm đượm tinh thần khoan dung khoa học của một thứ chủ nghĩa nhân văn sâu sắc, cho nên cách viết của cuốn sách nói trên kia quả là trái ngược.,

Tìm hiểu thì được biết tác giả cuốn sách viết về Đài Loan là một học giả người Trung Quốc công tác tại Đại học Nhân dân Bắc Kinh. Điều đó giúp hình dung phần nào về bầu không khí tri thức và cách thức nhìn nhận sự việc của học giả Trung Quốc.

Để ý kiểm nghiệm lại thì thấy, là người Việt Nam chăm chỉ tìm đọc dòng sách tinh hoa từ khoảng chục năm trở lại đây, tôi không thấy có một tác phẩm đáng đọc nào của tác giả người Trung Quốc.

Không có một tác phẩm mô tả triết lý phát triển nào của các học giả, trong khi 50 năm qua Trung Quốc phát triển thần kỳ từ một nước thế giới thứ ba đến nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.

Các lãnh đạo Trung Quốc cũng không có các cuốn sách dạng hồi ký cho thấy về những chính sách vĩ mô và vi mô đã đưa đến thành tựu phát triển cho Trung Quốc.

Kiểu sách dạng như hồi ký của nhà lãnh đạo Singapore ông Lý Quang Diệu hoặc hồi ký của nhà lãnh đạo Malaysia ông Mahathir Mohamad mà qua đó người đọc thấy được phần nào quá trình phát triển một quốc gia.

Vậy thì nền tảng phát triển của Trung Quốc là gì? Những giá trị con người nào đã đưa đến sự phát triển của Trung Quốc?

Nếu Trung Quốc muốn lãnh đạo thế giới thì phải thuyết phục được tầng lớp tinh hoa tri thức của các nước.

Đằng này, cứ tạm coi tôi là một người thuộc giới trí thức tinh hoa của Việt Nam đi, mà tôi không thấy được thuyết phục bởi triết lý phát triển nhân văn của Trung Quốc, thì thử hỏi Trung Quốc làm sao chứng tỏ được khả năng lãnh đạo thế giới.

Tỷ lệ thất nghiệp ở TQ đã gần chạm ngưỡng lịch sử - và con số thực tế còn lớn hơn nhiều

Việt Nam 2019: Chưa thoát khỏi ngã ba đường

Nguyễn Quang Dy

Cứ đến cuối năm, thời gian thường trôi nhanh “tựa cánh chim bay”. Người ta nói “năm con heo” là năm cuối của 12 con giáp nên thường có nhiều biến động. Những người bi quan cho rằng Việt Nam đang “họa vô đơn chí”, còn những người lạc quan trông chờ vào quy luật “cùng tắc biến”. Trong khi cánh cửa cơ hội cho Việt Nam đang khép lại thì thách thức ngày càng nhiều và nguy cơ ngày càng lớn. Muốn dự báo năm mới phải nhìn lại năm cũ. Chưa biết triển vọng năm 2020 sẽ thế nào, nhưng đến cuối 2019, Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi ngã ba đường. Có nhiều nguyên nhân, nhưng dường như “Hà Nội không vội được đâu”!

Tứ trụ hay Tam trụ

Về đối nội, ông Trần Đại Quang ra đi khá vội vàng (21/9/2018) đã để lại một lỗ hổng quyền lực và một cơ hội để ông Nguyễn Phú Trọng tập trung quyền lực vào một mối (TBT & CTN). Hệ quả là cấu trúc quyền lực “Tứ trụ” (truyền thống) nay trở thành “Tam trụ” (lâm thời). Dù Việt Nam chưa sẵn sàng “nhất thể hóa” nhưng ông Trọng đã củng cố được quyền lực, vượt lên trên thiên hạ để “thế thiên hành đạo” (như ông Tập Cận Bình bên Trung Quốc).

