14/10/2019

Bãi Tư Chính: Việt Nam có dám chạy đua vũ trang với Trung Quốc?

Thường Sơn

Tuyên bố của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc vào ngày 18 tháng Chín năm 2019, không những khẳng định vùng biển ở Bãi Tư Chính (nằm ở Đông Nam Việt Nam) là thuộc chủ quyền của Trung Quốc, mà còn đòi “Việt Nam phải chấm dứt các hoạt động khoan tìm dầu khí đơn phương tại Bãi Tư Chính,” là chưa từng có, rất có thể là bước dọn đường dư luận quốc tế và dư luận tại đại lục để nhảy sang hành động tiếp biến khó lường: Chiến tranh!

Sau ba lần Trung Quốc gây hấn và lộ rõ ý đồ muốn nuốt gọn Bãi Tư Chính - khu vực màu mỡ nhất về trữ lượng dầu khí và đất hiếm của Việt Nam - vào các năm 2017, 2018 và 2019, giới quan sát chính trị đang đặt dấu hỏi lớn về việc liệu Bộ Quốc phòng Việt Nam có thể gia tăng ngân sách quân sự - khí tài và vũ khí sát thương - để đối phó với Trung Quốc hay không. 

Kịch bản ngày càng lộ rõ là Việt Nam khó có thể tránh thoát nguy cơ một cuộc tấn công quân sự, dù có thể chỉ ở cấp độ chiến dịch, từ phía Trung Quốc. Chiến dịch tấn công này, nếu xảy ra, chắc chắn sẽ diễn ra trên biển và rất gần gũi về mặt kinh tuyến và vĩ tuyến với những mỏ dầu mà Việt Nam đang dự định khai thác nhưng nằm trong “đường lưỡi bò” mới được Trung Quốc vẽ bổ sung.

Bước đầu, Trung Quốc có thể tấn công các tàu hải cảnh của Việt Nam đang bảo vệ Bãi Tư Chính. Sau đó, cuộc chiến sẽ leo thang với sự đụng độ giữa các tàu chiến của hai bên.

Tuy nhiên xét về năng lực hải quân thì cho dù có điều động toàn bộ số tàu chiến và hải cảnh ra Biển Đông, phía Việt Nam cũng chỉ chiếm một phần nhỏ so với tổng lượng tàu chiến và hải cảnh của Trung Quốc, chưa kể hàng chục ngàn tàu “thương mại dân sự,” tức tàu cá được bọc sắt, mà Bắc Kinh tung ra như một đòn chiến thuật biển vào những lúc không cần có mặt tàu chiến.

Trên một phương diện tổng quan hơn, nếu so sánh lượng chi phí quốc phòng từ 4- 5 tỷ USD/năm của Việt Nam với con số 177 tỷ USD/năm của Trung Quốc thì càng quá khập khiễng.

Triển vọng bảo vệ chủ quyền biển đảo sau Hội nghị Trung ương 11

Nguyễn Ngọc Chu

Hội nghị Trung ương 11 đã kết thúc vào chiều ngày 12/10/2019. Điều mà người dân mong chờ nhất không phải là chuẩn bị nhân sự hay báo cáo chính trị cho Đại hội XIII, mà là những quyết định về bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Chưa thấy một nghị quyết công khai, nhưng phát biểu bế mạc hội nghị Trung ương 11, Tổng bí thư (TBT), Chủ tịch nước (CTN) Nguyễn Phú Trọng nêu rõ:"Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo quốc gia trên cơ sở luật pháp quốc tế".

Từ điều này - cũng như trước đó trong phát biểu khai mạc TBT CTN Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị Trung ương cho ý kiến về tình hình Biển Đông - có thể đưa ra 2 nhận xét sơ bộ sau.

1. Tình hình Biển Đông đã được Hội nghị Trung ương 11 thảo luận.

2. “Kiên quyết” thì rõ ràng đương nhiên, nhưng “kiên trì” có thể hiểu là một đường lối “mềm mỏng”. “Kiên trì” theo thoả thuận giữa lãnh đạo cấp cao 2 ĐCS Việt Nam và Trung Quốc về tình hình Biển Đông. Điều này dẫn đến khả năng kiện Trung Quốc ra các định chế tài phán quốc tế chỉ được chia phần dự phòng một cửa rất hẹp.

Hai kết luận

Từ 2 nhận xét trên có thể rút ra 2 kết luận sau đây.

1. Đây là tín hiệu tích cực - rằng Hội nghị Trung ương 11 đã thảo luận về tình hình biển đảo - làm dịu đi phần nào nỗi lo lắng trong nhân dân là Trung ương im lặng.

2. Nhưng chưa làm cho nhân dân yên tâm, rẳng chủ quyền biển đảo đã được cam kết bảo vệ toàn vẹn.

Tại sao?

1. Trung Quốc là kẻ nham hiểm. Trung Quốc có thể tạm thời lắng xuống để cho phía Việt Nam yên tâm là thoả thuận giữa lãnh đạo cấp cao của 2 đảng có hiệu lực. Rồi sau đó lại tiếp tục lấn chiếm.

Sự vô giáo dục của cả hệ thống nhưng người ta vẫn cố duy trì

Chu Mộng Long

Các bạn cần biết, tiền thân của đội Sao đỏ, Cờ đỏ là Hồng Vệ binh thời Cách mạng văn hóa đẫm máu của Mao. Đến lượt Sao đỏ, Cờ đỏ trong nhà trường là lực lượng hậu bị của đội quân Bò đỏ đang tung hoành trên mạng.

Vẫn một bài mẫu đê tiện được huấn luyện từ tấm bé: rình rập, theo dõi, chỉ điểm, bôi nhọ, vu khống, chụp mũ, đe dọa, cắn càn.

Nền giáo dục nào sinh con người đó. Hậu quả là những người tử tế thành nạn nhân và bị đày đọa hoặc chết oan sai.

Thật nhục nhã cho những bậc cha mẹ có con ở trong đội ngũ đó.

C.M.L.

1. Mô hình sao đỏ, cờ đỏ: Huấn luyện chỉ điểm chó săn

Sao đỏ, Cờ đỏ là tàn dư của Hồng vệ binh một thời đẫm máu. Từ trong Cách mạng văn hóa, nỗi sợ hãi vẫn còn ám ảnh người dân Trung Quốc cho đến bây giờ là đội ngũ Hồng vệ binh. Đội ngũ này được huấn luyện từ bé, chúng hăng máu như những chó săn: theo dõi, rình rập, chỉ điểm, vu khống, chụp mũ bất cứ ai. Hàng vạn người chết oan vì Hồng vệ binh.
Việt Nam thời hợp tác xã cũng từng có đội ngũ tương tự. Không biết ngoài Bắc thế nào, chứ quê tôi sau 1975, mấy ông phụ trách đội từng lãnh đạo đám trẻ con chúng tôi làm những điều mà bây giờ nghĩ lại vẫn còn thấy nhục.

Số là những năm đó có phong trào làm phân bắc phân xanh, cho nên hợp tác xã cấm dân ỉa ngoài gò, ngoài đồng. Mỗi nhà phải làm một hố xí hai ngăn để ỉa, xong lấy cứt ủ với lá bông bay làm phân. Dân quê tôi không quen cái món hố xí hai ngăn nên vẫn duy trì ỉa gò, ỉa đồng. Mỗi đứa trẻ chúng tôi được giao làm trống ếch để đi cổ động và bắt "ỉa bậy". Bọn trẻ con chúng tôi hăng lắm. Tờ mờ sớm hoặc tối chạng vạng là kéo nhau đi rình những nơi bà con thường ỉa. Toàn gặp các ông bà cụ. Chờ các cụ vừa thả ra một cục là cả lũ xông ra đánh trống tom tom ôm ỏi cả làng. Xong bắt các ông bà cụ để nguyên hiện trường cho hợp tác xã lập biên bản và hạ nhục. Tóm lại là không ông bà cụ nào ra gò hay ngoài đồng mà thoát được vì tai mắt bọn trẻ con chúng tôi.

Sau những ngày hăng máu đó, tôi bị ba tôi đập cho một trận nên thân và quyết không cho tham gia cái đội mà ba tôi gọi là khốn nạn ấy nữa.

Chưa hết, đội hồng vệ binh quê tôi có cái rọ heo to tướng. Trông những lần sinh hoạt hay họp đội, một số người đau ốm hoặc giả đau bỏ họp là đội hồng vệ binh chúng tôi khiêng rọ đến nhà bắt người ấy bỏ vào rọ và hè nhau khiêng đến trụ sở đội để cho mọi người đấu tố. Và chúng tôi cũng làm rất hăng chứ có biết đúng sai gì đâu?
Còn nhiều chuyện nữa. Khi nào rảnh tôi sẽ viết thành hồi ký về cái thời hồng vệ binh ấy.

Nhân Báo mới đăng bài "Đã đến lúc dẹp bỏ đội Sao đỏ" (1), tôi đăng lại bài tôi đã viết từ mấy tháng trước. Không chỉ Sao đỏ trẻ con mà còn có món Cờ đỏ ở các cấp học cao hơn chuyên làm chó săn, chỉ điểm. Đó là một mô hình vô giáo dục hay lối giáo dục phi nhân tính của bọn mà Lenin gọi là "vô sản lưu manh" nắm quyền lực.


2. Huấn luyện chỉ điểm, chó săn

Bài trước tôi nói về phương pháp dạy học đang diễn ra giống như thuần hóa động vật và xiếc thú. Bài này tôi nói đến một trò khác trong giáo dục, còn nguy hiểm hơn trò thuần hóa động vật hay xiếc thú: trò huấn luyện chỉ điểm, chó săn gọi là Sao đỏ, Cờ đỏ!

Một lần ngồi uống cafe với các học viên tại chức, có vài giáo viên chia sẻ kinh nghiệm công tác chủ nhiệm. Một giáo viên khoe:

- Em có một chiêu mà công tác chủ nhiệm trở nên rất nhàn. Đó là chiêu ngoài Sao đỏ, còn phân công các bạn theo dõi lẫn nhau. Cô giáo chỉ có một đôi mắt, nhưng học sinh có cả bốn năm chục đôi mắt. Trong lớp, các bạn có vấn đề gì là học sinh sẽ báo ngay cho cô, từ việc tự lập ở nhà cho đến đạo đức tác phong và học hành. Ngay cả đứa nào ở gia đình có vấn đề, em cũng biết tuốt...

Tôi trố mắt, chưa nói gì.

Một giáo viên khác mừng như bắt được vàng:

- Đúng, đúng... Không làm thế thì làm sao theo dõi cho hết được học sinh của mình. Thông tư 30, Thông tư 22 yêu cầu đánh giá luôn hoạt động của học sinh ở nhà thầy ạ.

Một số tổ chức đảng đã rút vào hoạt động bí mật???

Chu Mộng Long

Năm 1930, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, các tổ chức cộng sản đã tổ chức đại hội tại Hương Cảng chính thức hợp nhất ba tổ chức lại làm một thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sau khi diễn ra phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp xác định Đảng Cộng sản là tổ chức chính trị nguy hiểm, bất hợp pháp, tức đặt ngoài vòng pháp luật, và thẳng tay đàn áp.

Khoảng thời gian 1936 – 1939, khi Mặt trận Bình dân thắng cử ở Pháp, Đảng Cộng sản Đông Dương được phép hoạt động công khai, tức hợp pháp. Mặt trận Dân chủ ra đời với phong trào dân chủ sôi nổi.

Sau khi Mặt trận Bình dân tại mẫu quốc bị loại khỏi chính trường, Đảng Cộng sản Đông Dương cũng bị khủng bố và lại rút vào hoạt động bí mật cho đến Cách mạng Tháng Tám.

Thực chất từ 1944 đến suốt 9 năm kháng chiến 1945 – 1954, tổ chức hoạt động công khai trong đối nội và đối ngoại là Mặt trận Việt Minh gồm nhiều thành phần, đảng phái khác nhau. Dù Đảng Cộng sản lãnh đạo, nhưng xét đến cùng vẫn bí mật hoặc bán công khai.

Đảng Cộng sản chỉ hoạt động công khai từ khi chính thức đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam (cùng với đổi tên nước từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).

Như vậy là bởi lý do chính trị phức tạp mà Đảng Cộng sản buộc phải hoạt động bí mật nhiều lần.

Văn nghệ sĩ làm khổ lãnh tụ

Giang Nam

Trong lịch sử loài người, thực ra một lãnh tụ cao cả đến đâu cũng có quyền hưởng một cuộc sống bình thường. Đôi khi có thể khác thường một chút cũng được. Công chúng xưa nay không quá khắt khe với vĩ nhân. Nhất là cuộc đời nhiều khi lâm vào những cảnh huống khó lường. Các triều đại Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn có những chuyện bê bối nhân dân biết cả nhưng vẫn thờ phượng công lao chủ yếu của vua chúa tướng lãnh…Thậm chí đôi nét đời thường của lãnh tụ còn làm người dân cảm thấy gần gũi và có thể học tập được.

Mỹ học chân chính xưa nay đã lập thuyết như vậy. 

Chính vì quan niệm sai lầm và / hoặc bốc đồng mà đám văn nghệ sĩ muốn tỏ lòng mình kính yêu lãnh tụ, tỏ ra mình là người ca tụng giỏi, nên đã ra tay ca tụng một lãnh tụ thoải mái ngôn từ, vô hình trung tạo một vòng vây ngôn từ bao quanh lãnh tụ khiến lãnh tụ trở nên…khó xử.

Quan niệm sai lầm khi “xức dầu thánh” cho lãnh tụ thành thần tượng cao vời vợi, người dân “kính nhi viễn chi”, nên khi hô hào “học tập làm theo” thì lại khó khăn. “Xức dầu thánh” là thi pháp thời trung cổ, đến thời hiện đại trở nên rất lạc hậu, trái lại trở thành hài kịch.

13/10/2019

Không biết sai chỗ nào mà bị Bộ 4T phạt

Ngày 11-10-2019, trên báo VietNamNet đưa tin Bộ TT&TT vừa quyết định xử phạt hành chính 50 triệu đồng, tước giấy phép hoạt động trong 2 tháng đối với Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam do thông tin sai sự thật về tướng Đỗ Hữu Ca qua bài viết đăng trên tạp chí ngày 10-8-2019 có tên: “Biệt phủ lấn sông" của gia đình Thiếu tướng Đỗ Hữu Ca”. Tờ báo phải “đăng cải chính theo quy định”.

Lệnh phạt làm nhiều người trong dân chúng ngac nhiên. Ngay cả khổ chủ là Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, do không biết sai chỗ nào mà bị giáng cho một cú chịu không thấu,  nên đã có Đơn kiến nghị gửi lãnh đạo các cơ quan cao nhất của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và các tổ chức có liên quan nhằm làm sáng tỏ vụ việc.

Nhân đụng đến cái tên Đỗ Hữu Ca, xin trở lại đầu đuôi một chút. Ông Nguyễn Hữu Ca nguyên là Giám đốc Công an TP Hải Phòng, nhờ có công tổ chức một ”trận đánh đẹp” phối hợp giữa công an, quân đội, biên phòng, nhằm cưỡng chế bằng hình thức bạo lực đối với gia đình công dân Đoàn Văn Vươn – vốn là một chiến sĩ quân đội nhân dân, sau khi giải ngũ về quê ở Tiên Lãng Hải Phòng, bèn quyết đem sức mình ra xây dựng đầm tôm làm kinh tế, cải thiện đời sống gia đình và đóng góp của cải cho xã hội. Không ngờ cái thiện chí tốt đẹp của một người đầy sức trẻ như anh lại bị đánh đổi bằng… trận đánh sống mái của tướng Ca.

Vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng xẩy ra vào ngày 5-1-2012, được ông Ca chuẩn bị rất công phu, bài bản, hoàn toàn giống như một trận tập kích vào kẻ thù có tội ác với dân với nước trời không dung đất không tha, cần phải tiêu diệt bằng mọi giá. Ông Ca cho “quân mình” lặng lẽ chèo thuyền áp sát nhà dân, bao vây, rồi nổ súng khiến căn nhà anh Vươn thủng lỗ chỗ, vỏ đạn văng tung tóe. Nhưng do chỗ công dân Đoàn Văn Vươn xuất thân từ quân đội nên đã có kinh nghiệm trận mạc, lại cũng đã cảm nhận được từ sớm cái mâu thuẫn giữa một chính quyền biến chất với người nông dân đang muốn vươn lên làm giàu bằng sức lao động chính đáng của mình, nên đêm trước cuộc tập kích, linh cảm mách bảo cho cả hai vợ chồng đưa đàn con rút ra khỏi nhà, nhờ đó đã không đổ máu.

Và vụ việc động trời lập tức gây tiếng vang khắp nước, đến mức ông Ca được nhân dân tặng cho cái danh hiệu “Caca” (tiếng Pháp có nghĩa là vật phế thải hàng ngày từ con người), nhưng Nhà nước CS thì thăng cho ông lên lon tướng (mà ngôi biệt phủ biết đâu cũng là kết quả của trận đánh tiêu diệt không thành công nhưng “thành danh” ấy – ấy là chúng tôi cứ đặt giả thuyết như vậy, khi nhìn vào hàng đoàn hàng lũ quan chức CS đang bị ông Tổng Trọng lần lượt cho vào lò, trừ phi ông Ca trình ra được hàng tệp “hóa đơn bán chổi đót” trong bao nhiêu năm “do chính ông tự mình lao động đến thối móng tay”!!!).

Về phía vợ chồng công dân Đoàn Văn Vươn, cũng nhờ tinh thần nỗ lực tự vệ bằng “quả bom Đoàn Văn Vươn” tự tạo khiến tên tuổi anh vang lừng trong mọi tầng lớp nhân dân, được nhiều mạng XHDS ca ngợi là người hùng dám thực thi quyền tự vệ chính đáng của mình. Vì thế Nhà nước không còn dám phũ phàng ra tay như dự định ban đầu. Và số phận của gia đình anh bỗng trở nên có hậu, không rơi vào tình cảnh cay đắng của hàng trăm nghìn gia đình nông dân khác trên khắp nước, như các vùng Thủ Thiêm, Lộc Hưng sau này. Sau khi đi tù ngắn hạn trở về anh và vợ con lại bắt tay làm lại, đời sống lần hồi khấm khá  dần. Hy vọng đây sẽ là hạt nhân nòng cốt của một xã hội mới trong xu thế chuyển đổi nay mai.

Trở lại với tai nạn của tạp chí Luật sư Việt Nam, xin mời độc giả xem một số bài viết cụ thể dưới đây.

Bauxite Việt Nam

1. Thông tin của VietnamNet về quyết định xử phạt:

Phạt tạp chí Luật sư Việt Nam do thông tin sai sự thật về Tướng Đỗ Hữu Ca

Bộ TT&TT vừa quyết định xử phạt hành chính 50 triệu đồng, tước giấy phép hoạt động trong 2 tháng đối với tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam do thông tin sai sự thật.

Cục trưởng Cục Báo chí (Bộ TT&TT) Lưu Đình Phúc hôm nay ký quyết định xử phạt tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam vì đã vi phạm hành chính thông tin không đúng sự thật gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng trong bài viết "Biệt phủ "lấn sông" của gia đình Thiếu tướng Đỗ Hữu Ca - nguyên Giám đốc Công an TP Hải Phòng" đăng ngày 10/8.

Vi phạm quy định tại điểm a, khoản 5, điều 8 nghị định 159/2013-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản.

Với vi phạm trên, tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam bị xử phạt 50 triệu đồng. Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động báo chí số 164/GP-BTTT ngày 20/4/2017 của Bộ TT&TT trong thời hạn 2 tháng.

Ngoài ra, tạp chí phải cải chính theo quy định. 

Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử phạt, nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

T.Nam

Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/phat-tap-chi-luat-su-viet-nam-do-thong-tin-sai-su-that-ve-tuong-do-huu-ca-576220.html

Quân Việt Nam Cộng hòa cũng không dự trận Normandie!

Ngô Nhân Dụng

October 11, 2019

Người Syria và người Kurd di tản, chạy trốn khỏi cuộc tấn công của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ vào các khu vực do người Kurd kiểm soát ở phía Đông Bắc Syria hôm 11 Tháng Mười, 2019, tại thị trấn Tal Abyad, Syria. (Hình: Delil Souleiman/AFP via Getty Images)

Các chính phủ Nixon và Ford rút quân rồi ngưng viện trợ từ năm 1973 đến 1975, bỏ mặc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu cho đến khi kiệt lực. Người Việt miền Nam cay đắng mãi, tự hỏi tại sao bạn đồng minh bỏ rơi mình tàn nhẫn như vậy?

Bây giờ, có thể đoán được lý do tại sao, chút đỉnh!

Trước hết, người Mỹ vẫn nói một quốc gia không có bè bạn, chỉ có quyền lợi. Khi hai nước cùng chung một kẻ thù thì có thể hợp tác với nhau, vì quyền lợi chung. Người Việt mình thì quen gọi như thế là “đồng minh.”

Từ năm 1954, nhiều người Việt ở miền Nam nghĩ chế độ Cộng Hòa của mình là “đồng minh” của nước Mỹ. Bởi vì nước Mỹ lúc đó đang tìm cách chống Trung Cộng, không cho bành trướng khắp vùng Đông Nam Á; trong khi dân miền Nam thì chống Việt Cộng, một đảng Cộng Sản đàn em giúp Trung Cộng theo đuổi cùng mục đích đó. Thế thì hai nước là đồng minh chớ còn là chi nữa?

Nhưng bây giờ mới hiểu, có lẽ mình nghĩ như vậy là nhầm to!, Không chắc người Mỹ đã coi mình là đồng minh! Đặc biệt là chính phủ Mỹ. Khi nói đến các lực lượng quân sự đã chiến đấu cùng với quân Mỹ, người Mỹ có thể gọi đó là “bạn chiến đấu” hay “bạn cùng phe,” nhưng nhiều người không gọi là“allies – đồng minh!”

Phát ngôn viên Khối đảng Xanh về nhân quyền trong Quốc hội Liên bang Đức bảo trợ cho Hoàng Đức Bình

Thục Quyên

Bà Margarete Bause, dân biểu Quốc hội Liên Bang Đức, đã cho loan báo trên Facebook(1) chính thức nhận bảo trợ cho ông Hoàng Đức Bình, một nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền và môi sinh Việt Nam, theo chương trình "Dân biểu bảo vệ dân biểu" của Quốc hội.

Trong nhiều năm, bà Bause là chủ tịch đảng Xanh tại bang Bavaria, và thắng cử vào Quốc hội Liên bang vào tháng 9 năm 2017, hiện  đảm trách chức vụ Phát ngôn viên Khối đảng Xanh về nhân quyền trong Quốc hội Liên Bang Đức và một trong 5 Đại diện Khối đảng trong Uỷ Ban nhân quyền Quốc hội liên bang Đức .

Cho biết về động lực làm việc của mình, nữ dân biểu Bause đã viết (2):

Một chính sách đối ngoại có định hướng nhân quyền phải đặt những vi phạm quyền cơ bản này vào trung tâm của mọi quan hệ quốc tế, dù đối với Trung Quốc, Nga, Syria, Yemen, Ai Cập, Myanmar...v.v...:Thủ phạm phải bị bắt chịu trách nhiệm. Tất cả chúng ta hoạt động trong lĩnh vực chính trị, kinh doanh và xã hội dân sự, đều  có trách nhiệm đứng về phía nạn nhân và phía những người bảo vệ nhân quyền dũng cảm.

-------------------------------------------------------------------------------------------

Bản dịch tiếng Việt của tổ chức VETO! Human Rights Defenders‘ Network (VETO! Mạng lưới Người Bảo vệ Nhân quyền) Email: VETO.germany@gmail.com, Web: www.veto-network.org

--------------------------------------------------------------------------------------------

Thông cáo báo chí của dân biểu Margarete Bause, Phát ngôn viên Khối đảng Xanh về nhân quyền trong Quốc hội Liên Bang Đức

Ngày 12 tháng 10 năm 2019, lúc 8g47

Đây là Hoàng Đức Bình – Người bảo vệ nhân quyền và môi sinh Việt Nam

Vì sao doanh nghiệp gỗ Trung Quốc ồ ạt sang Việt Nam đầu tư?

Minh Quân

Ngành gỗ Việt Nam đang xảy ra một hiện tượng rất bất thường: Từ đầu năm 2019 đến nay, số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành chế biến gỗ tăng đột biến, trong đó chủ yếu là các nhà đầu tư đến từ Trung Quốc.

https://1.bp.blogspot.com/-xRRH1FmkBhY/XZvmCawfrxI/AAAAAAAAgo8/Q7kiHIbGXFQECdtMZAs9yPYME-Pqt9J2QCLcBGAsYHQ/s640/Chuyen-la-Doanh-nghiep-go-Trung-Quoc-o-at-sang-Viet-Nam-dau-tu-maxresdefault-1568308190-width1280height720.jpg

Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), 6 tháng đầu năm 2019, tổng số dự án FDI đăng ký đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến gỗ là 44 dự án, trong đó Trung Quốc có tới 29 dự án, chiếm 66%.

Theo phân tích của giới chuyên gia, tuy số lượng các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào ngành gỗ của Việt Nam tăng đột biến nhưng số vốn đầu tư lại khá nhỏ. Theo đó, tổng nguồn vốn đầu tư của 44 dự án là 135,7 triệu USD, bình quân 3 triệu USD/dự án, trong đó số vốn đầu tư bình quân vào một dự án của doanh nghiệp Trung Quốc là 2,4 triệu USD/dự án, còn của các nước khác là 4,3 triệu USD/dự án.

Một điều cũng khá bất thường là, bên cạnh việc tăng mạnh về kim ngạch xuất khẩu lâm sản (7 tháng đầu năm 2019 đạt 6,047 tỷ USD, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2018) thì giá trị nhập khẩu gỗ, lâm sản cũng tăng đáng kể.

Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, giá trị nhập khẩu lâm sản và gỗ 7 tháng đầu năm 2019 đạt 1,457 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ 2018, trong đó Trung Quốc, Mỹ, Cameroon, Chi Lê, Thái Lan là 5 thị trường có giá trị nhập khẩu lớn của Việt Nam, đạt 757,6 triệu USD, chiếm 52% giá trị nhập khẩu.

Các đội tàu của Mỹ liệu có tấp nập Biển Đông?

Lưu Trọng Văn

Sự việc bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh tại Washington DC chính thức công khai các thông điệp và ký kết chia sẻ bài toán năng lượng cùng Mỹ là kết quả của một quá trình từ cả hai phía Việt, Mỹ.

Năm 2018 tại một cuộc hội thảo về khí tự nhiên, không phải... tự nhiên bà Mary Tarnowka, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh là khách mời, và không phải tự nhiên người đại diện của ngoại giao Mỹ lại cảnh báo về "tình trạng thiếu năng lượng nghiêm trọng sẽ xảy ra ở Việt Nam”.

Cũng tại hội thảo này, chuyên gia kinh tế môi trường Lê Việt Phú cho biết: "Việt Nam cần một nguồn năng lượng hỗn hợp đa dạng. Ông nói Việt Nam sẽ không từ bỏ năng lượng than, nhưng sử dụng nhiều khí đốt tự nhiên ít gây ô nhiễm hơn so với than, đồng thời các nguồn năng lượng thay thế khác được phát triển”.

Có nghĩa, khí đốt tự nhiên, khí hoá lỏng đã được chọn lựa cho cuộc chơi năng lượng mới. Bấy lâu năng lượng từ than gây ô nhiễm nặng và phụ thuộc nguồn than của Trung Quốc.

Bấy lâu Trung Quốc là nguồn cung chính khí hóa lỏng cho Việt Nam, trong 8 tháng đầu năm 2018, chiếm 36,4% tổng lượng khí nhập của cả nước với 357,9 nghìn tấn sẽ được bổ sung dần thay thế bằng khí hoá lỏng của Mỹ với hàng loạt nhà máy điện do Mỹ đầu tư ở cả ba miền của Việt Nam.

12/10/2019

Liệu có nhầm không

Nguyễn Đình Cống

Tôi đọc sách Chia tay ý thức hệ của TS Hà Sĩ Phu (HSP), Tự do xuất bản. Đang rất say sưa với những ý tưởng, những nhận xét, những đề xuất rất chính xác, rất phù hợp thì bỗng nhận ra một điều, rằng liệu có phải HSP trước đây đã bị nhầm, như tôi cũng đã từng bị nhầm như vậy. Đó là về vai trò của Mác-Lê ở VN. Từ năm 2012 tôi đã phát hiện ra chỗ nhầm lẫn của mình. HSP viết một ý tương tự với sự nhầm đó trong bài Đôi điều suy nghĩ của một công dân, vào năm 1993. Không biết đến bây giờ ông đã nhận ra chưa.

Nghĩ rằng còn có nhiều người mắc phải nhầm lẫn như vậy nên tôi viết bài này nhằm trao đổi, thảo luận. Liệu tôi đúng hoặc sai bao nhiêu phần trăm trong các lập luận dưới đây. Liệu có phải tôi và HSP bị nhâm hay không.

Xin trích câu của HSP (trang 137, sách đã dẫn): “ Ta biết ơn chiệc thuyền nan đã đưa ta qua sông, nhưng sang bờ rồi mà cứ cắm cúi mang “chiếc thuyền Marxist chỉ huy” trên lưng như cái mai rùa thì tránh sao khỏi bị người ngoài đàm tiếu và người thân nghi ngờ rằng có sự che đậy hoặc cất giấu cái gì trong đó”.

Chiếc thuyền nói về câu chuyện một Hành giả đi tìm đất Phật, gặp con sông, may nhờ tìm được chiếc thuyền nan giúp vượt qua. Sang được sông rồi, Hành giả cõng chiếc thuyền trên lưng, tiếp tục trèo núi.

Tôi cũng như HSP đã dùng hình tượng chiếc thuyền để chỉ việc ĐCSVN mang trên lưng, đội lên đấu Chủ nghĩa Mác-Lê (CNML), cho rằng nhờ nó mà ĐCS đã thắng lớn trong chiến tranh cách mạng và thống nhất đất nước (CTCM). Nhận thức này được nhiều người công nhận, dựa trên suy luận như sau:

a- Đảng CSVN theo CNML.

b- ĐCSVN đã thắng lớn trong CTCM.

c- Suy ra, nhờ CNML mà ĐCSVN đã thắng lớn trong CTCM.

Suy luận tiếp, đã nhờ nó mà thắng lớn thì nó là rất quý giá. Nó rất quý giá thì phải kiên trì và tôn thờ nó.

Những suy luận như trên có hình thức kiểu Tam đoạn luận, nhưng không phải. Đó là kiểu ngụỵ biện, dựa vào 2 tiên đề a và b. Từ 2 tiên đề đó không thể rút ra kết đề c. Nhưng mới nghe qua thấy rất có lý, vì thế nó đánh lừa được nhiều người cả tin (trong nhiều năm tôi cũng ở trong số người đó).

Phản bác suy luận trên không có gì phức tạp, chỉ cần suy nghĩ một chút. Nếu dùng logic thì đặt câu hỏi về “ngoại diên” của a và b. Bằng cách suy luận thông thường thì đặt ra vài câu hỏi để kiểm chứng. Sau đây là vài câu đó : + Bản chất của CNML gồm những vấn đề gì?. + ĐCSVN đã vận dụng những điều gì của CNML, kết quả thế nào? + Những nguyên nhân trực tiếp nào tạo nên thắng lợi của CTCM? + Điều cụ thể nào của CNML tạo nên thắng lợi của CTCM? (đừng nói chung chung).

Đảng cũng như một con người

Mạc Văn Trang

Tôi đăng lên Facebook Stt:“Đảng cũng như một CON NGƯỜI. Anh bảo thủ, cố chấp, tham lam, ích kỷ, lươn lẹo, hèn với giặc, ác với DÂN... thì mấy ai còn tin theo”? Thế là có bạn bảo hãy chứng minh xem nào? Nên đành viết bài này.

Trong bài “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, Tố Hữu Viết: ... “Đảng ta sinh ở trên đời / Một hòn máu đỏ nên Người hôm nay”*... Hình tượng đó rất đẹp. Đảng là một tổ chức được sinh ra (ngày 3/2/1930), như một con người có khôn lớn, trưởng thành, sống và hoạt động với ước mơ, khát vọng, có thành công và thất bại, có mối quan hệ máu thịt với đồng bào với bạn bè và nhân loại...

Vừa ra đời “anh chàng” Đảng lớn lên như Phù Đổng, đầy khí phách và khát vọng ... Anh bồng bột, vội đem một ít lý thuyết vừa học được ở Nga Xô về, tuyên bố: “Phản đế, phản phong”, “võ trang, cướp chính quyền”, làm “cách mạng thổ địa”, “bỏ qua giai đoạn tư bổn chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội”... Anh rất sôi sục, máu lửa, nêu ra khẩu hiệu cực đoan: “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”! Rồi tuyên truyền, phát động tài tình, làm ngay cuộc “Khởi nghĩa Xô viết Nghệ - Tĩnh” (9/1930 – 1931) lôi cuốn mấy vạn công nhân và nông dân biểu tình, vũ trang cướp chính quyền... Nhưng bồng bột, quá nôn nóng, không lượng sức mình nên thất bại đau đớn...

Sau bài học xương máu Nghệ - Tĩnh, “anh chàng” Đảng dẫu bị tổn thương nặng nề, vẫn vượt qua mọi sự khủng bố, tù đầy, tra tấn, “giữ vững chí khí chiến đấu” với niềm tin mãnh liệt sẽ tiếp tục tổ chức quần chúng vũ trang, cướp chính quyền! Và thế là cuộc “Nam kỳ khởi nghĩa” lại nổ ra (tháng 11/1940) ở Sài Gòn và mấy tỉnh. Nhưng vẫn bị “dìm trong máu lửa, lại vùng đứng lên”!...

Qua biết bao thất bại, chàng Đảng rút ra bài học xương máu, trưởng thành, già dặn hơn: “Thép nung càng luyện, càng tôi, càng bền.”*... Chàng vẫn vững Niềm tin và Khát vọng đánh đổ Đế quốc, Phong kiến, giành lại Độc lập, Tự do cho Dân tộc, ruộng đất cho người cày; đem lại xã hội tự do, bình đẳng, giai cấp công, nông (Búa và Liềm) lên ngôi, làm chủ xã hội... Giấc mơ nước Nga Xô viết lúc nào cũng vẫy gọi phơi phơi, thiết tha...

Hình ảnh Đảng lúc đó như vậy đã khiến bao người dân cảm phục, mến thương, bao bọc, nuôi giấu như đứa con yêu quý, ruột thịt của mình... “Đảng ta muôn vạn tấm lòng, niềm tin”*...

Lý tưởng sáng ngời, Khí phách hiên ngang, Đức hy sinh vì Nước vì Dân của Đảng đã làm rung động bao trái tim yêu nước và những tấm lòng thiết tha với Độc lập cho Tổ quốc, Tự do, Hạnh phúc cho Nhân dân... Vì thế không chỉ những người cùng khổ quyết theo Đảng để mong có cơm no, áo ấm, “bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình”, mà biết bao người địa chủ, tư sản, nhân sĩ, trí thức, quan lại... tầng lớp tinh hoa của dân tộc cũng hết lòng ủng hộ “anh chàng Đảng ta”...

Trung Quốc dùng hình thức áp chế mới ở Biển Đông

Thái An dịch

Những ngày này, người ta ít nghe đến các hoạt động xây dựng quy mô rầm rộ của Trung Quốc ở Biển Đông - điều mà cách đây không lâu khiến các nước láng giềng và Mỹ lo ngại cũng như lên án.

Giai đoạn mới trong yêu sách chủ quyền

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc Trung Quốc trở nên 'thu mình' hơn trong vùng biển có diện tích khoảng 3,5 triệu km2 này. Ngược lại, Trung Quốc dường như cho rằng, các đảo nhân tạo phi pháp họ lập nên ở Biển Đông cho phép họ mở ra một giai đoạn mới của việc tự khẳng định, tự yêu sách trước các quốc gia Đông Nam Á có chủ quyền trong vùng biển.

Trung Quốc xây dựng đảo phi pháp tại đá Chữ Thập. Ảnh: Digital Global

Bắt đầu từ 2013, 7 hòn đảo nhân tạo mọc lên từ các bãi ngầm xa xôi mà Trung Quốc kiểm soát phi pháp. Lãnh đạo Trung Quốc đã cam kết các hoạt động của nước này chỉ phục vụ cho lợi ích chung - một sự cam kết được chứng tỏ thực tế khi những công trình xây dựng phá hủy môi trường sinh thái, các hệ thống tên lửa được lắp đặt, radar quân sự mọc lên và những boong-ke được tăng cường cho máy bay chiến đấu.

Nếu vấn đề địa hình không còn là tâm điểm, đó là bởi phần lớn các đảo nhân tạo phi pháp đã hoàn thành.

Hệ thống cầu cảng mới và cơ sở hậu cần giúp Trung Quốc phô diễn sức mạnh ở tầm xa hơn. Các tàu khảo sát của Trung Quốc đi tìm kiếm dầu khí ở những vùng biển tranh chấp chạy tới chạy lui giống như “máy cắt cỏ” - Bill Hayton thuộc Chatham House - một viện nghiên cứu của Anh mô tả

Hành xử của Trung Quốc với Việt Nam thực sự đáng báo động. Năm 2014, Trung Quốc đã kéo một giàn khoan dầu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Giàn khoan sau đó đã được kéo đi, nhưng gần đây, Trung Quốc lại tiến thêm một bước mới, lớn hơn.

Ở một nơi trên Biển Đông, hơn chục tàu hải cảnh của Trung Quốc tuần tra qua lại xung quanh hai bãi ngầm, nơi trước đây họ không hiện diện thường trực. Bãi cạn Second Thomas (bãi Cỏ Mây) ở phía tây Philippines và bãi cạn Luconia ngoài khơi đảo Borneo thuộc Malaysia.

Các hoạt động khẳng định yêu sách chủ quyền, trong đó có tuần tra với mục tiêu khiến các nước khác cuối cùng có thể chấp thuận thực tế kiểm soát của Trung Quốc. Trong khi đó, một số tàu thăm dò, (kèm tàu hộ tống) xâm nhập vùng biển Việt Nam và Malaysia.

Liệu Mỹ có tiến hành chiến tranh thương mại với Việt Nam hay không?

James Riedel & Markus Taussig

Trần Mẫn Linh dịch 

Lê Hồng Hiệp biên tập 

Ngày càng có nhiều lo ngại rằng chiến tranh thương mại Mỹ – Trung sẽ lan sang Việt Nam. Một cách hợp lý để tiếp cận vấn đề là nghiên cứu logic đằng sau thương chiến Mỹ -Trung, sau đó đánh giá liệu logic tương tự có thể dẫn đến một cuộc chiến thương mại Hoa Kỳ – Việt Nam hay không. Tuy nhiên, vấn đề với cách tiếp cận này là thương chiến Mỹ – Trung không tuân theo logic kinh tế.

Lý thuyết kinh tế và bằng chứng thực nghiệm chứng minh rằng thương mại quốc tế tự do nói chung là một trò chơi có tổng dương mà trong đó cả hai bên đều được lợi từ thương mại. Chúng cũng chỉ ra rằng các cuộc chiến thương mại nói chung là một trò chơi có tổng âm, nghĩa là cả hai bên đều thua. Chắc chắn là ở mỗi nước sẽ có người được và người mất khi tham gia vào thương mại tự do hoặc chiến tranh thương mại, nhưng từ góc độ quốc gia, thương mại tự do đem đến lợi ích còn chiến tranh thương mại gây ra tổn thất.

Chính sách kinh tế đúng đắn sẽ xảy ra khi các nhà hoạch định chính sách hết sức cân nhắc những sự đánh đổi không thể tránh khỏi từ các chính sách của họ. Khi một nhà hoạch định chính sách như Tổng thống Mỹ Donald Trump từ chối công nhận sự tồn tại của các lợi ích khác nhau ở trong nước và bỏ qua hệ quả không thể tránh khỏi từ các lựa chọn chính sách, thương chiến kéo dài với Trung Quốc là điều không đáng ngạc nhiên.

Logic chiến tranh thương mại của Trump dựa trên một chuỗi các giả thuyết sai. Trump cho rằng thâm hụt thương mại là sự chuyển giao của cải cho người nước ngoài (thâm hụt thương mại là thước đo lượng giá trị mà người nước ngoài đang “đánh cắp từ chúng ta”). Ông kiên quyết từ chối thừa nhận rằng thặng dư mà Trung Quốc kiếm được khi bán cho Hoa Kỳ nhiều hơn lượng họ mua về sẽ chảy ngược lại Hoa Kỳ qua việc Trung Quốc mua các tài sản chính phủ và tư nhân của Hoa Kỳ.

Chế độ dân chủ mong manh

Dani Rodrik

Phạm Nguyên Trường dịch

Không bảo vệ được quyền của các nhóm thiểu số là hệ quả dễ hiểu của logic chính trị của quá trình hình thành chế độ dân chủ. Chế độ dân chủ tự do là hiện tượng tương đối hiếm, nhưng đấy không phải là điều cần giải thích mà cần giải thích vì sao nó vẫn tồn tại được.

https://1.bp.blogspot.com/-bWlNw8j7o7A/XZ80c2wtncI/AAAAAAAAET8/M381d4AZGrc9TQJtJodIVPxmSPifjZaTACLcBGAsYHQ/s640/13a89c9e1d76236a399b5b2630c03d3d.2-1-super.1.jpg

Trong tiểu thuyết Red Birds (Những con chim màu đỏ) của Mohammed Hanif có đoạn nói về một máy bay ném bom Mỹ rơi trong sa mạc Ả Rập và viên phi công bị kẹt lại cùng với dân chúng địa phương trong một trại tị nạn gần đó. Viên phi công nói với một chủ cửa hàng về những tên trộm: “Chính phủ của chúng tôi là thằng kẻ trộm lớn nhất”, anh ta giải thích: “Nó ăn cắp của cả người sống lẫn người chết”. Người bán hàng trả lời: “Lạy Chúa, chúng tôi không có vấn đề đó. Chính chúng tôi ăn cắp lẫn nhau”.

Chi tiết nhỏ này đúng là bản tóm tắt thông điệp chính của tác phẩm vừa được xuất bản của Daron Acemoglu và James Robinson: The Narrow Corridor: States, Societies, and the Fate of Liberty  (Hành lang hẹp: Các quốc gia, các xã hội và Số phận tự do). Luận đề của Acemoglu và Robinson là triển vọng của tự do và thịnh vượng nằm trong một khe hẹp giữa áp bức của nhà nước và tình trạng vô luật pháp và bạo lực mà xã hội thường tự gây ra cho mình. Cho nhà nước quá nhiều quyền lực đối với xã hội thì sẽ là chế độ chuyên chế. Để cho nhà nước yếu trước xã hội thì sẽ xảy ra tình trạng vô chính phủ.

Như nhan đề cuốn sách đã chứng tỏ, chỉ có “một hành lang hẹp” giữa hai dystopias (phản địa đàng, từ gốc Hi Lạp, dùng để chỉ các xã hội phát triển theo hướng tiêu cực hoặc đáng sợ - ND), một con đường rất nhỏ mà chỉ một ít quốc gia, chủ yếu là ở phương Tây công nghiệp hóa, đã tìm được. Hơn nữa, bước được lên con đường không chắc chắn là sẽ tiếp tục đi trên đó. Acemoglu và Robinson nhấn mạnh rằng trừ khi xã hội dân sự luôn luôn cảnh giác và có thể huy động lực lượng nhằm chống lại những kẻ có thể trở thành độc tài, khả năng quay lại chế độ độc tài luôn luôn hiện hữu.

11/10/2019

Biết “dại” nhưng vẫn đặng chẳng đừng

Nguyễn Đình Ấm
Tôi quan niệm giá trị cuộc sống không chỉ vật chất. Đời người chỉ sống một lần nên phải làm gì có ích cho nhân dân, tổ quốc, gia đình, khi chết đi phải để lại dấu ấn tốt đẹp gì đó cho những người biết mình. Tôi không thể sống như một con vật chịu hèn, chịu nhục để hưởng sự bình yên nên biết “dại” những vẫn cứ đặng chẳng đừng.

Tôi có nhiều bạn cũ từ thời học phổ thông, ở quân đội, thời học đại học báo chí và  làm báo quốc doanh với nhiều kỷ niệm thân thương. Trong số hàng trăm bạn bè đó có những người đã chết, người không còn liên lạc, số còn lại hễ cứ gặp là mừng rỡ hàn huyên...
Tuy nhiên, từ thời có mạng Internet tôi viết blog, chơi facebook nói lên quan điểm chính trị, tâm tư của mình với đất nước, nhà cầm quyền, ngoại xâm, nhân tình, thế thái; viết bài chống  cướp đất, tham nhũng, bất công, tham gia những cuộc biểu tình chống TQ, bảo vệ cây xanh, môi trường, bị an ninh bắt về đồn câu lưu, canh cổng uy hiếp tinh thần, cản trở đi lại... thì quan hệ của nhiều bạn cũ với tôi bị phân hóa. Trong số bạn còn quan hệ với tôi, khoảng 1/3 im lặng,1/3 sợ hãi xa lánh, có bạn như  NTT cùng học lớp báo khóa 3 với tôi quê Hải Dương còn thừa nhận sợ đến mức rút khỏi bạn facebook với tôi và Phạm Thành. Trong số này tôi cũng chủ động lánh xa họ vừa bảo đảm an toàn cho bạn vừa không muốn nghĩ đến những con người ấy. Trong số bạn thân còn lại  một vài bạn rất chân thành khuyên tôi, đại loại như thế này:
- Cả đời vất vả bây giờ có nhà cửa đàng hoàng, con cái đã lớn nghỉ ngơi hưởng thụ chút sao lại dại dột làm trái ý đảng, nhà nước để gây phiền hà, nguy hiểm cho mình, gia đình, người thân...
Một số người thân thiết hơn thì nói thẳng:
- Tuổi này, sức này liệu có chịu được ngồi tù ăn đói, mặc rét, lao động khổ sai bị quản giáo sai đầu gấu hành hạ, đánh đập, bắt chăn kiến, phải quạt thâu đêm cho đầu gấu ngủ trong mùa hè nóng khủng khiếp, người thân bị gây khó dễ không? Bây giờ ra đường nó chỉ  liệng cho miểng gạch vào đầu, vụt cho phát dùi cui vào cổ  như cô Thúy Nga, Bùi Hằng, Chí Tuyến…không chết ngay thì khổ vợ con... Đảng CS bây giờ nắm mọi quyền hành, công an, quân đội, mọi thứ tài nguyên, tài sản quốc gia lại là con nuôi của Trung Quốc những người như các vị chỉ là hạt bụi mịn!...
Tôi biết những hiểm họa với tôi cũng như những người bất đồng chính kiến còn nhiều, khủng khiếp hơn những gì họ nói. Quả là mình “dại” nhưng sao vẫn đặng chẳng đừng? Nay tôi xin thành thật với các bạn:

1 - Tôi “cuồng” yêu giang sơn, tổ quốc
Nói ra điều này, có thể hầu hết công an, cán bộ cao cấp, báo quôc doanh, dư luận viên...đã, đang hưởng nhiều ân huệ của nhà cầm quyền (thực ra họ không có gì chỉ thu của dân rồi phân phát cho bộ máy của họ mà thôi) sẽ “suy bụng ta ra bụng người” không tin, cho tôi là “lợi dụng yêu nước” để hành động chống phá đảng CS, chính quyền, gây rối... Cũng nhiều người dân nghĩ là tôi nói dối, không thật lòng, vì không thể tin cỡ “con sâu, cái kiến” mà dám làm điều trái ý đảng đang nắm toàn bộ vận mệnh từng người dân, họ không thể tưởng tượng được có người lại dại dột đến thế. Theo họ, yêu nước là phải như những gì TV, đài, báo, loa phường nói.

Thấy gì từ hội thảo Bãi Tư Chính ở Hà Nội?

Thường Sơn

Người ta có thể ngạc nhiên khi nhìn thấy những gương mặt khách mời chính thức của hội thảo này...

Cuộc hội thảo khoa học về vùng biển Bãi Tư Chính và luật pháp quốc tế do Viện Nghiên cứu Chính sách Pháp luật và Phát triển tổ chức tại Hà Nội vào ngày 6/10/2019.

https://1.bp.blogspot.com/-EH9JhW9Y0g4/XZ03G7g5RII/AAAAAAAAgp0/YN00zJvfTwMiVhB62YrDbZ13jWYmv5uigCLcBGAsYHQ/s640/toadambiendong2019aaa_960.jpeg

Hội thảo trên đã bị đảng chỉ đạo hoãn lại khi định tổ chức vào ngày 22/9/2019, với một lý do rất vớ vẩn như ‘để có thời gian chuẩn bị chu đáo hơn’. Nhưng đó lại là thời điểm gần sát ngày quốc khánh Trung Quốc - sự kiện mà toàn thể Bộ Chính trị Việt Nam, trong lúc tuyệt đối ‘câm như hến’ về Bãi Tư Chính và cái tên Trung Quốc, vẫn mở miệng chúc tụng Bắc Kinh.

Rõ ràng, chủ đề hội thảo và thành phần tham dự hội thảo trên - điều mà trước đây chưa bao giờ được diễn ra và cũng chưa bao giờ có dấu hiệu được chấp thuận bởi bất kỳ cơ quan đảng hay chính quyền nào - là quá nhạy cảm và thách thức đối với chính thể độc tài ở Việt Nam.

Vậy tại sao hội thảo về Bãi Tư Chính, với thành phần nhiều trí thức đã bị đảng xem là ‘phản động’, lại diễn ra êm thắm vào ngày 6/10 tại Hà Nội?

Phải chăng đảng áp dụng chiến thuật ‘xả xu páp’ trước phản ứng của nhân dân đối với Trung Quốc và với cả sự im lặng đớn hèn của đảng, nên cho tổ chức hội thảo theo cách mị dân và tỏ ra một chút dân chủ?

Nhưng khả năng trên là rất khó xảy ra. Trước đây, thỉnh thoảng cũng diễn ra một cuộc hội thảo, tọa đàm về xã hội dân sự, nhưng nội dung chỉ rất chung chung và thành phần tham dự hầu như không có mặt ‘phản động’. Bởi thế, nếu cho tổ chức hội thảo Bãi Tư Chính chỉ để mị dân, người ta sẽ chỉ nhận ra toàn ‘quân ta’ mà khó lòng lọt vào phòng họp một gương mặt ‘phản động’ nào.

Hay phải chăng đảng cầm quyền đã ‘hồi tâm’ và muốn lắng nghe tiếng nói phản biện của trí thức nên mới cho  hội thảo này diễn ra suôn sẻ?

Phải chăng ông Trọng không biết sự thật?

Nguyễn Đình Cống

Sau khi đọc bài báo của tôi:“Ông Trọng nói tới Biển Đông để làm gì?”, một người bạn bình luận: “Có thể  ông ấy không biết chuyện gì ở Bãi Tư Chính chứ không phải  biết rõ mà ngậm miệng”.

Tôi trả lời rằng việc đó có thể xẩy ra với một xác suất rất bé, mà nếu có xẩy ra thì lỗi chính thuộc về ông ấy đã tạo tiền đề để bị bưng bít thông tin. Xin kể vài chuyện về việc các bậc bề trên bị bưng bít như vậy.

Chuyện 1- Năm 1955-56, sai lầm trong cải cách ruộng đất xẩy ra khắp nơi, các lão thành cách mạng ở Nghệ An tìm mọi cách liên lạc để báo cáo với Hồ Chí Minh nhưng đều bị chặn. Mãi đến giữa năm 1956, khi nỗi oan khuất đã thấu tận Trời cao thì Hồ Chí Minh mới biết.

Chuyện 2- Vào những năm đầu thập niên 1980, dân Việt bị lâm vào đói kém kiệt quệ, nhưng ông Trường Chinh, Chủ tịch Quốc hội vẫn không biết, mãi cho đến năm 1986, nhờ sự dũng cảm của một số người thân cận vạch ra, ông mới thấy và dẫn đến ĐH 6, đổi mới.

Chuyện 3- Tề Hoàn Công ( bên Tàu, khoảng 700 năm TCN), nhờ sự phò tá của các bậc trung thần mà làm cho dân giàu nước mạnh. Nhưng rồi các trung thần, phần bị chết, phần bị xa lánh và Tề Hoàn Công lại thân cận với bọn nịnh thần vừa tham lam, vừa ngu dốt. Bọn này ngăn cản, bưng bít mọi thông tin và cô lập ông với Triều đình, đến nỗi Hoàn Công không biết gì về sự thật của đất nước, bị chết trong cô độc, các con tranh ngôi chém giết nhau.

Khi bề trên bị thiếu  thông tin người ta thường đổ lỗi cho cấp dưới, cho tham mưu, vì chính những người này bưng bít. Nhưng hãy hỏi: Tại sao họ bưng bít và bưng bít như vậy để làm gì?, tại sao bề trên lại thích dùng loại cấp dưới như vậy?.

Một trong những câu trả lời chính xác là tại cấp trên thích loại cấp dưới nịnh bợ, muốn họ  nhất nhất theo ý mình, không chịu nghe những lời trung thực trái tai. Loại bề trên như vậy dễ bị bưng bít thông tin, không thể biết được sự thật, dễ bị lừa dối rồi lại đi lừa dối người khác.

Vậy liệu Nguyễn Phú Trọng có biết thông tin về Bãi Tư Chính hay không?. Có thể có hoặc không.

Sợ

Từ Thức

Một bên là những người tay không. Một bên là một lực lượng đàn áp hùng hậu, tàn bạo hơn thú dữ. Trước cái can đảm phi thường của dân Hong Kong, người ta đặt câu hỏi: Họ có biết sợ không?

Denise Ho, một trong những lãnh tụ Hong Kong trả lời: Trước đây, chúng tôi đã sợ hậu quả của sự im lặng, ngày nay chúng tôi không biết sợ nữa.

Sợ là một tình cảm tự nhiên. Người xưa tóm tắt tình cảm của con người bằng bốn chữ: hỉ, nộ, ái, ố. Có lẽ phải thêm chữ thứ năm: sợ. Sợ là một phản ứng tự vệ, sống còn. Con nai không biết sợ sẽ làm mồi cho cọp, báo.

J.P Sartre: “Những người không biết sợ không phải là những người bình thường. Không liên hệ gì tới sự can đảm”. Francois Mitterrand: “Can đảm là chế ngự cái sợ, không phải là không biết sợ”, không nói khác gì hơn Nelson Mandela: “Tôi hiểu được can đảm không phải là không biết sợ, nhưng là khả năng chiến thắng sự sợ hãi”.

KHÔNG CÓ THỜI GIỜ

Denise Ho và những người xuống đường Hong Kong đã chế ngự được cái sợ công an, cảnh sát, súng đạn hay cái chết, bởi vì có cái sợ lớn hơn: mất tự do, sống như nô lệ suốt đời dưới ách Trung Cộng.

Khi đã lâm cuộc, cái sợ biến mất, hay giảm đi. Ngạn ngữ La Mã: Cái can đảm tăng lên, khi người ta dám hành động; cái sợ tăng, khi người ta do dự.

Aissatou Barry nói: Tôi không có thời giờ để sợ. Aissatou là một thiếu nữ 12 tuổi, người Guinée, sáng lập và đứng đầu một tổ chức chống tệ nạn gả bán các bé gái vị thành niên. Aissatou quên sợ, khi tay không, tới đám cưới các thiếu nữ vị thành niên để phản đối, gây rối loạn, ăn đòn, cho tới khi cảnh sát phải can thiệp. Và cảnh sát bắt buộc phải huỷ bỏ đám cưới, vì luật Guinée ngày nay đã cấm hôn nhân vị thành niên. Aissatou đã cứu được 9 bé gái, trong một nước 52 phần trăm thiếu nữ vẫn bị gả bán khi chưa tới tuổi trưởng thành.

BẠO LỰC VÀ KINH HOÀNG

Võ khí của các chế độ độc tài là bạo lực. Mục đích của bạo lực là phủ cái kinh hoàng lên khắp xã hội để người dân sợ. Sợ tới độ không dám chống đối, không dám nhìn, nghe, nói, không dám có ý kiến riêng, không dám suy nghĩ nữa.

René Lenoir: “Khi một cá nhân sợ, họ trao tự do của mình cho một chính quyền mạnh, trở thành hoàn toàn vô trách nhiệm” (Lorsque les individus ont peur, ils abandonnent leur liberté à un pouvoir fort, ils se déresponsabilisent totalement). Cá nhân khi đó khoán trắng đời mình cho nhà nước, trở thành hoàn toàn thờ ơ, và từ đó đi tới vô cảm.

Điều gì khiến chế độ cộng sản Trung Quốc sống lâu hơn?

An Viên lược dịch

Năm 1989, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sống sót sau sau tình trạng bất ổn, điều mà chế độ cộng sản ở châu Âu không làm được.

Vừa qua, Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa kỷ niệm 70 năm ngày lập quốc, và theo quan điểm của nhiều nhà phân tích cho thấy, có sự khác biệt của chế độ cộng sản Trung Quốc.

https://1.bp.blogspot.com/-FQNk8TSllco/XZ4IHcEStqI/AAAAAAAAES8/sDOdmDwViYgx8ons7Roo-MxgIxrxR1BLQCLcBGAsYHQ/s640/Unknown-2.jpeg

Martin K. Dimitrov, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Tulane đã trả lời phỏng vấn xoay quanh vấn đề này.

Hỏi: Các quốc gia cộng sản như Liên Xô - đã sụp đổ nhiều năm trước. Tại sao các chế độ cộng sản này thất bại, và điều gì giải thích cho khả năng hồi sức của Trung Quốc và Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ)?

Martin K. Dimitrov: Các học giả chưa đạt được sự đồng thuận về câu hỏi này, nhưng theo tôi, có ba yếu tố làm tăng đáng kể khả năng sụp đổ: môi trường quốc tế khắc nghiệt, sự tự chuyển hóa – diễn biến của tầng lớp tinh hoa và sự bất mãn hàng loạt. Năm 1989, cả Trung Quốc và Đông Âu đều trải qua những vụ tự diễn biến – chuyển hóa và sự bất mãn hàng loạt. Trung Quốc đã có thể dập tắt các cuộc biểu tình thông qua đàn áp, trong khi hầu hết các quốc gia Đông Âu cố gắng không dùng đến phương cách đó. (Romania đã làm, với hậu quả khiến cho chế độ sụp đổ nhanh hơn.)

Sự khác biệt quan trọng là sự bất mãn hàng loạt ở Trung Quốc chỉ giới hạn ở 1/5 dân số, và nằm ở nhóm dân thành thị, trong khi nhóm người tự diễn biến – chuyển hóa thuộc tầng lớp tinh hoa là hiếm hoi. Tổng Bí thư Trung Quốc Triệu Tử Dương là một người nằm trong nhóm thiểu số ủng hộ những người biểu tình.

Ở Đông Âu, có sự bất mãn lây lan ở cả nông thôn lẫn thành thị. Và ở các nước Đông Âu như Cộng hòa Dân chủ Đức, các phe phái cải cách trong đảng mạnh đến mức họ có thể bỏ phiếu để truất phế những người đương nhiệm cứng rắn ra khỏi chức vụ. Tuy nhiên, các xung lực cách mạng mạnh mẽ đã khiến những nhà lãnh đạo đảng mới này chỉ tồn tại trong một vài tháng và sau đó hệ thống hoàn toàn sụp đổ.

Một sự khác biệt khác là với môi trường quốc tế.

Ở Đông Âu, các tư tưởng phương Tây chảy vào nhưng vốn ở ngoài. Ở Trung Quốc, vốn chảy vào nhưng ảnh hưởng của phương Tây ít lan tỏa.

Đông Âu cũng thành lập một khối quân sự và kinh tế với Liên Xô, giới hạn khả năng của những người cứng rắn chính trị nhằm tồn tại bên cạnh một nhà lãnh đạo cải cách của Liên Xô, Mikhail Gorbachev. Yếu tố này không có mặt ở Trung Quốc.

Vì những lý do này, đàn áp có nhiều khả năng thành công ở Trung Quốc hơn ở Đông Âu. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thực hiện một canh bạc có tính toán để triển khai lực lượng chống lại những người biểu tình chiếm Quảng trường Thiên An Môn. Và điều này đã được đền đáp. Tuy nhiên, sự sống còn của chế độ không đồng nghĩa với khả năng phục hồi - kể từ năm 1989, Trung Quốc đã đảm bảo khả năng phục hồi thông qua những thay đổi thích nghi liên tục nhằm trói buộc giới tinh hoa và quần chúng với chế độ, để tránh một Thiên An Môn khác.