23/09/2018

Trả lời Boristo Nguyen (lần 2)

Về bài “thưa lại” của ông Boristo Nguyen

Nguyễn Huệ Chi

Nhiều người hỏi tôi vì sao không trả lời tiếp Boristo Nguyen. Tôi có nói với họ: mới đọc đầu đề thấy cách nói năng chừng mực đáng trọng, nhưng đọc vào thì không có nhiều ý để bàn thêm so với những gì tôi đã nói rồi. Hỏi, trả lời, lại hỏi thì lòng tin đâu còn nữa để đối thoại với nhau. Mà cách viết trong bài cũng không “từ tốn” như tiêu đề. Các câu hỏi chất chứa định kiến khó mà cùng nhau đi đến chân lý. Định dừng lại không tiếp tục nữa nhưng rồi lại thấy ông xin phép đem về trang Facebook Dũng Hoàng, và trong bài còn bày tỏ một ý tưởng hơi lạ: không trả lời tưởng là “đã biết lỗi và im lặng”. Thôi thì dù có phải mang tiếng là “thích khoe khoang” hay “bất nhẫn”… cũng phải lên tiếng một lần cuối cho rõ rệt mọi chuyện. Tôi tạm chia thành 3 cụm vấn đề tách bạch để trả lời ông.

1. Về những đoạn trích dẫn

Ông Boristo Nguyen đưa vào bài nhiều trích dẫn. Trích đi rồi trích lại. Trích để phản bác, chỉ trích hoặc chất vấn tôi. Nhưng đọc thì hình như không đáp ứng được điều ông muốn. Trừ những chỗ hiểu sai văn cảnh phải bỏ qua, các đoạn trích khác chỉ cần bình tâm suy nghĩ, tôi tin chính ông đã có thể tự mình sáng tỏ. Xin lần lượt nêu lên mấy ví dụ, từ chuyện cá nhân đến chuyện “Thơ văn Lý Trần” (TVLT).

Ví dụ 1. Trong bài trả lời ông lần trước (xin xem đây), tôi có nói tôi từng học chuyên Trung văn 3 năm hồi theo học Khoa Ngữ văn ĐHTH Khóa I Hà Nội. Ông xoáy vào chữ “chuyên” mà bắt bẻ. Vậy “chuyên” là thế này: Lúc bấy giờ có 2 môn sinh ngữ là Nga văn và Trung văn, sinh viên có thể ghi danh học cả hai, nhưng bắt buộc tính điểm tốt nghiệp thì chỉ một trong hai môn. Tôi chỉ ghi danh môn Trung văn và trong suốt ba năm chỉ học và thi môn sinh ngữ đó, bên cạnh các môn ngữ và văn. Nói thế là “chuyên”, tuy chưa đầy đủ nhưng đâu có sai lắm.

Ví dụ 2. Tất nhiên, tôi biết mục tiêu của ông là cố vạch cho được rằng tôi dốt Hán Nôm chứ chẳng phải ở chữ “chuyên”, nên ông lại đưa ra một tấm hình nữa, chụp những lời bàn luận của một người tôi không rõ tên, xưng em với các ông, phán rằng tôi là người “trình độ vỡ lòng” về Hán Nôm. Tiếng là đưa tấm hình của người đó ra để cải chính câu kết án về “vụ đạo văn lớn nhất thế kỷ XX” không phải ông mà chính người đó nói trước, nhưng dụng ý mạt sát nằm phía sau, tôi không lạ. Và cũng chẳng lấy làm điều. Có điều, trong một bài trao đổi, làm thế là không thẳng thắn, lại vô nghĩa. Đánh giá tôi dốt hay giỏi cốt yếu ở cơ quan thuê tôi làm việc và kết quả những việc tôi được giao làm, còn các ông đàm tiếu với nhau thì tha hồ, lồng vào đây phỏng có giá trị gì đâu. Chẳng cần sợ là mất khiêm tốn, tôi xin nói hẳn: tôi có bằng đại học Hán học cả 3 năm và 4 năm, của Lớp ĐH Hán học đầu tiên trên miền Bắc do Thủ tướng phủ quyết định mở. Và những ông thầy dạy tôi như GS Cao Xuân Huy, GS Đặng Thai Mai, nhà thơ Nam Trân, GS Phạm Thiều, nhà nghiên cứu tuồng cổ Phạm Phú Tiết, cụ Giải nguyên Lê Thước, cả GS Du Quốc Ân từ Trung Quốc sang giảng…, đều là các bậc thầy danh tiếng từ trước 1945. Cũng có thể tôi thuộc loại mắc may mà đỗ, vì có một người học suốt 3 năm nhưng cuối cùng không thi được, và cũng có mấy người thi hỏng. Nhưng tôi lại là một trong 5 người đỗ ưu cùng với các bạn Ngô Thế Long, Trần Thị Băng Thanh, Bùi Duy Tân (ĐHTH), Vũ Viết Rậu (ĐHSP), mặc dù khi bắt đầu mở lớp năm 1965 ở nơi sơ tán, do Viện phải chủ trì lễ kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du, hai vị Viện trưởng và Viện phó đã yêu cầu tôi ở lại Hà Nội để giúp Viện phó Hoài Thanh lo việc “bếp núc” cho lễ kỷ niệm đó, và biên tập 3 số Tạp chí Văn học chuyên san về Nguyễn Du, phải lên học muộn đến 7 tháng. Thế mà gọi là “vỡ lòng Hán Nôm” thì thuở ấy chúng tôi chỉ đạt đến trình độ vỡ lòng là cao nhất, không thể cố được hơn. Về phần lãnh đạo Viện có tin tưởng tôi không, những việc sau đây cũng trình luôn để ông rõ: Năm 1964, khi ông Trường Chinh là lãnh đạo chính trị tối cao yêu cầu Viện đến trình bày về văn học cổ Việt Nam cho ông ta một buổi, GS Đặng Thai Mai không giao người khác mà chỉ định tôi thuyết trình, có cụ cùng nghe. Hay năm 1977, có cuộc gặp giữa Viện trưởng với nhà nghiên cứu người Nga Riftin để trao đổi với ông này về văn học cổ Việt Nam, cũng GS Đặng Thai Mai đã chọn tôi ngồi tham vấn cho cụ, nhờ đó tôi đã giúp cụ trả lời câu hỏi nguồn gốc dân gian Trung Quốc của tác phẩm Hương miệt hành (香蔑行). Lại trong năm 1968, trước kỳ thi tốt nghiệp Hán học, tôi và một người bạn cùng lứa ở Tổ khác được bổ sung vào Hội đồng khoa học Viện (mà tôi là thành viên văn học cổ duy nhất trong Hội đồng 8 người lúc bấy giờ). Rồi sau đó thì được/bị cử làm Nhóm trưởng Nhóm thơ văn Lý-Trần... Các ông muốn chê bai, đàm tiếu ra sao nữa xin tùy ý. Với tôi, các vị đứng đầu Viện ít nhiều đã tin cậy ở chuyên môn của tôi, tôi cũng không phụ niềm tin của họ, thế đủ rồi. Ông không phải lãnh đạo Viện Văn học, chì chiết tôi những điều vượt khỏi kiến thức và quyền hạn thì… ngược đời đấy. Tôi tin ông không phải hạng không biết điều.

Ví dụ 3. Ông lại đưa ra một lá thư do SKM nhặt từ đâu không biết, trong đó tôi viết cho một nhà thư pháp tên Việt, bạn của học trò tôi, nhờ thay vài chữ trong một bài văn chữ Hán biền ngẫu do tôi soạn để khắc lên một tấm bia phục chế tại ngôi chùa cổ trong Thanh Hóa mà người này nhận viết chữ tinh tả để đưa cho thợ khắc, trong đó có chữ “chúng” tôi viết bỏ đi một nét phẩy Chữ chúng của HC 2,và kháo nhau rằng tôi dốt. Moi móc ra một bức thư riêng với dụng ý bêu riếu người khác đã là vi phạm quyền bảo mật thư tín, mà không hiểu rằng trong thư riêng viết cho nhau thì viết kiểu nào là quyền của người viết, miễn đọc được thì thôi. Chữ “chúng” tôi viết ở trên có ai đọc lầm ra chữ khác hay không, ông cứ đi hỏi cho khắp (cũng như chữ “ko” trong thư từ tiếng Việt có ai không biết đấy là chữ “không” hay không?) Thế thì bới bèo ra bọ để làm gì? Tôi chẳng lý đến những trò trẻ con như thế nhưng nghĩ ai đấy – không phải ông – làm to chuyện những việc chả đâu vào đâu mà người khác không biết đường khuyên bảo thật là lạ. Đã đi moi móc thư riêng sao không moi luôn cả bài văn bia chữ Hán do tôi soạn xem có câu chữ nào không đúng thể thức lối văn “hậu thần hậu Phật” cho bõ cái công kiếm tìm?

clip_image004

Ví dụ 4. Ông còn đưa tấm hình chụp một bài của người nào đó phê phán việc tôi chỉnh lý bản dịch Nhật ký trong tù “lợn lành chữa thành lợn què”, thế mà dám tự tiện đứng tên bên cạnh nhà thơ Nam Trân. Hẳn ông biết, Nhật ký trong tù là của ai. Từ khi Viện Văn học thành lập 1959 cho đến 1990 kỷ niệm 100 năm ngày sinh cụ Hồ, tập thơ đó không phải bất kỳ ai trong Viện muốn dịch lại, sửa chữa, đứng tên thế nào tùy ý. Nghĩ xem, tôi là người gì mà dám tự tung tự tác làm cái việc “đem ra ‘duyệt’ lại bản dịch của thầy và bậc tiền bối [Nam Trân]”? Đó là việc do cơ quan Tuyên giáo, cao hơn nữa, do ông Tố Hữu, chỉ thị xuống yêu cầu Viện phải làm để tiến tới kỷ niệm 40 năm Nhật ký trong tù (1983), nhất là chuẩn bị một bản dịch trọn vẹn cho bộ Hồ Chí Minh toàn tập, mà bản dịch đầu tiên sau mấy chục năm công bố, Viện đã nhận được ngót trăm bài độc giả gửi về góp ý, và chính nhà thơ Nam Trân cũng đã từng viết bài tiếp thu vào năm 1961 trên Tạp chí Văn học. Cuối năm 1977, khi được Viện trưởng Hoàng Trung Thông chỉ định làm Trưởng Tiểu ban hiệu chỉnh và bổ sung NKTT – mà ông Thông nói là một “nhiệm vụ chính trị” Viện phải cáng đáng, tôi và các bạn Trần Thị Băng Thanh, Đỗ Văn Hỷ đã phải nghe theo chỉ đạo không chỉ của lãnh đạo Viện mà còn của người này người khác từ những cấp rất cao; rồi còn phải tổ chức một cuộc họp đông đảo văn nghệ sĩ trí thức vào tháng Tư 1978 để Tiểu ban chỉnh lý và cả cấp trên được nghe tường tận mọi lời “phán xét” bản dịch cũ, nói như Đào Thái Tôn là “làm dâu trăm họ”: “… năm 1978 Viện Văn học lại quá tin theo góp ý của mọi người, lâm vào cảnh làm dâu trăm họ nên thế tất sẽ phát sinh lúng túng. Nhưng một khi cấp trên đã chủ trương như vậy, cấp dưới phải thực hiện. Tiểu ban đã thực hiện một cách nghiêm túc trên tinh thần phát huy truyền thống khoa học của Viện, lần lại hồ sơ, tìm thêm được ba trong 20 bài Nam Trân đã dịch chưa công bố để đưa thêm vào Nhật ký trong tù (bản dịch trọn vẹn)…” (Bản dịch “Nhật ký trong tù”, những điều trông thấy; in trong tập kỷ yếu “Nam Trân - nhà thơ, nhà giáo, dịch giả”, NXB Tri thức, 2017, tr. 289-290. Xem đầy đủ ở đây). Hãy đọc bài Đào Thái Tôn thì biết cảnh “làm dâu trăm họ” của chúng tôi, thậm chí cả những sức ép thay bài này bài kia mà ông Tôn chỉ phỏng đoán chứ không nắm được ngọn ngành. Viện trưởng Hoàng Trung Thông đã phải làm việc thông tầm với tôi và các bạn trong rất nhiều ngày. Nhưng nhờ thế, chúng tôi cũng đã mầy mò tìm thấy những chỗ nhà thơ Nam Trân sơ ý (tài giỏi mấy mà không có lúc sơ ý). Hoặc là Nam Trân đọc sai bản gốc, như ở bài “Thiên Giang ngục” (遷江獄), hai chữ “nhân áng” (人盎) là cái chậu chôn người bị đọc nhầm thành “cá áng” (个盎) nghĩa thuần túy là cái chậu, giảm mất chất uy mua của nguyên tác (chị Băng Thanh đã chỉnh lại lời thơ dịch: Ngoài lao sáu chín chiếc ang người / Ang chất trong lao biết mấy mươi / Nhà ngục mà như nhà chế thuốc / Gọi là hàng chĩnh cũng không sai). Hoặc có khi Nam Trân dịch bỏ qua nhịp ngắt 4/3 của câu thơ 7 chữ cổ điển làm cho lời thơ trở thành khó hiểu, như bài “Dạ túc Long Tuyền” (夜宿龍泉): “Đôi ngựa” ngày đi chẳng nghỉ chân / Đêm “gà năm vị” lại thường ăn / Thừa cơ rét, rệp xông vào đánh / Mừng sớm nghe oanh hót xóm gần” (Không ai suy luận được nghĩa của “Đêm gà năm vị” và “Mừng sớm nghe oanh” khi vừa đọc trực nhiên hai câu thơ 2 và 4). Vì thế sau khi trao đổi, tôi phải chữa lại: “Đôi ngựa” ngày đi chẳng nghỉ chân / Món “gà năm vị” tối thường ăn / Thừa cơ rét, rệp xông vào đánh / Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần”. Sau cuộc họp công bố bản in NKTT trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập (NXB Sự thật) cùng với tập chuyên khảo Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù” (NXB KHXH) – cũng do tôi được giao chủ biên – tại Bảo tàng Hồ Chí Minh vào năm 1990, do UBKHXH chủ trì, có lãnh đạo Bộ Giáo dục và ông Ủy viên BCT Nguyễn Đức Bình đến dự, NXB Giáo dục bèn nẩy ý định tái bản chung hai tập này lại để dùng làm tài liệu tham khảo trong nhà trường phổ thông và đại học, nên đã cho người sang Viện thương lượng ký hợp đồng xuất bản.

clip_image006

Ảnh: mượn trên trang Văn Việt.