Có người lập luận rằng mô hình “Tam trụ” vững như “kiềng ba chân” vì dựa trên “thế ỷ dốc”, nhưng nhiều người khác lại cho rằng về nguyên lý, mô hình “Tứ trụ” (Quad) thường ổn định hơn mô hình “Tam trụ” (Triad). Thời “Tam quốc” bên Tầu thường loạn lạc và nội chiến liên miên. Lâu nay, Việt Nam vẫn áp dụng “cơ chế ba mặt” (đảng, chính quyền, công đoàn) để quản trị, như mô hình “Tổ Tam tam” (ba người) nhằm kiểm soát lẫn nhau.

Về lý thuyết, “cơ chế ba mặt” được áp dụng nhằm “phát huy quyền làm chủ tập thể”, nhưng trên thực tế có thể làm triệt tiêu năng lực sáng tạo của con người và trách nhiệm cá nhân trong quản trị. “Nhất thể hóa” là một ý tưởng hay nếu áp dụng nghiêm túc, nhưng “Tam trụ” không phải là “Tam quyền Phân lập” mà chỉ là “bình mới rượu cũ” (vì cùng mẫu số). Einstein từng nói “người ta không thể giải quyết vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra vấn đề đó”.

Nhưng khi đã tập trung và củng cố được quyền lực, ông Nguyễn Phú Trọng tự tin hơn để tăng cường chiến dịch “đốt lò”, xử lý tiếp các vụ án lớn (như bắt bộ trưởng Nguyễn Bắc Sơn, Trương Minh Tuấn, và Phạm Nhật Vũ, khởi tố cựu đô đốc Nguyễn Văn Hiến). Có dấu hiệu ông Trọng cân nhắc đến khả năng cải cách thể chế khi công khai đặt ra 3 vấn đề cốt lõi: Một là có nên xóa bỏ thành phần kinh tế nhà nước hay không? Hai là đổi mới thể chế chính trị có phải là đổi mới chế độ hay không? Ba là có cần sửa đổi điều lệ Đảng hay không?

Như “đến hẹn lại lên”, Hội nghị Trung Ương 11 (7-12/10/2019) bắt đầu chuẩn bị văn kiện và nhân sự cho Đại hội Đảng 13, và lần đầu tiên ông Trọng đã đề cập đến vấn đề Biển Đông. Trong diễn văn khai mạc, ông kêu gọi “kiên quyết và kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo theo luật quốc tế”. Trong diễn văn bế mạc, ông nhấn mạnh “phải phân tích và dự báo trên cơ sở tư duy khoa học tình hình thế giới và Việt Nam, đặc biệt là về Biển Đông”. Dư luận cho rằng đó là một chuyển biến đáng kể, nhưng vẫn chưa theo kịp với thực tế.

Bức tranh kinh tế

Theo Moody’s 2020 report (10/10/2019), Tuy GDP tăng 6,8% nhưng Việt Nam có thể bị hạ mức tín nhiệm vì chậm thanh toán nợ tới hạn, làm mất khả năng thanh toán, có thể dẫn tới vỡ nợ quốc gia. Chính phủ nợ nước ngoài hơn 100 tỷ USD, và các doanh nghiệp nợ nước ngoài 100 tỷ USD, cộng lại thành hơn 200 tỷ USD, gần bằng toàn bộ GDP của Việt Nam. Ngoài nợ nước ngoài, Việt nam còn nợ trong nước, tương đương 200 tỷ USD gồm nợ của chính phủ và doanh nghiệp. Gần đây, Thống đốc Lê Minh Hưng đã báo cáo Quốc hội về khoản 53.000 tỷ VNĐ mà các ngân hàng đã cho vay để làm BOT, có nguy cơ trở thành nợ xấu.

