18/02/2020

Tại sao Liên minh Châu Âu thông qua Hiệp định thương maị tự do với Việt Nam?

Vũ Ngọc Yên

Vào ngày 12.02.2020 Nghị viện Âu châu (EP) đã bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA) giữa Liên minh châu Âu (EU) và  Việt Nam. Theo kết quả biểu quyết, EP đã thông qua EVIPA với tỷ lệ 407 phiếu ủng hộ, 188 phiếu chống và 53 phiếu trắng. Trong khi đó, EVFTA được thông qua với tỷ lệ 401 phiếu ủng hộ, 192 phiếu chống và 40 phiếu trắng. Như vậy sau nhiều năm thương thảo, rà soát pháp lý và giải quyết nhiều phát sinh liên quan đến thẩm quyền phê chuẩn, Hiệp định EVFTA đã được đa số Nghị sĩ Âu châu chấp thuận.

Qua  các cuộc đối thoại Nhân quyền giữa đại diện EU và chính quyền CSVN, tin tức và tài liệu của các tổ chức xã hội dân sự Việt nam về tình trạng tù nhân chính trị, thảm trạng 39 người Việt bị chết cóng trong thùng xe tại Essex vào ngày 23.10.2019 trên đường tìm việc làm ở Anh quốc, cũng như thảm sát Đồng Tâm-Hà nội vào ngày 09.01.2020, Nghị viện Châu Âu hầu như đã được thông tin và nắm vững về thực trạng chính trị và Nhân quyền ở VN.

Trong cuộc biểu quyết, 192 Nghị sĩ đã bỏ phiếu chống phê chuẩn Hiệp định vì những tiêu chuẩn bảo vệ quyền lao động, nhân quyền và môi sinh dưới chế độ độc tài, độc đảng ở Việt Nam chưa được đáp ứng. Ngoài ra còn có 40 phiếu trắng của những nghị sĩ còn nghi ngờ những cam kết của CSVN. Tuy nhiên Hiệp định EVFTA cuối cùng đã được thông qua.

Quốc hội Việt Nam dự kiến sẽ bỏ phiếu thông qua EVFTA trong phiên họp sắp tới vào tháng 5.2020. Nếu được thông qua, thỏa thuận sẽ có hiệu lực trong vòng một tháng sau khi hai bên Việt Nam và EU có thông báo chính thức về việc đã hoàn thành các quy trình pháp lý. EVFTA được Ủy ban châu Âu mô tả là thỏa thuận tự do thương mại tham vọng nhất từng được ký kết với một quốc gia đang phát triển.

Sự kiện này đã đặt ra câu hỏi vì những lý do gì mà EU laị phê chuẩn một Hiệp đinh quan trọng như vậy với  một chế độ CS?

Đừng hòng đánh tráo lịch sử

Phạm Đình Trọng



Ngày 17.2.2020, tròn bốn mươi mốt năm tính từ ngày khởi đầu cuộc chiến tranh mười năm (1979 – 1989) bảo vệ biên cương phía Bắc. Hàng chục ngàn chiến sĩ, đồng bào đã ngã xuống trong cuộc chiến đẫm máu giành đi giật lại từng tấc đất biên cương kéo dài suốt mười năm.
Trên suốt 1400 kilomet đất biên cương phía Bắc thì những mỏm núi đá vôi thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, Hà Giang là nơi những người lính Việt Nam giữ đất của tổ tiên phải giành giật với bọn Tàu Cộng cướp nước ác liệt nhất, dai dẳng nhất, đẫm máu nhất.
Sau trận đánh của một đại đội đặc công giành lại một mỏm đá vôi có kí hiệu là C3 trên bản đồ tác chiến, tôi đã đến Thanh Thủy. Tôi đã bám vào đá tai mèo, đạp lên bột vôi trắng xóa do đạn pháo nung đá thành vôi, leo lên mỏn C3, đã gặp những người lính vừa giành lại C3.
Xuống núi, trong một chiều ảm đạm, giữa cánh rừng bên sông Lô, tôi đã đứng lặng chứng kiến người vợ trẻ, chị Nguyễn Thị Định gục xuống giang tay ôm nấm đất còn in hằn dấu xẻng, nấm mồ chồng chị, Thượng úy Đại đội trưởng Cao Hoàng Việt. Đứa con trai bốn tuổi của vợ chồng anh Việt chị Định đứng cạnh mẹ mắt vô tư chăm chú nhìn theo con chuồn chuồn đỏ từ sông Lô bay đến cứ xập xè bay lượn quanh nấm mồ mới.
Sự hồn nhiên chưa biết đến sự mất mát quá lớn của đứa bé con người lính Cao Hoàng Việt làm cho những người lính chứng kiến càng bùi ngùi, xót xa. Tuần nhang đã cháy hết, người vợ vẫn không rời mộ chồng. Tôi đến bên chị, thắp ba nén nhang mới và hình ảnh người vợ ôm mộ chồng trong cánh rừng chiều ảm đạm ở biên giới Vị Xuyên, Hà Giang mãi mãi ở lại trong tôi

CLB Lê Hiếu Đằng – Tại sao sử «chính thống» chỉ có 11 dòng về cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược 1979?

TƯỞNG NIỆM 41 NĂM CUỘC CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC TRUNG QUỐC Ở BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

Cầu Kỳ Lừa bị giặc xâm lược Trung Quốc phá hủy năm 1979.

Hàng năm cứ đến dịp 17 tháng 2 là các Tổ chức Xã hội Dân sự độc lập như CLB Lê Hiếu Đằng, NoU, Nhóm Vì Môi Trường, Hội anh em Dân chủ… thường đến dâng hoa thắp nhang tưởng niệm đồng bào, chiến sĩ Việt Nam hy sinh trong cuộc chiến biên giới chống Trung Cộng xâm lược (1979-1989) ở Tượng Đức Thánh Trần ở Bến Bạch Đằng, Sài Gòn và ở Tượng Vua Lý Thái Tổ ở Hà Nội hoặc các nghĩa trang liệt sĩ chống Trung Cộng xâm lược.
Năm nay do dịch bệnh COVID 19 nên mỗi người Việt Nam yêu nước sẽ tự tưởng niệm Liệt sĩ chống Trung Cộng xâm lược (17/2/1979-1989) theo cách riêng của mình.
Các thành viên CLB Lê Hiếu Đằng xin tri ân và thắp một nén nhang lòng tưởng niệm cho tất cả đồng bào, chiến sĩ Việt Nam hy sinh trong cuộc chiến chống Trung Cộng xâm lược Việt Nam khởi đầu ngày 17/2/1979! Và xin có nhận định sau đây về việc ghi nhận cuộc chiến nói trên trong sách Lịch sử Việt Nam “chính thống”:

CUỘC CHIẾN ĐẪM MÁU, DAI DẲNG CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC BỊ COI NHẸ HẾT SỨC TRONG SÁCH LỊCH SỬ VIỆT NAM “CHÍNH THỐNG”

Năm giờ sáng ngày 17-2-1979, 60 vạn quân Trung Quốc đồng loạt vượt biên giới kéo dài 1.400 km tiến vào sáu tỉnh của Việt Nam gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên (Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (Lào Cai, Yên Bái), Lai Châu, điều động 9 quân đoàn chủ lực, 2.559 khẩu pháo, 550 xe tăng và thiết giáp tiến sâu vào đất Lạng Sơn, Lào Cai (30 km), Lai Châu (15 km), Cao Bằng (50 km).
Quân dân Việt Nam kiên cường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 tên địch, tiêu diệt, đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự, trong đó có 280 xe tăng, phá hủy 115 khẩu pháo và súng cối, thu nhiều vũ khí, bắt nhiều tên xâm phạm lãnh thổ Việt Nam”. (Trang 355, Tập 14, Lịch sử Việt Nam, NXB KHXH).
11 dòng trên là toàn bộ dung lượng viết về cuộc chiến chống Trung Quốc cộng sản xâm lược Việt Nam trong 10 năm ròng rã đẫm máu từ 17/2/1979 đến tháng 12/1988 trong bộ sách “Lịch sử Việt Nam” của Viện Sử học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam 15 tập, với 10.000 trang (khoảng 290.000 dòng). Riêng giai đoạn năm 1930 đến năm 2000 đã có 6 tập (tập 9-15), với tổng số khoảng 3.600 trang (ước khoảng 103.000 dòng).

1. Tại sao lại gọi đó là cuộc chiến đẫm máu?

Bởi nếu so với 58.000 lính Mỹ chết ở Việt Nam giai đoạn 1963-1973, thì số lính Trung Quốc chết là 62.500 tên (1979-1989), nhiều hơn 4.500 tên. Chưa kể ngoài cuộc chiến phía Bắc này, còn có cuộc chiến do Khmer Đỏ xâm lược Tây Nam Việt Nam 1977-1978 từ cùng một bộ não chỉ huy là Cộng sản Bắc Kinh, và với trang bị hậu cần, vũ khí giết người Việt Nam cũng “made in China” mà thiệt hại hai bên chưa thấy công bố (?).

“Những cái nhất” của ngày 17/2/1979

Đinh Hoàng Thắng

Đọc cái “tút” của GS-TS Trần Ngọc Vương từ Đại học Quốc gia nhân ngày tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam 41 năm trước đây, thú thật người viết bài này không khỏi giật mình. Nói chuyện điện thoại với Giáo sư xong, viết bài này, như thắp một nén tâm hương, tưởng niệm gần 100.000 chiến sỹ và đồng bào ta đã bỏ mình trong hai cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ Tổ quốc vốn bị lãng quên một cách nhẫn tâm và chóng vánh nhất.

Con số 100.000 chiến sỹ và đồng bào ta hy sinh là lấy từ Tuyên bố của Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng. Tuyên bố viết: “Lịch sử rồi sẽ phải công khai sự thật số lượng người Việt Nam thương vong trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược ở cuối thế kỷ 20, nhưng theo các nhà quan sát phương Tây ước tính, thì quân và dân Việt Nam đã hy sinh trong hai cuộc chiến tranh biên giới mà nguyên nhân là từ Trung Quốc cộng sản gây ra khoảng 100.000 người”.
Vâng, con số nói trên rõ ràng chưa được thẩm định. Ở một đất nước mà phải sau 3 Nghị quyết của Bộ Chính trị, doanh nghiệp, người dân và xã hội mới được phép “hội nhập toàn diện” với thế giới, thì việc trích con số mất mát trong trận mạc chưa qua thẩm định rất có thể bị xử lý. Vẫn biết chẳng hy vọng gì nhiều vào câu chữ trong EVFTA, tự do báo chí sẽ được bảo đảm ở Việt Nam, để tính chuyện “chạy tội”. Đơn giản, phải chờ đến năm 2023, cam kết trong Hiệp định ấy mới có hiệu lực pháp lý. Còn trên thực tế thì chưa biết đến “Tết Công gô” nào mới có!
Nhưng chẳng nhẽ vì thế mà những nhà báo trung thực dịp này vẫn “mũ ni che tai”? Tác giả bài này còn nhớ, dạo nọ, nhân tưởng niệm ngày 17/2, một trang mạng hàng đầu ở Việt Nam có đặt bài về cuộc chiến tranh biên giới, nhưng lại đưa ra yêu cầu là không được đề cập đến hai từ “Trung Quốc” trong bài viết. Thật là tột cùng của mọi sự phi lý! Đỉnh cao của mọi sự vô liêm sỉ! Ngay như 17/2 năm nay, các báo hầu như “không giám chấp” hay là do “huý kỵ” đặc biệt, vẫn tránh hai chữ “Trung Quốc” trong bài viết như tránh dịch Covid-19.
Lần này, cùng với GS. Trần Ngọc Vương, tác giả muốn đề xuất với các “sử gia” đáng kính 5 “cái nhất” mà những người viết bộ sử “chính thống” ấy không rõ vì lý do gì đã bị ép quên hay tự lãng quên.

Chung một số mệnh

Nguyệt Quỳnh

*
Để tưởng niệm cụ Lê Đình Kình
một lão nông của thôn Hoành, người mở lại cho tôi
ký ức về bóng dáng của những sĩ phu trong lịch sử VN
*


Nhà danh hoạ Leonardo Da Vinci có câu nói nổi tiếng: “Nếu bạn gắn được lộ trình của mình lên một vì sao, bạn sẽ có thể điều khiển được bất kỳ cơn bão nào.
Câu nói của ông làm tôi hình dung đến những cơn bão trong lịch sử VN, đến bóng dáng những con người đã điểu khiển những cơn bão ấy. Họ mặc áo nâu, đi chân đất, bình dị, đơn sơ nhưng mạnh mẽ. Cùng với họ, biết bao nhiêu triều đại, biết bao nhiêu thế hệ đã vượt buổi can qua.
Hãy nghe về cuộc gặp gỡ của một danh tướng và một nho sinh ở làng Hàm Châu.
Vào thế kỷ thứ 13, khi Đại Việt đang phải đương đầu với quân Mông cổ. Một ngày nọ, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật tình cờ kéo quân qua làng. Đoàn quân đang đi thì gặp phải một người đứng nghênh ngang giữa lộ. Quân lính thét la bảo tránh đường, thì người ấy quay mặt lại mà mắng rằng: “Chưa đuổi được giặc phương Bắc mà đã đuổi người Nam thì lấy ai mà chống giặc?”.
Quân sĩ vào tâu lại. Trần Nhật Duật bèn cho dừng quân, vời người ấy vào hỏi chuyện. Thấy là người tài đức, Chiêu Văn Vương bèn giao cho chức vụ tham mưu trong quân ngũ; sau này lập công to làm đến chức Lâm Vĩnh Hầu.
Người ấy là một nho sinh nghèo, sinh trưởng ở làng Hàm Châu tên gọi là Bùi Công Nghiệp.
Dân như thế. Tướng như thế. Bảo sao Nước không mạnh!
Cũng với tinh thần của dân ấy, tướng ấy, người trai áo vải đất Tây Sơn đã tạo nên biết bao nhiêu kỳ tích. Mà cũng chỉ có thể giải thích bằng câu nói của vị vua trẻ, gấp lên ngôi khi giặc đã tràn qua biên cương: "Nước Nam ta tuy nhỏ, người lại không đông, nhưng chứa đựng biết bao hồn thiêng sông núi. Xưa nay chưa có kẻ thù nào đến đây mà không thảm bại. Nếu lấy trí tầm thường của kẻ phàm phu tục tử để tìm hiểu đất thiêng này thì muôn đời vẫn u tối vậy".

Lo ngại dịch Corona, hàng ngàn công nhân đình công yêu cầu cách ly chuyên gia Trung Quốc

RFA   2020-02-17

Công nhân thuộc công ty may gấu bông JY Hà Nam đình công hôm 17/2/2020 yêu cầu cách ly lao động Trung Quốc vì lo ngại dịch bệnh corona lây lan. Ảnh chụp màn hình FB

Sáng 17 tháng 2 năm 2020, khoảng 5 ngàn công nhân thuộc công ty may gấu bông JY Hà Nam đồng loạt đình công sang ngày thứ ba để yêu cầu cách ly những người Trung Quốc vừa về quê và trở lại làm việc hôm thứ bảy 15 tháng 2.
Một công nhân cho biết đây là những chuyên gia thường được cho về Trung Quốc nghỉ Tết Nguyên đán 1 tháng. Họ về nước hôm 22 tháng 1, tức ngày 28 tháng Chạp và ngày 15 tháng 2 trở lại công ty.
Các công nhân may lo ngại, có thể họ đã không cách ly đủ 14 ngày như quy định của Bộ Y tế Việt Nam.

17/02/2020

Sự thay đổi chính trị đang đến với Trung Quốc?

