23/02/2018

CON ĐƯỜNG SÁCH SÀI GÒN VÀ CÂU CHUYỆN ĐỐT SÁCH






NGÔ THẾ VINH




Hình 1: Trên Đường Sách, cũng là đường mang tên Đức TGM Nguyễn Văn Bình (1910-1995), bên hông Bưu Điện, chạy dài từ Nhà Thờ Đức Bà tới đường Hai Bà Trưng, như một tụ điểm sinh hoạt văn hoá và du lịch, đang rộn rã không khí Giáng Sinh 2017 với ban nhạc Santa Claus có lẫn cả một ông Tây béo mập cao ngồng thổi kèn, vây quanh là tấp nập khách đi xem, chụp hình, ngồi tụ tập trong các quán cà phê sách, và một số thì tìm mua sách. Đường Sách Nguyễn Văn Bình ngày nay là hình ảnh một mini-đường sách Lê Lợi của hơn 40 năm trước. [Photo tư liệu Ngô Thế Vinh]

CON ĐƯỜNG SÁCH LỊCH SỬ
Khởi từ ý tưởng của báo Tuổi Trẻ, ngày 15.10.2015, Sở Thông Tin và Truyền Thông Thành phố đã khởi công xây dựng con Đường Sách trên đường Nguyễn Văn Bình [là tên Đức TGM Nguyễn Văn Bình] phường Bến Nghé, Quận I TP. HCM. Đây là một con đường nhỏ nằm bên hông Bưu điện Thành phố, nối liền Nhà Thờ Đức Bà và đường Hai Bà Trưng nhưng có ưu điểm là nằm ngay trong khu vực trung tâm Thành phố, đây không chỉ là một không gian sinh hoạt văn hoá mà còn là một tụ điểm du lịch, là nơi thường xuyên có nhiều du khách ghé qua.

Sau gần 3 tháng thi công ngày 09.01.2016, Đường Sách chính thức được khai trương. Chỉ với con đường nhỏ chiều dài 144 m, lòng đường 8 m, hai bên vỉa hè rộng 6 m, với thiết kế một bên là 20 gian hàng sách, một bên là café sách và khu triển lãm. Hai đầu Đường Sách là hai bức tượng điêu khắc Cô gái bên trang sách và Suy ngẫm - hai tác phẩm được tuyển chọn từ Trại điêu khắc quốc tế TP.HCM.

Ông Lê Hoàng khi còn làm Giám đốc Nxb Trẻ đã mơ ước có một không gian chỉ có sách và sách và ông là một trong những người đã đứng ra vận động cho việc hình thành con Đường Sách và sau đó trở thành giám đốc Công ty Đường Sách Thành phố. Đường Sách đã trở thành một không gian khá lý tưởng để các nhà xuất bản, nhà kinh doanh sách có cơ hội học hỏi chia sẻ những kinh nghiệm nghề nghiệp, và cả tiếp cận với giới bạn đọc. Đường Sách trở thành một không gian biểu tượng của văn hoá đọc, nơi gặp gỡ của những người yêu sách, cũng là điểm hẹn lý tưởng cho những người bạn trong và cả ngoài nước.




Hình 2a: từ hướng Nhà Thờ Đức Bà tới đường Hai Bà Trưng, bên trái là 20 gian hàng sách; phải, với bạn trẻ ngồi đọc sách ngoài trời. [photo by Ngô Thế Vinh]




Hình 2b: mấy tụ điểm để du khách chụp hình; trái, bức tượng đồng "hai bé ngồi chống lưng đọc sách", phải, cô gái ngồi đàn guitare live trong một khu
đọc sách ngoài trời. [photo by Ngô Thế Vinh]




Hình 3a: bên phải Đường Sách là các cửa hàng café sách, các khu triển lãm; Phương Nam Book Café đẹp khang trang lúc nào cũng đông khách; phải, do thiếu diện tích mặt bằng, có thêm mấy Kiosk sách bên lề phải Đường Sách phía ngã ba Hai Bà Trưng - Nguyễn Văn Bình, anh chị Long đôi vợ chồng rất yêu sách, gốc người Sài Gòn cũ, chị gốc nhà giáo rồi làm công chức Nha Quân pháp trước 1975, nay sống bằng nghề buôn sách cũ. [photo by Ngô Thế Vinh]




Hình 3b: phải, thiếu diện tích mặt bằng, cả trên lòng đường cũng được tận dụng cho những Kiosk sách di động trên Đường Sách, với các bạn trẻ đứng ngồi tĩnh lặng say mê đọc sách, gợi lại hình ảnh thật đẹp của Sài Gòn trước 1975 với đường sách Lê Lợi, nhà sách Khai Trí thuở nào; trái: Quán Sách Mùa Thu với thêm dòng chữ "về lại chốn thư hiên", nơi có thể tìm hoặc đặt mua những cuốn sách cũ "tàn dư văn hoá Mỹ Nguỵ" nay trở thành quý hiếm.
[photo by Ngô Thế Vinh]

Không biết tôi đã đứng trong Quán Sách Mùa Thu bao lâu, trong một không gian rất nhỏ, cô chủ quán sách thì tế nhị và lặng lẽ; tôi có cảm giác thời gian như dừng lại. Cầm trên tay những cuốn sách cũ, rất cũ xuất bản lần đầu tiên từ những thập niên 50s, 60s, 70s có những cuốn mà tác giả đã từng là bạn văn còn sống hay đã mất và cả ngạc nhiên nữa là sao những cuốn sách ấy lại có thể sống sót sau cuộc "phần thư". Rồi tôi bị kéo về thực tại khi có tiếng nói của một thanh niên, có lẽ là sinh viên hỏi cô chủ quán về một đầu sách: Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam. Được biết, các quán sách tuy không có sách nhưng vẫn có thể nhờ kiếm hay đặt mua. Sách có thể gửi ra hải ngoại và trả bằng thể tín dụng. Sự kiện thế hệ sau chiến tranh, tìm đọc Ký của Phan Nhật Nam trên Đường Sách, chắc là điều mà bạn tôi cũng muốn được nghe.




Hình 3c: Gặp lại cả những cuốn sách của bạn tôi, GS Nguyễn Văn Tuấn, Viện Nghiên cứu Garvan Úc châu. Từ một thuyền nhân bị đầy ải cách đây hơn 36 năm, anh trở thành một giáo sư, một nhà khoa học và hàng năm anh vẫn trở quê hương giảng dậy tại các đại học từ Nam ra Bắc. [photo by Ngô Thế Vinh]

Từ ngày có con Đường Sách, không chỉ các tác giả trong nước có sách xuất bản đều mong muốn có dịp ra mắt sách tại nơi đây. Cả học giả nước ngoài cũng chọn Đường Sách là nơi giới thiệu sách của mình.

Như TS Môi Sinh Nguyễn Đức Hiệp cũng là nhà nghiên cứu đã từ Úc về Sài Gòn 22.07.2016, cùng một lúc ra mắt 3 cuốn sách nghiên cứu về Sài Gòn - Chợ Lớn. [Hình 4a]
Như nhà sử học TS Nguyễn Duy Chính từ Mỹ về cũng ra mắt ký tặng bộ sách đồ sộ 10 cuốn nghiên cứu về thời Tây Sơn và quan hệ với triều đại nhà Thanh. [Hình 4b]
Như nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ nổi tiếng từ trước 1975 còn ở lại trong nước, sau ngót nửa thế kỷ sống ẩn dật ở một miền quê, thì nay đã có mặt trên Đường Sách 19.03.2017 để ra mắt một loạt 10 tác phẩm của bà mới được Nxb Phương Nam tái bản. [Hình 4c]
Đặc biệt hơn nữa, có cả các học giả người nước ngoài như GS Larry Berman cũng chọn Đường Sách để giới thiệu bản dịch cuốn The Perfect Spy / Điệp Viên Hoàn Hảo mà ông là tác giả. [Hình 4d]




Hình 4a: trái, TS Nguyễn Đức Hiệp chuyên gia môi sinh cũng là một nhà nghiên cứu từ Úc châu, ra mắt bộ sách 3 cuốn Sài Gòn - Chợ Lớn trên Đường Sách 22.07.2016; từ phải, TS Nguyễn Đức Hiệp, TS Nguyễn Thị Hậu, và ông Tim Doling; phải, TS Nguyễn Đức Hiệp ký sách cho một bạn đọc trên Đường Sách năm 2017. [nguồn: trái, ảnh L. Điền; phải: tư liệu Nguyễn Đức Hiệp]




Hình 4b: Nhà sử học TS Nguyễn Duy Chính [giữa] từ Mỹ về cũng ra mắt ký tặng bộ sách đồ sộ 10 cuốn nghiên cứu về thời Tây Sơn và quan hệ với triều đại nhà Thanh tại Quán sách Nxb Văn Hoá Văn Nghệ trên Đường Sách 05.11.2016. [nguồn: tư liệu Nguyễn Duy Chính]




Hình 4c: nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ sau ngót nửa thế kỷ sống ẩn dật, nay ở tuổi 80 đã có mặt trên Đường Sách 19.03.2017 để ra mắt một loạt 10 tác phẩm của bà mới được Nxb Phương Nam tái bản. [nguồn: photo by L. Điền TTO]




Hình 4d: GS Larry Berman, từ Đại học UC Davis, ra mắt cuốn The Perfect Spy / Điệp Viên Hoàn Hảo mà ông là tác giả tại gian hàng First News trên Đường Sách, ngày 23.01.2016 [nguồn: ảnh BTC báo Thanh Niên]

Và Hội đồng Anh / British Council cũng đã chọn Đường Sách để tổ chức hoạt động tưởng niệm 400 năm (1616-2016) ngày văn hào William Shakespeare qua đời.




Hình 5: Tác phẩm điêu khắc Cô Gái Bên Trang Sách nơi cuối Đường Sách, tiếp giáp với đường Hai Bà Trưng. [photo by Ngô Thế Vinh]

THÁNH GANDHI KHÔNG NÓI THẾ

Kế ngay bên bức tượng Cô Gái Bên Trang Sách, là một tấm bảng hiệu cao hơn đầu người, với một câu trích dẫn mà tác giả được ghi là Mahatma Gandhi [sic]. Tôi rất quan tâm và cả thắc mắc về tên tuổi của Gandhi trên tấm bảng hiệu. Gandhi là một trong những thần tượng thời sinh viên tuổi trẻ của tôi, một con người suốt đời tranh đấu theo con đường bất bạo động, được tôn xưng như một vị thánh; vậy sao ông lại có thể liên hệ tới một ý tưởng rất bạo động là "đốt sách". Tuy chưa biết tác giả của câu trích dẫn trên là ai, nhưng trực giác cho tôi biết chắc chắn không phải của Gandhi.

Vẫn bị ám ảnh về những vụ đốt sách sau 30.04.1975, không thể đợi tới ngày về Mỹ, tôi thấy cần truy nguyên ra ai là tác giả của câu nói ấy. Vì đang lưu lại trong một khách sạn ở Sài Gòn, không tiện cho một tìm kiếm rộng rãi trên mạng, và qua iPhone, tôi liên lạc ngay qua một eMail kèm theo hình chụp [Hình 6] gửi mấy người bạn trẻ ở hiện ở California như sau:

Vũ Nguyễn ơi
Confidential_ nhờ Vũ search, là có hay không
một original quote như trên của M.G. Thanks
All the best
aVinh




Hình 6: tấm bảng hiệu uy nghi cao hơn đầu người với hàng chữ: "Không Cần Phải Đốt Sách để phá huỷ một nền văn hoá, Chỉ Cần Buộc Người Ta Ngừng Đọc mà thôi." [sic] Tác giả câu nói ấy được ghi là của Mahatma Gandhi. [photo by Hoàng Long]

Và tôi có ngay câu trả lời cùng một lúc trong cùng ngày tới từ hai người bạn trẻ Vũ Nguyễn và Ngọc Dung.

Vũ Nguyễn viết:

"Thưa anh Vinh, câu ấy vốn của nhà văn Ray Douglas Bradbury (22 August 1920 – 5 June 2012), nguyên văn thế này:

"The problem in our country isn't with books being banned, but with people no longer reading. Look at the magazines, the newspapers around us – it's all junk, all trash, tidbits of news. The average TV ad has 120 images a minute. Everything just falls off your mind… You don't have to burn books to destroy a culture. Just get people to stop reading them."
Ray Bradbury nói câu này khi trả lời phỏng vấn bởi Misha Berson, của tờ The Seattle Times (12 March 1993). Sau được các báo như Reader's Digest trích dẫn lại. (The Reader's Digest, Vol. 144, No. 861, January 1994, p. 25).
Một dị bản về sau của câu này là: " We're not teaching kids to read and write and think… There's no reason to burn books if you don't read them." [Roger Moore, in The Peoria Journal Star, August 2000].

Cùng một lúc Ngọc Dung, cô bạn đồng trang lứa với Vũ Nguyễn có ngay một câu trả lời khẳng định: "câu này của Ray Bradbury anh Vinh ạ".




Hình 7a: Câu trích dẫn của Ray Bradbury (DOB) "You don't have to burn books to destroy a culture. Just get people to stop reading them." bên cạnh là chân dung tác giả. [nguồn: internet, sưu tầm Ngọc Dung]




Hình 7b: Trên Amazon có bán poster với câu trích dẫn của Ray Bradbury "You Don't Have to Burn Books to Destroy a Culture. Just get people to stop reading them." với giá US$ 15.95 [nguồn: Amazon.com, sưu tầm Ngọc Dung]

NHỮNG NGƯỜI BẠN VÀ CÁC LỜI BÀN

Qua sự kiện này, anh Phạm Phú Minh Chủ Bút Diễn Đàn Thế Kỷ cũng là tác giả cuốn ký "Hà Nội Trong Mắt Tôi", bày tỏ cảm tưởng: "Vậy là Ngọc Dung và Vũ Nguyễn đã giải được nghi vấn ai là tác giả câu nói được gán cho Gandhi tại giữa "Đường Sách" Sài Gòn." Anh Minh tiếp: "Gọi là "Đường Sách" mà trương lên một câu "nói không có sách, mách không có chứng", đó là một sự lạ của Việt Nam. Từ sáng tới giờ tôi cứ thắc mắc trong lòng, tại sao lại có hiện tượng này. Câu nói của Ray Bradbury thì cũng không phải là một danh ngôn lừng lẫy gì lắm và ra đời cũng chưa lâu, hẳn giới sách vở ở Việt Nam lấy làm thích ý tưởng đó nên đem dịch ra và trương lên. Dĩ nhiên họ biết tác giả câu nói đó là ai, vậy tại sao họ không ghi đúng tên tác giả là Ray Bradbury, mà lại bịa ra tên giả Mahatma Gandhi? Quả thật tôi nghĩ không ra. Mong các bạn góp ý kiến giải thích hiện tượng này."

Tiếp theo thắc mắc của anh Phạm Phú Minh, nhà sử học TS Nguyễn Duy Chính, tác giả của bộ sách đồ sộ 10 cuốn về Vua Quang Trung và đời Nhà Thanh, anh cũng đã từng ngồi ký sách trên Đường Sách, [Hình 4b] anh có một phát biểu mà anh khiêm cung gọi đó là "ý mọn":

" Theo tôi thì quan trọng không phải ai nói mà là với mục đích gì. Nếu tôi nhớ không lầm, trước đây đạo diễn Trần Văn Thuỷ khi làm cuốn phim "Chuyện Tử Tế" đã dẫn ở đầu cuốn phim một câu đại khái "Chỉ có thú vật mới quên đi nỗi đau của đồng loại mà quay lại lo riêng cho bộ da của mình" rồi gán cho tác giả là Karl Marx. Sau này ông ta có thú nhận Marx không nói câu đó nhưng câu nói đã trở thành một "điểm nhấn" của bộ phim. Thêm một dật sự khác là Tô Đông Pha khi làm văn đã viết một câu gán cho cổ thư khiến giám khảo không dám nhận là không biết mà sau hỏi lại: "Thầy lấy trong sách nào thế?" Có lẽ người dẫn câu này muốn ám chỉ một cái gì đó nên phải lấy tên Gandhi cho thiên hạ khỏi vặn vẹo vì trong nước rất dễ bị lôi thôi nếu có "ý đồ". Chắc chắn là câu này sẽ được nhiều người nhớ đến hơn khi lấy tên Gandhi là tác giả."

Với ý kiến của Anh Chính, cũng vẫn anh Phạm Phú Minh tiếp tục bày tỏ:
"Ý kiến của anh Chính rất thú vị. Nó lại cho ta hiểu thêm câu: Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Tên của một tác giả chỉ là một phương tiện, trong một hoàn cảnh nào đó thì người ta có thể thay đổi đi, để đạt được điều mà người ta muốn. Nhưng "hoàn cảnh nào đó" là hoàn cảnh nào? Bởi vì một xã hội gọi là bình thường và lành mạnh thì không thể lúc nào cũng lấy hoàn cảnh ra mà biện minh cho hành vi sai trái của mình được. Ví dụ Việt Nam bây giờ đã thoáng hơn và người dân hiểu biết hơn rất nhiều so với thời Trần Văn Thủy làm phim Chuyện Tử Tế, làm sao người ta đủ can đảm lấy tên ông Gandhi để thay cho Ray Bradbury? Nhất là trong một biểu ngữ dựng công khai giữa nơi Đường Sách, khiến ông bạn Ngô Thế Vinh của chúng ta đâm ra nghi ngờ! Sự dễ dãi, sự "tự cho phép" thiết nghĩ cũng phải có giới hạn thôi chứ? Làm quá thì hóa ra coi thường sự hiểu biết của xã hội. Thông tin về câu "Chỉ có thú vật..." cũng rất thú vị, bởi vì chính tôi lâu nay cũng tưởng là câu của Karl Marx. Bây giờ thì không chắc điều đó đúng hay sai, nếu sai thì là do dây chuyền, mà người đầu tiên làm cho sai chưa chắc là Trần Văn Thủy. Tôi đồng ý với anh Chính những người trưng câu này của Ray Bradbury chắc là khoái chí với hai chữ ĐỐT SÁCH, nên phải mượn tên Gandhi để che chắn thôi. Để tên tác giả là một người Mỹ thì dễ bị lên án hơn là một ông Ấn Độ!"

Và cuối cùng là phát biểu của Vũ Nguyễn, người bạn trẻ tìm ra ngay câu trả lời ai là tác giả câu trích dẫn:

"Vũ trước nay vẫn đinh ninh câu “Chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi đau đồng loại mà chăm chút bộ lông của mình” là của Karl Marx trong Tư Bản Luận mà không buồn truy nguyên. Nay anh Chính nói mới biết là không phải. Giờ thì ngờ rằng câu đó do chính Trần Văn Thuỷ bịa ra, như Tô Đông Pha bịa câu "cổ văn" mà qua mặt giám quan tam lão. Trước khi có phim "Chuyện Tử Tế" có lẽ ở Việt Nam chẳng ai biết câu này. Lần đầu tiên đọc câu quotation này ở đoạn mở đầu phim, đa số khán giả của bộ phim đều cho rằng tác giả hẳn là một tay triết gia uỷ mị nào đó của bọn tư bản giãy chết. Cho đến phút cuối cuốn phim, khi đạo diễn đọc câu thuyết minh "May quá. Câu ấy là của Karl Marx" cả rạp mới ồ lên ... "À ra vậy. Bác Các/ Karl, bác Lê/ Lenin bao giờ cũng chí phải!" Điều đó cho thấy câu "danh ngôn" này chưa tồn tại ở Việt Nam trước khi có phim "Chuyện Tử Tế" của Trần Văn Thuỷ ra đời.

CỦA CAESAR TRẢ VỀ CHO CAESAR
Trở lại với câu trích dẫn nơi [Hình 6]:

"Không Cần Phải Đốt Sách để phá huỷ một nền văn hoá, Chỉ Cần Buộc Người Ta Ngừng Đọc mà thôi."
"You don't have to burn books to destroy a culture. Just get people to stop reading them."

Ray Bradbury phát biểu câu trên cách đây mới có 24 năm khi trả lời phỏng vấn của Misha Berson, của tờ The Seattle Times (12 March 1993); trong khi Mahatma Gandhi thì đã chết cách đây 69 năm rồi [30 tháng 01 năm 1948]. Vậy hãy trả cho Ray Bradbury câu nói của Ray Bradbury và cũng đừng cưỡng gán cho thánh Gandhi đã trở về tro bụi trước đó từ lâu [ông đã được hoả thiêu theo nghi thức Hindu] nay bị cho là tác giả của một câu nói mà ông không hề hay biết.

Sau chuyến đi khảo sát môi sinh ĐBSCL, trở lại Sài Gòn, tôi không có một lịch sinh hoạt gặp gỡ nào trước khi trở về Mỹ. Với tôi, Đường Sách là một khoảng xanh tĩnh lặng, một gạch nối giữa quá khứ và hiện tại mà đã hơn một lần muốn trở lại và cả rất yêu mến. Nhưng cũng mong sao, mọi người cố giữ cho nơi đây vẫn là một khoảng không gian xanh tinh khiết, không có những cơn gió độc mang tới những hạt giống xấu, để mãi mãi nơi đây là thửa vườn gieo trồng những hạt giống tốt của tâm hồn.


NGÔ THẾ VINH
Saigon 12.2017 California 02.2018

HIẾN KẾ CHO TỔNG BÍ THƯ



                               
Nguyễn Đình Cống

1-Giới thiệu vấn đề

Đầu năm 2018, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật phát hành bộ sách 2 tập: “VỮNG BƯỚC TRÊN CON ĐƯỜNG ĐỔI MỚI” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nó được đánh giá theo 2 luồng khác nhau. Thông tin lề phải ca ngợi hết lời, cho rằng: “Bộ sách thể hiện quan điểm chỉ đạo, những trăn trở, tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo cao nhất của Đảng đối với những vấn đề quan trọng của đất nước, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần định hướng cho cán bộ, đảng viên tiếp tục rèn luyện bản lĩnh chính trị, trí tuệ, phẩm chất đạo đức, kiên định vững vàng đường lối đổi mới. 

Thông tin lề trái đưa ra những nhận định ngược lại, cho rằng: “Đó là tư duy cực kỳ bảo thủ, giáo điều thâm căn cố đế, là sự kiên định những thứ đã tỏ ra quá lạc hậu và phản tiến bộ, là tư duy cứng nhắc, đóng cửa mọi sự thay đổi. Đổi mới chỉ là giả vờ, là lừa bịp để ngăn cản những cải cách dân chủ hóa.  Đổi mới sao được khi ôm chặt chủ nghĩa Mác – Lê (CNML) đã bị Liên Xô và các nước Đông Âu vứt bỏ , khi chế độ độc đảng toàn trị là trái ngược với nền dân chủ của thời đại văn minh, khi phủ nhận quyền tư hữu về ruộng đất, về tài sản, về quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh v.v…”.

2-Đoán ý của ông Trọng

Qua những việc làm, đặc biệt là “đốt lò chống tham nhũng”, là in bộ sách, ông Trọng muốn cho mọi người thấy mục đích là làm vững mạnh và trong sạch Đảng, là kiên trì CNML. Ông cố biện minh cho mục đích trong sáng, chính nghĩa, là công lao to lớn và cũng được một số người ca tụng, đề cao. Tuy vậy đó chỉ là bề ngoài. Liệu trong sâu thẳm của tư tưởng, trong gốc gác của tâm thức có chứa đựng ý đồ nào khác? Ý đồ đó thường được giấu kín, mọi người muốn biết chỉ có thể đoán. Dựa trên tâm lý chung có thể đoán ý đồ giấu kín gồm 2 phần. Trước mắt là củng cố quyền lực cá nhân để được mọi người phục tùng, ca ngợi, để chứng tỏ tài năng, phẩm chất siêu việt. Lâu dài là muốn lưu danh thiên cố, được dựng tượng đồng bia đá.

Nhiều người hoàn toàn thông cảm với ý đồ giấu kín ấy vì đó cũng là thường tình của nhân loại. Tuy vậy tôi muốn nhắc ông một điều rất quan trọng sau đây.  Theo niềm tin tâm linh thì : “Mưu sự tại người, thành sự tại Thượng Đế ”, quy vai trò quyết định cho Thượng Đế.  Nếu tuyệt đối tin vào duy vật, phủ nhận tâm linh thì ý câu trên vẫn đúng khi thay bằng ”Mưu sự tại người, thành bại tại Quy luật khách quan”.  Nhiều người rất muốn làm những việc để được lưu danh thơm, nhưng có lưu được hay không lại phụ thuộc chủ yếu vào kết quả của công việc đối với nhân loại chứ không phải ý muốn cá nhân. Nếu ai đó rất muốn lưu danh mà việc làm mang lại tai họa cho nhân dân thì chỉ có thể lưu danh xú uế.  Khi đến thăm đền thờ Tống Nhạc Phi, tôi thấy tượng Tần Cối trong hình dáng ô nhục, đó là một dẫn chứng sinh động. (Tần Cối, tể tướng thời Nam Tống, quyền cao chức trọng, tuyên bố là có kế sách làm cho Thiên hạ thái bình,  nhưng mang dã tâm bán nước và hãm hại trung thần, bị lịch sử lên án). 

Để đánh giá kết quả công việc là tốt hay xấu đối với nhân loại không thể dựa vào ý kiến chủ quan và những lời tâng bốc nịnh hót của những người lệ thuộc. Những người đó, dù có bằng cấp cao, nhưng nếu thiếu dũng cảm, thiếu trung thực thì dễ trở thành kẻ nô lệ về tư tưởng. Khó có thể biết được sự thật khi chỉ có thông tin từ một nguồn phụ thuộc vào mình. Những người như Ceausescu (Rumani), Honekcơ (Đức), Sadam Hussen (Irăc), Gadaphi (Libi)…,không những rất muốn lưu danh với tượng đồng bia đá mà họ rất tin vào mục đích trong sáng , vào chính nghĩa của mình, tin vào lực lượng  bảo vệ  và những lời ca ngợi họ. Kết quả họ bị thân bại danh liệt, một trong những nguyên nhân là chỉ nghe tâng bốc từ một phía nên không biết được sự thật. Những người như Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông, khi còn sống là những vị chúa tể, thế nhưng tội lỗi của họ vẫn bị lịch sử phán xét. Nhiều lãnh tụ một thời được nhà nước bỏ nhiều tiền của để dựng tượng đài rồi đến lúc nhân dân lại mất công phá bỏ.

 Để tiếp cận chân lý cần “Nhìn cho rộng, suy cho kỹ”, đặc biệt là phải có được ý kiến phản biện gay gắt của những người bất đồng, của đối lập. Những người ở ngôi cao thường rất tự tin, được sự ủng hộ và ca ngợi của một số đông, nhưng không ít người phải chịu thất bại thảm hại  mà nguồn gốc sâu xa là “ Làm trái Mệnh Trời” hoặc “làm trái quy luật” mà không tự biết vì vô minh và kiêu ngạo, vì thích nghe lời nịnh hót, tâng bốc.  Đến khi tỉnh ngộ ra thì đã quá muộn.

3-Hiến kế

Tôi mong rằng cơ bản ông Trọng là người tử tế. Ông đã làm được một số việc như “đốt lò chống tham nhũng”,  giữ được liêm khiết về hình thức, hình như không có  nhóm lợi ích và sân sau . Nhưng nhiều việc khác ông đã làm trái mệnh Trời, không phù hợp quy luật mà không tự biết, ông vẫn quá tin vào CNML và chính nghĩa của mình, quá tin vào những lời tụng ca của những kẻ vô minh, xảo ngôn hoặc nô bút. Nếu như vậy thì cái mộng tượng đồng bia đá sẽ không thực hiện được mà có nhiều khả năng bị lịch sử lên án hoặc được dựng tượng ô nhục như Tần Cối. Năm 1983, ông làm nghiên cứu, đề tài : "Các hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm làm mạnh mối quan hệ với quần chúng trong giai đoạn hiện nay: dựa trên kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Liên Xô"[. Bây giờ, sau khi Liên xô sụp đổ, ông thử rà soát lại và đối chiếu với thực tế xem nó như thế nào. Tuy năm nay ông đã 74 tuổi, nhưng nếu kịp thời tỉnh ngộ ra để hối cải thì vẫn chưa muộn.  Tôi là một trong các giáo sư VN đã nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy môn “Phương pháp luận nghiên cưu khoa học và sáng tạo” cho trình độ tiến sĩ và thạc sĩ. Tôi có vài kế có thể hiến để ông tham khảo. Trước mắt chỉ xin nêu 2 kế sau:

Kế 1- Hãy tiếp cận sự thật và quy luật

Câu “Hãy nhìn thẳng vào sự thật” được nói nhiều từ ĐH 6 ĐCSVN. Nhờ thế mà có được sự sửa sai trong kinh tế, đưa VN thoát khỏi bần cùng. Bây giờ nhiều sự thật vẫn đang bị che lấp. Một số quy luật về xã hội mà CNML công nhận, một thời được nhiều người cho là duy nhất đúng thì thực tế đã chứng tỏ sai lầm, thế mà ông vẫn chưa thấy ra. Những trí thức, những chuyên gia của Đảng xung quanh ông phần lớn vô minh, không thể trông mong. Những báo cáo của các địa phương, của các ban ngành cũng không đáng tin cậy hoàn toàn. Ngay những cảm nhận chủ quan của ông cũng nên được nghi ngờ. Tất cả đều đã bị sương mù che phủ dày đặc. Tôi tin ông vẫn còn lương tri, vẫn muốn tiếp cận sự thật và hiểu đúng quy luật. Thế nhưng hình như chưa có ai đủ trình độ và tín nhiệm cũng như đủ dũng cảm và có điều kiện để trình bày cho ông biết, hình như ông cũng chưa nắm được nghệ thuật nghe thấu cảm. Nếu thế có vài cách. Cách đơn giàn mà có hiệu quả cao là đối thoại với những người bất đồng chính kiến.  Ông nên tự tham gia đối thoại. Trước mắt chưa cần công khai. Ông có thể gọi thêm vài ba người ở Hội đồng lý luận (HĐLL) cùng tham gia. Người đối thoại với ông sẽ do các tổ chức xã hội dân sự bình chọn công khai trong số những người tự ứng cử hoặc được ông mời. Nội dung đối thoại do hai bên đề xuất và hiệp thương trước. Nếu ông ngại xuất đầu lộ diện trong đối thoại thì hãy cử một nhóm trong HĐLL. Cuộc đối thoại được ghi băng đầy đủ để ông nghe. Sau này có thể mở rộng đối thoại giữa các thành viên của HĐLL, của các cán bộ Đảng với các đại diện dân sự. Trong lúc chờ đợi sự đề cử và tín nhiệm của các tổ chức xã hội dân sự tôi xin tự ứng cử vì nhận thấy mình đủ trình độ và tư cách trao đổi với ông về những sai lầm cơ bản của CNML, về cách tiếp cận sự thật mà tôi đoán ông đã bị che lấp và về các quy luật mà có nhiều khả năng ông đã hiểu nhầm.

Kế 2- Hãy để lại một ấn tượng đẹp

Ông có nhận định: “Trăm năm nữa chưa chắc đã có CNXH”, còn tôi xin khẳng định rằng “Chủ nghĩa Cộng sản chắc chắn sẽ sụp đổ, không sớm thì muộn”. Ông hãy nghĩ đến lúc đó. Vừa rồi báo chí công bố một số bài của Lê Kiên Thành viết về người cha là cựu Tổng bí thư Lê Duẩn với một số tự hào. Ông hãy nghĩ đến việc, khi ông chết rồi, khi cộng sản bị sụp rồi mà con cháu ông vẫn có thế viết một cái gì đó tự hào về ông mà vẫn được nhân dân chấp nhận. Tôi hiến kế sau, một phần là giúp ông, giúp con cháu ông, phần chính là góp ý kiến vào tiến trình dân chủ hóa. Việc đốt lò chống tham nhũng tuy có gây được một số tiếng vang, nhưng đó mới chỉ là chống chứ chưa xây, và cũng chỉ mới chống hiện tượng cục bộ chứ chưa đụng đến bản chất và toàn diện. Ông có thế làm một số việc thuộc phạm trù xây và có tính bản chất. Ông đã từng nói: “Chúng ta dân chủ đến thế là cùng”. Bây giờ trước diễn đàn Quốc hội, với tư cách là một đại biểu QH, (chứ không phải tư cách Tổng bí thư), ông nên phát biểu ngắn  gọn về một số việc làm để bảo đảm sự dân chủ, trong đó trước mắt QH cần thông qua các luật liên quan đến nhân quyền như Luật Biểu tình, Luật lập hội; Luật tự do ngôn luận và báo chí. Sau đó, về phía Đảng ông đốc thúc thực hiện. Ngoài ra nên đề xuất các cải cách để nâng cao uy tín và hiệu quả hoạt động của QH. Không ai khác mà nên là chính ông phải đánh tan dư luận trong dân cho rằng QH chỉ là cơ quan biểu quyết theo lệnh của Đảng, mang nặng tính bù nhìn. Đánh tan dư luận không phải bằng tuyên truyền mà bằng việc làm cụ thể, có hiệu quả, đó là viêc xây dựng một QH có thực chất.

Xây dựng QH thực chất. Hơn nửa thế kỷ qua bầu QH khá vất vả, tốn kém, nhưng chỉ là dân chủ giả hiệu, quá lãng phí. Trong nhiệm kỳ này QH cần sửa đổi Luật bầu cử để có thể dùng cho đợt bầu sắp tới. Hướng nhắm đến là bầu được những người thật sự xứng đáng đại diện cho dân, thể hiện trí tuệ và nguyện vọng của dân. Tuy rằng trong thời gian qua tầng lớp tinh hoa của dân tộc bị mai một nhiều, một số theo dòng chảy máu chất xám ra nước ngoài, số khác bị bắt nhốt hoặc bị hạn chế hoạt động, nhưng người tài giỏi trong dân vẫn còn. Muốn chọn được người tài giỏi và liêm chính, phải tổ chức bầu cử thật sự dân chủ, xóa bỏ từ trong ý nghĩ và việc làm   “Đảng cử dân bầu”,  không chọn người theo cơ cấu, bãi bỏ việc Mặt trận độc quyền giới thiệu.  Phải có sự tranh cử công khai, để cho các tổ chức dân sự có tiếng nói công bằng. Để trở thành ĐBQH phải có chương trình hành đông, tranh cử minh bạch và được tín nhiệm cao của cử tri, ngoài ra không cần thêm một tiêu chuẩn nào khác. Cần có điều luật quy định rằng một người không thể đồng thời ở trong cơ quan hành pháp và lập pháp. Làm như vậy không những tránh được tệ nạn vừa đá bóng vừa thổi còi mà còn làm tăng trí tuệ cho cơ quan quyền lực.

Nhiều ý kiến cho rằng đã đến lúc đất nước cần đổi mới lần hai mà nội dung chính là cải cách thể chế. Việc cải cách trong hòa bình tốt nhất là bắt đầu từ QH. Trong lúc chưa thay đổi Hiến pháp hoặc chưa xóa điều 4, mà vẫn công nhận QH là cơ quan quyền lực cao nhất thì cần phải thực hiện được điều sau:  QH ít nhất ngang cấp với Trung ương Đảng. Tôi hình dung như trong các nước có chế độ 2 Viện thì ở VN hiện nay Trung ương Đảng đóng vai trò Thượng nghị viện và QH đóng vai trò Hạ nghị viện. Hai Viện độc lập với nhau. Có được như thế thì việc tồn tại ủa QH mới có ý nghĩa.

Thực hiện cải cách thể chế từ hoạt động của QH, việc này bị CNML phê phán là “cải lương”, nhưng nhiều nước đã thành công nhờ đấu tranh nghị trường.

Nhân viết về Q, thiết nghĩ, Hội trường chính nhà QH có tên Diên Hồng. Tên ấy nói lên sự thống nhất ý chí của Triều đình và nhân dân quyết hy sinh chống ngoại xâm, đáp lại lời kêu gọi: “Thần dân nghe chăng sơn hà nguy biến (lời bài hát cũ)”. Thế nhưng nơi ấy các ĐBQH đã ngồi yên lặng nghe lời phủ dụ của Tập Cận Bình, kẻ có dã tâm chiếm đoạt đất đai và nô dịch dân ta. Ngay sau đó hắn ngang nhiên tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là đất Trung quốc. Tôi nghĩ, để lấy lại tinh thần dân tộc thì QH nên làm lễ tẩy uế Hội trường Diên Hồng.

4-Lời kết

Ông Trọng chắc có biết câu châm ngôn cúa Nga “Một cái đầu là tốt, nhưng hai-tốt hơn” (Adna gơlôva khơrasô, nô đve- luse). Cái đầu thứ nhất ở đây là đầu biết suy nghĩ, cái đầu thứ hai, theo tôi hiểu, không phải để phụ họa mà là để phản biện. Ông là người có trí tuệ, có mưu lược, có niềm tin vững chắc, nhưng tiếc rằng trí tuệ ấy, niềm tin ấy có thiếu sót cơ bản mà những người thầy trong quá khứ của ông còn bị sai phạm nặng hơn. Họ đã gieo vào đầu ông những điều mà cả họ và ông đều cho là chân lý với đầy đủ các chứng minh cần thiết. Tiếc rằng trong đó có chứa nhiều ngụy biện mà phải có một trình độ nào đó và lòng dũng cảm mới phát hiện ra. Chắc ông biết rõ có nhiều người, vào thời trẻ đã rất say mê CNML, nhưng khi trưởng thành họ đã thấy được các tác hại của nó, họ đã thay đổi quan điểm. Đó là kết quả của tự đấu tranh và chiến thắng bản thân. Xin chép ra đây bài thơ của Tướng quân Trần Độ: 

Những mong xóa ác ở trên đời
Ta phó thân ta với đất trời
Tưởng ác xóa rồi thay cực thiện
Không ngờ cái ác lại luân hồi

Tôi đoán ông chưa hiểu thấu đáo cái ác mà Tướng Trần Độ nói đến. Hình như trong cuộc đời ông chưa có dịp nào đem tư tưởng, quan điểm của mình cọ xát với thực tế, đem lý luận của mình đối thoại với những người phản biện thuộc bậc thầy xem có đứng vững được không. Mong cho ông gặp dược những người thầy, người bạn có đủ trí tuệ và dũng cảm giúp ông nhận thức đúng quy luật, tiếp cận được chân lý. Mong cho ông tự chiến thắng được bản thân về những điều mà thông tin lề trái nói không sai về ông. Được như vậy thì có khả năng ông được tượng đồng bia đá cả trên thực tế và trong lòng dân tộc. Còn nếu ông vẫn kiên định như bây giờ thì chưa biết chuyện gì sẽ xẩy ra.

                                                                                                 Nguyễn Đình Cống. Số ĐT : 01689 578620 


Tác giả gửi BVN

Ngoài bản tính THAM LAM, CON NGƯỜI CÒN RẤT DỄ HÀNH ĐỘNG CỰC ĐOAN




Hầu như các Vị cao niên đều hiểu rõ điều này. Nên dưới đây chỉ trao đổi với các bạn trẻ. 

Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, ngoài các nhân cách tốt mang tính CON NGƯỜI ra, người dân bình thường còn có tàn dư mang tính cách các con vật, tức tham lam, tàn ác. Mấy thế kỷ trước, sự tham lam của con người đều thô thiển, xấu sa, thường dễ lộ rõ (như tại nhiều nước còn lạc hậu và tại VN hiện nay). Dần dần, thế giới văn minh lên, lại đã có luật pháp nghiêm chỉnh, thì lòng tham của con người nó cũng bớt đi, hoặc lòng tham đã lặn sâu và biến dạng dần, trở nên tinh tế, kín đáo, không cần và không thể thô thiển, không cần tham lam nhỏ nhặt, lặt vặt, trắng trợn nữa. Sự THAM LAM của những con người hiện đại ngày nay, nếu còn, thì nó to lớn vượt trên sự tưởng tượng của nhiều con người bình thường. Nên người ta cứ chỉ đè các nước chậm phát triển ra để phê phán, chửi bới rất gay gắt về sự tham lam cụ thể thô thiển dễ nhận thấy được mà thôi. Hiện nay trên thế giới có những loại người tham lam gấp vạn lần, nhưng rất tinh vi, hào nhoáng, mà dân nghèo lại chẳng quan tâm hay không biết đến. Hãy cứ nghĩ kỹ mà xem, có đúng như vậy không ?

Còn về câu chuyện SUY NGHĨ và HÀNH ĐỘNG CỰC ĐOAN tạo ra mọi loại SAI LẦM lớn nhỏ của con người thì nội dung PHONG PHÚ, SÂU SẮC hơn nhiều.

Sau đây là vài thí dụ CỰC ĐOAN  lớn tầm thế giới, nói theo ngôn ngữ đời thường:

1. Đức Phật rất coi trọng nhân đạo, tương thân, tương ái, nên “dù ai nói gì tôi, tôi cũng không chê trách, tức giận. Ai tát vào má tôi, tôi dơ bên má thứ 2 cho mà tát nốt”. Chính vì quá nhu mì hiền lành CỰC ĐOAN như vậy nên Đạo Phật mãi không cải tạo dẫn dắt được Thế giới.

2. Chủ nghĩa Mác thì ngược lại, lại chủ trương TIÊU DIỆT chủ nghĩa Tư bản, vì quá CỰC ĐOAN theo chiều đối nghịch lại CNTB như vậy, nên mới bị chủ nghĩa Tư bản toàn thế giới chống lại cũng rất CỰC ĐOAN, chết thôi. Chính vì vậy mới nẩy sinh ra Chủ nghĩa XÃ HỘI DÂN CHỦ tại Bắc Âu không quá thiên về bên nào, từ thời còn ông Các Mác già.Và vì vậy CN Xã hội Dân chủ đã thắng lợi.

3. Trung quốc, là quốc gia vốn dĩ xưa kia vẫn sống trong lòng bức Vạn lý trường thành, sau đó tràn ra xâm chiếm các nước xung quanh, suốt từ phía tây, phía đông, tràn xuống phía nam như đã và đang thấy, nhưng lại rất muốn chống các đế quốc phương Tây xâm lược, vì quá CỰC ĐOAN thiên lệch trong tư duy và hành động như vậy, nên ngày nay mới bị thế giới, và ngay cả người Trung quốc chân chính văn minh chê bai đủ điều.

4. Trong khi VN còn rất nghèo nàn, địa chủ VN (ở miền Bắc) cũng chỉ có vài mẫu ruộng, nhưng học tập Trung quốc trong Cải cách ruộng đất, tiến hành tranh đấu chống địa chủ rất CỰC ĐOAN dã man trong nước ta, nên đã PHẠM SAI LẦM RẤT LỚN mà Hồ Chí Minh đã phải xin lỗi đồng bào. Nay VN lại học tập Trung quốc chống tham nhũng tiêu cực một cách CỰC ĐOAN, dù tại VN, quãng thời gian theo cơ chế độc quyền đảng trị trong làm ăn kinh tế mới thực chất từ năm 1975 (còn tại TQ đã từ bắt đầu kiểu tham nhũng tiêu cực bằng độc quyền đảng trị như vậy từ năm 1949 . . .). Vậy là VN lại đang lặp lại cái SAI LẦM cũ là học theo đội bạn một cách máy móc rất CỰC ĐOAN sai lầm lần thứ hai (vì muốn đốt cả củi khô lẫn củi tươi). Quan niệm TQ là tình bạn hữu nghị với VN là khá mềm dẻo, cũng được, song lại định nhờ TQ giữ hộ các đảo tại Hoàng sa khỏi rơi vào tay đế quốc Mỹ (qua bàn tay VNCH) là sai lầm rất CỰC ĐOAN về trình độ chiến lược tổng thể lâu dài yếu kém của thời ông Phạm văn Đồng.

5. Cái thời Trung quốc định dùng mưu ngầm chiếm Campuchia qua bàn tay Polpot bằng biện pháp quá dã man, rất CỰC ĐOAN, nên bị thế giới lên án gay gắt. Nhưng khi Polpot (và TQ bị thua), căm tức phản lại VN tại biên giới thì ông Lê Duẩn lại quá CỰC ĐOAN, tuyên bố THẲNG THỪNG, CÔNG KHAI là TQ là kẻ thùsố 1 của VN nên đã tạo ra rạn nứt rất to lớn giữa hai nước mà sau này VN đã phải trả giá cho cái sai vì quá CỰC ĐOAN chống lại một cách thẳng thừng như thế. Mặt khác, sau đó để lấy lại mối quan hệ nước lớn – nước bé cho êm đẹp, thì cánh ông Nguyên Văn Linh lại rất CỰC ĐOAN theo chiều ngược lại, chịu sang cầu hòa, quá ư nhân nhượng với Chủ nghĩa Đại Hán, và ngày nay, ông Nguyễn Phú Trọng cũng vậy, lại quá CỰC ĐOAN,  mềm dẻo đến mức nhu nhược, không đi theo nguyện vọng nhân dân, không dám dựa vào Liên hiệp quốc, đến mức để TQ chiếm ngầm từng bước tài nguyên biển đảo của VN. Nhưng bây giờ để sửa mà lại CỰC ĐOAN THEO CHIỀU NGƯỢC LẠI thì lại sai nốt. Nếu muốn chống lại những SAI LẦM CỰC ĐOAN đã xẩy ra, thì phải Đại đoàn kết, cùng tìm phương án TỐI ƯU, HỢP LÒNG DÂN, HỢP THỜI THẾ.

6. Bên Hoa kỳ vì quá Tự do dân chủ, hay nói cách khác là TỰ DO DÂN CHỦ QUÁ TRỚN, quá CỰC ĐOAN, dân chủ với cả những người KHÔNG AM HIỂU CHÍNH TRỊ, nên dẫn đến cãi nhau lung tung, hay bị lạm dụng Dân chủ Tự do, mưu mẹo cho LÒNG THAM của phe mình (Kísinger chẳng hạn). Từ đó chính trị của Hoa kỳ mới CHAO ĐẢO, GIAO ĐỘNG rất CỰC ĐOAN từ cực nọ sang cực kia như đã từng diễn ra và đang lặp lại. Bây giờ phương Tây đang chán những cái do cánh lãnh đạo bảo thủ già cỗi lặp đi lặp lại gây ra, nên rất muốn TRẺ HÓA LÃNH ĐẠO, trẻ hóa TỔNG THỐNG, nhưng xem chừng lại bắt đầu vào một giai đoạn rất CỰC ĐOAN ngược lại, kiểu mới: Trẻ hóa quá nhanh, CHÁN QUÁ KHỨ, chán cái định luật tự nhiên là “ĐI NÊN HỎI GIÀ, VỀ NHÀ NÊN HỎI TRẺ” (Bên Mỹ, mặc dù ông Trump tuy già nhưng lai vẫn rất sắc sảo, biết tỏng mọi chuyện của cánh tham lam, biết vì dân, vì nước). Chính ra là rất cần TRẺ HÓA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ, để dù lãnh đạo trẻ, hay lãnh đạo già, đều phải theo thể chế chính trị VĂN MINH HỢP THỜI hơn trước.

Tóm lại, nhân dân muốn nói rằng, lãnh đạo các nước chớ nên  GIAO ĐỘNG QUÁ LỚN TỪ CỰC NÀY SANG CỰC KIA RẤT DỄ TẠO RA SAI LẦM, mà cần vì nhân dân mà cùng nhau TRẺ HÓA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ, tránh các CỰC ĐOAN thiếu trí tuệ dù theo chiều nào. Nói cách khác, lãnh đạo nước nào cũng cần CÁCH MẠNG theo ý kiến đa số nhân dân – là ông CHỦ THỰC SỰC -  nghĩa là cần BỪNG TỈNH lại lần thứ hai.

Vũ Duy Phú

22/02/2018

PHẢN HỒI BÀI VIẾT “CỐNG ĐẬP CHẶN MẶN GÂY RỐI LỌAN HỆ SINH THÁI VÀ NHỮNG CÁI GIÁ PHẢI TRẢ”


Tô Văn Trường

Cùng bạn đọc,

Một cái Tết không mấy vui buồn đã qua, Bauxite Việt Nam trở lại làm việc nhằm tiếp tục phục vụ các bạn xa gần. Bài viết đầu tiên của năm Mậu Tuất lại là một bài mang tính phản biện, khá dài, lại có vẻ khô khan vì nêu một số luận chứng khoa học, nhiều số liệu…

Tuy vậy, chúng tôi vẫn thấy khá hấp dẫn vì trong bài có những quan sát, kết luận rút ra từ trực quan sinh động của chính tác giả, nhiều dẫn liệu mô tả đời sống sinh học phong phú của sông nước đồng bằng sông Cửu Long…

Tin rằng bạn đọc sẽ vui lòng đọc bài viết với tinh thần khỏe khoắn, thanh sảng. Và đây chính là dấu hiệu mở đầu cho một năm mà giới xã hội dân sự chúng ta sẽ dốc hết tâm sức phản biện mạnh mẽ các vấn đề bức xúc đang chất chồng ngổn ngang trong xã hội Việt Nam, không phải chỉ giới hạn trong mấy ngày trước Tết âm lịch. 

Bauxite Việt Nam

Lời đề dẫn bài của BS Ngô Thế Vinh mà lần trước kỹ thuật viên đã sơ suất không in kèm, nay xin in vào đây để quý độc giả biết quan điểm của chúng tôi trên vấn đề cải tạo đê đập đồng bằng sông Cửu Long vì sao mãi đến nay vẫn cứ chầy chật.

Kể ra thì nhiều lý do để những người “Bên thắng cuộc” khi vào tiếp quản ĐBSCL đã đụng đâu hỏng đấy làm đảo lộn mọi quy trình kỹ thuật, khiến cho cái vựa lúa lớn nhất nước ta rơi vào nguy cơ sút giảm: nào dốt nát thất học mà lại mang bệnh kiêu ngạo CS quá nặng; nào thiếu kinh nghiệm đối xử với một vùng biển có môi trường sinh thái đặc thù mà cả đời họ chưa hề tiếp xúc; nào máy móc áp dụng những bài học đê đập ở miền Bắc vốn rất xa lạ với điều kiện thủy triều, bùn lắng... trong Nam...
Nhưng tính từ năm 1975 đến nay đã đúng 42 năm, gần tròn nửa thế kỷ, hai thế hệ đã trôi qua rồi. Với những người nông dân thất học, trong vòng nửa thế kỷ được điều đến canh tác ở một môi trường hoàn toàn xa lạ họ cũng đã trở thành những lão nông giỏi giang bậc nhất, quen thung thổ vùng đất mới như nhìn nó trong lòng bàn tay.

Vậy mà đây lại là một đám cán bộ ít ra cũng có chút học hành như loại ông Cao Đức Phát (chứ không lẽ ông ta chỉ trình độ i tờ mà lên làm Bộ trưởng?).

Vậy thì cái lý do khiến ĐBSCL vẫn bị áp đặt bởi một cách làm cực kỳ tốn kém mà chỉ có ngày càng hư hỏng là gì? Xin thưa: TÍNH ĐẢNG CỘNG SẢN.

Bauxite Việt Nam

Chuyên gia độc lập về Tài nguyên nước và Môi trường

Trên trang Bauxite VN ngày 13-2-2018 có bài viết của bác sĩ Ngô Thế Vinh đầu đề "Cống đập chặn mặn gây rối loạn hệ sinh thái và những cái giá phải trả" phê phán việc xây đập ngăn mặn chặn dòng Cửu Long mà người chủ  trương là các nhà lãnh đạo và cán bộ nông nghiệp Miền Bắc không hiểu đặc điểm của thiên nhiên và con người ở đồng bằng sông Cửu Long.

Đây không phải là bài viết khoa học mà chỉ là dạng tương tự như phóng sự do tác giả ghi lại cảm nhận khi đi quan sát một số địa điểm thực tế và các ý kiến thu nhận được để đưa ra những nhận định chủ quan về tác động bất lợi của chương trình và các công trình thủy lợi mới được triển khai sau năm 1975, nhưng không đưa ra các minh chứng, phương pháp luận khoa học nào thuyết phục.  Do đó, những người đọc quan tâm đến vấn đề này cũng dễ có những cảm nhận trái chiều: nếu gặp nhóm người dùng kiến thức suy luận đơn giản có ý kiến là tác động xấu thì sẽ gây nhận định tiêu cực, nếu gặp người hưởng lợi từ các dự án ngăn mặn thì sẽ có nhận định ngược lại, những người có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực này thì thấy còn thiếu dữ liệu và kết quả phân tích. Giống như vào lúc này, nếu đi làm một phóng sự về chính sách của Tổng thống Donald Trump ở Mỹ thì có thể tìm được cả ngàn  người chỉ trích, mà ngược lại cũng có cả ngàn người ca ngợi, chưa có cơ sở xác nhận luồng ý kiến nào là đúng.

Đối tượng nêu trong bài báo là môi trường bề mặt ở đồng bằng sông Cửu Long một vấn đề về điều kiện tự nhiên. Ở mức độ thường thức hiện nay mọi người đều hiểu được rằng, các hiện tượng tự nhiên luôn không ngừng vận động mà con người nhờ kiến thức thực tiễn và khoa học ngày càng nắm vững/hiểu rõ các quy luật vận động của từng hiện tượng để phòng tránh tác hại hay khai thác chúng hợp lý như nguồn tài nguyên phục vụ cho sản xuất và nhu cầu phát triển xã hội. Các giải pháp khai thác tài nguyên thiên nhiên luôn luôn có cả hai mặt lợi và hại, do đó khi đánh giá một đối tượng để khách quan và khoa học, phải thu thập được tối đa cơ sở dữ liệu liên quan đặt vào bối cảnh lịch sử (kinh tế-xã hội) cụ thể và có công cụ với mức tin cậy cho phép thực hiện bài toán “trade off“ phân tích “được và mất“ để từ đó lựa chọn được giải pháp tối ưu với tổ hợp các yếu tố cần sử dụng để làm sao cái được là lớn nhất, và cái mất là ít nhất, bởi vì khi con người tác động  vào tự nhiên, không bao giờ cho ta được tất cả.

Về quan điểm và nhận thức phản biện là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội nên ý kiến của tác giả Ngô Thế Vinh ở góc độ truyền thông thường thức là đáng trân trọng. Tuy vậy phản biện, đặc biệt là phản biện một vấn đề hay một đối tượng khoa học, thì cần phải dựa trên các bằng chứng từ kết quả phân tích bằng những công cụ khoa học tin cậy và phải tránh đưa vào những nhận định từ dẫn chứng quan sát đơn giản với cảm xúc cá nhân. Về điều này, người đọc nhận thấy trong bài viết của tác giả Ngô Thế Vinh còn khá nhiều hạt sạn. Chính những hạt sạn- thiếu luận cứ và phương pháp khoa học đó đã làm phản biện của tác giả bài báo chưa thuyết phục và mất đi tính khách quan.

Nhìn lại qúa trình phát triển nông nghiệp và thủy lợi ở đồng bằng Sông Cửu Long.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nổi tiếng là mảnh đất giầu tài nguyên, đa dạng sinh học nhưng cũng gánh chịu những thách thức khắc nghiệt của thiên nhiên mà người dân nơi đây đã lưu truyền trong dân gian bằng những vần thơ:

Quê tôi nước mặn, đồng chua
Nửa năm nắng hạn, một mùa nước dâng

Xuyên suốt quá trình lịch sử là sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn ở ĐBSCL vô cùng khó khăn, gian khổ nhưng thành tựu cũng rất to lớn và vô cùng vẻ vang. Cha ông ta, đã đi từ khai mương, đắp bờ tát nước bằng các công cụ thô sơ và sức người đến thời vua Nguyễn và Pháp thuộc có nhiều kênh đào và đặc biệt sau năm 1975 với đường hướng phát triển kinh tế xã hội đúng đắn của nhà nước lấy vai trò của thủy lợi làm biện pháp hàng đầu để phát triển nông nghiệp, cùng với các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, thiết bị hiện đại và sáng tạo của người dân Nam bộ hàng loạt các công trình thủy lợi lớn, vừa và nhỏ đã được xây dựng.

Ngày nay, ĐBSCL chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam. Sản lượng nông nghiệp của ĐBSCL chiếm trên 50% cả nước, riêng lương thực xuất khẩu 90%, cây ăn trái và thuỷ sản khoảng 70% so với cả nước.

Nhớ lại năm 1976, sản lượng lúa ở ĐBSCL chỉ khoảng 4,6 triệu tấn, phải nhập khẩu lương thực để cung cấp cho cả nước. Lúa Đông Xuân chủ yếu ở Cai Lậy khoảng 10 nghìn ha, còn lại là lúa mùa, trong đó 300 nghìn ha là lúa mùa nổi ở An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang vv… Hệ số quay vòng đất 1 vụ canh tác, chủ yếu nhờ nước trời, giống lúa dài ngày bị thoái hóa. Người dân cả nước thời ấy, phải ăn hạt bo bo, gạo hẩm, tấm, khoai lang, (bột mì nhập cho gia súc nhưng nhiều nơi con người vẫn sử dụng) vì đói. Đất đai ở ĐBSCL bị chua phèn, nhiễm mặn, nhiều cánh đồng “chó ngáp” rộng lớn bạc màu, phèn úa, ngập  úng cỏ dại, lau sậy um tùm... bị bỏ hoang.

Riêng năm 1980, nước ta phải nhập lương thực đến 1,6 triệu tấn. Kết quả phần lớn các mục tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980) do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đề ra đều không đạt được. Mức tăng trưởng kinh tế tụt xuống chỉ còn 2,9% vào năm 1980 so với chỉ tiêu là 13%. Xuất khẩu chỉ bằng 20-25% nhập khẩu. Năm 1984, khoảng 75% dân số sống dưới mức nghèo đói. Lạm phát lên đến mức đỉnh điểm năm 1986 là 774,7%. Khủng hoảng kinh tế đã đe dọa ổn định chính trị, xã hội và bảo vệ môi trường.

Để tự cứu mình, nhà nước đã chủ trương toàn dân làm thủy lợi, trong sản xuất lấy lúa và cây lượng thực làm tiêu chí. Riêng các công trình thủy lợi lớn do nhà nước trung ương đầu tư với mục tiêu hàng đầu là phục vụ sản xuất và đời sống  của nhân dân. Ngay sau Thống nhất đất nước 1975, một lực lượng lớn cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, trong đó có thủy lợi từ Miền Bắc đã được huy động đưa vào Miền Nam để tiến hành các công tác thủy lợi ở quy mô khác nhau cũng như thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế như Ủy ban lâm thời sông Mekong.

Năm 1976-1977 ở Đồng Tháp Mười hầu hết còn hoang hóa do hệ thống thủy lợi trước đây còn thưa thớt và không được tu sửa nên không còn tác dụng. Để khai thác cho sản xuất nhà nước tiến hành nạo vét khôi phục các kênh Nguyễn Văn Tiếp, Dương Văn Dương, Phước Xuyên, Đồng Tiến kết hợp với thủy lợi nội đồng  đào kênh cấp 2, cấp 3 để dẫn nước đến mặt ruộng. Mở rộng quy mô ngăn mặn, giữ ngọt ở khu thủy nông Gò Công, xây dựng mới các cống Gò Dừa, Xuân Hòa v.v... 

Để khai thác vùng Đồng Tháp Mười thời đó không chỉ dựa trên phương pháp kinh nghiệm sản xuất truyền thống, quyết tâm chính trị, mà phải tiến hành các phương pháp tính toán khoa học. Khi phải giải quyết bài toán đất phèn xảy ra tranh luận khoa học rất gay cấn giữa quan điểm giữ nguyên hiện trạng vì sợ đụng đến rốn phèn và lấy nước ngọt từ sông Tiền về để thau chua, rửa phèn. Gs Võ Tòng Xuân là nhà khoa học có công lớn đưa ra một số giống lúa mới, chịu sâu rầy để phát triển sản xuất lương thực ở ĐBSCL nhưng ông cũng như một số nhà khoa  học Hà Lan lại phản đối việc đào kênh Hồng Ngự vì sợ đụng đến “rốn phèn“ gây tác hại khôn lường. Nhờ sự quyết tâm của những nhà khoa học thủy lợi dám dấn thân và sự ủng hộ của số vị lãnh đạo thức thời, kênh Hồng Ngự đã được khởi công từ cuối năm 1977 dài 75 km nối từ Hồng Ngự qua Bình Châu vào rạch lớn của  sông Vàm Cỏ Tây tưới cho 150 nghìn ha. Thành công của kênh Hồng Ngự, mở ra kỷ nguyên mới về ý nghĩa của giá trị khoa học và thực tiễn, lớn đến nỗi người dân trìu mến gọi kênh Hồng Ngự là kênh Trung ương.
Tứ giác Long Xuyên diện tích tự nhiên khoảng 500 nghìn ha là ví dụ điển hình về hiệu quả công tác thủy lợi từ kiểm soát lũ, đến tưới tiêu, khai thác sử dụng đất phèn làm thay đổi hẳn bộ mặt kinh tế xã hội của cả vùng. Xa xưa là công trình kênh Vĩnh Tế của cha ông để lại được thế hệ sau mở rộng, nạo vét, nâng cấp, đặc biệt là hệ thống công trình thủy lợi  khá hoàn chỉnh như kênh ông Kiệt (người dân và chính quyền địa phương nhớ ơn, lấy tên Thủ tướng Võ Văn Kiệt thay cho kênh Tuần Thống-T5). 

Hàng loạt các hệ thống công trình thủy lợi ở vùng kẹp giữa hai sông (Nam-Bắc Vàm Nao) và hệ thống công trình đê vùng ven biển như khu Tiếp Nhật, đào kênh Long Phú - Lịch Hội Thượng tưới tiêu cho 1.700 ha, đào kênh Cái Xe, Hợp Thành tiêu úng, giữ ngọt cho 19.000 ha, xây cống Tiếp Nhật và An Nổ, đào kênh Phụng Hiệp - Sóc Trăng tiêu úng, giữ ngọt 21.000 ha góp phần đáng kể về phát triển kinh tế xã hội vùng bán đảo Cà Mâu. Chỉ tính riêng đến năm 1980, ĐBSCL đã đắp được 14 hệ thống đê ngăn mặn cho 650 nghìn ha và 5 hệ thống đê bao bảo vệ lúa Hè Thu, đầu tư nạo vét khôi phục 75 kênh trục lớn, dẫn nước tưới cho 450 nghìn ha, xổ phèn 300 nghìn ha.

Trong thâm canh, theo ước tính của các chuyên gia nông nghiệp nhờ có công trình thủy lợi tăng 30% năng suất. Nhờ có thủy lợi mới tăng vụ và phát huy hiệu quả các biện pháp kỹ thuật như sử dụng phân bón, thuốc diệt cỏ vv...  Đó là những thành tựu kinh tế quan trọng, vẫn bảo đảm không gây tác động xấu đến môi trường nhờ áp dụng kết quả triển khai tính toán khoa học nghiêm túc.

Anh Nguyễn Minh Nhị (Bẩy Nhị) nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, một nhà quản lý am hiểu sâu sắc thực tế ở ĐBSCL để lại nhiều dấu ấn trong qúa trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Năm 1988 khi còn làm giám đốc Sở Nông nghiệp An Giang, tại hội nghị ngành nông nghiệp tỉnh, Anh Bảy Nhị đã  phát biểu khẳng định "Thành quả cách mạng sau giải phóng miền Nam chỉ còn lại là các công trình thủy lợi. " và trong thực tế Anh Bẩy Nhị cũng chủ trương lấy thủy lợi làm khâu đột phá cho chuyển vụ, khai hoang, tăng diện tích sản xuất. Khi làm Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp cũng chủ trương lấy tưới - tiêu làm "khâu đột phá. 

Tôi mới nhận được  email của Anh Bẩy Nhị  vào sáng 2 tết Mậu Tuất rất đáng suy ngẫm nguyên văn như sau: ‘‘Trừ các công trình ngăn mặn tôi không biết, còn lại, tôi khẳng định thủy lợi - tưới tiêu, đê bao phục vụ sản xuất lúa hai vụ ở tỉnh An Giang là hoàn toàn phù hợp hoàn cảnh sống của con người ở đây và cũng thuận với thiên nhiên. Tôi không hiểu nhiều về khoa học nên không bao giờ dám viết bài về khoa học kỹ thuật mà chỉ dám viết dạng báo chí: Thời sự, tổng hợp - chính luận, tùy bút... Ngược lại, người làm khoa học leo ra ngoài lề dễ bị "việt vị" hoặc khoa học không gắn với đời sống thì cũng "không đất sống". Về quản lý, tôi tự hào là người đầu tiên làm đê bao kết hợp giao thông nông thôn và nội đồng, đưa sản xuất lúa lên 2 vụ/năm. Tôi cũng cho chủ trương làm đê bao khép kín, qui hoạch sản xuất vụ 3 ở An Giang 80 ngàn ha là không sai. Nếu nước biển dâng như người ta nói thì bờ bao nầy giữ nước ngọt, đẩy mặn hoặc ngăn mặn xâm nhập là tuyệt vời!” . 

Nhận thức và sự lựa chọn giải pháp thích hợp


Tôi đồng tình chia sẻ với quan điểm của tác giả Ngô Thế Vinh về cống Vàm Cỏ. Thập niên 90, Bộ Khoa học và Công Nghệ (KHCN) và Bộ NN & PTNT đã đề xuất  đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, ban chủ nhiệm đề  tài kết luận đề xuất xây dựng cống Vàm Cỏ. Tôi nhớ hồi ấy, khi làm việc trực tiếp với anh Hai Tiếp (Bí thư tỉnh ủy Long An), anh Nguyên - Phó chủ tịch tỉnh phụ trách nông nghiệp và phát biểu ở hội thảo (cũng như viết bài phản biện) tôi phân tích kết quả về bài toán thủy lực, về tác động môi trường…, cũng không tán thành quan điểm làm cống Vàm Cỏ. Cho nên tôi thấy ý kiến trong bài báo của tác giả Ngô Thế Vinh cũng là dễ hiểu.

Tác giả Ngô Thế Vinh phân vân, nghi ngờ về tính hiệu qủa của công trình Cái Lớn - Cái Bé (dự kiến đầu tư hơn 3000 tỷ đồng) là chính xác, mặc dù nhận định của tác giả chỉ là định tính chưa có định lượng. Theo tôi hiểu, quy mô, vị trí hệ thống công trình này, phụ thuộc vào cơ cấu bố trí sản xuất của các tỉnh chủ yếu là Kiên Giang và Cà Mâu. Mặn xâm nhập từ biển phía Tây theo sông Cái Lớn và Cái Bé yếu hơn xâm nhập mặn từ biển Đông. Khu vực phía nam sông Cái Lớn (thuộc Kiên Giang và bắc Cà Mau) mặn ngọt luân phiên (mặn mùa khô/ ngọt mùa mưa nhờ nuớc mưa và nuớc từ sông Hậu) vì vậy nếu mùa mưa trồng lúa/ mùa khô nuôi tôm sẽ giảm áp lực nhu cầu nuớc ngọt hơn so với canh tác 2 vụ lúa và giải pháp thuỷ lợi cũng cần điều chỉnh cho phù hợp. Đây là lý do cần tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn đánh giá “được và mất” về dự án cống Cái Lớn và cống Cái Bé trước khi cho chủ trương đầu tư.

Những người am hiểu thời cuộc đều biết làm giao thông, xây dựng và thủy lợi từ trước tới nay trên ĐBSCL là phục vụ đa ngành, trong đó có nông nghiệp. Trong nông nghiệp có cây lúa, cây màu, hoa quả, con tôm, con cá, con vịt, con bò, con trâu... cho nội địa và xuất khẩu, nhưng mỗi loại cây trồng hay vật nuôi đòi hỏi có điều kiện môi trường khác nhau, đôi khi đối nghịch nhau. Các châu thổ lớn trên thế giới dù có nuôi tôm, nuôi cá, trồng màu, trồng lúa, hoa quả..., thì đều phải làm thật tốt phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi đến tận từng chân ruộng, đảm bảo cơ động vững chắc cho chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi theo đà tiến bộ của khoa học công nghệ và biến động của thị trường trong nước và thế giới. Cho nên phát triển đa ngành khi khai thác vùng cho một ngành thì rất dễ gây tác động xấu đến phát triển ngành khác; cần phải có những tính toán lựa chọn phương án thích hợp, có lợi nhất.

Trước năm 1995, con giống cá tra, cá basa trên ĐBSCL cũng chưa làm ra được,  nói gì đến giống tôm cao cấp; hơn nữa, thực tế thị trường xuất khẩu thủy sản thời ấy còn cực kỳ khó khăn và quá nhỏ hẹp, do chính sách cấm vận của Mỹ kéo dài đến năm 1994 và dư âm ảnh hưởng của nó còn lây lan đến mãi sau năm 2000.

Sau năm 1995, nhờ sự phát triển của cây lúa và thị trường tiêu thụ lúa trong và ngoài nước, ta vượt qua được ngưỡng tích lũy tối thiểu bằng nông nghiệp, kết hợp với việc Mỹ bỏ chính sách cấm vận, cùng với các điều kiện quốc tế thuận lợi khác, nông dân ĐBSCL đã chuyển dần sang làm thêm con cá, con tôm xuất khẩu, hàng ngàn bè cá tra, basa to nhỏ nối đuôi nhau dọc sông Tiền, sông Hậu, kênh rạch đến mức gần như đã vượt quá giới hạn cho phép về khai thác diện tích mặt nước sông ngòi dành cho nuôi trồng thủy sản.

Sau thời ấy, ngoài việc khai thác mặt nước sông ngòi nuôi trồng thủy sản đến mức “cạn kiệt”, dân ta đã “mổ xẻ” mặt bằng đồng ruộng của cây lúa biến thành hàng vạn cái ao lớn nhỏ khác nhau nuôi cá da trơn, tôm, cua, lươn xuất khẩu. Sau thời ấy, dân ta cũng đã chuyển dần gần 50% diện tích lúa vùng bán đảo Cà Mau sang nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ. Ngành thủy lợi cũng chuyển đổi tư duy từ ngăn mặn (làm đập) sang kiểm soát mặn (làm cống điều tiết mặn theo 2 chiều) phục vụ cho cơ cấu sản xuất cây trồng, vật nuôi có nghĩa là đã coi mặn cũng là tài nguyên. 

Nguồn xuất khẩu thủy sản ĐBSCL cũng trải quả những bước thăng trầm “ngoạn mục” theo nhu cầu thị trường thế giới, chứ đâu phải lúc nào cũng mát mái, xuôi chèo?

Cống đập ngăn mặn – cần tính toán và thiết kế phù hợp

Ngay cả cách mạng xanh hồi 1950-1960 đã giúp sản lượng nông nghiệp theo kịp sự tăng trưởng dân số ở rất nhiều nước, nhất là giải quyết lương thực cho nước đông dân như Ấn Độ, cũng có các ảnh hưởng sinh thái và xã hội rất lớn, nên bên cạnh các ý kiến ca ngợi nồng nhiệt, vẫn có các chỉ trích dữ dội.

Việc ngăn mặn ở ĐBSCL đã được thực hiện ngay cả trước khi thống nhất đất nước. Đã có những dự án ngăn mặn như Tiếp Nhật ở Sóc Trăng do Nhật tài trợ, Gò Công do ADB (Ngân hàng Á châu) đầu tư v.v... Dự án ngăn mặn lớn nhất trước 1975 có lẽ là dự án ngăn mặn cửa Mỹ Thanh mà vật liệu để xây dựng đã được chuẩn bị từ thời Pháp, nhưng sau 1975 dự án này không được thực hiện vì chi phí lớn lúc đó và các tác động môi trường vùng ven biển (sau các đánh giá của ESSA Ltd. Canada năm 1989)- Thời kỳ này, tôi đang làm chuyên gia môi trường ở Ban thư ký sông Mekong nên đã nhiều lần cùng tham gia đi khảo sát thực địa ở bán đảo Cà Mâu và đánh giá về EIA (tác động đến môi trường) của công ty ESSA Canada gồm các chuyên gia như Nick Sontag, Peter Macnamee và Ron Livingston v.v...)

Trước đây, khi nói đến phát triển thủy lợi là người ta nghĩ đến giải pháp công trình (kênh, cống, đập, trạm bơm…) nhưng sau khi các hiểu biết và bài học về tác động môi trường đã được nâng cao, các giải pháp phi công trình (thay đổi hệ thống canh tác và thời vụ, tưới tiết kiệm…) cũng đã được xem xét ưu tiên.

Trong quá trình phát triển ở ĐBSCL, chúng ta cũng rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đó là: không coi nước mặn là tài nguyên (để nuôi tôm nước lợ) nên ở vùng ven biển thời kỳ đầu chỉ đắp đập ngăn mặn, chứ không phải kiểm sóat mặn, cho nên có làm cống cũng thiên về 1 chiều (không phải cống 2 chiều). Hệ thống công trình thủy lợi hiện hữu phục vụ cho cây lúa là chủ yếu, đầu tư chưa đồng bộ khép kín, yêu cầu về quản lý nước, cấp thoát nước đối với nuôi trồng thủy sản chưa đủ năng lực phân chia ”mặn-ngọt”  như ở vùng Bắc Bến Tre, vùng Quản Lộ - Phụng Hiệp. Hệ thống cống  tự động 1 chiều, không vận hành cưỡng bức được nên không chủ động cấp thoát nước theo yêu cầu của nuôi trồng thủy sản, kênh cấp thoát nước kết hợp, dễ gây nên ô nhiễm môi trường nước. Sông rạch, nhiều vùng giáp nước gia tăng mức độ ô nhiễm và bồi lắng vv...   

Bài học về đầu tư không đồng bộ đã được nhiều nhà khoa học cảnh báo từ lâu rồi. Tôi vẫn còn nhớ cách đây khoảng hơn 20 năm, ông Võ Văn Kiệt hỏi tôi về quan điểm đề xuất của nhóm chuyên gia GSVS Nguyễn Văn Hiệu, GS Nguyễn Sinh Huy và PGS Hồ Chín  về xây cống âu thuyền ở Tắc Thủ để kiểm soát mặn. Tôi không tán thành, ông Kiệt nói với TS Vũ Đức Đam (trợ lý) gọi điện mời tôi ra Văn phòng Chính phủ gặp trực tiếp ông Võ Văn Kiệt và ông Nguyễn Tấn Dũng để lắng nghe ý kiến xử lý dứt điểm việc thuê đất trồng rừng 40.000 ha của công ty Kiên Tài (Đài Loan) ở Tứ giác Long Xuyên ảnh hưởng đến thoát lũ và việc xây cống âu Tắc Thủ. Tôi trình bày kết quả bài toán thủy lực xâm nhập mặn, để bảo vệ quan điểm chỉ ủng hộ làm công trình Tắc Thủ nếu được đầu tư đồng bộ với cống Xẻo Xô, cống Biển Nhị vv... để khép kín, không bị mặn tập hậu. Sau đó, ở hội thảo tại TP.HCM, tôi cũng trình bày lại đúng quan điểm nói trên. Do ngành giao thông hồi ấy còn thừa nguồn vốn ODA của dự án WB, nên đã sử dụng 5 triệu đô la Mỹ xây cống âu thuyền Tắc Thủ. Kết quả sau đó, thực tế đúng như tôi đã cảnh báo công trình này bị bỏ hoang, lãng phí vì mặn tập hậu.

Các công trình ngăn mặn xây dựng trước đây là trong giai đoạn trước 1990 Việt Nam đang cần tăng sản lượng lúa gạo nên hoàn toàn phù hợp cho giai đoạn đó. Hiện nay, nhu cầu tăng sản lượng lúa gạo không còn nữa, nên có thể không cần ngăn mặn như vậy nữa, hoặc nếu có thì khi nào mới cần làm. Đó là câu hỏi dành cho các nhà hoạch định chính sách phát triển ở ĐBSCL.

Xin lưu ý, việc kiểm soát mặn chủ động ở vùng nuôi trồng thủy sản cũng vẫn phải cần cống 2 chiều và nguồn nước ngọt để pha loãng độ mặn theo chu kỳ sinh trưởng của con tôm và nhu cầu sinh hoạt của người dân. Cần tránh khai thác qúa mức nước ngầm cho nuôi tôm gây nên hiện tượng sụt lún đất và ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước ngầm. Đối với các con kênh ở vùng triều, nếu ở cả 2 đầu kênh có cống kiểm soát nguồn nước thì lưu lượng lớn nhất và lưu lượng nhỏ nhất sẽ bị giảm nhưng lưu lượng trung bình lại tăng lên nhờ điều tiết chủ động.

Quan điểm và sự cấp thiết bảo tồn thiên nhiên

Dù  dân số tăng cao, đất chật người đông, cộng thêm nhu cầu phát triển kinh tế nên phải khai thác tài nguyên đất và nước ở ĐBSCL, nhưng để lưu giữ cho các thế hệ mai sau về vùng Đồng Tháp Mười tự nhiên, dưới thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có quyết định cho thành lập khu bảo tồn sinh thái quốc gia Tràm Chim hơn 7000 ha để mãi mãi Đồng Tháp Mười không chỉ có “đẹp nhất hoa sen” mà còn đẹp mãi và giầu có nữa vì có những Tràm Chim huyền bí và thơ mộng.



Ảnh trên mạng: Sếu đầu đỏ ở khu bảo tồn quốc gia Tràm Chim

Thực ra, ở đây không chỉ có “tràm” và không chỉ có “chim”, nhưng vì đó là hai loại sinh vật tiêu biểu cho vùng đất nên đã được dùng để cho dễ gọi, dễ nhớ! Mà quả thật, chỉ lần đầu qua đây, tôi đã không thể quên vẻ đẹp hoang sơ đến kỳ diệu của Tràm Chim. Chiều xuống, mặt trời khuất phía biên giới xa xa, trên nền đỏ tía của chân trời nổi bật những mảng đen xẫm của rừng tràm như những nét cắt vội vàng đầy ngẫu hứng của một họa sĩ. Trên cái nền của bức tranh đó bỗng nổi lên râm ran tiếng kêu của hàng trăm, hàng ngàn con chim. Dưới nắng chiều đang lụi nhanh, trên  những thảm cỏ năng ven kênh, từng đôi ba con sếu đang thong thả trình diễn điệu múa gọi bạn độc đáo. Những con sếu cái thu mình, vươn cao cái cổ kênh kiệu và những chú sếu đực vừa giang rộng đôi cánh, vừa đảo đôi chân xung quanh “người tình”. Người ta nói những khi “tình tự” chỉ có sếu đực là vỗ cánh, đôi cánh mạnh mẽ, hào hiệp và duyên dáng vô cùng.

Bức tranh thiên nhiên ấy chỉ là bề nổi của một vùng đất ngập nước có một hệ sinh vật phong phú gồm 130 loài thực vật khác nhau, là nơi cư ngụ của trên 100 loài động vật có xương sống, 40 loài cá, 147 loài chim nước, trong đó có 13 loài chim quý hiếm, đặc biệt là “sếu cổ trụi” là loại được quốc tế đưa vào “sách đỏ”  cần đặc biệt bảo vệ.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện là thành viên trong đoàn đi khảo sát với tác giả Ngô Thế Vinh vừa qua, là người hiểu rõ về ý nghĩa và giá trị của khu bảo tồn Tràm Chim này và vai trò khởi đầu của tổ chức bảo vệ sếu quốc tế (ICF). Năm 1991, khi tôi sang Mỹ để trình bày báo cáo ở hội thảo quốc tế về chất lượng nước ở  Madison Wisconsin gặp Nguyễn Hữu Thiện đang học thạc sĩ ở đây. Hai anh em có dịp cùng đi thăm khu bảo vệ sếu của ICF ở Mỹ. Khi về nước, thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện là người có nhiều gắn bó với khu bảo tồn đất ướt Tràm Chim.

Các hạt sạn trong bài viết của tác giả Ngô Thế Vinh

Nước ta đất chật, người đông, do nhu cầu kinh tế, phải khai thác tài nguyên đất nước để phát triển. Không thể lấy lý do “người nông dân Miền Tây đã quen chung sống với nhịp đập thiên nhiên ấy” để từ chối cải tạo thiên nhiên (nếu nó không thuận lợi) để thiên nhiên phục vụ con người tốt hơn. Hãy nhìn người Israel cải tạo sa mạc và trồng trọt trên sa mạc, bắt sa mạc mang lại lợi nhuận mà học tập.
Tác giả viết “Sông Ba Lai ngừng chảy. Thay vì biến sông Ba Lai thành một hồ nước ngọt thì cư dân Bến Tre phải sống với nước sông Ba Lai mặn hơn trước kia nhất là vào mùa khô. Hậu quả là tỉnh Bến Tre thiếu nước ngọt, đưa tới tình cảnh bệnh viện lớn nhất Bến Tre mỗi ngày được xe tải cung cấp 10 mét khối nước ngọt chỉ đủ cho các khoa phòng chia nhau từng lít nước, còn người dân thì sống trong tình trạng thiếu nước ngọt kinh niên, phải mua nước ngọt có khi phải trả tới 100,000 đồng VN/ mét khối”.

Tình trạng thiếu nước ngọt ở Bến Tre miêu tả như trên là chính xác nhưng xin lưu ý năm 2016 ĐBSCL đều chịu chung cảnh thiếu nước ngọt vì hạn, mặn xâm nhập sâu nhất so với lịch sử. Năm 2015 ĐBSCL không có lũ, sang mùa khô 2016  là năm thời tiết cực đoan, hạn hán và xâm nhập mặn sâu xảy ra khắp nơi trên đồng bằng. Bến Tre cũng bị ảnh hưởng từ bất lợi này. Không thể lấy một hậu quả gây ra bởi thời tiết cực đoan để cho là do lỗi của cống đập Ba Lai, không có luận chứng mà chỉ võ đoán.

Những năm mặn trung bình hơn ½ diện tích tỉnh Bến Tre thường xuyên bị xâm nhập mặn, nhiều lúc mặn 4g/l lên đến tận An Hóa. Từ khi có cống đập Ba Lai tình hình kiểm soát  mặn đã khác hẳn trước đây, cấp nước ngọt chủ động cho các huyện Giồng Trôm, Ba Tri và một phần của huyện Bình Đại (mặc dù hệ thống công trình chưa khép kín).


Ảnh trên mạng : Cống đập Ba Lai

Về nguyên tắc nguồn mặn xâm nhập chính từ biển đông đã được cống đập Ba Lai kiểm soát nhưng lòng hồ vẫn bị mặn do thiếu vốn, hệ thống công trình thủy lợi chưa đầu tư đồng bộ khép kín nên bị mặn tập hậu. Nếu không có cống đập Ba Lai thì mặn còn xâm nhập sâu hơn nữa, chỉ cần làm bài toán thủy lực 1 chiều là rõ ngay hiệu qủa kiểm soát mặn khi có và không có cống đập Ba Lai. JICA (Nhật Bản) đã rà soát lại, thấy rõ tác dụng của hệ thống công trình thủy lợi Ba Lai đã quyết định sẽ tiếp tục đầu tư xây dựng các cống Chẹt Sậy, Gia Hòa, Bến Tre cùng với nguồn vốn của Chính phủ để khép kín việc kiểm soát mặn ngọt ở vùng này.

Tác giả cũng đưa ra hình ảnh sông cạn đáy thật ấn tượng nhưng liệu hiện tượng cạn đáy đó có phải là do con người hay là chuyện tự nhiên. Các kênh rạch của Venice cũng cạn đáy (hình dưới https://baomoi.com/hang-loat-kenh-dao-o-venice-can-tro-day-sau-sieu-trang/c/24838694.epi) mà có phải do con người can thiệp đâu. Vì vậy, tác giả nên có một chứng minh rõ ràng hơn về nguyên nhân cạn đáy ở các hình đã dẫn ra trong bài viết.


Tác giả đã đưa ra thông tin là “biển dâng được dự đoán với vận tốc 5 cm/năm”. Đây có lẽ là điều không tưởng. Nên chăng tác giả cần đưa minh chứng? Theo kịch bản “lạc quan” nhất, tới 2100, nước biển dâng thêm khoảng 51 – 106cm so với thời kỳ 1980 – 2000 (kịch bản RCP 8.5, phiên bản 2016). Nghĩa là bình quân 0,51 – 1,06cm/năm. Và tốc độ tăng trong những năm đầu thế kỷ nhỏ hơn những năm sau.

Ngoài ra, tác giả viết “với gần 2 triệu người di cư ra khỏi ĐBSCL trong hai chục năm qua, nhưng vẫn chưa hề có cuộc điều tra cơ bản nghiên cứu về những nguyên nhân ra đi của họ” nhưng sau đó lại nhập xem chuyện “2 triệu người di cư ra khỏi ĐBSCL” như là một hậu quả của những công trình như Ba Lai. Điều đó không có cơ sở thuyết phục. Thực ra xu hướng thoát ly nông thôn, tụ về thành phố là phổ biến khắp nơi trên thế giới trong giai đoạn nền kinh tế thực hiện công nghiệp hóa, giảm tỷ trọng nông nghiệp và nguyên nhân của hiện tượng này đã được nhiều nghiên cứu làm rõ. Và điều chắc chắn là cống đập “Ba Lai” chưa từng được xác định là lý do của xu hướng di dân đó.

Sự băn khoăn lo ngại của tác giả Ngô Thế Vinh về người lãnh đạo Bộ NN & PTNT và lực lượng cán bộ kỹ thuật triển khai công tác nông nghiệp-thủy lợi từ Miền Bắc dẫn đến những quyết định về chủ trương và giải pháp khai thác không phù hợp ở ĐBSCL là chưa chuẩn xác. Như đã phân tích ở trên, vai trò của nhân lực là kiến thức cho việc tiến hành thu thập xây dựng cơ sở dữ liệu và áp dụng phương pháp phân tích khoa học với chuẩn mực quốc tế đóng vai trò quan trọng cho giải quyết nhiệm vụ khai thác góp phần phát triển kinh tế ở đây. Những kinh nghiệm sản xuất  truyền thống của người dân Nam bộ cũng như sử dụng nhân lực, chuyên gia tại chỗ cũng luôn được duy trì và chính là một trong các tham số của cơ sở dữ liệu của các phương pháp tính toán.

Không có gì hoàn hảo cả, nhất là khi phải xây dựng các công trình trên một dòng sông. Bất kỳ một tác động nào đến dòng sông đều có hai mặt nhưng không phải vì thế mà cho rằng không được xây dựng công trình ngăn mặn, chống lũ, hạn chế xói lở,… (đê, kè, cống, đập,…). Cũng đừng “quy chụp” từng thời ông Bộ trưởng, hay thứ trưởng,… bởi lẽ những công trình mang tính chiến lược, quan trọng này phải trải qua rất nhiều cuộc họp, hội thảo giữa các ngành, các bộ, các địa phương vùng dự án, sau đó mới đến các bước rà soát, thẩm tra, thẩm định theo quy trình dự án.

Lời kết

Ở thời kỳ Hội nhập thế giới về cả chiều sâu và chiều rộng hiện nay các vấn đề kinh tế xã hội không còn là đối tượng riêng của một quốc gia mà luôn được tính toán tác động ảnh hưởng tới khu vực lân cận kể cả ở ngoài phạm vi lãnh thổ. Khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực đến môi trường và ảnh hưởng đến các ngành kinh tế khác cần được nghiên cứu cơ sở dữ liệu đầy đủ nhất có thể và phải được phân tích bằng các phương pháp khoa học có đủ độ tin cậy để từ đó lựa chọn giải pháp, quyết định triển khai thực tiễn với lợi ích thu được tốt nhất và hạn chế ảnh hưởng xấu thấp nhất.

Đọc cả bài “Cống đập chặn mặn gây rối loạn hệ sinh thái và cái giá phải trả” cho thấy tác giả mới chỉ đưa ra những nhận định mang cảm tính, trực quan của cá nhân dựa trên chuyến đi thực tế cùng một số chuyên gia quen biết, chưa có một phân tích, một đánh giá nào mang tính khoa học, định lượng,….Chưa thấy một con số một đoạn viết nào có nội dung khoa học chứng minh về nhận định của tác giả.

Nhìn lại lịch sử phát triển của ĐBSCL, mà mục tiêu là phát triển lương thực để cứu đói, phải ngọt hóa để sản xuất lúa đã hoàn thành vai trò lịch sử của nó. Nhận thức là cả quá trình, người dân Nam bộ cũng như các nhà khoa học đã chuyển tư duy làm đập ngăn mặn sang làm cống 1-2 chiều kiểm soát mặn, coi mặn cũng là tài nguyên. Ngày nay, với yêu cầu phát triển bền vững và phòng tránh thiên tai cần rà soát lại tiêu chí của hệ thống công trình và phi công trình, nhằm nâng cao đời sống nhân dân và hạn chế can thiệp đến tác động môi trường ở ĐBSCL.

Vừa rồi, tôi có dịp xem phóng sự VTV1 nói về tác động của các công trình thủy điện sông Mekong đối với ĐBSCL, một số nhà khoa học cảnh báo nguy cơ có khi lưu lượng về ĐBSCL gần bằng 0! Đây là ý kiến của những người thích “chém gió” không có kiến thức cơ bản về thủy văn, thủy lực dòng chảy trên sông.

Nghị quyết gần đây của Chính phủ có tinh thần cơ bản nhấn mạnh trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tác động của hệ thống đập thủy điện thượng nguồn sông Mekong và tác động của địa chính trị kinh tế thế giới có nhiều biến động, trong đó có thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản..., đang ngày càng ảnh hưởng mạnh đến ĐBSCL, do đó cần tích cực điều chỉnh lại sách lược và chiến lược thích hợp để chủ động tiếp tục phát triển kinh tế ĐBSCL theo hướng ổn định và bền vững. Có thể  hiểu một cách nôm na : ”Thị trường là mệnh lệnh của sản xuất” theo chuỗi giá trị hàng hóa, cho nên ĐBSCL đã thay đổi thứ tự ưu tiên trong sản xuất nông nghiệp: thủy sản, cây ăn trái, lúa.

T.V.T.
Tác giả gửi BVN