Ngoài số nợ nước ngoài 200 tỷ USD được thống kê chính thức, có thể phát sinh những khoản nợ nước ngoài khác từ các doanh nghiệp chưa được thống kê. Tháng 9/2019, Tổng cục Thống kê đã bất ngờ công bố phát hiện thêm 76.000 doanh nghiệp trước đó không có trong sổ sách. Động cơ của việc công bố này là nhằm làm tăng thêm GDP để “lấy thành tích chào mừng Đại hội Đảng”. Nhưng số phát sinh này chiếm hơn 10% tổng số doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam, trong đó chắc có nhiều khoản vay nước ngoài mà Bộ Tài chính không biết.

World Bank cho biết trong 3 năm tới có khoảng 50% nợ trong nước của Chính phủ đáo hạn, và Chính phủ vẫn chưa biết lấy đâu ra tiền để trả nợ (trừ việc in tiền ồ ạt), và có khoảng 30% số doanh nghiệp nhà nước không có khả năng trả nợ nên đối mặt với nguy cơ phá sản, nếu chính phủ từ chối trả nợ thay cho các doanh nghiệp nhà nước. Moody sẽ xem xét hạ mức đánh giá 17 ngân hàng, nên 50% các ngân hàng Việt Nam sẽ bị hạ mức tín nhiệm.

Theo VietNamNet (21/10/2019), trong báo cáo về nợ công năm 2020, Chính phủ Việt Nam cần vay thêm 459 nghìn tỷ VNĐ để cân đối ngân sách, trong đó bao gồm khoản bù đắp bội chi ngân sách là 217 nghìn tỷ VNĐ, khoản trả nợ gốc của ngân sách trung ương là 217 nghìn tỷ VNĐ, và nhận nợ bảo hiểm xã hội là 9,1 nghìn tỷ VNĐ. Dự kiến nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ trong năm 2020 là 379 nghìn tỷ VNĐ. Dự báo đến cuối năm 2020 Việt Nam có mức nợ công khoảng 54,3% GDP, nợ chính phủ khoảng 48,5% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia là 45,5% GDP. Việc phải đi vay để bù đắp bội chi ngân sách có nghĩa là tiền làm ra vẫn chưa đủ đáp ứng chi tiêu thường xuyên, và chính phủ vẫn phải “vay nợ mới để trả nợ cũ”.

Tuy dự luật “ba đặc khu” bị dư luận phản đối quyết liệt buộc Quốc hội phải hoãn (vô thời hạn), nhưng chắc các nhóm lợi ích không chịu bỏ cuộc, vẫn tìm cách thao túng chính sách như miễn thị thực cho người nước ngoài vào khu kinh tế ven biển (như Vân Đồn và Phú Quốc). Tuy dự án đường cao tốc Bắc Nam (đường bộ và đường sắt) cũng bị dư luận phản ứng quyết liệt buộc Bộ GT-VT hủy bỏ kết quả đấu thầu quốc tế để tạo điều kiện cho các nhà thầu trong nước tham gia, nhưng họ vẫn thúc đẩy dự án đường sắt Hà Khẩu-Lào Cai-Hải phòng (khổ 1,435m, với 39 nhà ga, 73 chiếc cầu dài 130km, và 25 đường hầm chui 25km) do Trung Quốc thiết kế và xây dựng (kinh phí 100.000 tỷ VNĐ). Đây là một mắt xích trong kế hoạch “Một vành đai, Một con đường”, chủ yếu nhằm phục vụ lợi ích chiến lược của Trung Quốc.

Theo chuyên gia Vũ Quang Việt, “Việt Nam khuyến khích đầu tư nước ngoài, không cần biết là các dự án đó chỉ dùng công nghệ lạc hậu, ô nhiễm, và lao động không chuyên giá rẻ làm hàng xuất khẩu sang Mỹ và các nước khác, và cũng không cần biết đến vốn đi từ đâu, mà thực chất một phần không nhỏ là mượn từ ngân hàng Việt Nam…Đến nay, Việt Nam chỉ là bàn đạp, thậm chí là bãi rác cho nước khác làm hàng xuất khẩu xâm nhập vào Mỹ và các nước khác”. Theo ông Việt, Việt Nam cần xem xét kỹ có nên tham gia RCEP hay không, sau khi Ấn Độ và Nhật đã quyết định rút. Đây là hiệp định mà Trung Quốc cổ vũ mạnh mẽ nhằm đối địch với TPP không có Trung Quốc (mà Mỹ đã rút) để giúp Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng với kinh tế với các nước ASEAN trong chiến lược “Một vành đai, Một con đường” của họ.