GS Nguyễn Khắc Phi, Tổng biên tập nổi tiếng kỹ tính của NXB Giáo dục bấy giờ, đã duyệt từng chữ, cho in và tái bản đến 6 lần. Hỏi ông Boristo Nguyen, một bản dịch qua nhiều tổ chức và cá nhân có quyền lực – và “có chữ” như ông Nguyễn Khắc Phi – thẩm định, liệu có bỏ qua cho một câu thơ dịch vô nghĩa “Oanh sớm mừng nghe hót sớm gần” (xem ảnh ở dưới) mà một kẻ bị ông Tôn chỉ tận tim đen, bịa ra và đem gán cho tôi để nói rằng tôi dịch dốt, được không? (Lại còn nói xưng xưng dịch “oanh sớm” (nguyên văn: Cách lân hân thính hiểu oanh đề) là hỏng, vì làm gì có “oanh chiều”, “oanh tối”. Thế “Chim hôm thoi thót về rừng” (Nguyễn Du), “Xao xác gà trưa gáy não nùng” (Lưu Trọng Lư), “Đời ta như cánh chim chiều phiêu bạt thời gian…” (Trần Hoàn) thì chưa từng được nghe bao giờ chắc? Chưa kể trong sinh vật học có loài dạ oanh 夜鶯 (oanh đêm) hẳn hoi, tên khoa học là Luscinia megarhynchos, kiến thức lõm bõm còn biết làm sao được, có nói lại cũng vô ích). NKTT mang danh nghĩa Viện Văn học có đến ngót mười lần in và tái bản ở ba nhà xuất bản khác nhau, thế nào cũng còn kiếm ra. Ông hãy đi tìm cho đúng những bản in trong khoảng 1990-2000 – chứ không phải là sách in lậu về sau – và đối chiếu lại. Lẽ ra tôi phải kiện họ vu cáo, không kiện thì thôi, ông việc gì mà vơ vào để thành cái lỗi của chính ông?

clip_image008

Ví dụ 5. Về chuyện TVLT, đầu tiên ông Boristo Nguyen chụp một đoạn ở trang 9 Lời nói đầu TVLT Tập II Quyển thượng, trong đó có câu: “… cũng như hai cụ NGUYỄN ĐỨC VÂN và ĐÀO PHƯƠNG BÌNH đã làm vài chục năm nay”, rồi tô đậm và gạch đít mấy chữ “đã làm vài chục năm nay” và cứ thế nhắc lại ở một, hai đoạn dưới, ra ý tôi cần tự hiểu lấy. Tôi cố hiểu mà vẫn chẳng hiểu. Nếu cho rằng câu đó có một thông tin đáng giá, xác nhận hai cụ làm Lý-Trần trong một thời gian rất lâu, thì ông hãy lùi xuống một chút, cũng trang 9, sẽ thấy ngay đó là Lời nói đầu viết ngày 16-5-1986. Từ 1986 ngược về năm hai cụ dừng việc dịch là 1965 chẳng phải vài chục năm thì là gì nữa. Viện Văn học thành lập khoảng cuối quý 3 năm 1959, đề xuất sưu tầm TVLT đầu quý 4 năm 1960, sau khi GS Đặng Thai Mai gặp các vị lãnh đạo nhà nước vào dịp Quốc khánh và được một vài người ở trên gợi ý. Cụ Vân năm 1965 đã về hưu. Cụ Bình thì cũng chuyển sang cơ quan khác vài năm sau đó. 4 năm tất cả. Lấy đâu ra mà dịch TVLT trong vài chục năm?

Ví dụ 6. Ông lại đưa ra tấm hình chụp bản khai công việc cá nhân đã làm của cụ Đào Phương Bình, viết ngày 15-3-1967: “Dịch tập thơ văn Lý Trần (cộng tác với đ.c Nguyễn Đức Vân) hiện nay đang chuẩn bị xuất bản” và hỏi tôi: “giáo sư giải thích thế nào?” “Hay ngày đó cụ Bình đã cố tình viết sai để tranh công với học trò của mình là giáo sư Nguyễn Huệ Chi?” thì quả tôi không biết nói thế nào để ông hiểu nguyên tắc làm việc ở một cơ quan nhà nước. Cụ Bình viết “chuẩn bị xuất bản” là ý của cụ Bình, còn gần hai năm sau Viện giao cho chúng tôi biên soạn TVLT là việc của lãnh đạo Viện. Sách còn in sờ sờ đấy (bản in đề tựa năm 1974, in xong năm 1977, lúc cụ Mai và cụ Bình đều đang khỏe mạnh), thế thì sao ông có thể lấy lời ghi trong một bản khai đã hết thời gian tính của cụ Bình để bác bỏ việc chúng tôi làm theo lệnh Viện tận hai năm sau? Nếu Viện làm không đúng lẽ đâu cụ Bình còn sống đó mà không gửi thư thắc mắc đến Viện, thậm chí khiếu nại lên cấp cao hơn?

Ví dụ 7. Ông còn chụp thêm ảnh lá thư của nhà thơ Nam Trân – là người được giao duyệt và chỉnh lý bản thảo TVLT của hai cụ Vân và Bình trước chúng tôi, nhưng chẳng may cuối năm 1967 bị bạo bệnh qua đời – viết cho ông Nguyễn Văn Hoàn ngày 6-8-1967: “Công việc duyệt tập thơ Lý Trần Hồ mình đang tiến hành trong điều kiện khá thuận lợi vì ban đêm có đèn và ở khu Trần Hưng Đạo không cắt điện đêm nào. Mình thích thú lắm. Ban đêm làm được nhiều việc khác hẳn với những đêm nhàn hạ ở trên ấy”. Chỉ đưa có thế mà không nói thêm một lời nào là muốn hỏi gì vậy? Nhà thơ Nam Trân duyệt tập bản thảo thuận lợi vì điện Hà Nội không bị cắt thì mới là một điều kiện cần, còn để sửa chữa bản thảo nhanh chóng đem in chắc chắn phải có các điều kiện đủ nữa mà thư không nói. Hơn nữa, chừng một tháng sau, người duyệt đã phải vào bệnh viện và qua đời ngày 21-12-1967, bản thảo chưa tiến triển thêm bước nào cả. Nếu có điều đáng lưu ý là ở chỗ: chỉ một khoảng thời gian rất ngắn nhà thơ đã dịch bổ sung được 13 bài thơ và sửa lại 9 bài thơ, chứng tỏ dịch những bài thơ mới để thay thế bài cũ và sửa thơ đã dịch với Nam Trân mới là cảm hứng “thích thú lắm” được ghi lại trong thư. Ông Boristo Nguyen không thấy ở phần tái bút, nhà thơ còn nhờ ông Hoàn nhắc: “1. Đồng chí Bình gửi bản thảo về, và 2. Đồng chí Hỷ gửi những bản dịch của cụ Nguyễn Đình Hồ về thơ ca Lý Trần? Nghĩa là trong tay Nam Trân lúc viết thư chỉ mới cầm được một phần bản thảo của hai cụ thôi, vậy nhưng đọc vào, ông đã cảm thấy sức một cá nhân bổ sung chỉnh lý không xuể, nên mới nhờ anh Đỗ Văn Hỷ chuyển về cho mình phần tuyển dịch thơ văn cổ của cụ Nguyễn Đình Hồ, một bậc Nho gia hay chữ ở Nam Định, để may ra có được bài thơ nào ưng ý của cụ túc nho dịch thơ Lý Trần thì đưa vào tập bản thảo mình đang làm (khi ông Hoàn trao lại những bản thảo ấy cho tôi, cũng có cả một bài thơ Nam quốc sơn hà của cụ Lê Thước dịch, không biết in đâu đấy, do Nam Trân chép vào và sửa thêm). Tâm trạng của một người duyệt như Nam Trân rất dễ hiểu, cũng như chúng tôi đã phải chia nhau sưu tầm bản dịch của các bậc tiền bối trên sách báo khi biên soạn TVLT.

Ví dụ 8. Cuối cùng, trong bài “thưa lại” này ông Boristo Nguyen có dẫn ra hai đoạn trong Lời nói đầu của Tập I TVLT (đề ngày 30-12-1974), để nói rằng tôi đã có những lời đánh giá thành quả của hai cụ Vân và Bình “bất nhất - mâu thuẫn” so với lời văn in trong sách. Tôi thì lại chẳng hề thấy mình bất nhất hay mâu thuẫn. Xin dẫn lại hai đoạn đó dưới đây, để ai nấy cùng nhìn vào. Ở trang 5-6, Lời nói đầu TVLT Tập I viết: “Năm 1960, tổ Hán Nôm của Viện được giao nhiệm vụ sưu tập và phiên dịch ra tiếng Việt toàn bộ thơ văn từ thời Hồ trở về trước, trong các sách vở chữ Hán còn lưu trữ tại các thư viện và trong một số tài liệu bi kí còn nằm rải rác ở các đình chùa trên miền Bắc. Các đồng chí Nguyễn Đức Vân*, Đào Phương Bình, cán bộ trong tổ, đã trực tiếp tiến hành công việc đó. Nhờ nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu, lại có sự giúp đỡ tận tình của những anh em khác trong tổ, nên công việc đã tiến hành tương đối thuận lợi; mỗi năm khối lượng thơ văn tập hợp được một phong phú dần. Đến năm 1965 thì việc sưu tập cũng như việc phiên dịch bước đầu đã hoàn thành”.

Và đoạn tiếp theo, liền với đoạn trên, ngay cùng trang 6: “Nhưng cũng vào thời gian đó, giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại trên miền Bắc. Các thư viện lớn đều đi sơ tán. Bộ phận Hán học của Viện lúc này tập trung vào nhiệm vụ đào tạo một lớp cán bộ Hán học trẻ tuổi. Công tác biên soạn đành tạm thời gác lại. Phải đến cuối năm 1968, vấn đề thơ văn Lý-Trần mới lại được tiếp tục đề ra. Do yêu cầu mới của công tác nghiên cứu, lúc bấy giờ, Viện nhận thấy cần đặt lại một cách hệ thống và toàn diện hơn việc khai thác di sản văn học Lý-Trần, tiếp tục tìm tòi bổ sung những tài liệu mới, cũng như đối chiếu, tra cứu lại tất cả những văn bản trước đây đã tuyển lựa. Có thế mới hy vọng cung cấp cho bạn đọc một tập tài liệu không đến nỗi quá tản mạn, nghèo nàn”.

Cứ xét nét từng chữ, cả hai đoạn văn trên đây có chỗ nào nói rõ hai cụ Vân và Bình “đã dịch hết toàn bộ thơ văn từ đời Hồ trở về trước”, cũng như “đã đi điền dã các đình chùa, dập bia và dịch được nhiều văn bia” không? Không! Bia phần lớn ở nơi hẻo lánh, có khi trong rừng và trên núi cao, mà phương tiện giao thông như taxi bấy giờ chưa có, thì hai cụ tìm được đến nơi đã không dễ, lại lặn lội vào rừng hoặc trèo núi để dập hay chép là những việc khó vô cùng. Ông Boristo Nguyen thử đi Hà Nam trèo núi Đọi và chép bia một chuyến mà xem. Chỉ có một tấm bia Linh Xứng duy nhất được mang về Bảo tàng Lịch sử từ sớm, các cụ đã đến chép và dịch rồi. Nói chung, tất cả những việc liệt kê ở phần đầu đoạn văn thứ nhất vừa dẫn, như “sưu tập và phiên dịch ra tiếng Việt toàn bộ thơ văn từ thời Hồ trở về trước, trong các sách vở chữ Hán còn lưu trữ tại các thư viện và trong một số tài liệu bi kí còn nằm rải rác ở các đình chùa trên miền Bắc là nằm trong một chương trình lớn mà Viện đề xuất chung cho Tổ Hán Nôm của Viện vào đầu quý 4 năm 1960: “Năm 1960, tổ Hán Nôm của Viện được giao nhiệm vụ…”. Còn hai cụ là tổ viên, trong số những người trực tiếp thực hiện (còn có “sự giúp sức tận tình của những anh em khác” nữa), thì đâu phải trong một thời gian là thanh toán được hết bấy nhiêu việc. Vì thế, đến đầu năm 1965 hai cụ “hoàn thành”, nhưng cũng chỉ mới là “bước đầu hoàn thành” những công việc đồ sộ đó, phải không nào? Vì lúc bấy giờ “các thư viện lớn đều đi sơ tán”, còn “bộ phận Hán Nôm của Viện thì phải bắt tay đào tạo một lớp đại học Hán học trẻ tuổi”, nên “công tác biên soạn đành tạm thời gác lại” kia mà. Bước đầu ấy rất quan trọng, không ai không ghi nhận, song không phải thế đã là xong tất cả. Có thế mới phải tiến hành những bước kế tục về sau, kể từ cuối 1968: “Do yêu cầu mới của công tác nghiên cứu, lúc bấy giờ, Viện nhận thấy cần đặt lại một cách hệ thống và toàn diện hơn việc khai thác di sản văn học Lý-Trần…. Vì sao nhất thiết phải có bước kế tục, thậm chí kéo dài đến hơn 40 năm? Lời nói đầu giải đáp: “Có thế mới hy vọng cung cấp cho bạn đọc một tập tài liệu không đến nỗi quá tản mạn, nghèo nàn”. Thế là rõ chứ. Tôi xin mách ông một kinh nghiệm: Khi đọc văn, đừng cố chấp với đôi ba ý nghĩ đã vạch sẵn trong đầu thì mới có thể nắm được những điều người viết muốn gửi vào câu chữ. Chẳng hạn ở đây, Viện Văn học muốn trình với bạn đọc rằng, thành quả bước đầu của hai cụ Nguyễn Đức Vân và Đào Phương Bình là một khởi đầu đáng kể, tuy vậy cũng vẫn không tránh khỏi là một công việc còn “quá tản mạn nghèo nàn” nên chưa thể nào dứt điểm được vào thời điểm đầu 1965. Mà quả thế. Với 911 trang bản thảo chép tay của hai cụ, có chữ ký của ông Nguyễn Văn Hoàn xác nhận ngày 26-1-1969 khi trao cho tôi, cả hai nhóm TVLT đã phải chia nhau làm tiếp cho đến năm 1989 thì mới tăng lên được 2420 trang in khổ 19x27. Đó là chỉ mới tính 3 tập đã in, còn nếu gộp cả Tập 4 chưa in nữa làm từ 1989 đến 2005, thì theo chị Băng Thanh, cũng phải hơn 3500 trang in, tương đương hơn 5000 trang bản thảo chép tay (xin xem đây). So với phần các cụ làm trước thì gấp hơn 5 lần. Chưa kể 911 trang bản thảo chép tay kia còn có những trang phải loại bỏ không dùng. Thật tình trong mấy lời đáp lại ông lần đầu tôi không hề đưa ra một sự tính toán cụ thể nào có ý so sánh công việc giữa chúng tôi với chặng khởi đầu của hai cụ. Nhưng nhân chị Băng Thanh thống kê, tôi đưa lại, để chứng tỏ nói có sách mách có chứng. Cũng như tôi cũng đã nói: trong Tập III có đến 80% bài dịch nghĩa thuở các cụ làm không dịch ra thơ, cũng là xuất phát từ thống kê, chẳng phải nói suông.

clip_image010

Một người dân viết về ông Trần Đại Quang

Đỗ Thành Nhân

Viết mấy dòng để đưa tiễn ông về nơi vĩnh hằng, mong ông thanh thản ra đi.

I. Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang

Năm 2013, ông Trần Đại Quang làm Bộ trưởng Công an.

Cũng năm đó Quốc hội kêu gọi nhân dân tích cực góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992; tôi cũng tham gia viết một bài. Thực tế lúc đó là “Công an nhân dân còn Đảng còn mình”; “Quân đội ta trung với Đảng …”, cùng với những câu khẩu hiệu công khai; nên trong bản Góp ý của tôi có “Chương IV: Bảo vệ tổ quốc” đề nghị đổi danh xưng “Công an nhân dân Việt Nam cách mạng” thành “Công an Đảng” (xem hình và link kèm theo). Bài viết được gởi theo các địa chỉ email thu thập góp ý Hiến pháp của Quốc hội, của tỉnh và báo chí lúc đó.

clip_image002

(trích góp ý Hiến pháp, nguồn: https://hienphap.wordpress.com/2013/04/03/gop-y-sua-doi-hien-phap-1992-do-thanh-nhan/)

Cũng năm đó, tôi bị phải làm việc với cơ quan an ninh suốt 4 tháng 1 ngày; bị thu giữ máy tính và tài sản trí tuệ của cá nhân tích lũy cả cuộc đời tính ra lên đến hàng tỷ đồng; bị buộc tham dự “đấu tố” bởi các cơ quan nội chính, văn hóa thông tin trong tỉnh.

Cho đến nay, cơ quan công an cũng không công bố chính thức và tôi cũng không biết mình bị tội gì?!

Sau đó, tôi yêu cầu thì cơ quan an ninh chỉ giao trả lại một cái xác laptop, nhưng giữ lại những tài sản khác, giá trị không hề nhỏ, đặc biệt về giá trị tinh thần là vô cùng lớn. Từ nhiều năm nay tôi đã viết đơn đề nghị các cơ quan chức năng liên quan xem xét “giao trả tài sản cho công dân” nhưng không được trả lời.

(Ghi chú: trong những người tôi gởi đơn có ông Võ Văn Thưởng - Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2014; nếu ông Thưởng đồng ý “đối thoại”, thì tôi sẽ xin được đối thoại với ông ấy về vấn đề này).

Ít nhiều, ông Trần Đại Quang cũng phải chịu trách nhiệm, vì trong giai đoạn ông làm Bộ trưởng; cơ quan Công an đã tước đi “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (theo Tuyên ngôn độc lập) của bản thân tôi và nhiều người khác nữa.

Chết trong lòng dân

Phạm Đình Trọng

Nguyễn Huệ Chi trả lời Mạc Văn Trang về nỗi băn khoăn trước thái độ không thiện cảm của dân chúng đối với cái chết của ông Chủ tịch nước

Tôi rất biết điều anh muốn nói mà không nói ra là chuyện “nghĩa tử nghĩa tận”, tôi cũng vậy đấy.   

Nhưng ngẫm nghĩ kỹ thì có lẽ ta phải đặt câu hỏi thế này anh Mac Văn Trang: Thử tính đếm xem chính quyền hôm nay đưa lại cho người dân được những gì? Cứ tính đếm thật sòng phẳng không để chính trị xen vào, cũng đừng vin vào quá khứ, có phải câu trả lời là zéro tròn trĩnh hay không? Thế thì người dân nào mà thương được các vị không để lại chút công tích gì khi họ ra đi, không kể là họ còn làm khốn khổ dân, mỗi anh lên là lại phá, lại cướp một ít (một nhiều) để kiếm chác, kể cả việc khi bị dân phản ứng thì đưa dân vào đồn cho dân “tự treo cổ” hoặc “ngã ngất ra chết bất thình lình”.

Năm 2009, sau hơn 6 tháng hoạt động trang Bauxite Việt Nam, tôi bị bắt đi thẩm vấn 22 ngày ròng rã. Làm việc với đám công an điều tra của Bộ, tôi vẫn còn le lói một niềm tin, rằng đám ấy còn có những người tốt. Và sau khi đối thoại với ông Thứ trưởng CA Nguyễn Văn Hưởng một buổi, tuy ai giữ quan điểm nấy nhưng tôi vẫn ngờ ngợ, tự đặt dấu hỏi: phải chăng cái Chính phủ NTD đã vạch được một sách lược nào đấy bảo đảm cho đất nước giàu mạnh, và độc lập với TQ mà mình chưa nhận được ra?

Nhưng rồi cứ mỗi năm tiếp theo thì câu trả lời đắng chát một lộ rõ hơn. Và liên tiếp đến 4 năm sau đó, đáp số tàn khốc đã phơi bày lồ lộ một cách hầu như toàn diện trước tất cả mọi người, chẳng có gì che giấu được nữa.

Vậy thì giờ đây, nhỏ lệ với Bá Kiến (vạn lần Bá Kiến) chẳng hóa ra mình còn thua đến cả chàng Chí Phèo của Nam Cao?

Nguyễn Huệ Chi

Đọc tin ông lớn Trần Đại Quang, Chủ tịch nước chết vì căn bệnh hiểm sáng 21.9.2018, tôi cứ nghĩ đến những cái chết tức tưởi, đau đớn của hàng trăm người dân trên đường phố, trong trụ sở công an, trong trại tạm giam bởi những cú ra đòn tàn độc của công an thời ông Trần Đại Quang làm Bộ trưởng Bộ Công an.

Vài dẫn chứng về những người dân bị công an đánh chết thời ông Trần Đại Quang đang đứng đầu Bộ Công an, đang đứng đầu trách nhiệm về những họa phúc do công an mang lại cho dân cho nước: Ông Nguyễn Mậu Thuận, 56 tuổi, bị đánh chết trong trụ sở công an xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội. Anh Ngô Thanh Kiều, 30 tuổi, bị công an đánh chết trong nhà tạm giam ở thành phố Tuy Hòa, Phú Yên. Em Tu Ngọc Thạch, 14 tuổi, bị công an xã Vạn Long, Vạn Ninh, Khánh Hòa đánh chết ngay trên đường cái quan số 1.

Hàng trăm người dân bị công an đánh chết vô cùng man rợ mà ông Bộ trưởng Công an vẫn dửng dưng rũ bỏ trách nhiệm, vẫn ham hố công danh, miệt mài leo lên tới chức Chủ tịch nước, tột đỉnh quyền lực. Hành xử đó là sự thách thức lương tâm con người của kẻ không còn liêm sỉ, không còn tính người. Đó là cái ác.

Trước cái chết của một con người, ai cũng ngậm ngùi, xót thương. Bảy dân thường bị chết vì sốc ma túy trong đêm hội nhạc ở công viên nước Hồ Tây, Hà Nội đêm 16.9.2018 cũng làm tôi lặng đi trong bùi ngùi xúc động. Nhưng tôi không chút xúc động khi hay tin về cái chết của ông lớn Chủ tịch nước Trần Đại Quang, nguyên là Bộ trưởng Công an, người đã trốn tránh trách nhiệm trước cái chết của hàng trăm người dân lương thiện bị công an, quân của ông Quang tước đoạt mạng sống. Dù người yếu lòng cũng không ai dành sự xót thương cho cái ác mà chỉ có sự căm giận. Dù cái ác vẫn còn nhưng bớt đi một cái ác, cuộc sống cũng nhẹ nhõm, an lành hơn.

Khởi tố ‘đệ ruột anh Hai’, ông Trọng mang lò vào Sài Gòn

Phạm Chí Dũng

Sau 4 tháng ‘nhóm củi’, ‘lò’ của Tổng Bí thư Trọng dường như đã hoàn tất quá trình khởi động để bắt đầu cháy và thiêu đốt giới một danh sách đen những quan chức TP.HCM ‘nhúng chàm nhưng không chịu gột rửa’.

‘Đệ ruột Anh Hai’

Sau vụ Đinh La Thăng, Nguyễn Hữu Tín là cái tên quan chức cao cấp đầu tiên của chính quyền TP.HCM, dù đã nghỉ hưu, chính thức bị đưa vào vòng tố tụng hình sự với hai động tác đầu tiên là khởi tố và khám xét nhà - do Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an tiến hành vào ngày 18/9/2018 - vì liên quan vụ Vũ ‘Nhôm’.

‘Điểm sáng’ rõ nhất của Nguyễn Hữu Tín có lẽ là giai đoạn ‘trưởng thành cách mạng’ suốt từ những năm 2000 đến năm 2015 trùng với thời kỳ ngự trị của ‘Anh Hai’ Lê Thanh Hải ở Sài Gòn.

Nếu trước khi trở thành Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố, Lê Thanh Hải từng là Bí thư Quận 5 - một quận giàu có với nhiều người Hoa sinh sống và làm ăn, thì Nguyễn Hữu Tín cũng có thời được đưa về làm Bí thư Quận 5.

Song phần lớn thời gian của Nguyễn Hữu Tín là trên cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố, trong đó có phụ trách về mảng nhà đất - địa chỉ mà đã sinh sôi nảy nở những mối quan hệ đen tối với Thượng tá tình báo công an Phan Văn Anh Vũ và công ty bình phong của Vũ mà đã góp công giải tán luôn cả Tổng cục tình báo của Bộ Công an vào năm 2018.

Từ khi Lê Thanh Hải còn tại vị như một ‘bố già’ ở Sài Gòn và kể cả sau khi ‘Anh Hai’ mất chức Bí thư thành ủy TP.HCM vào cuối năm 2015, Nguyễn Hữu Tín được rất nhiều dư luận xem là ‘đệ ruột’ của ông Hải, và tuy không được đánh giá có tài sản cá nhân ‘mập’ như Lê Thanh Hải, nhưng Nguyễn Hữu Tín cũng được xem là một trong những quan chức giàu có đến độ có thể chẳng nhớ nổi nhà đất và kim ngân của mình tích góp hay vơ vét được từ những phi vụ nào.

Lò ‘tiến về Sài Gòn’

Vào quý 2 năm 2018 khi nổ ra vụ bắt hai cựu Chủ tịch Đà Nẵng là Trần Văn Minh và Văn Hữu Chiến vì dính đến vũ ‘Nhôm’, đã râm ran tin ngoài lề là sắp bắt cả một số quan chức TP.HCM bị liên đới, trong đó có Nguyễn Hữu Tín. Tuy nhiên sau ít tháng và sau khi Vũ ‘Nhôm’ bị đưa ra tòa xét xử với tội danh đầu tiên là ‘cố ý làm lộ tài liệu bí mật nhà nước’ cùng mức án 9 năm tù giam, những dấu hiệu ‘đốt lò’ ở Sài Gòn tạm lắng xuống, dành chỗ cho chiến dịch xóa toàn bộ các tổng cục của Bộ Công an và ‘thay máu’ cơ quan được xem là ‘siêu bộ’ này.

Cũng vào thời gian trên, một động thái khởi động khác của ‘lò’ Nguyễn Phú Trọng, hay chính xác hơn là ai đó đã ‘mượn lò’ ông Trọng để mưu tính ‘đốt’ một số quan chức đương chức trong khối chính quyền và Thành ủy TP.HCM, trong đó có những cái tên Tất Thành Cang - Phó Bí thư thường trực Thành ủy, Trần Vĩnh Tuyến - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố, kể cả Nguyễn Thành Phong - Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố… Hai ‘chuyên án’ từ vừa tới lớn được tung ra là vụ Thành ủy TP.HCM bán trái pháp luật 32 ha đất Nhà Bè với giá bèo cho tư nhân, và vụ khiếu nại tố cáo kéo dài ròng rã hai chục năm trời ở Thủ Thiêm - một cứ điểm sinh tử trong cuộc tranh chấp giữa các nhóm quyền lực - lợi ích mới với nhóm quyền lực - lợi ích cũ.

Tuy nhiên, phải đến đầu tháng Chín năm 2018, một bản kết luận kiểm tra về vụ Thủ Thiêm mới được Thanh tra Chính phủ công bố theo ‘đồng ý của Thủ tướng’ (Nguyễn Xuân Phúc). Cũng là lúc mà có dư luận cho rằng mưu đồ ‘đi đêm’ giữa hai nhóm lợi ích mới và cũ đã không mấy thành công vì một số nguyên do nào đó mà đã dẫn đến quan điểm ‘xử thẳng tay’ trở nên minh bạch hơn trước công luận.

Quan điểm ‘xử thẳng tay’ bước đầu đã thể hiện bởi việc khởi tố Nguyễn Hữu Tín và ba quan chức khác là Đào Anh Kiệt - cựu Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, Lê Văn Thanh - Phó chánh văn phòng UBND TP.HCM và Nguyễn Thanh Chương - Trưởng phòng Đô thị, Văn phòng UBND TP.HCM.

Sáu tháng sau khi khai hỏa ‘mặt trận Đà Nẵng’, điểm nổ tiếp theo rõ ràng đã ‘tiến về Sài Gòn’. Vụ án Vũ ‘Nhôm’ đã bước sang giai đoạn 2 về ‘vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí’, kéo theo vòng lao lý của nhiều quan chức dân sự chứ không chỉ là quan chức Bộ Công an như trước đây.

So với Đà Nẵng, ‘mặt trận Sài Gòn’ tập trung nhiều hỏa lực hơn hẳn và rất có thể sẽ xảy ra ác liệt hơn nhiều. Đã từ nhiều năm qua và đặc biệt dưới thời Lê Thanh Hải, TP.HCM được xem là nơi ‘bất khả xâm phạm’. Vào năm 2016, ngay cả vụ Bộ Công an bắt Trần Phương Bình - Tổng Giám đốc Ngân hàng Đông Á là nơi mà Thành ủy TP.HCM là cổ đông lớn nhất - cũng chẳng một quan chức TP.HCM nào bị hề hấn gì.

Tỏa vào lòng dân như thế nào?

Nguyễn Vũ Bình

Trên mạng xã hội Facebook ngày 14/9 vừa qua có đăng tải một bài viết của tác giả Vũ Thạch, với tiêu đề: “Đã đến lúc giới hoạt động tỏa vào lòng dân”(*). Bài viết hay, nêu ra một phương hướng chiến lược, kết nối cuộc đấu tranh vì dân sinh với phong trào dân chủ. Tuy nhiên, bài viết mới dừng lại ở mức gợi mở vấn đề, và đưa ra một số phương diện để phong trào dân chủ chủ động kết nối với phong trào đòi dân sinh. Trên thực tế, các cá nhân, các tổ chức của phong trào dân chủ đã và đang thực hiện điều này bằng nhiều cách thức khác nhau. Nhưng trong môi trường cộng sản toàn trị ở Việt Nam hiện nay, hiệu quả của việc kết nối còn rất khiêm tốn. Chúng ta cần tìm hiểu những khó khăn của cuộc đấu tranh vì dân sinh, những khó khăn trong việc kết nối với phong trào dân chủ, những bài học từ những điểm nóng đã ít nhiều thành công… từ đó mới đưa ra được các gợi ý về giải pháp có thể thiết thực, hiệu quả.

1/ Những khó khăn trong đấu tranh đòi quyền dân sinh, những bài học kinh nghiệm

Đấu tranh đòi quyền dân sinh là việc người dân đứng lên đấu tranh bảo vệ các quyền lợi chính đáng của mình theo pháp luật hiện hành. Có rất nhiều ví dụ về phong trào đấu tranh cho dân sinh, như việc giữ đất của người dân xã Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức, Hà Nội), phường Dương Nội (quận Hà Đông, Hà Nội); việc đấu tranh chống ô nhiễm môi trường ở xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi… hoặc đấu tranh di dời và xóa bỏ các trạm BOT đặt sai vị trí, vv… Đã có rất nhiều nơi, người dân bị xâm phạm lợi ích hợp pháp, phần lớn đều cam chịu. Nhưng một số địa phương người dân đã không chấp nhận và đứng lên đấu tranh. Có thể nói rằng, cuộc đấu tranh của người dân là hoàn toàn không cân sức, vô cùng khó khăn, gian khổ mà phần lớn vẫn chịu cảnh thua thiệt. Tại sao người dân hợp lực đứng lên đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình nhưng phần lớn vẫn thất bại? Có những nguyên nhân sau đây lý giải việc này.

- Tuyệt đại đa số những tiêu cực, hành vi xâm phạm lợi ích của người dân đều được thực hiện bởi đa số quan chức trong hệ thống cầm quyền các cấp. Việc thu hồi, đền bù rẻ mạt, cướp đất, việc lập các trạm BOT hút máu dân, vv… đều được thực hiện bởi một hệ thống cầm quyền các cấp. Đó không phải là quyết định của một hoặc một vài cá nhân mà là cả hệ thống. Chính vì cả hệ thống tham gia nên khi có sự phản kháng, chống đối thì toàn bộ hệ thống được huy động để đàn áp và cưỡng chế người dân. Cả một hệ thống chính trị, với sự gắn kết lợi ích từ việc xâm phạm quyền lợi của người dân, với đầy đủ các ban bệ, gồm cả công an, tuyên huấn, thậm chí quân đội và với nguồn lực nhà nước thì những cá nhân, những nhóm người dân thường không bao giờ có thể kháng cự nổi (đó là nói về nguyên tắc).

- Người dân vì quyền lợi chính đáng của mình lên tiếng, đấu tranh gặp rất nhiều khó khăn như: nhận thức về pháp luật, không có kinh nghiệm kết hợp, hợp tác và nỗi sợ hãi ăn sâu trong tâm khảm… Về lý thuyết, các cuộc đấu tranh của người dân muốn có kết quả tốt đẹp cần ba yếu tố: có tổ chức; được đào tạo, tập dượt và rèn luyện; quyết tâm và đoàn kết. Ở Việt Nam hiện nay, việc có được cả ba yếu tố này là điều cực kỳ khó khăn, nhất là đối với những người dân thường.

Trong bối cảnh đó, vẫn có những địa phương người dân đã ngăn chặn được những vi phạm, hành vi sai trái, trục lợi của nhà cầm quyền. Chúng ta có thể thấy, điển hình trong số các địa phương này là bà con xã (phường) Dương Nội, quận Hà Đông; bà con xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức.

Đối với bà con phường Dương Nội, với 200 hộ dân từ chối nhận tiền đền bù thu hồi đất, nhà cầm quyền mà đại diện là phường Dương Nội và các doanh nghiệp đã sa lầy không triển khai tiếp dự án được. Bà con Đồng Tâm, Mỹ Đức đã được chứng minh phần đất của bà con không thuộc đất quốc phòng bằng việc đơn vị quân đội đã làm hàng rào phân chia ranh giới, đồng thời chưa người dân nào trong danh sách khởi tố bị bắt. Có thể nói rằng, cuộc đấu tranh của bà con hai địa phương trên tạm thời có thắng lợi trên góc độ ngăn chặn được bàn tay tội lỗi của nhà cầm quyền.

Tìm hiểu sâu hơn về cuộc đấu tranh của hai địa phương Dương Nội và Đồng Tâm, chúng ta có thể nhận ra những điều cốt lõi chung, giúp người dân hai địa phương trụ vững và giành kết quả bước đầu tốt đẹp.

+ Nội dung, chủ điểm đấu tranh của người dân hai địa phương là những vấn đề lợi ích thiết thực, sát sườn và sống còn. Đó là việc bảo vệ đất đai, tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân. Không có đất đai canh tác, không có thu nhập cơ bản để tồn tại, người dân sẽ rơi vào thảm cảnh sống nay biết mai, mất gốc. Yếu tố sống còn chính là động lực thúc đẩy người dân đứng lên, quyết tử giữ đất…

Nhóm lợi ích Bộ Tài nguyên Môi trường còn giấu diếm ĐTM đến bao giờ?

Nguyễn Anh Tuấn

ĐTM là Đánh giá Tác động Môi trường được chủ đầu tư lập nhằm chỉ ra những tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường trước những tác động đó. ĐTM cần được cơ quan có thẩm quyển phê duyệt trước khi dự án được tiến hành.

Với vai trò như thế, ĐTM được kỳ vọng là một chốt chặn hiệu quả ngăn cản những dự án ô nhiễm. Thật vậy, ở Đài Loan nhiều dự án có nguy cơ tàn phá môi sinh đã không thể thành hình bởi ĐTM không được thông qua, chẳng hạn gần đây là Nhà máy Nhiệt điện của TaiPower ở Changhua[1]. Trong một số trường hợp khác, chẳng hạn như Dự án Nhà máy Thép Formosa ở Yunlin năm 2007, qua sự phân tích của các chuyên gia có trách nhiệm đối với ĐTM, công chúng nhận ra tầm nguy hiểm của dự án đã phản đối kịch liệt tới mức dự án bị hủy bỏ ngay cả trước khi Hội đồng Thẩm định ĐTM làm việc.

Thế vì sao Việt Nam cũng áp dụng quy trình ĐTM mà lại không hiệu quả, để lọt quá nhiều dự án gây thảm trạng môi trường từ Bắc chí Nam?

Có nhiều nguyên nhân song quan trọng nhất là Bộ Tài nguyên Môi trường đã giấu diếm các bản ĐTM cũng như giữ toàn bộ quá trình này trong vòng bí mật nhằm tránh né sự giám sát của báo chí và công chúng.

Hình bên trái dưới đây là kết quả từ website thuộc Bộ Tài nguyên Môi trường Việt Nam khi gõ từ khóa “Formosa”, chỉ bao gồm tên của ĐTM mà hoàn toàn không có nội dung[2]. Trong khi đó ở hình bên phải - website của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Đài Loan - với cùng từ khóa (台灣化學纖維 trong tiếng Hoa) chúng ta có thể tìm thấy đầy đủ ĐTM của tất cả các dự án của Formosa cùng các tài liệu đi kèm như biên bản cuộc họp Hội đồng Thẩm định ĐTM, biên bản cuộc họp giữa chủ đầu tư với cư dân địa phương - tóm lại là mọi thông tin về khía cảnh môi trường của dự án. Cũng trên website này, bất kỳ ai quan tâm, bao gồm cả báo chí, các tổ chức dân sự, có thể dễ dàng đăng ký tham gia các buổi họp của Hội động Thẩm định, giám sát các thành viên Hội đồng làm việc[3].

22/09/2018

VỀ "NGHĨA TỬ LÀ NGHĨA TẬN"

Trịnh Hữu Long

Muốn thiên hạ có "nghĩa" với mình khi mình chết thì tối thiểu khi còn sống cũng phải có "nghĩa" với thiên hạ.

Còn khi sống mà trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra tội ác, hoặc im lặng về hùa với kẻ ác, thì đừng trách người ta vui mừng khi mình chết, bởi cái chết đồng nghĩa với việc không còn khả năng gây ra tội ác nữa.

Nhưng một xã hội mà phải chờ đến khi kẻ ác chết tự nhiên thì mới ngăn chặn được cái ác thì xã hội ấy là một xã hội rất tuyệt vọng. Một xã hội tốt sẽ ngăn chặn được tội ác mà không cần phải lấy mạng kẻ thủ ác (theo thủ tục xử tử hình) hoặc chờ đến khi kẻ ác chết tự nhiên.

Trần Đại Quang và các đồng chí của ông không cho nhân dân một cơ hội nào để đòi được công lý theo những thủ tục pháp lý văn minh. Trái lại, nhân dân chết trong đồn công an mà không trăn trối được với gia đình một lời nào, nhân dân mất nhà mất cửa mất ruộng mất vườn dưới dùi cui công an mà không thưa kiện được ai, nhân dân cắn lưỡi nhổ răng khâu mồm im lặng dưới đòn thù của công an mà không biết phải làm thế nào.

Hãy hỏi Trần Đại Quang cái "nghĩa" của ông ta ở đâu trước tang quyến của những người đã chết dưới dùi cui công an, ngay trong thời kỳ ông ta là Bộ trưởng.

Hãy hỏi Trần Đại Quang cái "nghĩa" của ông ta ở đâu trước hàng trăm nghìn người ngày ngày kéo nhau lên trụ sở công quyền đòi lại đất.

Thư ngỏ gửi ông Nguyễn Thiện Nhân đương kim Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Nguyên Bình

Thưa ông,

Cực chẳng đã mới phải gửi tới ông theo cách này. Bởi vì những người dân như tôi bây giờ không còn cách nào khác để thưa bất cứ chuyện gì với các ông bà lãnh đạo nữa rồi. Gửi đường bưu điện có ghi địa chỉ nhà riêng hẳn hoi, chắc chắn thư cũng chẳng đến tận tay được vì lý do “bảo đảm an ninh” mà. Tôi nói điều này là có căn cứ.

Một là, ông P, đảng viên, lại là cháu ruột một ông nguyên Ủy viên BCT của Đảng CSVN, ông ấy đã gửi nhiều thư đến các vị lãnh đạo thật cao mà thư đều mất hút, chẳng ai trả lời là đã nhận được hay chưa. Sợ thư thất lạc, ông ấy đã đem thư đến tận cổng nhà ông Tổng Bí thư để nhờ người đưa tận tay những ý kiến đóng góp chân thành, xây dựng. Nhờ người bảo vệ chuyển thư, họ không chịu nhận; ông ấy thấy có cái hòm thư ở cổng, định tới bỏ vào, thì người gác cổng liền nhào tới, đưa lưng chắn kín hòm thư, không cho bỏ…

Việc thứ hai, đó là vào tháng 9 năm 2011, có 14 nhà khoa học đã và đang làm nghiên cứu, giảng dạy ở các trường, viện tiếng tăm ở các nước Mỹ, Pháp, Nhật, Canada, Bỉ, Singapore… và ở cơ quan Liên Hợp Quốc cũng đã cùng nhau thảo ra và gửi tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng một Bản Ý kiến đưới đầu đề “Cải cách toàn diện để phát triển đất nước”. Nhưng Bản Ý kiến công phu đó cũng chẳng hề nhận được một chút hồi âm nào. (Nói thêm: việc không thèm hồi âm và xem xét đến Bản Ý kiến đó thật là thái độ mất lịch sự ghê gớm và cũng là sự lãng phí chất xám ghê gớm. Các tác giả đều là những người rất nghèo về thời gian vì thời gian của họ thường được tính tiền cho từng giờ làm việc, vậy mà đã bỏ ra hàng trăm giờ làm việc, gọi điện thoại từ nước này sang nước khác, thảo luận, nhiều lần bổ sung chỉnh sửa để đi đến đồng thuận và dung hòa những khác biệt về quan điểm và cách nhìn). Tôi biết về việc Bản Ý kiến đó bị vứt xó là do một lần được gặp ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, tôi hỏi ông đã biết đến Bản Ý kiến đó chưa? Ông nói chưa hề. Vậy đó!

Trong Bản Ý kiến, ở phần đầu, các tác giả đã viết: “Theo chúng tôi, phải có một cuộc cải cách mang tính Cách mạng về thể chế mới giải quyết được hai vấn đề này (thể chế thiếu dân chủ và thành phần lãnh đạo đất nước chưa có nhiều người tài giỏi, bản lĩnh, chịu trách nhiệm cao và quy tụ được bên mình những trí thức và cộng sự chân chính). Chúng tôi nghĩ rằng, trách nhiệm này trước hết thuộc về Đảng cầm quyền, và trên thực tế hiện nay cũng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đảm nhận được vai trò này”.

Thưa ông, tôi kể lể dài dòng như vậy để nói rõ lý do tại sao tôi phải gửi thư lên mạng và hi vọng may mắn ông đọc được. Đồng thời nhân đây, tôi cũng giới thiệu với ông văn bản quý nói trên.

Chắc bởi lý do quá lâu không nhận được hồi âm (kể cả những lời phê phán chỉ trích, đấu tranh với những thứ “sai trái, lệch lạc” nếu có của Bản Ý kiến, cũng không hề có), nên các tác giả của nó đã tung lên mạng, vì vậy tôi mới được biết đến. Và chính ông Vũ Ngọc Hoàng mãi mấy năm sau cũng mới biết đến để đọc nó.

Thiết nghĩ, việc đọc hiểu một văn bản dài chừng chục trang giấy thì không có gì khó đối với người chữ nghĩa bình thường, lại càng dễ dàng đối với ông. Chẳng lẽ ông lại cũng thờ ơ, không thèm vào đọc xem hay dở thế nào? Tìm văn bản nay rất dễ, chỉ cần gõ “Cải cách toàn diện để phát triển đất nước” là tìm thấy ngay. Chắc rằng ông chẳng phải ngại ngùng gì, vì văn bản chưa bị liệt vào những tài liệu phản động xấu độc bị cấm. Tin rằng cũng là người từng du học nước ngoài, ông chẳng xa lạ với tên tuổi các tác giả của Bản Ý Kiến đó, như Nhà nghiên cứu Vật lý Giáp Văn Dương của Đại học Quốc gia Singapore, GS. Phạm Xuân Yêm Giám đốc nghiên cứu Vật lý Đại học Paris VI, GS. Trần Văn Thọ của Đại học Waseda Nhật Bản, TS. Vũ Quang Việt chuyên gia tư vấn Kinh tế Liên Hợp Quốc v.v.

Gần đây, Đảng, Nhà nước, Chính phủ ta tỏ ra quan tâm nhiều đến cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu rất bạo: “Chúng tôi muốn làm bạn của những người giỏi nhất trong kinh tế toàn cầu”. Mình chưa có vị thế gì lắm về kinh tế, có phải tự nhiên làm bạn với người nổi tiếng được đâu! Tiếc rằng, giá 6, 7 năm qua chịu khó quan tâm lắng nghe hoặc chịu gặp gỡ, tôn trọng các tác giả nói trên, thì dù họ chưa hẳn là “những người giỏi nhất” như ông Phúc mong gặp, thì họ cũng có thể kết nối để ông Thủ tướng làm quen với những người giỏi nhất! Và cái “công nghệ 4.0” mong mỏi kia, chắc chắn họ cũng có thể giúp được nhiều lắm.

Cái chết của ông Trần Đại Quang và ‘các đồng chí khác’…

Võ Thị Hảo

Ông Trần Đại Quang đã chết vào sáng 21/09/2018… Tin từ UB Bảo vệ Sức khỏe TƯ nói rất mập mờ: ‘đồng chí đã mắc loại virus hiếm và độc hại, trên thế giới chưa có thuốc chữa’, đưa về cái chết của ông trước khi Nhà nước tung ra cáo phó.

Miếng ‘virus hiếm’

Điều lạ là rất ít người ngạc nhiên về cái chết của ông. Lâu nay đã có vô số lời đồn đoán rằng ông đã bị vô hiệu hóa và đầu độc theo kiểu Nguyễn Bá Thanh trước đây. Đúng sai không rõ, nhưng những dịp ông vắng mặt dài ngày đi chữa bệnh ở Nhật đã được những trang ‘lề dân’ đưa tin, dù báo chí chính thống im bặt. Trong những tháng gấn đây, gương mặt tiều tụy và dáng đi kiệt sức của ông đã được dân mạng đưa cận cảnh kèm lời bình luận về một cái chết không xa được báo trước.

Dưới thời cai trị của ông Trần Đại Quang, đặc biệt từ khi ông làm Bộ trưởng Công an năm 2011 rồi từ 02/04/2016 lên làm Chủ tịch nước, nhân quyền và tự do ngôn luận bị đàn áp tàn bạo tăng tốc. Đặc biệt nhất là công an giả dạng côn đồ cài cắm vào những cuộc biểu tình ôn hòa để chính quyền lấy cớ đàn áp dân. Công an cũng giả dạng côn đồ đi đánh đập những nhà bất đồng chính kiến và dân oan khiếu kiện. Thậm chí công an và quân đội còn kết hợp cùng nhau thành những đội quân mang vũ khí hùng hậu chỉ để hỗ trợ doanh nghiệp cướp đất của dân, buộc người dân phải dật dờ trôi dạt đầu đường xó chợ. Đến khi dân khiếu kiện về cái sai của việc làm trái pháp luật của chính quyền, doanh nghiệp và công an thì những người có trách nhiệm thờ ơ, dân lại bị đánh đập, đàn áp tiếp với những tội vu cáo là ‘gây rối trật tự công cộng’ với những bản án phi pháp hết sức nặng nề và có những người phải tự thiêu vì quá oan trái. Vụ án Đồng Tâm, Thủ Thiêm… chỉ là một vài trong số những ví dụ khiến người dân phẫn nộ.

Ông Trần Đại Quang, đã hẳn là một trong những nhân vật quan trọng tạo tác ‘nền công an trị’ nhấn chìm quốc gia này trong đàn áp bất đồng chính kiến và bạo lực. Trong bức màn bưng bít thông tin bí mật, có lần nào ông đã ‘tỉnh giấc’ và phát biểu đôi lời đứng về phía dân chúng? Những gì ông và các cá nhân trong hệ thống cầm quyền VN đã gây hại cho dân từ trước đến nay đương nhiên sẽ được lịch sử ghi nhận và được phán xét công bằng, như những bài học cần nhắc mãi để VN và nhân loại cần nhận diện và ngăn chặn ngay từ ban đầu nền độc tài toàn trị gây hậu họa cho dân.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang để lại gì?

clip_image002

1. "Ông Trần Đại Quang ra đi và không để lại dấu ấn gì đáng kể"

TS. Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam bình luận trên Bàn tròn Đặc biệt của BBC Tiếng Việt hôm 21/9:

“Ông Trần Đại Quang cuối cùng đã ra đi một cách không trọn vẹn, mặc dù tuổi được coi là vẫn còn trẻ ở trong Bộ Chính trị. Và ông Trần Đại Quang ra đi và không để lại dấu ấn gì đáng kể.

“Thực sự dấu ấn đáng kể nhất của ông là thời còn Bộ trưởng Bộ Công an, tôi nghĩ là dấu ấn đáng kể nhất của ông là đã chỉ huy những chiến dịch đàn áp nặng nề đối với giới đấu tranh, hoạt động dân chủ nhân quyền ở Việt Nam và bắt nhiều người.

“Và di sản của ông Trần Đại Quang để lại, tất nhiên ngày hôm nay mà nói những điều đó với một người vừa qua đời thì kể ra tôi nghĩ rằng nó cũng có cái gì đó hơi khập khiễng, nhưng nếu đánh giá một cách khách quan thì cũng phải nhắc lại cho đầy đủ rằng người nào có công, người nào có tội và người nào làm được gì đó, thì tôi nghĩ rằng di sản ông Trần Đại Quang để lại, thậm chí cho cả Bộ Công an sau này kế thừa, đến đời ông Tô Lâm còn đàn áp nhân quyền mạnh hơn nữa...

“Và di sản thứ hai mà ông Trần Đại Quang để lại, tôi nghĩ rằng dấu ấn lớn nhất của ông thời Bộ trưởng Bộ Công an trước khi làm Chủ tịch Nước là ông đã có một chuyến đi Washington tiền trạm cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để ông Trọng đi Washington sau đó gặp Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama.

“Và trong chuyến đi tiền trạm đó vào tháng 3/2015, ông Trần Đại Quang đã được rất nhiều quan chức của Mỹ tiếp, kể cả quan chức của Bộ Quốc phòng, rồi FBI, rồi CIA v.v…, tất cả, nhưng mà sau đó vai trò của ông mờ nhạt và mờ nhạt hẳn kể từ tháng 7/2017…”

2. LS Trần Quốc Thuận: "ông Trần Đại Quang để lại một di sản nặng nề"

clip_image004

Bình luận trong chương trình Bàn tròn Thứ Năm hôm 21/9 của BBC Tiếng Việt, Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm thường trực Văn phòng Quốc hội nói:

“Về quan điểm của tôi thì thấy ông Trần Đại Quang để lại một di sản, tôi dùng chữ ‘di sản nặng nề’ nhất, chính là Bộ Công An, đã có lần tôi nói là một cuộc cải cách hay là ‘thay máu toàn diện’. Từ 12 Tổng cục giải thể hết và chỉ còn lại là các Cục, thì rõ ràng là hàng loạt tướng lĩnh, rồi sỹ quan cấp tá, cấp này kia ra đi phải được bố trí trở lại.

"Đó là một câu chuyện di sản và di sản đó không chỉ là sắp xếp bộ máy khổng lồ như thế, rồi phong tướng, phong quan hàng loạt như thế, thì bây giờ việc bố trí như thế nào? Đó là một câu chuyện không phải đơn giản.

“Nhưng cái để lại mà người ta nói nhiều nhất là để lại những dấu hiệu tiêu cực mà bây giờ đã thành tội phạm rồi, như vụ án Vũ Nhôm…, rồi một số tướng lĩnh bị điều tra tiêu cực...

“Tôi đang nghĩ đến Quyết định 102 của Bộ Chính trị và nếu những người nào liên quan đến việc có dấu hiệu tiêu cực nghiêm trọng, thì cho dù có qua đời thì cũng phải kết luận đó là cái gì. Tôi nghĩ rằng kết luận trách nhiệm về thiết kế của Bộ Công an, bộ máy mà bây giờ nhiều người bị phạm tội như thế thì trách nhiệm thế nào? Thì cái đó có áp dụng quy định 102 hay không?

“Đó là vấn đề người ta nghĩ tới phải đặt ra, phải làm một cách không có vùng cấm, cho nó rõ ràng, sòng phẳng, chứ không thể để người ra đi vì nếu mà có thì cũng nói cho nó rõ, hoặc là không có vấn đề gì cả".

Xung quanh thương chiến Mỹ - Trung còn có phong trào tẩy chay Viện Khổng Tử mà Mỹ đã biết là trò tình báo ranh ma của cáo già họ Tập

Cuộc đại chiến Thương mại Mỹ - Trung, ai thắng?

Lưu Trọng Văn

Vương Nghị, Ngoại trưởng Trung Quốc trong cuộc gặp Phạm Bình Minh, Ngoại trưởng nước gã đề nghị: cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông là hai bên cùng hợp tác khai thác.

Gã nghe mà rơn rơn ... sướng.

Học tập bài của Vương Nghị gã viết thư cho Vương Nghị:

Thưa đồng chí kính và mến. Tôi và đồng chi đều có tình cảm nồng nàn sâu sắc với người mà đồng chị gọi là vợ. Để chúng ta không là tình địch của nhau và giải quyết ổn thoả tranh chấp... tình trên, tôi đề nghị chúng ta cùng hợp tác và khai thác... nàng.

Gửi đồng chí lời chào láng giềng bốn... tốt.

Lưu Trọng Văn

Nguyên nhân Liên Xô sụp đổ là do kinh tế bị kiệt quệ khi sập bẫy Chạy đua vũ trang mà cao trào là cuộc đua Chiến tranh trên các vì sao.

Tình báo cùng hệ thống truyền thông khổng lồ đã nống lên về sức mạnh vũ khí Mỹ dẫn đến bao tiềm lực kinh tế của Liên Xô dồn cho quận sự, chinh phục vũ trụ và niềm tự hào hão: Sức mạnh vô địch của cộng sản trên toàn thế giới.

Cuộc đua ấy càng dài, càng tăng tốc, kinh tế bao cấp càng bộc lộ sức mạnh ảo để rồi toác rỗng.

Trump giờ đây đang tập trung vào đối thủ mới và chính của Mỹ: Trung Quốc. Bài mới không ẩn danh Chạy đua vũ trang, chinh phục các vì sao mà toẹt thẳng: Đại chiến thương mại và chinh phục kinh tế toàn cầu.

Trump tấn công hai gọng kìm, một trực diện với hàng hoá khổng lồ của Trung Quốc, một vạch mặt các cuộc xâm lăng của Trung Quốc bằng kinh tế rồi chi phối chính trị các nước trên thế giới để các nước trên thế giới đồng khởi chống lại.

Đại chiến thương mại này phần thắng thuộc về ai?

Là nhà kinh doanh Trump quá biết cuộc đua cạnh tranh kinh tế phần thắng chỉ thuộc về kẻ trường vốn tức kẻ thực sự mạnh. Trump cũng quá hiểu kẻ thực sự mạnh phải là kẻ làm chủ công nghệ, làm chủ quan hệ sản xuất, làm chủ các thương hiệu và làm chủ niềm tin của khách hàng - thị trường.

Và ở những nền tảng ấy thì số lượng hàng hoá tràn ngập, giá rẻ cùng mạng lưới nhân công rẻ, khổng lồ chưa nói lên điều gì.

Phát lệnh tấn công. Trump áp thuế lên hàng trăm tỷ hàng hoá Trung Quốc. OK, Trung Quốc áp thuế đáp trả lên hàng hoá Mỹ.

Lúc đầu cả hai nhà sản xuất và tiêu dùng đều thiệt hại nặng. Nhưng Trump tin vào cuộc đua đường dài khi Mỹ làm chủ đồng dola chi phối cùng niềm tin không chỉ 300 triệu dân Mỹ mà niềm tin toàn cầu vào sản phẩm, thương hiệu, công nghệ cũng như công bằng bản quyền hàng hoá của Mỹ thì Trung Quốc sẽ gục ngã.

Gã cũng tin như vậy.

Gã biết rằng lâm vào cuộc đua này hàng trăm triệu người dân Trung Quốc sẽ khốn khó sinh nhai, sẽ mất việc làm, hàng triệu doanh nghiệp Trung Quốc sẽ phá sản. Gã không vui vì thảm cảnh ấy.

Nhưng đổi lại, gã tin, rất tin cuộc đại chiến thương mại và cuộc đồng khởi các quốc gia toàn thế giới chống ách đô hộ kinh tế bẩn của Trung Quốc mà phần thất bại thuộc về Trung Quốc, Tập Cận Bình và Trung Nam Hải nếu không tỉnh ngộ chiến lược Thiên hạ coi Thiên hạ là nô bộc của mình để buộc Trung Quốc chân thành làm bạn tử tế của thế giới thì Trung Quốc sẽ sụp đổ và tan rã như Liên Xô đã sụp đổ và tan rã.

Đất nước gã có gì hạnh phúc hơn nếu có một láng giềng tử tế, tôn trọng các giá trị của Tạo hoá và Nhân loại. Một Trung Quốc như thế sẽ tác động mạnh vào nước gã giúp nước gã sớm trở thành một quốc gia tử tế và tôn trọng các giá trị của Tạo hoá và Nhân loại.

Nguồn: FB Lưu Trọng Văn

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung: Chuyên gia Nga nói Trump làm đúng, Bắc Kinh tổn thất nặng nề

Huệ Anh

Hàng của Trung Cộng từ cảng Hồng Kông sẽ đi cảng Okland, CA ngày 20 tháng 6, 2018

Chiến tranh thương mại Trung – Mỹ tiếp tục leo thang. Sau khi Tổng thống Mỹ Trump tuyên bố đánh thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Cộng có tổng trị giá khoảng 200 tỷ Đô la Mỹ, Bắc Kinh cũng đã đưa ra biện pháp đáp trả. Có chuyên gia của Nga cho rằng, từ góc độ lợi ích quốc gia của Mỹ mà xét, cách làm của ông Trump phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ, bên cạnh đó một khi chiến tranh thương mại bùng nổ một cách toàn diện, Bắc Kinh sẽ tổn thất thảm hại.

Ngày 17/9, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố thu thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Cộng có tổng trị giá khoảng 200 tỷ Đô la Mỹ (USD), ngày 24/9 sẽ bắt đầu thực thi. Hiện tại tỉ lệ trưng thu thuế quan là 10%, đến ngày 1/1/2019, tỉ lệ thuế quan sẽ tăng cao lên đến 25%.

Ông Trump cho biết, phía Mỹ mong muốn đối thoại với Trung Cộng, nhưng nếu Bắc Kinh thực hiện biện pháp trả đũa đối với nông dân và ngành công nghiệp Mỹ, thì Mỹ sẽ lập tức đánh thuế đối với hàng hóa Trung Cộng trị giá 267 tỷ USD, điều này có nghĩa là tất cả các hàng hóa của Trung Cộng xuất khẩu sang Mỹ đều sẽ bị ảnh hưởng. Ông còn nhấn mạnh, hành vi thương mại của chính quyền Trung Cộng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển lành mạnh lâu dài của nền kinh tế Mỹ, ông cũng kêu gọi Bắc Kinh có biện pháp hành động để chấm dứt chính sách thương mại không công bằng.

Ngày 18/9, Bắc Kinh đã đáp trả lại và cho biết, sẽ thu thuế quan 10% hoặc 5% đối với 5207 sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ trong danh mục thuế, tổng trị giá khoảng 60 tỷ USD, bắt đầu thực thi từ ngày 24/9.

Đài Á châu Tự do (RFA) dẫn quan điểm của một chuyên gia Nga cho biết, Bắc Kinh sẽ tổn thất nặng nề trong cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ.

Bản tin cho biết, ông Alexei Piric – Giám đốc “Trung tâm liên lạc Âu – Á” của Nga cho rằng, từ lợi ích quốc gia của Mỹ mà xét, cách làm của ông Trump là vô cùng chính xác, có hiệu quả và thiết thực, “nhưng từ góc độ của Trung Cộng mà xét, thì Trung Cộng sẽ phải chịu tổn thất, hơn nữa lại là tổn thất nặng nề. Bởi vì chiến tranh thương mại đã bùng nổ trên mọi phương diện, trong khi thực lực kinh tế của Bắc Kinh vẫn không cách nào sánh ngang với Washington.”

Alexei Piric giải thích rằng, nguyên nhân trực tiếp là kinh tế Trung Cộng tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, và xuất khẩu lại dựa nhiều vào thị trường Mỹ.

Bắc Kinh muốn tìm một thị trường có quy mô tương đương Mỹ để thay thế nhưng là điều cực kỳ khó. Mặc dù các sản phẩm của Mỹ xuất khẩu vào thị trường Trung Cộng cũng bị ảnh hưởng bởi thuế quan của Trung Cộng, nhưng mức độ tổn hại là nhỏ hơn rất nhiều so với tổn hại của Trung Cộng.

Còn có chuyên gia Nga cho rằng, trong cuộc chiến thương mại này, Trung Cộng vẫn luôn giữ tư thế đối kháng có nguyên nhân là do Trung Cộng đã không còn đường lui, cho dù Trung Cộng không suy xét đến tổn thất kinh tế quốc gia, nhưng chấp nhận quá nhiều điều kiện ví dụ như mở cửa tự do internet, thì sẽ đe dọa trực tiếp đến sự thống trị của Đảng Cộng sản Trung Cộng.

Bản tin cho biết, hiện nay, chính sách của Bắc Kinh là kéo dài đến kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ của Mỹ, với kỳ vọng Đảng Dân chủ cản trở ông Trump có thể vượt lên, đồng thời thông qua sức mạnh của giới doanh nghiệp tài chính ở Phố Wall thân Cộng Sản để gây áp lực cho ông Trump, buộc ông phải thay đổi kế hoạch.

Tuy nhiên,  tỉ lệ người dân ủng hộ ông Trump hiện tại đang lên cao, do đó kỳ vọng này của Đảng Cộng sản Trung Cộng là rất mong mạnh.

Bên cạnh đó, theo CNBC đưa tin, Bộ trưởng Bộ Thương mại Mỹ Wilbur Ross cho biết, biện pháp tăng thu thuế quan không phải là “hành động lỗ mãng”, mục đích là để thay đổi cho ngay chính lại hành vi của Bắc Kinh, để các công ty Mỹ đang cạnh tranh tại Trung Cộng có một sân chơi công bằng. Đối với hành động trả đũa của Bắc Kinh, Bộ trưởng Ross cho rằng, “đạn của Trung Cộng đã dùng hết rồi”, bởi vì kim ngạch xuất khẩu của Trung Cộng sang Mỹ gấp gần 4 lần so với kim ngạch xuất khẩu của Mỹ vào Trung Cộng.

H.A.

Nguồn: https://trithucvn.net/the-gioi/chuyen-gia-nga-ong-trump-lam-dung-bac-kinh-se-ton-that-nang-ne.html

Mỹ Khai Tử Viện Khổng Tử

Vi Anh

Quảng cáo về khóa học tiếng Trung được tài trợ bởi Viện Khổng Tử tại Trường đại học Iowa, Hoa Kỳ.

Quảng cáo về khóa học tiếng Trung được tài trợ bởi Viện Khổng Tử tại Trường đại học Iowa, Hoa Kỳ.

Không những chiến tranh thương mại quyết liệt với TC, Mỹ còn thực hiện chiến dịch khai tử Viện Khổng Tử của TC lâu nay đã đặt tại các đại học lớn trên đất Mỹ.

Thanh toán thương mại bằng Nhân dân tệ: làm sao giới hạn bằng địa giới hành chánh?

Thảo Vy

Sau khi bị chỉ trích, chính quyền đã cho vài tờ báo quốc doanh đăng bài về việc đã cho thanh toán đồng Nhân dân tệ (CNY) từ năm 1993, như một cách bào chữa đầy ngụy biện… Bởi việc cho phép sử dụng đồng CNY trong mọi giao dịch thương mại pháp nhân, mua bán cá nhân ở tất cả các khẩu của 7 tỉnh Việt Nam giáp biên giới Trung Quốc, không chỉ vi hiến, mà còn mâu thuẫn với các văn bản liên quan đang hiệu lực.

clip_image001

Hội chợ thương mại biên giới Việt - Trung.

Thông tư số 19/2018/TT-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, cho phép kể từ ngày 12-10 tới đây, đồng CNY được sử dụng trong giao dịch thương mại, xuất nhập khẩu của cư dân và pháp nhân ở tất cả các cửa khẩu biên giới của 7 tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng và Điện Biên giáp với Trung Quốc.

Bài viết tiếp theo đây chỉ thuần góc nhìn pháp lý về các căn cứ để ban hành Thông tư số 19/2018/TT-NHNN. Qua đó củng cố thêm nghi vấn phải chăng “Sáp nhập tiền tệ’ để tiến tới ‘sáp nhập lãnh thổ’?”.

Một quyết định vi hiến?

Trên báo Thanh Niên điện tử hôm 13-9, trong bản tin tường thuật về phiên họp thứ 27 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, phóng viên Lê Hiệp của báo này có trích băng ghi âm, đoạn phát biểu của bà Nguyễn Thị Kim Ngân về Thông tư số 19/2018/TT-NHNN: “Có người nói vi hiến. Liệu có vi hiến, có vi phạm pháp luật không, vì trên một đất nước sử dụng 2 đồng tiền? Phải trả lời câu hỏi này. Tất nhiên, quy định này chỉ ở khu vực biên mậu, tức là khu vực thương mại ở biên giới thôi, nhưng cũng phải xem lại (…) “Tôi đã chỉ đạo anh Nguyễn Hồng Thanh[*] và anh Phùng Quốc Hiển[**] xem lại, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước xử lý vấn đề này”.

Đoạn trích băng đó sau khi báo đăng, đã bị gỡ bỏ.

Hơn 4 năm trước, trong bài viết có tựa đề khá dài, “Quy định của Hiến pháp về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường - Bước tiến mới trong quá trình đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển bền vững”, đăng trên báo Nhân Dân số phát hành ngày 16-1-2014 [http://bit.ly/2xyZsrS], trên cương vị Phó Chủ tịch Quốc hội, bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã nhấn mạnh: “Đơn vị tiền tệ quốc gia được hiến định là đồng Việt Nam”.

Trên thực tế, mặc dù Thông tư số 19/2018/TT-NHNN mang tính điều chỉnh về giao dịch thương mại ranh giới địa lý ở 7 tỉnh biên giới phía Bắc, tuy nhiên ở đây hàng hóa đến các cửa khẩu chỉ là điểm cuối. Giao dịch của thương nhân và cư dân 7 tỉnh biên giới bằng đồng CNY trong thanh toán này, sẽ được sử dụng rộng rãi trên toàn quốc. Điều đó tương tự như dự Luật Đặc khu cho phép đồng CNY được lưu hành tại các địa phương hưởng quy chế đặc khu.

Trong khi đó thì không có điều khoản cụ thể nào chế tài việc sử dụng đồng CNY ngoài 7 tỉnh biên giới, cũng như các địa phương sẽ là đặc khu (dự luật này được hoãn). Như vậy ở Việt Nam sẽ song hành sử dụng đồng Việt Nam và CNY.

21/09/2018

Chuyện mua, bán dưới huyện

Từ Thức

“Tôi ký giấy bán, bán cho ai, làm gì thì tôi không biết”. Đọc, tưởng người ta nói chuyện bán một bó rau, con gà, một cái chổi cùn.

Không, đó là chuyện bán một phần lãnh thổ, đẫm máu bao nhiêu thế hệ. Đó là lời tuyên bố của ông Nguyễn Văn Thiện, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, về chuyện bán cảng Qui Nhơn.

Chuyện bán cảng, mới đây vỡ lở. Theo phong tục XHCN - tất cả có quyền, có phần, nhưng không ai có trách nhiệm - , Chính phủ sẽ rất “quan ngại”, sẽ đưa ông Thiện ra “xử lý” (dịch ra Việt ngữ: đem ra tế thần). Ông này đổ tội cho Chính phủ: Nhà nước đã quyết định, tôi ký, vậy thôi.

Mớí đầu, bán 51% cổ phần, là chuyện không ai làm, nghĩa là trao toàn quyền quyết định khai thác, sử dụng cho người mua; sau đó, buồn buồn, hay cần tiền chia nhau, bán luôn 49% còn lại.

Cả Chính phủ, các ông bí thư, chủ tịch, tới người viết báo, không ai nói bán cho ai. Nhắc tới người Tàu là một tội phạm húy, ai cũng sợ bỏng lưỡi, ai cũng có lý do để né.

Ông Tô Tử Thanh, Bí thư Tỉnh ủy trước ông Thiện, người phát giác ra vụ mua bán, đề nghị Nhà nước nên thâu lại cảng bị bán bất hợp pháp - ở VN cũng có chuyện hợp pháp? -, rồi bán một phần, nhưng khi bán, cũng nên nghiên cứu xem giá trị thực tế hiện nay của cảng Qui Nhơn là bao nhiêu.

Nói chuyện lấy lại cho dân sướng, nhưng ngay cả khi còn đôi chút lương tâm, muốn hủy bỏ giao kèo, sẽ tốn kém ngập đầu, hơn cả tiền đã thâu được. Bóp cổ dân, dễ; nhưng đụng tới thế lực ngoại bang, hơi khó hơn một chút.

Chắc chắn các đầy tớ dân, muôn người như một, sẽ thi nhau tình nguyện bán lều lấy tiền trang trải.

Nhắm mắt bán, nhưng cũng không cần biết nó đáng giá bao nhiêu. Ẩu hơn bán một bó rau, vài trái hột vịt lộn.

Chỉ cần biết chia nhau được bao nhiêu. Người dân không có được cái hãnh diện, có cơ hội “tự sướng”, thấy đất nước của ông cha để lại đã bán được giá.

Qui Nhơn chỉ là một thí dụ, sau biết bao nhiêu hải cảng, thị trấn, đặc khu... Ngày nay, ai là người có khả năng biết diện tích thực sự của nước ta bao nhiêu cây số vuông, mảnh đất nào thực sự còn thuộc chủ quyền của Việt Nam?

http://m.danviet.vn/kinh-te/vu-ban-cang-quy-nhon-ban-cho-ai-thi-bo-gtvt-lam-thoi-diem-do-tinh-khong-biet-913902.html

PS: bài báo trên đây, mới đầu có cái tựa “Cảng Quy Nhơn: bán cho ai thì Bộ GTVT làm, thời điểm đó tỉnh không hay biết”. Vài phút sau, đọc lại, cái tựa trở thành: “Tỉnh Bình Định gặp lúng túng khi bán cảng Qui Nhơn”. Chỉ có tỉnh gặp “lúng túng”, Nhà nước không liên hệ.

Hy vọng bài báo sẽ không cánh mà bay mất. Dù sao, đã copy bài báo, để đọc trong trường hợp bài bị xoá, hay sửa đổi nội dung.

T.T.

Tác giả gửi BVN.

KHÍ THẢI FORMOSA: KHI NÀO CÔNG KHAI KẾT QUẢ QUAN TRẮC?

Nguyễn Anh Tuấn 

[Kỳ Anh 19.09.18]

Đầu năm nay, Formosa Hà Tĩnh tuyên bố sẽ tăng gấp đôi công suất[1], hàng quán phục vụ khách Trung Quốc ở phố thị Kỳ Anh theo ghi nhận đã nhộn nhịp trở lại. Cùng lúc đó, một số hộ dân sống xung quanh nhà máy bắt đầu lo lắng cho sức khoẻ của gia đình nên đã dần chuyển đi.

Chính Báo cáo Tác động Môi trường (DTM) của Formosa cũng thừa nhận ngay từ giai đoạn 1 lượng bụi phát sinh sẽ cực lớn và “nếu không có hệ thống xử lý, bụi sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe công nhân làm việc trong nhà máy và khu dân cư lân cận. Các hạt bụi nhỏ có kích thước nhỏ thâm nhập vào người qua đường hô hấp, gây VIÊM PHẾ QUẢN MÃN TÍNH, UNG THƯ PHỔI, VIÊM GIÁC MẠC”[2]. Khí thải có thể không gây ra kết quả nhãn tiền (cá chết chẳng hạn) như nước thải, song hậu quả đối với sức khoẻ con người thì không hề kém cạnh, nếu không muốn nói là còn nghiêm trọng hơn.

Thực tế là số ca mắc ung thư ở các làng vùng Chương Hoá, Vân Lâm nơi Formosa đặt nhà máy bên Đài Loan đã tăng đột biến nhiều lần chỉ vài năm sau khi nhà máy đi vào vận hành và cư dân được tái định cư bên ngoài vòng bán kính 10 km từ các nhà máy này. [Trong khi ở Kỳ Anh vẫn còn quá nhiều hộ dân sống sát tường rào nhà máy, các khu tái định cư Kỳ Phương, Kỳ Liên lẽ ra phải được chuyển ra xa thì lại đặt sát vách Formosa].

Dĩ nhiên Formosa Hà Tĩnh có hệ thống xử lý khí thải của họ, song hiệu quả đến đâu thì cần được kiểm chứng bằng các máy quan trắc chất lượng không khí. Việc giám sát này đòi hỏi phải độc lập; và trong trường hợp một tập đoàn tai tiếng như Formosa thì ai cũng hiểu là nhu cầu này càng bức thiết.

Vậy mà hiện nay chính quyền lại cho phép chính Formosa lắp đặt thiết bị quan trắc này ở khu vực phát khí thải và truyền số liệu về Sở TN-MT Hà Tĩnh. Nghĩa là chỉ Formosa và chính quyền Hà Tĩnh biết với nhau kết quả quan trắc, trong vòng bí mật[3].

Tháng 11/2017 lần đầu tiên Sở TN-MT Hà Tĩnh, trong một công văn báo cáo lên Bộ TN-MT, đã tiết lộ Formosa xả khí thải vượt ngưỡng nhiều lần để rồi từ đó báo chí vào cuộc phát hiện ra Bộ TN-MT từ năm 2014 đã ra văn bản ‘cá biệt’ đặc cách cho Formosa xả thải vượt chuẩn[4].

Câu hỏi là nếu có lúc nào đó Formosa vẫn xả vượt chuẩn mà Sở TN-MT Hà Tĩnh không thông báo thì thế nào? Có khó gì đâu việc công khai kết quả đo quan trắc lên Internet để dân vào giám sát như chính Đài Loan đang làm[5]?

Thêm nữa, thiết bị quan trắc đâu có đắt đỏ đến mức chính quyền cần Formosa lắp đặt, sao không tự lắp đặt để đảm bảo tính cách độc lập của việc giám sát Nhà nước?

Chiến tranh kinh tế: VN cần cải cách sâu thể chế để đi tắt đón đầu?

Ánh Liên tổng hợp

Khi Mỹ công bố áp thuế nhập khẩu với 200 tỷ USD hàng Trung Quốc, sàn chứng khoán của Bắc Kinh đã chuyển sang màu đỏ, nhưng ngay sau đó lại chuyển sang xanh nhờ Chính phủ bơm nguồn tiền vào. Bắc Kinh cũng cho biết họ buộc phải trả đũa để bảo vệ quyền lợi sau lệnh áp thuế mới của Mỹ, bằng cách áp thuế lên 60 tỷ USD hàng hóa.

Với cuộc chiến thương mại lần này, ông Donald Trump chỉ mang tính đại diện, bởi thực chất nó là cuộc chiến giữa một bên là liên minh Mỹ - EU, bên còn lại là Trung Quốc. Trước đó, vào ngày 25.07, EU - Mỹ đã đồng ý với nhau về việc trì hoãn các mức thuế quan, hướng đến giảm thuế đối với thép và nhôm, tìm kiếm thỏa thuận để loại bỏ thuế quan, trợ cấp hàng công nghiệp. Những thỏa thuận này được chính TNS Đảng Cộng hòa John Hoeven tóm tắt trong cụm từ ‘đạt được tiến bộ với EU’, còn Tổng thống Mỹ Donald Trump coi đó là ‘giai đoạn mới trong mối quan hệ giữa Mỹ - EU’, chuyển từ ‘kẻ thù’ thương mại trước đó sang ‘đồng minh’. Nhìn chung, thỏa thuận này cung cấp một mối quan hệ đủ tốt để tiến hành một cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, hay đúng hơn là như Fred Bergsten, Giám đốc danh dự của Viện Kinh tế Quốc tế Peterson cho biết, một thỏa thuận với châu Âu sẽ cho phép Tổng thống Mỹ tập trung hơn vào Trung Quốc.

clip_image002

Cuộc chiến thương mại Trung - Mỹ có thể giúp Việt Nam trỗi dậy về mặt kinh tế nếu như chịu cải cách. Ảnh: SCMP.

Bản thân Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại khi ngay lập tức, sàn chứng khoán chuyển sang màu đỏ. Câu hỏi đặt ra là, cuộc chiến này tác động tích cực hay tiêu cực đối với nền kinh tế Việt Nam - một quốc gia có thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc, và làm thế nào để Việt Nam khai thác lợi thế trong cuộc chiến thương mại giữa hai cường quốc này.

Thực chất, cuộc chiến thương mại tạo ra những cơ hội rất lớn cho Việt Nam trong tiếp nhận luồng đầu tư tháo chạy từ các doanh nghiệp nước ngoài đóng tại Trung Quốc. Trong một bài viết ngày 14.09 của trang SCMP cho hay, trong cuộc chiến thương mại giữa Trump và Tập thì người hưởng lợi sẽ là các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia ĐNA (ASEAN). Nhận định này hợp lý vì nó cấu thành từ ba yếu tố: vị trí địa lý gần gũi Trung Quốc; nguồn nhân lực trẻ và giá rẻ (thị trường 500 triệu dân); có xu hướng trải thảm đỏ đầu tư FDI bằng thuế. Việt Nam cũng không thoát ly khỏi nhưng ưu thế này.

Vấn đề là, Việt Nam phải thực sự mở rộng cánh cửa đầu tư - kinh doanh trước khi cơ hội này bị hạ nhiệt, và trong số những công việc cần làm đầu tiên là phải giải quyết những lỗ hổng về ưu thế đã và đang diễn ra.

TỰ DO KHÔNG HỀ MIẾN PHÍ

Đỗ Ngà

Các bạn có biết, Việt Nam có bao nhiêu cơ quan báo chí không? Hiện này cả nước có 858 cơ quan báo in, 105 báo điện tử. Toàn bộ 64 tỉnh và thành phố của Việt Nam, mỗi tỉnh đều có ít nhất 1 đài phát thanh và 1 đài truyền hình. Vậy tính ra thêm 128 cơ quan phát thành và truyền hình địa phương. Trung ương còn có VTV. Như vậy tổng số cơ quan báo chí các loại là 1092 với cả hàng vạn nhân viên. Nhưng tất cả những tờ báo này đều quy về một tổng biên tập duy nhất, đó là Võ Văn Thưởng. Hơn ngàn tờ báo nhà nuớc nhưng không một tờ báo tư nhân nào tồn tại. Như vậy tiếng nói người dân ở đâu? Hoàn toàn không có, thế nhưng trong điều 25 Hiến pháp cho phép tự do báo chí.

Các bạn có biết, Việt Nam có Quốc hội với 487 người, thì hết 468 người là đảng viên ĐCS, và 19 người là không đảng phái. Tỷ lệ đảng viên là 96%, trong 19 người không là đảng viên ấy cũng là loại làm cảnh cho có vẻ “dân chủ” chứ thực chất những kẻ đó nhiệm vụ cũng gật mà thôi, ông Dương Trung Quốc là ví dụ. Vậy trong Quốc hội CS gần như 100% là người CS. Còn chỗ nào cho tiếng nói của dân? Hoàn toàn không có.

Vậy tiếng nói của dân ở đâu? Ở facebook - một công cụ do người Mỹ sáng tạo ra, nơi đó là duy nhất người dân cất lên tiếng nói của mình. Ban đầu, các tờ báo nhà nước đều có fan page bên facebook, vì nơi đó giúp bạn đọc dễ tìm đến bài đọc bằng một cái chạm thay vì phải tốn nhiều thao tác hơn để vào website của báo. Chính vì thế, các tờ báo nước ngoài đều có trang fan page để tiếp cận bạn đọc dễ dàng và cũng để quảng bá tờ báo rộng rãi. Điều rất đỗi bình thường thế, nhưng với báo chí CS thì hoàn toàn khác. Vào năm 2016, Cục Báo chí Việt Nam ra công văn 779/CBC-TTPC nhằm kiểm duyệt các trang fan page vì trên đó, khi đọc comment người ta thấy hiện lên sự sai trái của chính sách nhà nuớc và lòng dân không thuận những gì Đảng làm. Thế là hàng loạt trang fan page đóng cửa. Trong đó có trang fan page của Ban Tuyên giáo vì bị dân chửi dữ quá. Đặc biệt, Báo Nhân Dân không bao giờ mở fan page. Nhớ mấy năm trước đây, cổng Thông tin Chính phủ mở để tương tác với nhân dân, bị nhiều comment chất vấn ad không thể đối đáp được nên đã block hết những người đó.

Râu ông Trần Cẩm xin đừng cắm vào cằm ông Nguyễn Văn Đống!

Ngô Thị Hồng Lâm

Hiện nay tình trạng hồ sơ “thương binh giả” đang là một vấn nạn nghiêm trọng đối với xã hội và nhất là đối với quỹ BHXH của Việt Nam. Việc phát hiện những hồ sơ giả mạo và đưa ra pháp luật là một việc làm được dư luận hoan nghênh và đồng tình với các cơ quan chức năng.

Cơ quan công an điều tra của thị xã Long Khánh năm 2015 đã tiến hành điều tra vụ việc “làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” của các cựu chiến binh cư ngụ tại tỉnh Đồng Nai. Vụ án đã xét xử đến cấp phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Nhưng phán quyết của hai cấp tòa đã không được ông Nguyễn Văn Đống “bị cáo” của vụ án tâm phục - khẩu phục.

Trên tinh thần DÂN BIẾT - DÂN LÀM - DÂN BÀN - DÂN KIỂM TRA. tôi đã trực tiếp gặp gỡ ông Nguyễn Văn Đống là “bị cáo” của vụ án và nghiên cứu hồ sơ do cơ quan công an điều tra thị xã Long Khánh - tỉnh Đồng Nai tiến hành điều tra, VKS cùng cấp lập cáo trạng và phán quyết của 2 cấp Tòa án nhân tỉnh Đồng Nai.

Trình tự vụ việc:

Vụ án: “tội danh” làm giả con dấu và tài liệu của cơ quan tổ chức đã được cơ quan Công an thị xã Long Khánh tiến hành điều tra với 18 bị can và khởi tố theo trình tự sơ thẩm của pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai như sau:

Nhân thân Ông Nguyễn Văn Đống:

Ông Nguyễn Văn Đống nhập ngũ ngày 10/5/1978, đóng quân ở Hoàng Liên Sơn. Tham gia trận đánh chống quân Trung Quốc xâm lược bảo vệ biên giới phía Bắc ngày 17/2/1079 tại Cam Đường, Bảo Thắng, Phố Lu, tỉnh Lào Cai (mới).

Năm 1983 được điều đi học ở Trường Sĩ quan chỉ huy Sơn Tây. Năm 1986 ra trường, được điều về Sân bay Bạch Mai. Năm 1988 điều động ra Trường Sa tỉnh Phú Khánh, phối hợp với Bộ tư lệnh Pháo binh tham gia trận đánh bảo vệ Trường Sa-Gạc Ma-Châu Viên-Vành Khăn-Xu Bi, cho đến năm 1994 ra quân chuyển về quê Hà Nam Ninh.

Năm 1997 ông Đống chuyển vào sinh sống ở tại địa chỉ: số 78 đường Hàm Nghi, tổ 16, ấp Ruộng Hời, xã Bảo Vinh, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Nội dung sự việc:

Ngày 9/11/ 2011 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định và 62 xét đề nghị hưởng chế độ chính sách cho các đối tượng đã tham gia quân đội ở chiến trường K + C + Biên giới + Hải đảo, nhưng chưa được hưởng trợ cấp lần nào cùng BHHYT hàng năm. Quyết định này được triển khai đến cơ sở.

Do thời gian xuất ngũ về địa phương đã lâu, phần lớn anh em cựu chiến binh ở địa phương đều không còn giữ được quyết định phục viên xuất ngũ, để làm thủ tục khai hưởng chế độ đãi ngộ của Nghị định 142/2008 và 62/2011.

Nay người thì đau yếu, người thì là lao động chính trong gia đình, họ không tự đi xin cấp lại giấy tờ. Nên họ đã ủy quyền dân sự và đưa thông tin cá nhân cho ông Trần Cẩm đến đơn vị cũ của họ để xin cấp lại “quyết định xuất ngũ”.

Ông Trần Cẩm là chỗ anh em đồng hương với ông Đống, đem đến nhờ ông Đống chữ viết đẹp hơn chữ ông Trần Cẩm điền hộ thông tin của 18 người vào mẫu in sẵn (chưa có dấu) để mang đến từng đơn vị cũ của anh em trong toàn quốc xin cấp lại.

Dương Danh Dy: 'Chứng nhân những thăng trầm Việt-Trung'

TS. Đinh Hoàng Thắng

Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy

Ảnh: KY MAI - Nhà báo Huy Đức mô tả ông Dương Danh Dy "là một trong những người hiểu Trung Quốc nhất"

Con người chứng kiến mọi sự thăng trầm trong bang giao Việt-Trung đã vĩnh biệt chúng ta. Hy vọng hậu duệ của nhà Trung Quốc học này sẽ có dịp sưu tầm đầy đủ các bài viết "gan ruột" của ông để đóng góp vào di sản quý báu của nền ngoại giao nước nhà.

Từ anh lính trơn, xăng xái cắt chiếc áo len dệt mẹ gửi từ vùng địch hậu ra, chỉ để bọc chiếc bi đông nhôm (đựng nước uống) do Trung Quốc viện trợ, cho đến khi trở thành một nhà ngoại giao kỳ cựu, một trưởng ban nghiên cứu thành danh về Trung Quốc tại Học viện Ngoại giao, Dương Danh Dy đã gắn bó cả cuộc đời mình với nghiên cứu Trung Quốc.

Được Bộ trưởng dành "đặc ân"

Vẫn còn đâu đây tiếng thét phẫn uất của ông: "Kết tội kẻ người có trách nhiệm trong thi công các dự án của TKV do nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu, để các dự án đội mức đầu tư cao lên như thế… là tham ô hủ bại là chưa đúng với tội danh của chúng. Phải nói rõ: đó là những hành vi, hành động phạm tội, làm tay sai bán nước cho ngoại bang."

Vẫn còn vang vang lời nhắn nhủ của ông gửi hậu thế: "Ban lãnh đạo Trung Quốc đã thấy Việt Nam là một 'món hàng có giá' hời có thể dùng để trao đổi, mua bán với mấy nước lớn khác nhằm phục vụ lợi ích chủ yếu của họ".

20/09/2018

Thư ngỏ về việc trả tự do cho ông Trần Huỳnh Duy Thức - Đợt 1, 2, 3, 4, 5

     

Các tổ chức và cá nhân ký tên xin gửi về email:

tudochotranhuynhduythuc@gmail.com

THƯ NGỎ

Kính gửi:

- Chủ tịch Quốc hội và quý vị Đại biểu Quốc hội Việt Nam

- Chủ tịch nước Việt Nam

- Thủ tướng Chính phủ Việt Nam

- Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam

- Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao Việt Nam

- Các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam

- Các tổ chức nhân quyền quốc tế

Trích yếu: V/v Trả tự do cho ông Trần Huỳnh Duy Thức

Kính thưa quý vị,

Ông Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt giam ngày 24/05/2009 và hiện đang thụ án 16 năm tù căn cứ Bản án sơ thẩm ngày 20/01/2010 của Tòa án Nhân dân TPHCM và Bản án phúc thẩm ngày 11/05/2010 của Tòa án Nhân dân Tối cao với tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” liên quan đến vụ án chính trị của nhóm Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công Định và Nguyễn Tiến Trung. Sau thời gian thụ hình, ba người trong vụ án đã lần lượt ra tù, duy chỉ ông Thức còn bị giam từ hơn 9 năm nay.

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, cùng lập và trình Thư ngỏ này hầu mong quý vị cho xem xét lại vụ án của ông Trần Huỳnh Duy Thức dựa trên cơ sở pháp luật hiện hành, để quyết định trả tự do cho ông Thức ngay lập tức, vì trường hợp của ông đáp ứng các điều kiện luật định được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức án 16 năm tù mà ông đã bị tuyên phạt.

1. Cơ sở pháp lý
a) Theo luật cũ

Cơ sở pháp lý để truy tố và xét xử ông Trần Huỳnh Duy Thức là Khoản 1, Điều 79 của Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 ngày 21/12/1999 (được sửa đổi bởi Bộ luật Hình sự số 37/2009/QH12 ngày 19/06/2009) (gọi tắt là BLHS 1999). Toàn văn Điều 79 quy định như sau:

Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:

1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình;

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm”.

Cả hai Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm về vụ án của ông Trần Huỳnh Duy Thức đều đề cập đến Nhóm nghiên cứu Chấn như một nhóm bạn bè cùng nghiên cứu về Sấm Trạng Trình và phân tích tình hình kinh tế, chính trị và pháp lý của Việt Nam, nhưng Hội đồng xét xử ở cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều không thể chứng minh về phương diện pháp lý nhóm này là “tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” như Điều 79 quy định.

Thật vậy, trong BLHS 1999 không có bất cứ điều khoản nào quy định, dù cụ thể hay tổng quát, các yếu tố định danh và định tính về một “tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Nói cách khác, hai bản án chỉ quy chụp mà không nêu cơ sở pháp lý để xác định Nhóm nghiên cứu Chấn của ông Trần Huỳnh Duy Thức và bạn bè là một “tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Hơn nữa, hành vi của các bị cáo trong vụ án nêu trên chưa gây ra bất kỳ hậu quả nghiêm trọng nào để có thể áp dụng Khoản 1, hay thậm chí Khoản 2 của Điều 79.

Như vậy, lẽ ra căn cứ tinh thần và quy định của BLHS 1999, các tòa án phải nhận định và tuyên xử theo hướng có lợi cho các bị cáo, thay vì cố tình suy đoán theo hướng kết tội họ. Đáng tiếc, Hội đồng xét xử ở cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã không hành xử theo đúng tinh thần và quy định pháp lý như thế.

b) Theo luật mới

Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 (được sửa đổi bởi Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 20/06/2017 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) (gọi tắt là BLHS 2015) đã mang đến một cơ hội sửa sai cho hai bản án đã tuyên, đặc biệt đối với ông Trần Huỳnh Duy Thức.

Điều 79 của BLHS 1999 đã bị thay thế bởi Điều 109 của BLHS 2015, toàn văn như sau:

“Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:

1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình;

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm;

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm”.

Có thể thấy Điều 109 mới hầu như lập lại nguyên văn từng từ một của Điều 79 cũ. Tuy nhiên, điểm mới của Điều 109 chính là Khoản 3 về hành vi “chuẩn bị phạm tội” với khung hình phạt tù từ 1 đến 5 năm, mà Điều 79 không có.

Như đã phân tích ở trên, hành vi và hoạt động của ông Trần Huỳnh Duy Thức hiển nhiên không phạm vào Điều 79 của BLHS 1999. Dẫu vậy, hai bản án đã được tuyên và đã có hiệu lực thi hành trên phương diện pháp lý, nên giờ đây chính là lúc phải đặt bản án và hình phạt đã tuyên dưới góc độ pháp lý thuần túy để nhìn nhận lại sự việc.

Khoản 1, Điều 14 của BLHS 2015 quy định về hành động “chuẩn bị phạm tội”, như sau:

“Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, Điểm a Khoản 2 Điều 113 hoặc Điểm a Khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này”.

Như vậy đối với Điều 109, “chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm”. Hành vi và hoạt động của ông Trần Huỳnh Duy Thức và các bị cáo khác, theo mô tả trong hai Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm, lẽ ra chỉ có thể là “chuẩn bị phạm tội” kể cả xét từ góc nhìn nghiêm khắc của các cơ quan tố tụng hiện nay.

Điều 79 cũ không quy định về chuẩn bị phạm tội, nên Điều 109 mới khắc phục thiếu sót đó và mang đến một lợi điểm cho các bị can, bị cáo và bị án bị quy tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

Thêm vào đó, Khoản 3, Điều 7 của BLHS 2015 quy định về hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian như sau:

“Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.

Điểm b, Khoản 1, Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội về việc thi hành BLHS 2015, cũng nhắc lại và nêu rõ hơn việc áp dụng các điều khoản luật có lợi cho các bị can, bị cáo và bị án nêu trên như sau:

“Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích”.

Ông Trần Huỳnh Duy Thức đã thụ án hơn 9 năm tính cho đến nay trong tổng mức án 16 năm tù đã tuyên. Do đó, theo luật định, anh hoàn toàn hội đủ điều kiện để được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt phù hợp với quy định của luật mới.

2. Yêu cầu của chúng tôi

Thực ra ông Trần Huỳnh Duy Thức không có tội, nhưng căn cứ các quy định pháp luật đã dẫn ở trên, thiết nghĩ cần phải áp dụng Khoản 3, Điều 109 của BLHS 2015 với khung hình phạt tối đa 5 năm để xem xét và ấn định lại mức hình phạt dành cho ông Trần Huỳnh Duy Thức, từ đó trả tự do cho ông Thức theo tinh thần của luật mới, vì ông đã thụ án vượt quá hơn mức 5 năm tù kể từ năm 2009 cho đến nay.

Ông Trần Huỳnh Duy Thức đã viết nhiều kiến nghị gửi đến các nhà lãnh đạo nhà nước, trong đó phân tích thực trạng kinh tế và đề xuất các giải pháp thay đổi chính sách điều hành nền kinh tế quốc gia, một công việc mà ông vẫn kiên trì thực hiện kể cả trong thời gian dài thụ án bất công. Những kiến nghị xác đáng của Trần Huỳnh Duy Thức có thể cho thấy ông là một nhân tài của Dân Tộc trong thời đại này.

Trả tự do cho ông Trần Huỳnh Duy Thức là một biểu hiện của tinh thần thượng tôn pháp luật và chính sách nhân đạo của nhà nước, đồng thời là biểu hiện đạo lý tốt đẹp của dân tộc về việc tôn trọng và biệt đãi bậc hiền tài. Do vậy, chúng tôi tha thiết thỉnh cầu quý vị xem xét lại bản án đã tuyên đối với ông Trần Huỳnh Duy Thức để trả tự do ngay cho ông trên cơ sở pháp luật hiện hành.

Chúng tôi xin chân thành cám ơn và trông đợi sự lắng nghe trên tinh thần cầu thị của quý vị và xin chúc quý vị dồi dào sức khoẻ. Trân trọng kính chào.

Cùng lập và ký tên dưới đây vào ngày 12 tháng 9 năm 2018

Các tổ chức và cá nhân ký tên xin gửi về email: tudochotranhuynhduythuc@gmail.com

DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC KÝ TÊN

1. Câu Lạc Bộ Lê Hiếu Đằng - Do ông Lê Thân, chủ nhiệm CLB làm đại diện

2. Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự - Do TS Nguyễn Quang A làm đại diện

3. Diễn Đàn Bauxite Việt Nam - Do GS Phạm Xuân Yêm làm đại diện

4. Hội Thánh Tin Lành Mennonnite Cộng Đồng - Do mục sư Nguyễn Mạnh Hùng làm đại diện

DANH SÁCH CÁ NHÂN KÝ TÊN

ĐỢT 1

1. Lê Phú Khải - Nhà báo, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

2. Huỳnh Kim Báu - Nguyên CT Hội Trí thức Yêu nướcTP.HCM - TP.HCM

3. Lê Công Giàu - Nguyên Tổng thư ký Tổng hội sinh viên SG 1966, nguyên phó BT thường trực thành đoàn, nguyên GĐ công ty Savimex - TP.HCM

4. Huỳnh Tấn Mẫm - Bác sĩ, nguyên CT Tổng hội Sinh viên SG trước năm 1975, nguyên ĐBQH khóa 6, nguyên Ủy viên UBMTTQ TP.HCM - TP.HCM

5. Tương Lai - Nguyên thành viên tổ tư vấn Võ Văn Kiệt, cựu Viện trưởng viện XH học VN - TP.HCM

6. Hồ Ngọc Nhuận - Nguyên phó UB MTTQ TP.HCM - TP.HCM

7. Đào Công Tiến - Nguyên hiệu trưởng trường Đại học Kinh Tế TP.HCM - TP.HCM

8. Kha Lương Ngãi - Nguyên phó TBT báo SGGP, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

9. Vũ Trọng Khải - TS Nông Nghiệp, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

10. Hoàng Hưng - Nhà thơ - Sài Gòn

11. Nguyên Ngọc - Nhà văn - Hội An

12. Hà Sĩ Phu - TS Sinh học, cựu TNLT, CLB Phan tây Hồ - Đà Lạt

13. Phan Đắc Lữ - Nhà thơ, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

14. Phạm Xuân Yêm - GS Vật lý - Paris, Pháp

15. Nguyễn Huệ Chi - GS Ngữ văn - Hà Nội

16. Đặng Thị Hảo - TS Văn học - Hà Nội

17. Nguyễn Đình Nguyên - TS Y khoa - Austalia

18. Trần Đức Quế - Chuyên viên hưu trí - Hà Nội

19. Lê Công Định - Cựu tù nhân chính trị, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

20. Tô Lê Sơn - Kỹ sư, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

21. Tôn Quang Trí - Nguyên phó GĐ Sở Công Thương TP.HCM - Sài Gòn

22. Nguyễn Xuân Diện - TS Hán Nôm - Hà Nội

23. Nguyễn Thị Kim Chi - Nghệ sĩ Ưu tú, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

24. Lại Thị Ánh Hồng - Nghệ Sĩ, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

25. Trần Minh Thảo - Viết văn, CLB Phan Tây Hồ - Bảo Lộc, Lâm Đồng

26. Phạm Duy Hiển (Phạm Nguyên Trường) - Dịch giả - Vũng Tàu

27. Trần Minh quốc - Cựu giáo chức, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

28. Bùi Tiến An - Cựu tù nhân Côn Đảo trước năm 1975, nguyên cán bộ Ban Dân Vận Thành Ủy TP.HCM - TP.HCM

29. Nguyễn Khắc Mai - Hưu trí - Hà Nội

30. Nguyễn Thị Từ Huy - Sài Gòn

31. Tiêu Dao Bảo Cự - Nhà văn tự do - Đà Lạt

32. Nguyễn Quang Nam - Kỹ sư phần mềm - Austalia

33. Nguyễn Đức Phổ - Nông dân - Sài Gòn

34. Bùi Minh Quốc - Nhà báo - Đà Lạt

35. Huỳnh Sơn Phước - Nguyên phó TBT báo Tuổi Trẻ - Hội An

36. Nguyễn Viện - Nhà văn - Sài Gòn

37. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết) - CB Hưu trí - TP.HCM

38. Nguyễn Sĩ Kiệt - CB hưu trí, TS KHKT - TP.HCM

39. Phạm Đình Thiên Thư - Adelaide, Austalia

40. Phí Thị Hương Giang - Truyền thông - Hà Nội

41. Nguyễn Văn Thuận - Kiến trúc sư - Sài Gòn

42. Phạm Ngọc Anh Tú - Vũng Tàu

43. Uông Đinh Đức - TP.HCM

44. Vũ Phong - Cam Ranh, Khánh Hòa

45. Lê Trung Thông - Doanh Nhân - Sài Gòn

46. Trương Ngọc Hưng - Phiên dịch Tiếng Anh - Hoài Nhơn, Bình Định.

47. Lee Oatlands - Sydney, Austalia

48. Lý Minh Trang - Công dân Việt Nam

49. Dung Do - Austalia

50. Thái Văn Dung - Cựu TNLT, đảng viên đảng Việt Tân.

51. Trần Tiến Đức- Nhà báo độc lập, đạo diễn phim truyền hình và tài liệu - Hà Nội

52. Lê Bích Ngọc - Mỹ

53. Nguyễn Thượng Thành - Lao động tự do - Hà Nội

54. Hiệp tăng - Toronto, Canada

55. Phan Thị Hoàng Oanh - TS - Sài Gòn

56. Nguyễn Văn Anh - Canada

57. Trương Thị Sâm - Nội trợ - Đồng Nai

58. Linh Nguyễn - Kế toán - Mỹ

59. Đặng Thị Ngọc Lệ - Sài Gòn

60. Hung Nguyen - KD tự do - Sài Gòn

61. Hà Trọng Tấn - Thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

62. Ngô Kim Hoa (Sương Quỳnh) - Nhà báo tự do, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

ĐỢT 2

63. Nguyễn Giải - Linh Mục - Tổng Giáo phận - Huế

64. Phan Văn Lợi - Linh mục, Tu hội Thánh Tâm Chúa Jesu

65. Nguyễn Đăng Quang - Đại tá, nguyên cán bộ Bộ CA - Hà Nội

66. Nguyễn Đăng Hưng - GS danh dự đại học Liège Vương quốc Bỉ - Sài Gòn

67. Đinh Đức Long - TS, bác sĩ - Sài Gòn

68. Phạm Đình Trọng - Nhà văn - Sài Gòn

69. Nguyễn Đặng Cao Đại - Thạc sĩ MPM - Sài Gòn

70. Nguyễn Lê Tuấn - Kiến trúc sư - Lausanne, Thụy Sĩ

71. Song Lộc Hồ - Giáo viên - TP.HCM

72. Lê Văn tài - GV nghỉ hưu - Bà Rịa, Vũng Tàu

73. Lê Vĩnh Trương - Vận tải - Sài Gòn

74. Huỳnh Thu Nguyên - Kỹ sư, nghỉ hưu - Austalia

75. Thanh Đức - Nghề tự do - Hà Nội

76. Trần Văn Bang - Kỹ sư, thành viên CLB LHĐ - Sài Gòn

77. Đồng Quang Vinh - Hưu trí - Khánh Hòa

78. Nguyễn Hòai Sơn - Kỹ sư điện tử - Sài Gòn

79. Phạm Hoàng Phiệt - GS Y học - TP.HCM

80. Nguyễn Trung Dân - Nhà báo, nguyên trưởng đại diện NXH Hội Nhà văn phía Nam

81. Nguyễn Duy - Nhà thơ - Sài Gòn

82. Cao Hoàng Trâm Anh - Thiết kế - Cam Ranh, Khánh Hòa

83. Phạm Thị Mai Hương - Hưu trí - Sài Gòn

84. Quỳnh Dao - Hội viên Ân xá Quốc Tế - Austalia

85. Vũ Hoàng - Mỹ

86. Nguyễn Thu Huyền - Montreal, Canada

87. Huỳnh Quốc Khánh - Công dân Yêu Nước

88. Võ Chí Cường - Vũng Tàu

89. Đàm Việt Hùng - Kỹ sư cầu đường - Sài Gòn

90. Phạm Quốc Định - Công chức - Mỹ Tho, Tiền Giang

91. Nguyễn Minh Khánh - Tài xế - Bình Dương

92. Đoàn Huy Chương - Cựu TNLT, Phó CT phong trào Lao Động Việt

93. Trần Hưng Thịnh - Hưu trí - Hà Nội

94. Trần Đình Đại - Kinh doanh - TP.HCM

95. Nguyễn Văn Lịch- Kỹ sư cơ khí - Hà Nội

96. Võ Quang Nghĩa - Trưởng phòng kinh doanh - Sài Gòn

97. Nguyễn Văn Đức - Lao động tự do - Sài Gòn

98. Nguyễn Thị Dung - Hà Nội

99. Vũ Thế Minh - Kỹ sư cơ khí chế tạo - Hải Phòng

100. Trần văn Hoàng - Hưu trí - Canada

101. Đào Minh Châu - Tư vấn hành chính công và chính sách công - Hà Nội