February 14, 2020

Yuen Yuen Ang

Ann Arbor – Ở Trung Quốc đương đại, sự biến đổi chính trị sâu sắc có thể – và đã – xảy ra mà không có sự thay đổi chế độ hay dân chủ hoá kiểu Tây phương. Thí dụ nổi bật nhất là giai đoạn “cải cách và mở cửa” bắt đầu trong năm 1978 dưới sự trông coi của Đặng Tiểu Bình. Mặc dù Đặng đã bác bỏ các cuộc bầu cử đa đảng, ông đã làm thay đổi căn bản đường hướng của Đảng Cộng sản Trung quốc (ĐCSTQ), cũng như sự phân bổ quyền lực bên trong nó.

Dịch coronavirus bắt đầu ở Vũ Hán trong tháng Mười Hai 2019 có thể báo trước một điểm ngoặt lịch sử tương tự. Sự bùng nổ của cái bây giờ được gọi là COVID-19 là nhiều hơn chỉ một thời khắc căng thẳng thoáng qua đối với ĐCSTQ. Thế giới phải chuẩn bị cho những gì có thể đến tiếp theo.

Bình thường, một dịch bệnh duy nhất, cho dù được xử lý tồi, sẽ không phá vỡ chế độ Trung Quốc. Trong hơn bốn thập niên qua, ĐCSTQ đã vượt qua nhiều khủng hoảng, từ thảm hoạ Thiên An Môn 1989 và bệnh dịch SARS 2002-03 đến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Một số nhà phê phán chế độ từ lâu đã tiên đoán cái chết tức thì của nó, đều chứng tỏ đã sai. Trước Chủ tịch Tập Cận Bình, phong cách quản trị Trung Hoa đã là thích ứng (adaptive) và phi tập trung, hay là cái tôi gọi là “ngẫu hứng có định hướng (directed improvisation).” Ngoài ra, xã hội dân sự, kể cả nghề báo bới móc (muckraking journalism), đã mở rộng nhanh chóng.

Lần này là khác. Kể từ khi lên nắm quyền trong năm 2012, Tập đã siết chặt sự kiểm soát chính trị ở trong nước và phóng chiếu các tham vọng siêu cường ra nước ngoài. Các chính sách này đã làm mất nhuệ khí của các nhà đầu tư tư nhân Trung Quốc, đã báo động các cường quốc Tây phương, và đã làm trầm trọng thêm các mối căng thẳng với Hoa Kỳ, tất cả những thứ đó đã góp phần cho một sự chậm lại kinh tế rộng hơn.

Sự bùng nổ COVID-19 đã thêm một nguồn của sự căng thẳng và tính không tiên đoán được cho các thách thức tăng lên của chế độ. Khi dịch bệnh vẫn còn, Trung Quốc sẽ vật lộn để mở cửa lại cho việc kinh doanh, gây ra các làn gió ngược kinh tế thậm chí mạnh hơn vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản, các công nhân mất việc làm, và lạm phát tăng lên. Trong khi ban lãnh đạo Trung Quốc hết sức gói trong việc giải quyết một khủng hoảng mỗi lần một, nó đã hiếm khi phải đối mặt với nhiều khủng hoảng gần-sống còn như vậy cùng một lúc.

Trong một bình luận gần đây, Kevin Rudd, cựu Thủ tướng Australia người bây giờ là Chủ tịch của Asia Society, đã cho rằng “cuộc khủng hoảng, một khi được giải quyết, sẽ không làm thay đổi cách Trung Quốc được cai quản trong tương lai.” Nhưng dự đoán đó là quá lạc quan. Quả thực, đang xuất hiện các rạn nứt trong ban lãnh đạo tối cao của Tập rồi.

Thí dụ, vào đỉnh điểm của sự tức giận của công chúng đối với sự che giấu ban đầu của Chính phủ về sự bùng nổ dịch, Tập đã biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Sau cuộc gặp của ông với Tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tedros Adhanom Ghebreyesus, vào ngày 28-1-2020, ông đã không nổi lên cho đến cuộc gặp cấp nhà nước của ông với Thủ tướng Cambodia Hun Sen vào ngày 5-2-2020. Đối với một lãnh tụ mà bình thường chi phối chuỗi tin tức Trung Quốc mỗi ngày, sự vắng mặt của Tập giữa sự hoảng loạn quốc gia đã là đáng chú ý, và đã dẫn một số nhà quan sát Trung Quốc tới suy đoán rằng sự nắm chặt quyền lực của ông có thể bị hiểm nguy.

Nếu điều đó có vẻ không thể tưởng tượng được, là đáng nhớ rằng những năm qua đã tạo ra các sự kiện mà ít người tiên liệu được trước. Ai đã tiên đoán, chẳng hạn, rằng một trùm tư bản địa ốc Mỹ lại đối đầu với một thái tử đảng Trung Quốc trong một cuộc tranh đua siêu cường gây rung động trái đất, hay rằng Trung Quốc có thể thay thế Hoa Kỳ như một quán quân cho toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa? Thời khắc bấp bênh hiện thời rất có thể dọn đường cho sự thay đổi chính trị sâu sắc hơn.

Ba khả năng nổi bật lên. Cực đoan nhất, kịch bản xấu nhất là sự sụp đổ chế độ. Những người đánh Trung Quốc mà đọc đâu đó không được hể hả, bởi vì một sự tan rã đột ngột của một chế độ độc đoán không nhất thiết dẫn tới dân chủ hoá; trong nhiều trường hợp, nó dẫn đến nội chiến, như chúng ta đã thấy ở Iraq sau khi Hoa Kỳ loại bỏ Saddam Hussein bằng vũ lực và như chúng ta thấy ngày nay ở Libya hậu-Qaddafi. Một cuộc đấu tranh quyền lực bên trong Trung Quốc sẽ là tai hoạ cho toàn thế giới.

May thay, kịch bản này là không chắc. Mặc dù Trung Quốc dưới sự căng thẳng chưa từng thấy, nền kinh tế của nó đã không ngưng trệ. Như Shang-Jin Wei của Đại học Columbia đã chỉ ra, ngành thương mại điện tử hết sức phát triển của Trung Quốc cho phép dân cư tiếp tục mua sắm từ nhà mình. Và trong khi hàng chục ngàn người Trung Quốc bị nhiễm virus và còn nhiều hơn thế nhiều sự tức giận Chính phủ, tuyệt đại đa số dân cư chẳng hề gần tuyệt vọng.

Kịch bản thứ hai là một sự thay đổi trong ban lãnh đạo ở mức cao nhất. Tập không thể tránh trách nhiệm vì sự phản ứng dữ dội chống lại các chính sách đối nội hạn chế và các hành động quyết đoán ở nước ngoài của ông, mà đã bắt đầu xén bớt sự ủng hộ cho ông rồi ngay cả trước dịch COVID-19. Với cái chết của Lí Văn Lượng (Li Wenliang), một Bác sĩ đã bị các nhà chức trách hành hạ vì đã cảnh báo những người khác về virus, những thất bại của cách tiếp cận từ trên xuống của Tập đã lộ rõ. Tin về cái chết của Lí đã thổi bùng cơn bão phê phán trực tuyến đối với Chính phủ, và việc Tập không xuất hiện trên tuyến đầu của cuộc chiến (chống dịch) đã làm giảm thêm sự tín nhiệm của ông như một lãnh tụ dân tuý.

Về nguyên tắc, việc Tập bãi bỏ các hạn chế nhiệm kỳ cho phép ông tiếp tục ở lại như Chủ tịch suốt đời. Nhưng liệu ông sẽ thực sự vẫn tại vị sau nhiệm kỳ hiện thời của ông kết thúc vào năm 2022 bây giờ là một câu hỏi bỏ ngỏ.

EVFTA: Bất đồng ý kiến trong dân chủ (Bài 2)

Thục Quyên

Ngày 12/2/2020  Nghị viện Châu Âu chính thức thông qua Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam, với đa số ủng hộ là  401 phiếu, 192 phiếu chống, và 40 phiếu trắng. Những lời phát biểu của đôi bên được/thua là bàn đạp cho việc thực thi bản Hiệp định trong những ngày tháng tới. (1)

Thể hiện giá trị cốt lõi của dân chủ là trước và sau cuộc bầu cử, đôi bên đã có không gian và thời gian để lên tiếng trình bầy quan điểm của mình, đôi bên ít nhiều phải lắng nghe nhau.

Ý kiến và đòi hỏi của một số DB bỏ phiếu chống từ những đảng khác nhau:

1/ Khối đảng Liên minh tiến bộ Xã hội và Dân chủ S&D.

Nữ dân biểu Maria Arena, Chủ tịch Tiểu ban Nhân quyền (nằm trong Ủy ban Đối ngoại) thuộc khối Xã hội Bỉ, và đang trong nhiệm kỳ thứ 2 của Nghị viện Châu Âu.

Ngay sau khi được bầu làm Chủ tịch Tiểu ban Nhân quyền, DB Arena đã mời những tổ chức nhân quyền FIDH, VETO và VOICE đến trình bày vấn đề nhân quyền tại Việt Nam và lắng nghe những đề nghị giải quyết của họ. (2)

Trong cuộc thảo luận trước ngày bầu cử, DB Arena đã đưa ra nhận định ngắn gọn:

Nhân danh bảo vệ nhân quyền để bỏ phiếu cho một hiệp định thương mại tự do với một chế độ cộng sản độc tài là một điều siêu thực.

Tuy nhiên, nó đã và vẫn có thể được làm tốt hơn so với hiệp định hiện đang có. Tại sao cơ chế giải quyết tranh chấp giữa đôi bên không bao gồm vấn đề phát triển bền vững? Tại sao, khi nói đến các quyền xã hội và môi trường, không có cơ chế ràng buộc hơn và kèm thêm các biện pháp trừng phạt?

Một sự thay đổi trong chiều hướng này, thưa ông Ủy viên phụ trách thương mại (3), là điều hoàn toàn có thể làm được, nhưng cần phải có ý chí chính trị để làm điều đó. Ông Ủy viên, và cả chúng tôi, với tư cách là Nghị viện, cần thêm thời gian để sửa đổi thỏa thuận này, như lúc trước chúng ta đã từng làm với cơ chế ISDS giải quyết tranh chấp nhà đầu tư - nhà nước. Mọi người ở đây trong Nghị viện lúc đó đều nói rằng ISDS thật tuyệt vời. Nhưng chúng ta đã chiến đấu và chúng ta đã chiến thắng: thay đổi ISDS thành hệ thống Toà án Đầu tư ICS.

Trận chiến của chúng ta ở đây là làm cho sự phát triển bền vững trở thành một chương ràng buộc, đi cùng với các biện pháp trừng phạt.

Sự đa dạng chính trị tại Châu Âu

Vũ Ngọc Yên

Nền chính trị Châu Âu rất phong phú, đa dạng và hiệu quả nhờ sự hiện diện của nhiều khuynh hướng, trào lưu và chính đảng sinh hoạt sôi động trong một thể chế dân chủ đa nguyên và đa đảng.

Các khái niệm chính trị đối nghịch

Tả-Hữu

Sự phân biệt Tả-Hữu khởi nguồn từ quy định chỗ ngồi của Quốc hội Pháp vào năm 1814. Theo đó các đảng chủ trương thay đổi chính trị và xã hội ngồi phía trái của Chủ tịch Quốc hội và các đảng chủ trương duy trì hiện trạng chính trị ngồi phía tay phải. Nay khái niệm Tả và Hữu được diễn tả cho quan điểm chính trị của một cá nhân, nhóm hay một chính đảng và dùng để phân biệt với phía đối nghịch chính trị khác. Tuy nhiên sự phân biệt Tả - Hữu thường diễn giải đơn giản nên tạo nhiều tranh cãi trong công luận. Một chính đảng tự nhận Tả, nhưng giới truyền thông báo chí lại liệt đảng ấy vào một khuynh hướng chính trị khác.

Trong ý nghĩa phổ quát, Chính trị Tả được hiểu là những nỗ lực tranh thủ bình đẳng xã hội. Tự do xã hội đứng trên tự do cá nhân. Theo quan điểm Tả, mọi người bình đẳng và người trong xã hội liên kết với nhau không chỉ vì công bằng, mà còn vì những giá trị như công lý, nhân bản và tinh thần quốc tế. Ngược lại Chính trị hữu khuynh cho rằng phe Tả theo đuổi một “hư cấu” mọi người bình đẳng. Theo họ các cá thể trong xã hội tự bản chất đã có khác biệt nên không thể ngang bằng như nhau đươc. Hữu khuynh chủ trương một hệ thống phẩm trật dựa trên dị biệt cá nhân, định chuẩn xã hội và các giá trị truyền thống quốc gia. Và qua đó mọi người trong xã hội ràng buộc nhờ uy quyền, kỷ kuật và tinh thần quốc gia.

Cực hữu-Cực tả

Các khuynh hướng tả hữu thể hiện qua các sinh hoạt phù hợp với tinh thần dân chủ và hiến pháp quốc gia nên không thể đồng hoá với các khuynh hướng cực tả (cộng sản, vô chính) hay cực hữu (quốc gia cực đoan, phát xít). Thành phần cực hữu chủ trương hủy bỏ thể chế dân chủ - tự do. Đối với họ, chỉ Dân tộc mình là trên hết. Họ bài ngoại và chống người khác chính kiến, thậm chí bằng bạo lực. Họ phủ nhận quan điểm mọi người bình đẳng. Truyền thông báo chí thường dùng từ phát xít, Tân quốc xã (Neonazi) để chỉ các phần tử cực hữu. Còn cực tả cho rằng nhà nước chỉ là công cụ của giới thống trị dùng để trấn áp và bóc lột nhân dân nên họ chống lại hệ thống dân chủ hiện tại bằng bạo lực để tạo ra một chế độ vô chính.

Khi não trạng đặc sệt ‘bị trị’

Trần Kiên

Khi đề cập đến hình thái xã hội thời phong kiến, các quan điểm sử học – chính trị hiện tại của nhà nước Việt Nam luôn phân thành tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị.

Đấu tranh là áp bức?

Khi đề cập đến hình thái xã hội thời phong kiến, các quan điểm sử học – chính trị hiện tại của nhà nước Việt Nam luôn phân thành tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị.

Về mặt chính trị, nhằm xác hợp đấu tranh giai cấp trong lòng xã hội, các trích dẫn về vấn đề này luôn dẫn K.Marx.

“Theo C.Mác, trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của các giai cấp và tầng lớp bị trị. Các giai cấp, tầng lớp bị trị không những bị chiếm đoạt kết quả lao động mà họ còn bị áp bức về chính trị, tư tưởng và tinh thần.” [1]

Và với F.Anghen, quan điểm thường được dẫn đến hiện tượng:“một khi đã nắm được chính quyền sẽ củng cố địa vị của nó trên lưng các giai cấp lao động và biến việc quản lý xã hội thành việc bóc lột quần chúng.”

Tiếp đến, trong lập luận về đấu tranh giai cấp tại Việt Nam, PGS.TS. Lê Thị Thanh Hà (Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) nhận định:“Sẽ là ảo tưởng nếu cho rằng xã hội Việt Nam hiện nay không còn sự khác biệt giai cấp, không còn mâu thuẫn giai cấp, không còn đấu tranh giai cấp.”

Áp bức và Việt Nam?

Dẫn giải ba quan điểm trên để thấy rằng, hệ thống giai cấp tại Việt Nam vẫn đang tồn tại, chí ít đó là sự tồn tại của giai cấp thống trị, lực lượng dùng việc quản lý xã hội để chiếm đoạt và áp bức về chính trị, tư tưởng và tinh thần.

Chừng nào Việt Nam vẫn còn đề cập đến pháp quyền, chừng nào các công ước nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết còn hiệu lực áp dụng, thì chừng đó quá trình ‘đấu tranh’ vẫn sẽ còn tồn tại.

Truyện cười: Đảng và Corona

Trần Thế Kỷ

p>1. Chuyện 1: Mấy người bạn trò chuyện:

- Mùng 5 tết Canh Tý, xảy ra vụ nổ súng tại một sòng bạc ở Củ Chi làm 4 người và con bò bị chết

- Hẳn do thua bạc nên tháu cáy.

- Đúng vậy, thủ phạm là là một công an, bị thua cháy túi nhưng không được cho chơi tiếp nên chạy về nhà lấy súng AK.

- Công an mà cũng dính vào bài bạc, chẳng ra thể thống gì.

- Chắc công an đánh bạc để cùng dân mừng Đảng mừng xuân.

- Vậy là Củ Chi đầu năm có 4 người dân không chết vì virus Corona mà chết vì đạn AK.

- Tội nghiệp cho con bò bị chết oan.

- Bắn phát nào chết phát đó, ai bảo ngành công an đào tạo kém?!

2. Chuyện 2: Ông Năm bảo anh Tư:

- Ông Đặng Lê Nguyên Vũ nói có trong tay công thức chữa lành mọi bệnh tật.

16/02/2020

Hai con quái vật – anh Lê Công Định chọn con nào?

(Thư gởi anh Lê Công Định)

Trần Lương

Lá thư dưới đây vốn đã được đăng trên trang Đàn chim Việt, nhưng có lẽ tác giả gửi gắm trong đó nhiều điều tâm huyết nên lại gửi đến BVN một lần thứ hai. Sau khi cân nhắc, chúng tôi xin vui lòng đăng lên để bạn đọc trong nước cùng LS Lê Công Định tham khảo, nếu có thể thì có sự phản hồi, bởi vì theo chúng tôi đây là một vấn đề thời sự rất đáng được trao đổi một cách bình tĩnh và thật thấu đáo để rộng đường dư luận.

Cũng vì quan niệm như vậy nên trong mấy lời mở đầu này, trước tiên, chúng tôi xin nêu lại một số nhận xét trực diện về lá thư của TS Nguyễn Quang A đã đăng trên Facebook của ông mà chúng tôi cố tóm lược và diễn đạt lại cho ngắn gọn và sáng rõ hơn. TS Nguyễn Quang A cho rằng tác giả Trần Lương đã có phần "ngộ nhận" khi nói LS Lê Công Định "vui mừng và hy vọng" vào EVFTA vì Hiệp ước này sẽ “Buộc VN phải thành lập các công đoàn độc lập; buộc VN phải tôn trọng nhân quyền; buộc VN phải cải cách hệ thống pháp lý”, trong khi nhìn vào chữ nghĩa của Lê Công Định, cách nói của LS Định là chừng mực chứ không quyết đoán và cụ thể hóa đến như trên: "EVFTA buộc nhà nước Việt Nam phải thừa nhận quyền thành lập các công đoàn độc lập của người lao động, nhờ đó họ không còn là công cụ của đảng cầm quyền nhân danh "đội quân tiên phong của giai cấp vô sản". Giai cấp vô sản thực sự ở Việt Nam rồi đây sẽ có tổ chức đại diện đúng nghĩa cho quyền lợi của mình, chứ không phải công đoàn giả hiệu của nhà nước". Nói cách khác, theo TS Nguyễn Quang A, EVFTA đúng là buộc chính quyền VN phải CÔNG NHẬN quyền... của người dân thật đấy, nhưng EVFTA không buộc được chính quyền VN phải trao cho dân một cách đương nhiên những quyền ấy. Các thứ quyền này dân Việt "còn phải đấu tranh chán chê thì mới có". Và nếu ai nghĩ rằng đó là những quyền đương nhiên dân VN được hưởng hẳn "sẽ sớm thất vọng", bởi "không tự mình giành lấy quyền ấy thì chẳng bao giờ 'sung rụng vào miệng', cho dù EU có rung cây hay tạo gió đi nữa".

Về phần chúng tôi, thiển nghĩ, đây là một vấn đề mà trong hoàn cảnh tréo ngoe về nhiều mặt giữa tổ chức cầm quyền và đảng thống trị với đông dảo dân chúng bị trị như hiện tại, người VN sẽ có sự chia rẽ sâu sắc trong quan điểm giữa 2 phe ủng hộ và phản đối là không có gì đáng lạ. Chỉ có thời gian và thực tế mới chứng minh được phe nào đúng, hoặc cả hai phe vừa đúng vừa sai. Giống như khi Mỹ dỡ lệnh cấm vận cách đây vài thập niên thì Việt Nam vừa có bước tiến lại vừa có bước lùi. Trong khi hàng hóa và công nghệ từ các nước văn minh ồ ạt nhập vào, tiền vay ưu đãi từ ngân hàng của các nước văn minh cũng đổ vào khiến mặt bằng chung của kinh tế đất nước có sự chuyển biến, một bộ phận lớn người dân thành thị giàu có lên, tầng lớp doanh nhân xuất hiện với mọi phương pháp và thủ đoạn làm giàu, thì môi trường cũng bị bức tử, văn hoá xuống cấp nghiêm trọng và các nhóm lợi ích hình thành, khuấy đảo nhung nhúc đằng sau mọi hoạt động của bộ máy, mức độ tham nhũng trong tầng lớp quan chức ngày càng trở nên kinh hoàng, nợ công tăng chóng mặt. Thử nghĩ, giữa hai mặt đượcmất, ta có nên vì cái mặt mất mà khước từ dỡ bỏ cấm vận hay không, nghĩa là trở lại thúc thủ trong nghèo đói và dốt nát lạc hậu hay không, hay là chủ động đón đợi thời cơ, tiếp nhận giao thương quốc tế, để đến nay đã có rất nhiều con em được đi ra ngoài học hỏi cái hay mang về trong nước, làm cho trí tuệ tuổi trẻ nói chung được nâng cao hơn trước rất nhiều, và dù kẻ cầm quyền có độc tài đến mấy thì một xã hội dân sự tự nó cũng đã từng bước hình thành, bộ máy công an làm gì cũng không đàn áp nổi? Cân nhắc mọi lẽ, chúng tôi nghiêng về cái mặt được mà không quá bi quan với mặt mất.

Cũng vậy, việc ký kết EVFTA là một xu hướng hội nhập không thế tránh khỏi cho một đất nước vẫn còn rất nhiều tiềm năng với dân số trẻ như Việt Nam. Tuy nhiên, để nắm bắt được những thuận lợi cũng như đối phó với những thách thức mà cơ hội mang lại từ EVFTA, thì chỉ có Chính phủ và người dân VN mới là những chủ thể có ý nghĩa quyết định. Chính phủ thì ai cũng đã biết là nó độc tài, vì nó gắn chặt với quyền lợi của một đảng độc tài và suy thoái. Nghĩa là những hiện thực được tác giả Trần Lương phơi bày trong lá thư nói chung đều xác đáng. Nhưng còn nhân dân nữa chứ. Chẳng lẽ vì một thể chế độc tài bao nhiêu lâu nay đã kìm hãm người dân trong vòng tăm tối, tước mất đi của dân những quyền cơ bản mà dân các nước văn minh từ lâu đã được hưởng, mà nay ta đành quyết tình “be bờ đặp đập” ngăn chặn bằng được cái xu thế hội nhập tất yếu mà hai Hiệp ước vừa được EU thông qua rõ ràng là những “chiếc cầu dẫn”, sẽ dẫn dắt nhân dân cả nước đi đến với những cơ hội để thử thách vận may nhằm thay đổi số phận của mình?

Và ngay cả với thể chế thì ngẫm cho cùng, cũng có điều tương tự. Khi chúng ta làm cái việc “be bờ đắp đập” ngăn chặn con đường nó đến với Hiệp định EVFTA, tức là đẩy thể chế đến thế cùng, chẳng lẽ ta không hiểu rằng “tức nước vỡ bờ” là một quy luật, nó lại không thể liều lĩnh ngả hẳn vào vòng tay đàn anh độc tài của nó – một đế chế độc tài gớm ghiếc nhưng đang ở thế cực mạnh vì nhiều tiền lắm của – để càng đưa dân tộc đến gần sát với nguy cơ có thể rơi xuống vực thẳm lúc nào không biết và không tài nào cưỡng lại, hay sao? Bấy giờ ta sẽ tính thì có phải là quá muộn không?

Không có bữa trưa nào là miễn phí. Chẳng có ông EU hay Mỹ nào làm thay ta được cả. Đắm chìm trong bi quan để rồi không được cái gì hết, thậm chí mất sạch sanh, hay lạc quan để xốc tới, chúng tôi nghĩ, tự nó trong câu hỏi, một đáp án khả thi cũng đã bày sẵn.

Bauxite Việt Nam

Tôi là bạn đọc của anh, quý anh, cho phép tôi được được chia sẻ đôi điều khi đọc xong bài “EVFTA - Niềm hy vọng” của anh. Anh vui mừng vì Âu Châu vừa phê chuẩn hai hiệp định EVFTA và EVIPA. Niềm hy vọng của anh dựa vào những lập luận:

  1. Buộc VN phải thành lập các công đoàn độc lập, buộc VN phải tôn trọng nhân quyền, buộc VN phải cải cách hệ thống pháp lý;

  2. Việt Nam bớt lệ thuộc vào Trung Quốc;

  3. Khuyến khích doanh nghiệp trong nước phát triển.

Xin tranh cãi với anh vào ba điểm trên.

Thưa anh! Từ ngày Hồ Chí Minh khai sinh ra Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, VN đã đồng ý ký vào bao nhiêu hiệp định, nghị định, nghị quyết, công ước, công hàm. Đã có khi nào CS VN tôn trọng lời cam kết với thế giới chưa? Xin anh vài thí dụ.

CSVN là bậc thầy của trò “nói một đằng làm một nẻo”. Hiến pháp tự họ viết ra: nào là tôn trọng nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do hội họp, tự do biểu tình… Nghe rất oách, chẳng khác gì Hiến pháp của các quốc gia văn minh. Thế nhưng anh Định đã được hít thở chút khí “tự do” nào chưa? Anh là người hiểu hơn ai hết việc này. Bởi vì, anh vừa là luật sư tầm cỡ, vừa là nạn nhân tầm vóc.

Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Hiến chương Nhân quyền, Hiệp định Geneve, Hiệp định Paris, công ước này, nghị định kia, CSVN ký ào ào. Để được hưởng lợi tội gì mà không kí. Nhưng thực hiện nó hay không lại là một cuộc chơi rất khác.

Không thể có an toàn nếu không có tự do ngôn luận – Thư ngỏ của học giả Trung Quốc gửi Quốc hội và Ủy ban Thường vụ

Phạm Thị Hoài dịch

Trong số những người đồng ký tên bức thư ngỏ sau đây có hai Giáo sư nổi tiếng từ hai trường đại học danh giá: Trương Thiên Phàm (Zhang Qianfan, 张千帆) của Đại học Bắc Kinh, một trong những học giả đầu đàn về luật hiến pháp tại Trung Quốc, và Hứa Chương Nhuận (Xu Zhangrun,许章润) của Đại học Thanh Hoa, người cách đây không lâu đã gây chấn động với bài tiểu luận đặc sắc, trực tiếp phê phán chính sách của Tập Cận Bình “Nỗi sợ hãi và niềm hy vọng của chúng ta hiện nay”. Cả hai ông, cũng như một số học giả khác, đều nhiều lần thẳng thắn lên tiếng về các vấn đề chính trị xã hội khi đang thành đạt với sự nghiệp chuyên môn và giữ những cương vị cao trong môi trường hàn lâm ở Trung Quốc.

Người dịch

Ngày 6 tháng 2 năm 2020, bác sĩ Lí Văn Lượng, người thổi còi cảnh báo 2019-nCoV, đã qua đời giữa ôn dịch ở Vũ Hán. Ông cũng là một nạn nhân của sự áp chế ngôn luận. Người dân Trung Quốc rất đau lòng và vô cùng thương tiếc.

Virus corona chủng mới có thể hoành hành ở Vũ Hán và khắp Trung Quốc vì các nhà đương cục đã đàn áp ngôn luận và sự thật. Giữa mùa lễ hội truyền thống tối hỉ, ức vạn người lâm cảnh cách li và sợ hãi, toàn dân đang bị quản thúc tại gia. Cả xã hội và nền kinh tế bị đình đốn. Ít nhất 637 đồng bào của chúng ta cho đến nay đã thiệt mạng và hàng triệu người ở thành phố Vũ Hán và tỉnh Hồ Bắc bị kỳ thị, xua đuổi, lưu ly thất sở trong giá lạnh và không nơi nương tựa.

Khi thảm kịch này mới bùng phát đầu tháng Một, bác sĩ Lí và bảy chuyên viên y tế khác đã bị cảnh sát cảnh cáo vô căn cứ. Nhân phẩm của họ quá bé mọn trước bạo quyền của cảnh sát chống lại tự do ngôn luận. Ba mươi năm nay, người Trung Quốc đã từ bỏ tự do để đổi lấy an toàn, để giờ đây lún vào một cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng, bất an hơn bao giờ hết. Một thảm họa nhân đạo đang cận kề. Toàn bộ phần còn lại của thế giới đang lùi xa khỏi Trung Quốc với tốc độ nhanh hơn sự lây lan của virus, khiến Trung Quốc rơi vào tình trạng cô lập toàn cầu chưa từng thấy.

Bắc Kinh tuyên truyền Mỹ là thủ phạm gây ra dịch virus corona

Lục Du

 

(Ảnh chụp màn hình Youtube/TODAY)

Chính quyền Trung Quốc đang muốn thông qua tuyên truyền để đánh lạc hướng sự tập trung của người dân vào việc Bắc Kinh bất lực trước sự bùng phát dịch virus corona. Thay vì nhận trách nhiệm, họ đổ lỗi cho phương Tây. Nhà cầm quyền Trung Quốc đang thực hiện chiến thuật này bằng mọi cách có thể, từ việc sử dụng người phát ngôn của chính phủ cho tới các giáo viên trong trường học, theo Bitter Winter.

Trang Bitter Winter cho hay, mục tiêu của lực lượng cầm quyền Trung Quốc trong chiến dịch tuyên truyền này là khiến người dân tin rằng virus corona (COVID-19) chính là một loại vũ khí được Mỹ tạo ra và phát tán để hãm hại người Trung Quốc. Những luận điệu theo chiều hướng này đang được các cơ quan truyền thông Trung Quốc lan truyền trên internet.

Ngày 3/2/2020, bà Hoa Xuân Oánh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, tuyên bố trong một cuộc họp báo thường lệ rằng, chính phủ Hoa Kỳ chưa bao giờ giúp đỡ gì cho Trung Quốc kể từ khi dịch COVID-19 bắt đầu. Thay vào đó, Mỹ là nước đầu tiên sơ tán nhân viên ngoại giao và cấm công dân Trung Quốc nhập cảnh. “Họ tiếp tục tạo và phát tán thông tin gây hoang mang”, bà Hoa nói thêm.

Ngày 26/1, cổng thông tin quân sự trực tuyến của Trung Quốc, trang Xilu.com, đã cho đăng một bài viết tuyên bố rằng chủng mới của virus corona là “một vũ khí sinh hóa do Mỹ sản xuất để nhắm vào Trung Quốc”.

“Chủ nghĩa đế quốc chưa bao giờ ngừng tấn công, phá hủy và [muốn] tiêu diệt Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc đang phát triển nhanh đến mức chủ nghĩa đế quốc [buộc phải] xé bỏ mặt nạ đạo đức giả và hành động công khai [chống lại Trung Quốc]”, bài báo trên Xilu.com viết. Theo Bitter Winter, đây rõ ràng là một cách lèo lái nhắm khiến người dân Trung Quốc chuyển dịch sự bất mãn với những yếu kém của chính phủ trong phòng chống dịch sang căm thù các thế lực thù địch.

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: Vai trò của nhà nước trong kinh tế (Bài 11)

Đoàn Hưng Quốc

Cuộc tranh luận về vai trò của nhà nước trong kinh tế giống một quả lắc đồng hồ từ trái sang phải rồi lại quay ngược lại:

  1. Trong thập niên 60-70 kinh tế Hoa Kỳ bị trì  trệ vì chiến tranh Việt Nam, khủng hoảng dầu hỏa Trung Đông và vai trò mở rộng của nhà nước song song với chương trình Chống Nghèo (The Great Society) vô cùng tốn kém của tổng thống Lyndon Johnson vốn thuộc cánh Cấp Tiến (Liberal);

  2. Sang thập niên 80 cánh Bảo Thủ (Conservative) của tổng thống Ronald Reagan (và Thủ Tướng Margaret Thatcher của Anh) chủ trương thu nhỏ vai trò của chính quyền với câu nói bất hủ “Nhà nước không phải là lời giải đáp bởi vì chính nhà nước tạo thêm nhiều vấn đề” (Government is not the solution to our problem government is the problem”). Ông đòi bớt thuế má và giảm giám sát nhà nước (regulations) mà đặt nặng vào tính cạnh tranh và vai trò của bàn tay vô hình (the invisible hand) điều tiết nền kinh tế thị trường;

  3. Sau sự sụp đổ của bức màn sắt và bước qua những năm 90 cùng đầu thế kỷ thứ 20 Hoa Kỳ lại có thêm hai khuynh hướng Tân Tự Do (Neo-Liberalism) và Tân Bảo Thủ (Neo-Conservatism). Hai phái này tuy tiếp tục khác biệt về thuế má và vai trò của nhà nước trong nước Mỹ nhưng lại đồng thuận trên quan điểm phát huy toàn cầu hoá;

  4. Song song với mậu dịch quốc tế (global trade) là việc mở rộng các cánh cửa tài chánh đầu tư xuyên quốc gia (financial liberalization). Những nguồn tiền khổng lồ chạy từ lục địa này sang lục địa khác tạo ra nhiều cuộc khủng hoảng tài chánh liên tục từ Mexico (1994) sang Đông Á (1997) Nga (1998) Nam Mỹ (2000) rồi đến cả Hoa Kỳ (2007-09) và Âu Châu (2010-12). IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế) và Ngân hàng Trung ương được xem như trọng tâm để giải quyết khủng hoảng bằng  các biện pháp tiền tệ thay vì tăng cường ngân sách và sự giám sát của nhà nước, dựa trên quan điểm của kinh tế gia Milton Friedman;

  5. Hậu quả bất ngờ tích lũy của nhiều chính sách tưởng chừng không có liên hệ trực tiếp gồm cả thị trường tự do từ những năm 80, toàn cầu hóa từ thập niên 90 và các biện pháp tiền tệ nhằm giải quyết khủng hoảng tài chánh ở Âu-Mỹ từ 2008, cộng thêm tác động đến từ tự động hóa và điện toán hoá, là giới công nhân thợ thuyền Tây Phương bị mất việc trong khi khoảng cách giàu nghèo thêm sâu đậm; lợi tức của các tập đoàn đa quốc gia tăng vọt nhờ đóng cửa hãng xưởng ở Tây Phương mà sử dụng công nhân rẻ ở Trung Quốc, Đông Nam Á và Nam Mỹ; thu nhập tập trung vào những kẻ thích hợp nhất với điện toán hóa (winner take all). Thông thường thì mỗi người nghiên cứu một trong các chính sách nói trên như kẻ mù mò chân voi, nhưng cộng lại do vẫn mù nên vẫn không biết là con voi hay bạch tuộc năm vòi khổng lồ! Dù vậy là quả lắc chính trị nay xoay chiều ngược lại:

  • Cánh hữu dân túy (popularism) của Donald Trump chống mậu dịch toàn cầu nhằm đem công ăn việc làm trở lại nước Mỹ, đòi nhà nước giảm thuế và giảm giám sát để nâng sức cạnh tranh và chống cánh Tân Bảo thủ truyền thống trong Đảng Cộng hòa. Chính sách của cánh hữu nói chung bị phê bình là trickle down economic, tức là nhà giàu hưởng phần trên trước đến khi rơi rớt dư thừa mới đến số đông quần chúng;

  • Cánh tả xã hội (socialism) Bernie Sander – Elizabeth Warren chống thương mại quốc tế để bảo vệ công nhân Hoa Kỳ, đòi tăng thuế và tăng giám sát nhà nước hòng giảm bớt khoảng cách giàu nghèo và chống cánh Tân Tự do trong Đảng Dân chủ.

Sử xanh và Văn bia

Đỗ Thành Nhân

Ông Nguyễn Phú Trọng, có thể nói là một lãnh tụ, một nguyên thủ quốc gia của Việt Nam, khi đồng thời nắm hai vị trí quyền lực trong tứ trụ, đó là Tổng Bí thư và Chủ tịch nước. Đồng thời, với trình độ của một giáo sư, tiến sĩ và kinh nghiệm của một người hơn 50 năm tham gia hoạt động chính trị, cho nên mỗi câu nói của ông đều là lời vàng, ý ngọc cho cả đất nước với hơn 97 triệu dân. Thực tế là mỗi câu nói của ông Nguyễn Phú Trọng đều được báo chí đăng tải trang trọng, có nhiều nhà phân tích trong và ngoài nước bình luận, dự đoán, dự báo … thậm chí còn liên quan đến số phận người nọ người kia đang nắm giữ quyền lực.

Cho nên, không tính đến những người thiểu năng trí tuệ, mà cả những người có trình độ phổ thông, đại học cũng chưa chắc đã hiểu hết ý nghĩa của những điều ông Nguyễn Phú Trọng đã nói. Có những câu như điển tích, thành ngữ được ông Nguyễn Phú Trọng nói/viết ra không phải những kẻ tầm thường cũng hiểu, phải nhờ đến cộng đồng, các chuyên gia ngôn ngữ, lịch sử, chính trị phân tích. Dưới đây là những ví dụ:

1. Ngày 20/10/2017: SỬ XANH LƯU TRUYỀN

Bút tích 4 câu thơ Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm tặng cán bộ nhân viên khách sạn Mường Thanh Grand Phương Đông:“Lần này lại đến 'Phương Đông'/ Tình xưa nghĩa cũ, mặn nồng 'Mường Thanh'/ Cố lên các chị, các anh/ Quê hương vẫy gọi, sử xanh lưu truyền”. (Hình 1)

Vậy là cán bộ nhân viên khách sạn Mường Thanh Grand Phương Đông được: SỬ XANH LƯU TRUYỀN.

Công trạng của cán bộ nhân viên ở đây như thế nào để được “sử xanh lưu truyền” thì các bạn xem bài viết: Tổng bí thư 'đề thơ' tặng khách sạn Mường Thanh Grand Phương Đông, ở đây: https://baomoi.com/tong-bi-thu-de-tho-tang-khach-san-muong-thanh-grand-phuong-dong/c/25777381.epi

15/02/2020

Tuyên bố của Diễn đàn Việt Nam 21 về việc Nghị Viện Âu Châu thông qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA

Vũ Ngọc Yên

Vào ngày 12/02/2012 Nghị viện Âu Châu (EP) đã bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA) giữa Liên minh Châu Âu (EU) và  Việt Nam. Theo kết quả biểu quyết, EP đã thông qua EVIPA với tỷ lệ 407 phiếu ủng hộ, 188 phiếu chống và 53 phiếu trắng. Trong khi đó, EVFTA được thông qua với tỷ lệ 401 phiếu ủng hộ, 192 phiếu chống và 40 phiếu trắng.

Như vậy sau 10 năm thương thảo, rà soát pháp lý và giải quyết nhiều phát sinh liên quan đến thẩm quyền phê chuẩn, Hiệp định EVFTA và EVIPA đã được đa số Nghị sĩ Âu Châu chấp thuận.

Trước sự kiện quan trong có tầm ảnh hưởng đến mối bang giao giữ EU và Việt nam cũng như toàn bộ sinh hoạt chính trị và kinh tế tại Việt Nam, Diễn đàn Việt Nam 21 tuyên bố:

  • Chia sẻ quan điểm của 192 Nghị sĩ Âu Châu và nhiều  tổ chức dân sự  Việt Nam đã  không ủng hộ việc phê chuẩn EVFTA vì những tiêu chuẩn bảo vệ quyền lao động, nhân quyền và môi sinh dưới chế độ độc tài, độc đảng ở Việt Nam chưa được đáp ứng;

  • Nhiệt liệt biểu dương các thành quả vận động quốc tế cũng như tinh thần dấn thân của nhiều tổ chức dân sự Việt Nam đã kiên trì đấu tranh cho Tự do và Dân chủ trong thời gian qua;

Thương mại có luật lệ với Việt Nam tốt hơn là không luật lệ và không thương mại

Diễm Thi dịch

Iuliu Winkler, Dân biểu người Rumani thuộc đảng cánh hữu Đảng Nhân dân Châu Âu (EPP) trong các cuộc đàm phán thỏa thuận thương mại, tuyên bố rằng EU đang thúc đẩy thương mại dựa trên quy tắc quốc tế "vì căng thẳng và hỗn loạn gia tăng", và EU cần các thỏa thuận thương mại, để “đảm bảo sự ổn định, bảo hộ và lợi ích cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng ở cả hai bên”.

Tuyên bố của ông Iuliu Winkler được đưa ra trong bối cảnh trước đó các nhà hoạt động nhân quyền kêu gọi Nghị viện Châu Âu trì hoãn thỏa thuận về thỏa thuận thương mại EU-Việt Nam.

Ông Iuliu Winkler cũng lên tiếng kêu gọi Nghị viện Châu Âu ủng hộ Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Bảo vệ Đầu tư (IPA) trong một cuộc bỏ phiếu ngày 12 tháng 2, cho rằng thương mại dựa trên luật lệ có lợi hơn trong việc nâng cao các tiêu chuẩn nhân quyền của EU ở quốc gia Đông Nam Á này hơn là không có luật cũng chẳng có giao thương.

Ông Winkler tin rằng EU cần thỏa thuận thương mại "để đảm bảo sự ổn định, bảo vệ và lợi ích của các công ty và người tiêu dùng ở tất cả các phía."

‘Người thổi còi’ Trung Quốc: Người thì chết, người thì bị buộc phải im lặng

Trong lúc truy điệu Bác sĩ Lý Văn Lượng, nhiều người đã nghĩ đến một “người thổi còi” hiện vẫn còn sống. 17 năm trước, chính là ông đã tiết lộ cho thế giới biết được sự thật về dịch SARS. Tên của ông là Tưởng Ngạn Vĩnh (蔣彥永 / Jiang Yanyong), tuy nhiên, “người thổi còi” này đã bị buộc phải im lặng.

Trong một bản tin độc quyền hôm 9/2 trên tờ báo The Guardian, Bác sĩ Tưởng Ngạn Vĩnh, người được gọi là “quân y nói lời thật”, đã bị chính quyền Trung Quốc cắt đứt mối liên hệ của ông với ngoại giới, và hạn chế ông ra ngoài từ tháng 4 năm ngoái. Trước đó, ông đã viết thư cho lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc để yêu cầu xét lại sự kiện Lục Tứ. Vợ của Tưởng Ngạn Vĩnh là bà Hoa Trọng Úy (Hua Zhongwei) và một số bạn thân thiết với ông Tưởng Ngạn Vĩnh, đều đã xác nhận với  The Guardian về việc ông bị giam lỏng. Bạn của ông tiết lộ với The Guardian rằng, từ tháng 4/2019, Tưởng Ngạn Vĩnh vẫn luôn điều trị trong Bệnh viện 301, nhưng phía quân đội kiểm soát nghiêm ngặt việc ra vào của ông, thậm chí người nhà đều bị cấm thăm nuôi, khiến tâm tình của ông buồn bực không yên; bạn của ông còn nói, “sau khi Tưởng Ngạn Vĩnh được điều trị bằng thuốc tại Bệnh viện 301, trí nhớ của ông có dấu hiệu tổn thương nghiêm trọng.”

Vợ ông chia sẻ với phóng viên rằng:“Ông không được liên hệ với bên ngoài và không có cách nào thông tin ra. Tình hình sức khỏe của Tưởng Ngạn Vĩnh và tình trạng tâm lý của ông đều không tốt”. Năm ngoái ông còn phải nằm viện vì viêm phổi, rốt cuộc thì tình hình thế nào, bà Hoa Trọng Úy cho biết “không tiện nói”.

Tưởng Ngạn Vĩnh năm nay 88 tuổi, 17 năm trước, ông là bác sĩ tại Bệnh viện 301 Bắc Kinh. Sau khi thông tin về trường hợp nhiễm ‘viêm phổi Vũ Hán’ được truyền ra hồi tháng 12 năm ngoái, những người Trung Quốc không quên bài học đau khổ về dịch SARS, đã bắt đầu liên tiếp phát đi cảnh cáo lo lắng dịch SARS tái diễn, kêu gọi Chính phủ Trung Quốc nhìn vào vết xe trước để rút ra bài học. Những người không quên bài học thảm thiết về dịch SARS ắt cũng không quên “người thổi còi” Tưởng Ngạn Vĩnh. Tuy nhiên, vở kịch SARS sau 17 năm lại tái diễn.

Cách đây 17 năm, tỉnh Quảng Đông Trung Quốc dẫn đầu bùng phát dịch SARS, trước tiên phía chính quyền Trung Quốc che giấu, khiến cho dịch bệnh lây lan rộng ra toàn cầu. Giống như dịch bệnh virus corona mới hiện nay, bài học SARS cũng nằm ở chỗ chính quyền cố ý che giấu sự thật để duy trì ổn định, lần đó, điều may mắn là có sự xuất hiện của dũng sĩ Tưởng Ngạn Vĩnh, sau khi thông qua kênh thông thường để phản ánh nhưng không có hiệu quả, ông đã công bố sự thật về SARS cho ngoại giới.

Những người Việt đầu tiên tại Úc

Nguyễn Quang Duy

Từ Melbourne, Australia, tác giả Nguyễn Quang Duy gửi tới Toà soạn BVN bài đầu tiên trong loạt bài “45 năm Người Việt Tự Do tại Melbourne: Thử thách và Thành tựu”.

Xin được giới thiệu với độc giả.

Bauxite Việt Nam

Ở thời điểm 30/4/1975 chỉ có trên 1.000 người Việt tại Úc, gồm những phụ nữ lập gia đình với người Úc, sinh viên du học ở lại Úc, sinh viên đang du học, viên chức đang làm việc hay tu nghiệp, tu sĩ công giáo tu học và trẻ mồ côi sang Úc vào tháng 4/1975.

Trừ các trẻ mồ côi chưa hiểu biết, đa số đều lo lắng cho gia đình bị kẹt lại ở Việt Nam.

Các sinh viên đang theo học và viên chức Miền Nam còn nhận được thư của Chính phủ Lao Động Gough Whitlam yêu cầu thu xếp hồi hương.

Nữ hoàng Anh và quyết định cho những người Việt đến Úc đầu tiên

Ngay sau 30/4/1975, Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị, nguyên thủ quốc gia của nhiều nước trong khối Commonwealth, chấp nhận người di tản Việt được tạm cư tại Hong Kong, Singapore, Malaysia và “vận động” Chính phủ Whitlam nhận một số người theo diện nhân đạo.

Ngày 20/6/1975, 201 người từ Hong Kong đến định cư tại Sydney và ngày 9/8/1975, 323 người từ Malaysia và Singapore đến Brisbane theo diện nhân đạo.

Chính phủ Whitlam còn nhận 224 người Việt theo diện đoàn tụ gia đình, tôn giáo và di dân, nâng tổng số người đến Úc trong năm 1975 lên đến 748 người.

Từ đảo Guam đến Melbourne có gia đình Giáo sư Nguyễn Ngọc Truyền gồm chừng 40 người theo diện đoàn tụ gia đình.

Từ Guam theo diện di dân có Điêu khắc gia Lê Thành Nhơn cùng vợ và 4 con nhỏ vào tháng 9/1975.

Từ Nhật đến Melbourne, có gia đình Tiến sĩ Nguyễn Triệu Đan, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Nhật, gồm 7 người vào giữa tháng 7/1975. Ông Đan phải ký giấy hứa khi đến Úc “không được làm chính trị”.