Trong bối cảnh đối đầu Việt-Trung tại bãi Tư Chính, Việt Nam cần rà soát lại các dự án có rủi ro về an ninh quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 50-NQ/TW (20/8/2019). Trả lời chất vấn tại Quốc Hội (9/11/2019) Ngoại trưởng Phạm Bình Minh thừa nhận có hàng trăm doanh nghiệp Việt đứng tên thay cho người nước ngoài (chủ yếu là Trung Quốc) đầu tư kinh doanh bất động sản và du lịch dưới nhiều hình thức “núp bóng”. Các dự án này thường chiếm vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ và hậu họa khôn lường.

Đối đầu tại Bãi Tư Chính

Về đối ngoại, Hà Nội đã tự tin hơn khi đăng cai tổ chức họp cấp cao Trump-Kim (3/2019) và ông Trọng đã nhận lời đi thăm Mỹ khi ông Trump trực tiếp mời (như một cách cám ơn). Đây là một thắng lợi quan trọng về ngoại giao trong năm 2019. Hội thảo về định hướng hợp tác chiến lược Mỹ-Việt cấp thứ trưởng tại Washington (4/2019) là một dấu hiệu tích cực, tuy năm trước Việt Nam đã lặng lẽ hủy bỏ 15 họat động giao lưu quốc phòng với Mỹ (cho năm 2019). Theo các chuyên gia, đó là động thái đối phó tình huống vì sức ép Trung Quốc.

Nhưng điều bất ngờ (và khá bí ẩn) là ông Trọng đã “gặp hạn” khi đến Kiên Giang (14/4/2019) phải cấp cứu vào bệnh viện điều trị. Dù dư luận đồn đại về “bệnh thật hay giả”, nhưng kế hoạch thăm Mỹ năm 2019 của ông Trọng không thực hiện được (vì lý do sức khỏe hay lý do chính trị). Lúc đầu dự kiến đi vào tháng 7, sau dự kiến đi vào tháng 10, nay phải lùi sang năm, nhưng 2020 là năm tranh cử tổng thống Mỹ nên càng dễ rủi ro. Kết cục là cuối năm 2019 Việt Nam vẫn chưa nâng cấp quan hệ với Mỹ lên đối tác chiến lược như dư luận mong đợi.

Trong khi đó, Trung Quốc cho tàu khảo sát HD-8, có nhiều tàu tuần duyên vũ trang hộ tống, xâm nhập vùng biển của Việt Nam (từ 3/7/2019) dẫn đến đối đầu tại Bãi Tư Chính và khủng hoảng Biển Đông “lần hai” (“lần đầu” là năm 2014). Họ vừa thăm dò địa chấn vừa quấy rối các hoạt động dầu khí của Việt Nam tại dự án Lan Tây-Lan Đỏ (lô 06-01) liên doanh với Rosneft (Nga) và ONGC (Ấn Độ) tại Nam Côn Sơn, gần bãi Tư Chính. Sau đó HD-8 chuyển lên thăm dò khu vực ven biển từ Phan Thiết đến Quảng Ngãi, cách bờ có 70 hải lý.

Mấy tháng qua, Trung Quốc đã dùng vũ lực quấy rối và xâm lấn Việt Nam tại Bãi Tư Chính, bất chấp luật biển quốc tế và phán quyết PCA. Họ ngang ngược coi Bãi Tư Chính là “vùng tranh chấp” và còn tuyên bố là “lãnh thổ của Trung Quốc”. Hành động xâm lấn này đã buộc Việt Nam phải có thái độ cứng rắn hơn, và làm dư luận quốc tế (đặc biệt là Mỹ) lên án Trung Quốc và ủng hộ Việt Nam. Trên thực tế, Trung Quốc đang xô đẩy Việt Nam về phía Mỹ, làm nhiều trí thức và quan chức đòi kiện Trung Quốc và nâng cấp đối tác chiến lược với Mỹ.

Điều đó được phản ánh rõ trong mấy bài viết gần đây của ông Vũ Ngọc Hoàng (nguyên Ủy viên Trung ương và Phó ban Tuyên giáo), và Tọa đàm Khoa học “Vùng biển Bãi Tư chính và luật quốc tế” do Viện PLD tổ chức tại Hà Nội (6/10/2019). Trong diễn văn khai mạc và bế mạc Hội nghị Trung Ương 11 (7-12/10/2019) ông Nguyễn Phú Trọng đã chính thức lên tiếng về vấn đề Biển Đông. Tuy dư luận quốc tế cho rẳng thái độ của Việt Nam cứng rắn hơn, nhưng dư luận trong nước cho rằng như vậy vẫn còn “quá ít và quá muộn” (too little too late).

Tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ 11 (6/11/2019), đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã xác nhận đang “cân nhắc kiện Trung Quốc”. Thực ra Việt Nam đã cân nhắc kiện từ năm 2014. Theo Gregory Poling (AMTI/CSIS), khi Việt Nam làm thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ và Chủ tịch ASEAN vào năm tới, nếu chỉ đề cập đến căng thẳng Biển Đông một cách chung chung mà không dám gọi tên Trung Quốc là kẻ gây ra căng thẳng (vì “đại cục”) thì cũng như không, vì chẳng có gì mới để quốc tế ủng hộ mạnh hơn.

Khủng hoảng Biển Đông

Khủng hoảng Biển Đông “lần đầu” (5/2014) đã làm người Việt bị sốc và quan hệ Việt-Trung lâm vào khủng hoảng, nhưng chưa đổ vỡ vì “đại cục” như cái vòng kim cô trói buộc Việt Nam từ sau Thành Đô (9/1990). Nay khủng hoảng “lần thứ hai” (2019) còn tiếp diễn (on and off). Theo Ryan Martinson (học viện hải quân Mỹ), Trung Quốc “quyết tâm ngăn chặn Việt Nam khai thác tài nguyên dưới đáy biển” sau khi Rosneft thuê giàn khoan Hakuryu 5 (của Nhật) để khoan thăm dò gần Bãi Tư Chính. Trung Quốc không chỉ quấy rối và bắt nạt, mà còn ngang ngược lên án Việt Nam “đơn phương vi phạm chủ quyền Trung Quốc”.

Đó là hành động “vừa ăn cướp vừa la làng”, vì Trung Quốc đuối lý trước dư luận quốc tế, nên phải dùng sức mạnh để bắt nạt các nước khu vực trong “vùng xám” (grey area), và tìm cách gạt Mỹ và các cường quốc khác ra khỏi Biển Đông. Mục tiêu của họ là áp đặt “đường chín đoạn”, để từng bước lấn chiếm Biển Đông như “chuyện đã rồi” (fait acommpi), tiến tới kiểm soát Biển Đông như “cái ao của họ”. Trung Quốc đã quân sự hóa và biến các đảo đá mà họ chiếm của Việt Nam tại Trường Sa (1988) thành các căn cứ quân sự và hậu cần (như Chữ Thập, Ru Bi, Vành Khăn). Việt Nam càng nhân nhượng thì Trung Quốc càng lấn tới.

Tiếp theo các tuyên bố của ông John Bolton và Mike Pompeo (trước đó), trợ lý Ngoại trưởng David Stilwell đã điều trần (gần đây) tại Tiểu ban Đông Á-Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, nhấn mạnh rằng Trung Quốc tiếp tục đe dọa và bắt nạt các nước khác tại Biển Đông. Họ muốn hợp pháp hóa bộ quy tắc ứng xử (COC) có hại cho khu vực và tất cả các nước coi trọng tự do hàng hải. “Sự quấy rối liên tục của Trung Quốc đối với các hoạt động của Việt Nam xung quanh Bãi Tư Chính là một trường hợp rõ rệt”.

Theo VOA (25/10/2019), trong bài phát biểu về quan hệ Mỹ-Trung tại Trung tâm Woodrow Wilson (24/10/2019), Phó Tổng thống Mike Pence đã tố cáo cách hành xử ngày càng hung hăng của Trung Quốc, gây mất ổn định nhiều hơn cho khu vực trong năm qua. Ông Mike Pence nói Bắc Kinh đã gia tăng sử dụng cấc tàu “dân quân biển” để thường xuyên đe dọa các thủy thủ và ngư dân Philippines và Malaysia. Ông chỉ trích Trung Quốc bắt nạt Việt Nam trong vụ tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông. “Cảnh sát biển Trung Quốc đã lấy thịt đè người để ngăn cản Việt Nam khoan dầu khí ngoài khơi trong vùng biển của chính mình”.

Ông Derek Grossman (RAND Corporation) bình luận “việc Trung Quốc bắt nạt Việt Nam tại Biển Đông đã được Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence nêu bật”, và “không có một nước nào đứng lên để bảo vệ Việt Nam như Mỹ”. Nhưng trong khi Việt Nam đối đầu với Trung Quốc tại Bãi Tư Chính và khủng hoảng Biển Đông “lần hai”, gần đây có tin đồn ExxonMobil định bỏ dự án Cá Voi Xanh. Tuy chưa rõ nguyên nhân do sức ép của Trung Quốc hay do tính toán thương mại, nhưng nếu ExxonMobil rút thật thì đây là tin mừng cho Bắc Kinh.

Theo đánh giá của các chuyên gia, các tuyên bố về điều chỉnh chiến lược của Mỹ (như NSS 2017, NDS 2018, và Indo-Pacific Strategy 2019) đã nhấn mạnh cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung. “Đồng thuận Washington mới” về chiến lược đối với Trung Quốc có thể tạo ra điều kiện thuận lợi để các nước có quan điểm cứng rắn hơn tại Biển Đông.

Việt Nam vẫn cô đơn

Theo Marine Traffic (Reuters, 24/10/2019), tàu khảo sát HD-8 và các tàu hộ vệ đã rời khỏi vùng biển Việt Nam trở về Trung Quốc. Họ đã “hoàn thành nhiệm vụ” sau 3 tháng khảo sát địa chấn nhằm khẳng định chủ quyền trong “đường chín đoạn” và quấy rối gây sức ép đòi Việt Nam đình chỉ các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí tại đây. Tuy Trung Quốc rút tàu HD-8 về nhưng ý đồ lâu dài của họ không thay đổi. Trong tháng 11/2019, họ lại cho tàu HD-620 và HD-9 xâm phạm vùng biển EEZ của Việt Nam và Malaysia để khảo sát trái phép. Sẽ không ngạc nhiên nếu Trung Quốc điều dàn khoan vào thăm dò tại những nơi họ vừa khảo sát.

Theo ông Carl Thayer, thông điệp của ông Nguyễn Phú Trọng gần đây khi đề cập đến vấn đề chủ quyền Biển Đông báo hiệu rằng Hà Nội khó có thể lùi bước trước Bắc Kinh. Tuy nhiên, trong bối cảnh hai nước “quyết không để mất một tấc đất nào do tổ tiên để lại” thì bàn cờ phân định thắng thua vì lợi ích quốc gia phải đảm bảo khả năng quốc phòng và quốc tế vận cao nhất. Trong cuộc chơi này, dù Hà Nội tuyên bố cứng rắn hơn “không bao giờ thỏa hiệp”, nhưng cách thức bảo vệ chủ quyền quốc gia trong 3 tháng qua tại Biển Đông cho thấy sự chênh lệch về năng lực quân sự, và sự cô đơn của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn