17/01/2018

Bất nhân chồng bất nhân !!!


Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 283 (15-01-2018)

Đầu xuân 2018, giữa lúc mọi người đang mong ước, hy vọng và cầu chúc cho nhau những gì tốt đẹp trong năm mới, thì phán quyết mà Tòa án tỉnh Đắk Nông công bố hôm 3-1-2018 đối với ba nông dân Đặng Văn Hiến (47 tuổi, tử hình), Ninh Viết Bình (35 tuổi, 20 năm) và Hà Văn Trường (32 tuổi, 12 năm) bị cáo buộc “giết người”, quả đã làm cho công luận rúng động, phẫn nộ cũng như làm cho bầu trời nước Việt thêm vô vọng và u ám.

Phiên tòa này kết thúc vụ án khởi đầu từ cuộc xung đột giữa dân chúng xã Quảng Đức, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông với nhân viên Công ty Long Sơn hôm 23-10-2016, dẫn tới việc ba người chết, 13 người bị thương, tất cả đều là nhân viên Công ty, do bàn tay của 3 người vừa bị tuyên án. Thế nhưng công luận đã đứng về phía 3 nông dân này.

Mọi sự phát xuất từ việc Long Sơn được nhà cầm quyền tỉnh Đắc Nông theo nguyên tắc “đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng nhà nước quản lý và làm chủ”  giao 1.079 hecta đất tại Tiểu khu 1536 để thực hiện “dự án nông lâm nghiệp” mà chẳng cần đo đạc thực địa và xem xét thực trạng. Do đó công ty Long Sơn đã tổ chức trục xuất mà không bồi thường cũng chẳng hỗ trợ những gia đình nông dân đang cư trú và canh tác trên phần công thổ mà chính quyền đã giao cho họ. Chính vì thế dân chúng ở Quảng Đức đã đôn đáo ngược xuôi xin cứu xét, nhưng tỉnh chẳng xét, huyện chẳng màng! May nhờ báo chí tường thuật, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đã đến tận nơi, yêu cầu nhà cầm quyền ngăn chặn hoạt động cưỡng chế - thu hồi đất của Long Sơn để kiểm tra lại.

Điều mỉa mai là chỉ thị của Phó thủ tướng cũng bị huyện và tỉnh coi thường, khiến Long Sơn càng mạnh tay tiếp tục điều động xe chuyên dụng và người của mình dỡ bỏ nhà cửa, hủy diệt vườn tược (tiêu, điều, cà phê) trên phần đất được giao. Trong quá trình này, “công nhân” của Công ty (thực chất là côn đồ được thuê mướn) đã đánh đập, gây thương tích cho nhiều nông dân chỉ vì họ đã bảo vệ nhà cửa, vườn tược của họ. Có thanh niên bị rựa vạt mất gần nửa hộp sọ, may không chết nhưng mang dị tật suốt đời; có phụ nữ mang thai 7 tháng bị trụy thai do “công nhân” đạp vào bụng… Rốt cuộc, dân Quảng Đức đã quyết định tự cứu bằng cách tự vũ trang với súng tự tạo. Trong đợt cưỡng chế - thu hồi ngày 23-10-2016, sau khi bị 30 “công nhân” Long Sơn hành hung vì ngăn cản công ty dỡ nhà, phá vườn của mình, anh Đặng Văn Hiến đã lấy súng tự tạo, bắn hai phát chỉ thiên để cảnh cáo, nhưng đám người ấy vẫn lao đến ném đá… Có thêm sự hỗ trợ của Ninh Viết Bình (tiếp đạn), Hiến chĩa thẳng súng vào đám đông bóp cò…

Bản án tử hình dành cho Đặng Văn Hiến bắt nguồn từ những nguyên do nào? Trước hết, đó là vì anh đã dám trực tiếp chống lại quyết định về đất đai của nhà cầm quyền địa phương, và gián tiếp chống lại quy định về đất đai của đảng (địa chủ độc nhất và tuyệt đối trên mảnh đất hình chữ S này). Thứ đến là nỗi sợ hãi của đám lãnh đạo: không tử hình sẽ tạo nên tiền lệ, dẫn đến bạo loạn chống đối việc ăn cướp đất đai của giới chức địa phương khắp cả nước (mà nổi cộm lúc này là ở Đồng Tâm và Thủ Đức). Tiếp nữa, công ty Long Sơn đã dùng mọi phương tiện kể cả tiền bạc để tác động lên các nhân sự quyết định về bản án, như trước đây họ đã tự tiện thành lập và huấn luyện một đội quân cưỡng chế tàn bạo mà chẳng sợ quan chức và luật lệ nào cả. Cuối cùng, án tử hình sẽ che lấp trách nhiệm của chính quyền bản địa và tội lỗi của Long Sơn.

Nhưng nguyên nhân sâu xa của vụ việc chính là chủ trương tạm gọi là “tam hữu độc quyền” và “tam quyền độc hữu” của Đảng CS. Bằng mọi giá, đảng phải nắm cho được vật chất của toàn thể đất nước, tinh thần của toàn thể nhân dân và (nhờ đó) nắm quyền lực trên toàn thể xã hội. Chính sách “sở hữu toàn dân về đất đai” chính là phương tiện để không có tài nguyên nào của đất nước mà đảng không thể sở hữu, tài sản nào của công dân mà đảng không thể chiếm đoạt. Vụ Đan viện Thiên An từ 107 héc-ta bị tước còn 5, vụ dân Đồng Tâm bị lấy cả trăm héc-ta vì “lý do quốc phòng”, và bao nhiêu vụ tham nhũng công sản, đục khoét công khố trong loạt phiên tòa thanh trừng nội đảng lúc này là những thí dụ điển hình. Chủ trương “đàn áp khốc liệt và tuyên án nặng nề” (đối với tất cả những ai đòi nhân quyền và dân chủ, sự thật và công lý, nghĩa là tố cáo tội ác và sai lầm của đảng, giành lại quyền lực và quyền lợi cho nhân dân) đều chỉ nhằm mục đích bắt tất cả tâm ý của toàn dân phải lụy phục đảng, để đảng muôn năm trường trị. Bên cạnh đó và phụ lực vào đó, chủ trương “tam quyền độc hữu” (hay “tam quyền phân công”) đã thay thế “tam quyền phân lập”. Bởi lẽ nếu có sự tách biệt rạch ròi giữa lập pháp (làm luật), hành pháp (quản lý, điều hành theo qui định pháp luật), tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử độc lập, không bị chỉ đạo bởi tổ chức đảng), để cả ba giám sát lẫn nhau thì làm gì mà có những bản án bất công và bất nhân giáng xuống Đặng Văn Hiến, Ninh Viết Bình, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Oai, Nguyễn Văn Hóa… Thế mà trong khi “tam quyền phân lập” được nhân loại xem là nguyên tắc cần tôn trọng và thực thi để bảo đảm công bằng xã hội thì đảng lại thù ghét nó đến mức tháng 11-2017, đã ban hành Quy định 102 QĐ/TW, nhấn mạnh sẽ khai trừ hết thảy những đảng viên đòi thực thi định chế này.

Chồng chất lên những bất nhân vừa nói chính là nhiều quy định trong Bộ luật Hình sự sửa đổi vừa có hiệu lực từ hôm 1-1-2018. Theo Bộ luật mới này, các tội danh "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" (Điều 79 luật Hình sự cũ), "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam" (Điều 88 luật Hình sự cũ) và "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" (Điều 258 luật Hình sự cũ) mà lâu nay bị quốc dân lẫn quốc tế kết án vì mơ hồ, khắt khe, lạm dụng, củng cố đảng, đều được giữ lại nhưng thay đổi số thứ tự, và đặc biệt còn thay đổi về hình phạt cho mỗi tội danh này.

Hôm 4-1-2018, trả lời đài BBC từ Sài Gòn, Luật sư Đặng Đình Mạnh phát biểu: "Điều đáng nói nhất là Bộ luật Hình sự tu chính bổ sung thêm sự chế tài trong cả trường hợp "chuẩn bị phạm tội" mà luật Hình sự cũ chưa từng quy định. Cụ thể, tội danh "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" thuộc Điều 79 luật Hình sự cũ nay là Điều 109 luật Hình sự tu chính, bổ sung thêm Khoản 3: "Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt từ 1 năm đến 5 năm tù”. Tương tự, tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam" thuộc Điều 88 luật Hình sự cũ nay trở thành Điều 117 luật Hình sự tu chính, cũng bổ sung thêm Khoản 3: “Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt từ 1 năm đến 5 năm tù”. Đối với tội "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" thuộc Điều 258 luật Hình sự cũ nay là Điều 331 luật Hình sự tu chính, thì quy định tại Khoản 2 "Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm" sửa thành "Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm".

Luật sư Mạnh bình luận thêm: "Sự thay đổi khái niệm này vẫn tiếp tục giữ quan điểm điển chế Điều 258 theo hướng định tính mơ hồ, bởi lẽ thế nào là "gây ảnh hưởng xấu?" Việc bổ sung thêm sự chế tài đối với cả trường hợp "chuẩn bị phạm tội" của các hành vi theo Điều 79, 88 (Luật Hình sự cũ) bị cho là có thể phương hại đến chế độ, một đàng cho thấy thái độ ngày càng khắt khe, quyết liệt hơn của chế độ, muốn dập tắt hành vi ngay từ trong trứng nước; đàng khác cũng cho thấy một thực tế rằng các hành vi này ngày càng có vẻ phổ biến, phát triển hơn, "gây nguy hại" nhiều hơn! Tóm lại, thay vì thúc đẩy thay đổi xã hội theo hướng tích cực tiệm cận hơn với các chuẩn mực của thế giới văn minh xung quanh ta, thì việc tu chính pháp luật theo hướng khắt khe hơn không phải là giải pháp của vấn đề”.

Tưởng cũng nên nhắc lại rằng cách đây nửa năm, hôm 21-06-2017, một ngày sau khi Quốc hội CS thông qua Bộ luật Hình sự tu chính, tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) cũng đã phát biểu rằng: đáng lẽ phải hủy bỏ những điều luật nói trên, vốn thường được vận dụng để trừng phạt các hành vi thực hiện quyền tự do nhóm họp, lập hội và ngôn luận, giờ đây nhà cầm quyền lại bổ sung thêm các hình phạt nặng nề hơn nữa. Nghĩa là các blogger và các nhà hoạt động nhân quyền từ nay có thể bị phạt tù tới 5 hay 7 năm chỉ vì chuẩn bị phê phán nhà nước hay sắp sửa tham gia một tổ chức chính trị độc lập không được đảng phê chuẩn. HRW cũng kết án Điều 19 khoản 3 buộc luật sư phải vi phạm tính bảo mật giữa người bào chữa và thân chủ, nghĩa là các luật sư sẽ trở thành chỉ điểm cho nhà nước, và thân chủ sẽ không có lý do gì để tin tưởng luật sư của họ. Ông Brad Adams, Giám đốc Ban Á châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền lúc đó có nói: “VN coi mọi ý kiến phê phán hoặc phản đối chính phủ hay Đảng CS là vấn đề “an ninh quốc gia”; điều này sẽ tước bỏ mọi cơ hội bào chữa pháp lý thực sự trong các vụ việc như thế”. Rõ ràng là sự bất nhân của CS đã đi đến chỗ được luật hóa, trở thành quái đản trước con mắt của loài người.

Toàn thể đất nước cũng đang tưởng niệm một vụ việc bất nhân khác, xảy ra cách đây nửa thế kỷ. Đó là việc CS bất chấp lời hứa ngưng bắn, văn hóa dân tộc, ý nghĩa thiêng liêng của ngày Tết  đã tấn công 41 thành phố, thị xã và 72 quận lỵ của Việt Nam Cộng hòa, kể cả Sài Gòn và Huế ngay đêm Giao thừa tết Mậu Thân 1968. Tiếng pháo đã chen lẫn tiếng súng! Bia rượu đã hòa vào máu đỏ! Thịt heo bánh tét đã trộn lẫn với thịt người! Tội ác bất nhân này còn kéo dài gần cả tháng sau đó, nhất là tại Huế, nơi CS đã giết chết từ 6 đến 7 ngàn thường dân gồm viên chức hành chính, bác sĩ kỹ sư, tu sĩ linh mục, tiểu thương lao động, sinh viên học sinh… bằng những hình thức man rợ như dùng báng súng, cuốc xẻng bửa đầu, cột thành chùm chôn sống, xả súng liên thanh và ném lựu đạn vào đoàn người bị trói chặt… Thế mà nay CS vẫn tự hào đó là một chiến thắng lừng lẫy, “từ chủ trương đúng đắn và sáng suốt, nhờ nghệ thuật quân sự VN biết nắm bắt thời cơ để chủ động tiến công địch”. Thói bất nhân bất nghĩa, giết hại đồng bào không ghê tay này đã bắt đầu […] với cuộc Cải cách ruộng đất, sau đó là xâm lăng VNCH khiến 4 triệu người thiệt mạng, tàn sát hơn 100 ngàn quân cán chính chế độ cũ, đẩy hàng triệu Đồng bào ra biển khơi mà một nửa vong mạng, gây nạn dân oan hàng chục triệu người sống dở chết dở, giết oan hàng trăm người dân bị bắt bắt vào đồn… Một chế độ giết người như thế còn xứng đáng để tồn tại sao?

Ban biên tập
Bán nguyệt san Tự do Ngôn luận gửi BVN. BVN không có chủ kiến gì về quan điểm và sắc thái ngôn từ thể hiện trong bài.



“Đi về đâu, hỡi em?”

Hạ Đình Nguyên

Nhân đọc bài viết “Gặp gỡ đầu tuần hôm nay", đăng trên các báo Đảng của tác giả Trương Tấn Sang, tôi bỗng nhớ đến lời bài ca của Trịnh Công Sơn: “Đi về đâu hỡi em, khi trong lòng không còn chút nắng”.

Ấy chỉ là tâm trạng riêng tôi hay ai đó, chứ ở anh Tư Sang thì nắng hãy còn đầy, mà rực rỡ hay không thì chưa biết, nhưng biểu hiện ở bài viết với khí văn ngồn ngộn những ý tưởng lớn, như là bài khai bút có tính thông điệp đầu năm mới như thường lệ, mà anh Tư khiêm tốn – vì không còn là Chủ tịch nước chăng – nên gọi là “Gặp gỡ đầu tuần” cho nhẹ nhàng hơn, hơi hám một cuộc hẹn hò đâu đó.

Như mô tả, đương nhiên là mùa xuân Hà Nội rất đẹp theo truyền thuyết, anh Sang thơ thẩn đi dạo trong “Hoàng thành” Hà Nội, vốn là Cố đô văn vật ngàn năm, và cũng là Thủ đô rực rỡ hôm nay, nơi một thời anh từng ngồi ở ngôi vị cao nhất nước. Anh thăm thú những thắng cảnh - di tích, khi “sáng sớm tinh sương”, lúc “chiều tà nắng tắt” với nhiều cảm xúc hoành tráng, như khi còn ở ngôi cao. Nhân lúc hứng thú, với vài dòng mở đầu bài viết cho cuộc nhàn du, anh lôi tuột một mạch, đưa người đọc lao vào lịch sử, ngồn ngộn sự kiện các triều đại được gọi là thời phong kiến Đinh Lê Lý Trần … làm người đọc có thể tối mắt. Sau đó anh dắt tay người đọc quay về hiện tại, gây một cảm giác ngỡ ngàng đột ngột, ngoài dự kiến:

Nếu tình hình tham nhũng và suy thoái không được loại trừ, Đảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về đâu?”.

Hình như anh muốn gọi hồn dân tộc để về phù trợ, thúc đẩy cái gì đó cho hôm nay?

Thật sự hiếm hoi trong hàng ngũ cấp cao của Đảng lãnh đạo, lại có người yêu môn lịch sử đến như anh. Tôi bâng khuâng tự hỏi: Sao anh xưa không là một giáo viên lịch sử nhỉ?! Dù sao cũng rất đáng hoan nghênh, nhưng liệu anh có lạc đường không đây, con đường mà Đảng của anh đã vạch? Đầu tôi hơi bị đảo lộn, vì nhớ lại mấy câu thơ của Lê Đức Thọ, với tư cách một lãnh tụ khét tiếng, đã xác định hướng đi cho Đảng Cộng sản Việt Nam, dứt khoát và triệt để:

Ta đi đào hố chôn đế quốc,
Chôn bọn chó săn, bọn chúa đất
Chôn cả thời xưa đã tắt rồi.
Dựng lại cơ đồ trong tiếng hát,
Cho mùa xuân nở có hoa tươi…

Mấy câu thơ ngắn ngủi, nhưng hàm súc những quyết tâm sấm sét.

Nhưng “đế quốc” thì đã không chôn được rồi, nay nó bành trướng dữ dội ngay trước mũi. Núi liền núi sông liền sông với hàng đống hợp đồng toàn diện và chiến lược. Bọn chúa đất cũ lạc hậu đã bị chôn cả rồi. Các vị chúa đất mới đã nổi lên nhiều như nấm, dưới các hình thái mới tân kỳ hơn, tính toán kỹ hơn, càng to đẹp với những “biệt phủ” đó đây, ăn đứt thời xưa. Mà toàn diện cái thời xưa cũng đã tắt rồi. Sao anh Tư, cũng có một thời ngồi ở ngôi cao trên ấy, nay lại khơi dòng cảm xúc đến nao lòng những oái oăm của dòng lịch sử đã qua? Và, bao mùa xuân đã nở những đóa hoa tươi mà chính anh Tư cùng nhiều đồng chí của mình, đã từng “tương ánh hồng”, cùng nhau rực rở trên hội trường Ba Đình, các hội trường trong cả nước đó đây, vào những dịp đăng quang các thứ, lễ lạc, hội hè. Chẳng phải cái ước ao của nhà thơ lãnh tụ rất tiếng tăm ấy, như đã thành tựu gần trọn vẹn nửa thế kỷ, mà anh Tư vinh hạnh là người trong cuộc đó sao? Vẫn luôn có hoa tươi dù trên sự đổ nát, khi xuân về.

Bài viết chào xuân năm nay của anh Tư, lại khởi duyên ngay với mùa đại án nở hoa, rất nhiều quan chức cấp trung và cao của Đảng đã đứng trước vành cong cong móng ngựa, người dân thường không thể nhớ hết tên. Có những kẻ mừng vui, lại có những người mang nét u hoài. Cái u hoài ở chỗ nơi Tòa án không hoa, mà trước đây trên sân khấu hội trường thì đầy hoa rực rỡ cũng với những nhân diện ấy. Tôi thấy nhiều hình ảnh anh Tư trao hoa hay nhận hoa gì đấy, cũng cười tươi như hoa vậy. (Khứ niên kim nhật thử môn trung/ Nhân diện đào hoa tương ánh hồng – Thôi Hộ)

Đang dạo bước thưởng xuân ở Hà thành hoa lệ, bỗng dưng anh dẫn người đọc đi vòng vèo vào lịch sử. Anh nói nhiều thứ, về lẽ đời lẽ đạo, các lẽ hưng vong, suy thịnh của các triều đại. Vẫn cố đọc, những mong được anh soi sáng điều chi hôm nay. Cuối cùng, hóa ra anh bảo, người người hãy vỗ tay cho to về cuộc chống tham nhũng do Tổng Bí thư Trọng làm Nguyên soái, mà anh vẫn tiếp tục là người trợ lý âm thầm cần mẫn! Đồng ý thôi, tham nhũng thì toàn dân không ưa rồi, nhưng “ta đánh ta”, tức tham nhũng đánh tham nhũng, thì người dân không phe phái, vỗ tay theo kiểu cách nào đây? Đừng nhanh chóng gắn vào miệng dân hai chữ hồ hởi hưởng ứng. Có đấy, nhưng lại rất nặng lòng ưu tư.

Cách đây không lâu, thời kỳ quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc xâm chiếm, dân tình sôi động thì Đảng trấn áp, bảo: “Hãy để cho Đảng lo”. Nay Đảng đánh Đảng, chuyện nồi da xáo thit, lò Đảng nấu Đảng, đến “củi tươi khô gì cũng cháy”, thì dân nỡ lòng nào mà xía vô, mà cố xía cũng không được, vì lẽ Đảng không thích! Chỉ được phép vỗ tay thôi sao, và không được có ý kiến? Người dân không còn ngoan như thế nữa, dù bị coi thường. Nhưng lòng dân bao la, đứng trên các loại lợi ích phe phái mà ngẫm nghĩ. Tất cả “chúng” – kẻ đánh và người bị đánh – đều là con em của họ mà ra, nên không khỏi ngậm ngùi. Không nô nức hùa theo, mà dân tự hỏi: Cái gì đã tạo nên cái lò nấu khốn cùng ấy?

Những nam, những nữ, mới ngày nào xinh tươi hớn hở, được Đảng – chứ không ai khác – dìu dắt đào tạo, tung hê khen tặng, gởi gắm niềm tin với hoa choàng rực rỡ, nay héo úa tả tơi, đẫm nước mắt trước vành cong của quan tòa. Cái hào khí và ánh quang vinh mà Đảng trao cho, lại đổi màu, bèo nhèo những lời xin xỏ và khóc lóc thậm tệ. Và anh Tư, đã nhồi thêm những lời mắng mỏ cay nghiệt, nhưng rất hay: Lòng tham vô đáy, lợi dụng kẽ hở của chính sách, lạm dụng quyền lực để móc túi nhân dân, rồi chính những kẻ đó và bè cánh lại tìm mọi cách để "chui sâu, leo cao" hơn, nhằm bảo đảm cho khối tài sản ăn cắp đó tiếp tục sinh sôi, nảy nở?”.

Người ta tự hỏi, cái bối cảnh nào để các thứ ấy sản sinh? Tham nhũng là nguyên nhân đầu tiên, hay nó chỉ là sản phẩm? Sao bọn này giỏi thế? Lợi dụng kẽ hở, lạm dụng quyền lực, móc túi người dân, chui sâu leo cao… Và chúng từ đâu ra? Cũng toàn là bậc anh tài nhá nhem của Đảng. Hàng hàng hoàng tử, thái tử, thế tử và các loại thê tử đông như kiến ở các ngóc ngách những cấp những ngành, chẳng thể do thế lực thù địch nào cài cắm. Và cái khung sườn giàn giá nào để cho chúng nương tựa bò leo ngang dọc đến thế? Toàn cảnh là bức tranh mang màu hắc ám của sự xung đột giữa những cái xấu nội tại không được gọi tên. Nếu không gọi cái cấu trúc bất ổn đó là sản phẩm của một thứ cơ chế cầm quyền, thì là gì, của ai? Đảng không phải mới ra đời hôm qua, mà ít nhất đã hơn 40 năm toàn trị. Anh Tư la hét vào chỗ dường như trống không.

Nguyên nhân của các thứ nguyên nhân đẫm lệ ấy là đâu? Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh tự nêu ý kiến trên facebook của mình, vượt hẳn cái điều trăn trở lập lòa, và sự lên án vòng vo lợi, lạm, móc, chui, leo như sự tả chân về một thời kỳ xã hội mạt rệp nào đó. Chênh nói ngắn mà rõ: “Ngày nay không còn là thời đại đi tìm hay tin vào một minh chủ, minh chúa, mà là cần một minh chế. Anh Tư không hề hé môi tới cái minh chế” anh nhà báo vừa đặt tên, mà chỉ thích nói chuyện xa vời của lịch sử, ở đó cứ thấp thoáng bóng dáng minh chủ, minh chúa, có khi gọi thuần Việt là “ông vua tốt”, với bản “anh hùng ca dang dở” như trong bài thông điệp đầu năm ngoái. Thầm nghĩ, chỉ có cái minh chế mới có thể cứu vớt được anh Tư ra khỏi nỗi hằn học rất tâm huyết có tính ẩn dụ này, bao gồm cả sự lo âu và phấn khích. Là một thể chế minh bạch, công bằng mà dân là chủ, không cần thứ đầy tớ lộn sòng, giả danh. Vì chính họ – những vị này – đã lậm ma túy quyền lực, nên tự huyễn hoặc mình là “vua tốt” mà không thể tự nhận ra, đã làm rối việc. Thậm chí, minh chủ còn đòi bỏ tù cái minh chế ấy, và khai trừ những ai gọi tên và cổ xúy nó (chỉ thị 102, 105), nhằm giữ cái uy tưởng tượng của mình. Lại có người cứ tơ tưởng lau gương, rồi soi gương lịch sử. Chuyện hôm nay thật quá rõ, hà tất phải mượn ưu, mượn nhược của năm triều đại ra suy gẫm, học tập. Lịch sử không thể hà hơi tiếp sức cho những chuyện nhá nhem không rõ ràng. Nhưng đâu chỉ là tham nhũng vật chất và quẩn quanh chuyện đốt lò? Người ta còn nói đến tham nhũng quyền lực, tham nhũng sự công bằng của luật pháp, tham nhũng niềm tin từ bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, tham nhũng thành tích của quá khứ, và tham nhũng cả lịch sử, bằng cách bẻ cong, uốn dẻo, tái tạo sao cho “lịch sử” chảy quanh mục tiêu trước mắt của mình, để phục vụ chuyện đốt lò chẳng hạn. Các loại tham nhũng này – là sự suy thoái từ não – thì cái lò nào đốt được nó? Bí quá, người ta kêu gào lịch sử chăng? Và dường như cũng thống nhất phong thái khẩu khí cách điệu, xa vắng xưa nay của anh Tư khi anh viết: “Mỗi chúng ta rồi đây, đều phải đứng trước sự phán xét công bằng của lịch sử, của dân tộc.

Như một lời nhát ma kẻ yếu bóng vía!

Lịch sử không biết lên tiếng cãi vã, lịch sử dường như nằm im đấy, nhưng vẫn tồn tại bền bỉ. Mặt khác, “lịch sử” là một từ ngữ phức tạp, ai mượn dùng tạm cũng được, theo nghĩa mình muốn. Lịch sử không thể nửa đêm thức dậy dựng phiên tòa để phán xét ai đó. Lịch sử cũng không thể đem ra dọa dẫm bằng thuyết định mệnh. Đảng ta vốn vô thần, sao “đồng chí” lại có chuyện “đồng bóng” thế kia! Lịch sử để nghiên cứu phục vụ cái gì đó, nhưng không thể thay cho luật pháp. Một đất nước đi xuống, yếu kém, bệ rạc thì lịch sử của nó cũng bị chôn vùi, dân tộc lầm than, có khi bị xóa sổ, không còn nữa để mà chờ ngày phán xét. Người cầm quyền chỉ được quyền duy nhất là nói về luật pháp và nhân danh luật pháp. Đạo đức, lịch sử, giáo dục hãy nhường cho những chuyên ngành đã được xã hội phân công. Hễ cầm quyền là dạy dỗ được tất cả người ta sao! Có cái hay của thời xưa không thể áp dụng cho ngày nay. Sự lộn sòng đó đã là lợi dụng, là lạm dụng, là biểu lộ lòng tham không đáy về mặt chức năng và tư tưởng rồi còn gì! Lại nữa, nếu quan chức không thể làm cái việc “móc túi người dân ở đường phố được, thì công khai lấy thông qua các chính sách, vốn đã mở toang mênh mông những thứ mà anh ấy cố gọi là kẽ hở, theo cách nói giảm nhẹ của ngôn ngữ tòa án hiện hành. Thật ra thì bóp cổ và tịch thu, như đang tiếp tục diễn ra quyết liệt với hàng trăm thứ thuế mánh khóe chồng chất. Một số không ít người, lại có thể cùng nhau lén lút chui sâu, leo cao trong một hệ thống quyền lực chặt chẽ và khổng lồ này được sao? Các từ ngữ sử dụng như trên rất mỉa mai, nhưng đầy sáng tạo, nó lạng lách như đám choi choi đua xe ngoài phố.

Cái gốc mọi sự đáng nói, không phải chỉ ở tham nhũng, nhưng anh Tư không nói tới, phải chăng vì vướng bóng quân vương của anh ở đâu đây. Cái đạo đức thời xưa phong kiến thì quan như phụ mẫu. Đạo đức ngày nay của người cầm quyền nằm ở thực thi hai chữ “Dân chủ”, xin đừng lượn lờ đánh tráo. Sự suy tàn của các triều đại xưa nằm ở chỗ bất tài, ăn chơi trụy lạc của lớp người kế thừa. Sự sụp đổ của một chế độ ngày nay nằm ở thể chế độc tài, vốn là cha sinh mẹ đẻ của suy thoái, tham nhũng, bè cánh. Sao lại nâng cao tham nhũng suy thoái lên thành nguyên nhân đầu tiên, ở vào vị trí cao hơn cái triết lý nền tảng của chế độ ấy? Có thể nói ngược lại được không? Sau khi khệnh khạng băng qua lịch sử vài bước chân, anh công khai bày tỏ nỗi lo lớn của mình. Thẳng thắn, hùng hồn, xanh rờn trách nhiệm, anh hỏi: “Nếu tình hình tham nhũng và suy thoái không được loại trừ, Đảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về đâu?”.

Câu hỏi của anh thật là khẩu khí tràn đầy, nhưng không biết anh hỏi ai?

Hơn 40 năm qua, anh ngồi đứng ở đâu, và làm gì? Anh đào và chôn cái gì? Sao anh trút phẫn nộ đến thế vào bọn tham nhũng ngày càng sanh sôi nảy nở, mà không phải vào cái đằng sau lưng tham nhũng, mà nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh gọi ất ơ là thiếu cái “minh chế”?

Xin tạm trả lời câu hỏi của anh: Tất cả các thứ ấy – tham nhũng, suy thoái, Đảng viết hoa, chế độ, đất nước sẽ đi về cùng chung một mối.

Nó nhẹ nhàng thôi: Chuyện tham nhũng thì có thể tạm hiểu được, dù rắc rối. Nhưng cái suy thoái về mặt sinh học ở trong não rất khó tự biết, thì làm sao loại trừ? Đảng này thì có thể xàng xê sao đó, nhưng cái tên vẫn còn thì không sao cả, anh này về hưu có anh khác thay, như các đợt trước vậy! Chế độ này có thể chỉnh sửa cũng dễ, cứ na ná sơn theo màu sắc Trung Quốc, và gắn thêm cụm từ 30 năm đổi mới, là tạm được. Dân tộc này có thể tàn tạ, nhưng vẫn trường tồn, ít nhất vài ba thế kỷ nữa, những chiếc ghế đầu triều vẫn còn đó cho nhiều lượt người ngồi. Còn đất nước này thì vẫn mãi ở bên cạnh ông láng giềng, vẫn núi liền núi sông liền sông, bền vững!

Tất cả sẽ không đi về đâu cả, anh ạ! Vẫn như hàng ngày, nó tiếp tục ổn định đi xuống.

Mượn chút tinh sương sáng sớm, cả chút nắng tắt chiều tà, nhắn gởi anh lời chào đầu tuần hôm nay, với chút chia sẻ nhỏ nhoi. Cũng xin ghi nhớ lời khuyên của Tiên nhân gởi gắm thông qua anh Tư, đến toàn Đảng, toàn quân, toàn dân xã hội chủ nghĩa: “Tri túc tâm thường lạc, vô cầu phẩm tự cao”, dù cái bụng đói cồn cào của người dân không đạt đến đỉnh cao ấy, cũng xin quyết không lăn tăn thêm nữa. Tôi cũng nhớ lời của vị tiền nhiệm Sáu Phong, khi rời chức thì về nhà “vui thú điền viên” (là “viên” của ông Sáu Phong, chứ cái “viên” nhà dân hay nhà tôi thì không vui được: bọn có lòng tham không đáy, chui sâu leo cao đàng hoàng đến vẽ ngang vẽ dọc, gọi là quy hoạch cho tương lai!). Anh Ba Dũng thì về nhà “làm người tử tế”, còn chưa biết có ổn không! Dù vậy, tôi cũng hóng hớt chờ đợi một ngày ông Tổng Trọng về vườn, sẽ để lại câu dạy gì đây, thường thường cũng làm vui cho hậu thế? Cũng xin gởi bâng quơ lời ngợi ca đến anh Đoàn Ngọc Hải quận 1 – quan nhỏ thôi – cái khí phách về vườn khá đậm nét của anh.

Xem chừng, câu nào để lại cũng khó thực hiện. Vì chính anh Tư – vốn đã đạt cái thường lạc, vô cầu rồi – mà chẳng phải đang viết những lời hú gió gọi trăng đó sao? Tôi e là ông Trọng cũng không cần dùng đến.

Tôi cũng theo chân anh Tư, cùng lũ trẻ hàng xóm hăm hở bước sang năm mới, nhưng lòng vẫn chưa may mắn có được “một tâm trạng tươi tắn với niềm tin đã được xốc dậy cũng không “cùng phấn khởi bước sang năm Mậu Tuất 2018 như anh đã gắn lửa vào miệng dân. Tôi vẫn hắt hiu ca cẩm: Đi về đâu hỡi em, “khi sáng sớm tinh sương, lúc chiều tà nắng tắt”, như âm hưởng câu hỏi hoành tráng “sẽ đi về đâu” của anh, đang vang vang trong bài luận văn đầu năm, kêu gọi “lịch sử” hãy về cùng anh hò reo “chống tham nhũng”?

15/1/2018
H.Đ.N.
Tác giả gửi BVN.



“Họa phúc hữu môi phi nhất nhật”

(Mênh mông thế sự để gió cuốn đi số 29)
Tương Lai

Để rồi “anh hùng di hận kỷ thiên niên” nối tiếp câu thơ trên! Đây là lời Nguyễn Trãi. Phải chăng đây cũng là sự đúc kết về tính bi hùng của lịch sự từ sự trải nghiệm của chính sự nghiệp lẫy lừng và cuộc đời bi hận của người anh hùng. Quy luật nghiệt ngã này rồi sẽ vận vào cái kết cục bi thảm cuộc đời của người đứng vào hàng số một trong những danh nhân Việt Nam từ cổ chí kim.

Hãy đặt sự đúc kết này vào trong toàn cảnh của bài “Quan hải” (Đóng cửa biển)* mới thấy hết được tư tưởng và những dự phóng từ một tầm vóc thiên tài gửi vào những tứ thơ bất hủ:

Thuyền có bị lật mới biết rằng dân chẳng khác gì nước
Cậy vào địa thế hiểm trở cũng khó bằng mệnh trời
Họa phúc đều có duyên do, đâu phải chỉ một ngày
Anh hùng để lại mối hận nghìn năm
Xưa nay ý trời đất thì vô cùng tận

(Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ, 
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên. 
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật, 
Anh hùng di hận kỉ thiên niên. 
Kiền khôn kim cổ vô cùng ý)

Tầm vóc thiên tài của Nguyễn Trãi khiến cho ông có đôi mắt vượt lên phía trước khi ông được giao viết chiếu chỉ của Lê Thái Tổ “Cấm các đại thần tổng quản cùng các quan ở Viện, Sảnh, Cục tham lam lười biếng” và “Phàm người có chức vụ coi quân trị dân đều phải dụng phép công bằng, làm việc cần mẫn, thờ vua hết trung, đối dân hết hòa, bỏ thói tham ô. Trừ tệ lười biếng; bè đảng riêng tây phải bỏ, thái độ cố phạm phải chừa; coi công việc của quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo của chính mình…”.

Chỉ có điều, thiên tài, thật sự là thiên tài, vĩ nhân đích thực là vĩ nhân thường đơn độc. Nguyễn Trãi vượt hẳn lên người đương thời, và vì vậy ông là đối tượng của sự ghen ghét, thù hận và tìm cách hãm hại. Kết thúc chiến tranh, người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi được phong đến tước hầu, hàm thượng thư, tham dự việc cơ mật, rồi cũng chính bậc thang danh vọng ấy đã ẩn chứa trong lòng nó hiểm họa không sao tránh khỏi. Có lẽ ông đã dự cảm được điều đó:

Cửa nhà càng rộng, thế càng phiền
(Gương báu răn mình, bài số 16)
Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc
Cho hay đường lợi cực quanh co
(Tỏ chí mình, bài số 19)

Không phải ai khác mà Lê Thái Tổ vì nghe lời xiểm nịnh đã bắt giam người công thần số một từng nằm gai nếm mật với mình là Nguyễn Trãi. Cho dù là khai quốc công thần, nhưng với phẩm tính trung thực và dứt khoát không khoan nhượng vói những kẻ chỉ ưa xiểm nịnh thì Nguyễn Trãi làm sao tránh khỏi sự căm tức của lũ quyền thần chuyên nghề nịnh hót. Chẳng những thế khó mà được triều đình trọng dụng. Trong một thư gửi cho bạn Nguyễn Trãi đã nói về cái nết “ngông” ấy trong tính cách của ông thời trẻ. Lúc về già, sống giữa triều đình lúc nhúc lũ nịnh thần, ông vẫn giữ lấy cái bản ngã đáng trọng ấy và cũng do đó ông càng lắm kẻ thù!

Bình sinh vu khoát chân ngô bệnh
Vô thuất năng y lão cánh gia
(Bình sinh vu khoát thật là bệnh của ta
Không thuật gì chữa được, mà già lại thêm nặng)
(Bài “Ngẫu thành” làm vào thời bị thất sủng)

Cái quy luật tàn nhẫn “Thỏ khôn chết, chó săn bị mổ làm thịt; chim bay cao hết, cung tốt vất bỏ; nước địch phá xong mưu thần bị giết” (Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh; cao điểu tận, lương cung tàn; địch quốc phá, mưu thần vong) đâu chỉ xuất hiện bên Tàu từ thời Xuân Thu với Văn Chủng và thời Tây Hán với Hàn Tín! Hầu như các triều đại phong kiến Việt Nam cũng không thiếu những thảm trạng “điểu tận cung tàn”, chim hết thì xếp cung nỏ vào kho. Những công thần chính trực không mấy khi đi trọn đường đời, mà thường nửa đường đứt gánh. 

Càng trung chính thì càng dễ đứt gãy, càng phải gánh chịu nhiều lời thị phi từ những kẻ mà lòng dạ “khó hiểu như vực sâu”, miệng lưỡi “sắc nhọn hơn chông mác” như Nguyễn Trãi đã từng chiêm nghiệm. Oái oăm thay, sống dai dẳng nhất lại là bọn nịnh thần khéo luồn cúi để được sủng ái, giỏi kéo bè kết cánh để hãm hại người ngay.

Việc Lê Sát, một khai quốc công thần cùng với Nguyễn Trãi và nhiều người khác sát cánh cùng Lê Lợi từ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cho đến khi toàn thắng được phong Huyện thượng hầu, công hàng thứ nhất, đến triều Lê Thái Tông được phong làm tể tướng, lại là người ưa nịnh, hống hách và tham quyền, đã tìm cách diệt Nguyễn Trãi cũng là chuyện dễ hiểu. Nhưng đến lượt Lê Sát lại bị Lê Thái Tông giết cũng lại là chuyện không lạ. Những người đứng ra can ngăn cũng bị trị tội. Sử còn chép họ “cùng bị truy đoạt tấm biển "công thần" được ban cho từ thời Lê Thái Tổ”.

Vậy là, vào thế kỷ XV dẫu là thiên tài Nguyễn Trãi cũng không thể nào vượt qua được cái nan đề của lịch sử vừa nhắc ở trên. Nguyễn Trãi chưa thể nào biết được vào thế kỷ của mình, xã hội Châu Âu trung cổ đang trăn trở chuyển mình. Đó là thời đoạn lịch sử của trào lưu phục hưng văn hóa với những Bocasse, Petrarque, trước đó là tên tuổi của Dante “người khổng lồ” của nước Ý với Thần khúc (Divina Commedia) được xem là “Kinh thánh của thời trung cổ” và sau đó là Thomas More người Anh, với tác phẩm Utopia, được xem là “nhà cách tân tư tưởng vĩ đại”. Nguyễn Trãi của chúng ta chưa hề biết đến họ, nhưng sử học thì nhận biết ở ông “có sự tập hợp của nhiều tính cách nhân vật lớn như thế” (Văn Tạo). Phải chăng vì vậy Nguyễn Trãi được phong tặng là danh nhân văn hóa thế giới năm 1980.

Bi kịch thảm khốc mà nhà văn hóa lớn của Việt Nam phải gánh chịu chình là vì thời đại của Nguyễn Trãi hàm chứa trong nó những nghịch lý: Một là thời thế đã thay đổi, cần phải đổi mới, nhưng đề xướng đổi mới lại là xu hướng Trung Quốc hóa, phản dân tộc (đại diện là các nho thần Lê, Phạm). Hai là cái truyền thống thì bảo thủ (mất tính năng động buổi đầu nhà Trần) tuy rằng nhờ biết nhân danh dân tộc đã nêu lên được một nguyên lý tiến bộ: “Nam, Bắc khác nhau không cần bắt chước nhau”. Ba là xã hội văn hóa khủng hoảng mà không có đường lối tháo gỡ. Hồ Quý Ly tuy đã kiên quyết chống giặc Minh xâm lược, bước đầu gợi ra quan điểm giải Hán hóa về văn hóa và giáo dục song điệu kèn lại ngập ngừng với những giải pháp nửa vời.

Vậy là, đúng như nhận định của học giả đáng kính Trần Quốc Vượng “Nguyễn Trãi tắm mình trong một bầu không khí văn hóa, ở đó đang diễn tiến cuộc đấu tranh gay gắt giữa “Truyền thống” và “Đổi mới”, cuộc đấu tranh gay gắt giữa xu hướng Trung Quốc hóa và xu hướng giải Trung Quốc hóa trong nội bộ các thế lực cầm quyền và giới trí thức, văn hóa Đại Việt”. (Văn hóa Việt Nam. Tìm tòi và suy ngẫm. NXB Văn học, 2003, tr.728)

Với sứ mệnh phát huy truyền thống dân tộc và thân dân thời Lý-Trần, trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi đã dõng dạc và đanh thép chỉ rõ: “Đại Việt ta thuở trước, Vốn xưng văn hiến đã lâu, Sơn hà cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác”. Như vậy là đã xác định được sự “dị thù” giữa nước ta với nước láng giềng phương Bắc cả về cương vực, cả về văn hóa. Tuy nhiên xét trên tổng thể về triều đại, nhất là từ thời Lê Thánh Tông (1460-1497) chính trị thì củng cố chế độ trung ương tập quyền theo hướng chuyên chế, tư tưởng thì theo hướng độc tôn nho giáo, bài xích Phật, Đạo và tín ngưỡng dân gian. Vì thế, ngày càng rơi vào quỹ đạo của văn hóa phong kiến Trung Quốc cho dù Nguyễn Trãi từng cố tạo dựng một bước đột phá. Đương nhiên, sức sống của dân tộc tạo nên môt lực nội sinh đã cưỡng lại quyết liệt. Vả chăng, cái thực tế ngoại diên bao giờ cũng vượt lên trên cái duy ý chí của tầng lớp thống trị. (Xem thêm Trần Quốc Vượng, sách đã dẫn).

Chính vì vậy, vượt hẳn lên những người đương thời, Nguyễn Trãi có những cống hiến lớn cho đất nước khó có danh nhân nào trong lịch sử nước ta có thể so sánh được. Riêng một điều này đã cho thấy sự độc đáo của ông: Nguyễn Trãi là nhân vật lịch sử duy nhất đã tự tay mình viết ra những tư tưởng chính trị, quân sự và đạo lý sống của chính mình. Đáng tiếc là sau thảm án của người anh hung, nhiều tác phẩm của ông đã bị bọn quyền thần thắng thế trong triều thiêu hủy.

Sự đúc kết về bi kịch “họa phúc hữu môi phi nhất nhật, anh hùng di hận kỷ thiên niên” của ông với ý nghĩa khái quát sâu sắc có giá trị như một quy luật lịch sử. Mà thật ra, đâu phải đợi đến thảm án Lệ Chi viên thời Lê Thái Tông, ngay thời Lê Thái Tổ, vị đệ nhất công thần Nguyễn Trãi đã thất sủng và đã có lần bị vua hạ lệnh bắt giam, đến khị được tha thì cũng không được trao những trọng trách để thực thi tài kinh bang tế thế. Ông viết điều ấy trong bài “Ngẫu thành”: “Hỷ đắc thân nhân quan hưu lãnh” (Mừng được thân nhàn mà chức quan lại rỗi)!

Chỉ kẻ nịnh bợ và có tài kéo bè, kết cánh như Lê Sát mới được nắm trọn quyền bính. Chính Lê Sát đã có lần đàn hặc, khiển trách Nguyễn Trãi, người mà ông ta biết rằng tài năng và đức độ vượt hẳn mình và những người đang nắm giữ những trọng trách trong triều. Lê Sát là “khắc tinh” của Nguyễn Trãi như nhận định của một nhà sử học! Nhận định ấy ngẫu nhiên lại rọi thêm chút ánh sáng để hiểu về diện mạo của những kẻ hoạt đầu, trí trá nham hiểm, lá mặt lá trái trong mưu toan leo lên cao hơn nữa trên bậc thang danh vọng bằng nhiểu thủ đoạn hạ gục đối thủ có bản lĩnh và quyền uy hơn mình! Quả thật lịch sử là một nhân tố mà thiếu nó thì khó soi tỏ cái đang diễn ra, bởi lẽ “một nền văn minh bao giờ cũng là một quá khứ, một quá khứ sống động nào đó. Do đó, lịch sử một nền văn minh là sự tìm tòi trong những tọa độ cũ, những tọa độ mà ngày nay vẫn còn giá trị (Fernand Braudel, Tìm hiểu các nền văn minh). Chính từ những sự kiện đang xảy ra mà tìm về “những tọa độ” có tác dụng gợi lên một cái nhìn tham chiếu đặng hiểu sâu cái đương đại.

Bằng tầm nhìn của một vĩ nhân, Nguyễn Trãi từ lâu đã hiểu được nghịch lý ấy: Mấy bài thơ mở đầu cho Ức Trai thi tập đã cho thấy điều đó. Xin dẫn ra đây mấy câu:

Binh thư thân thích bán ly tinh
Vạn tử tàn khu ngẫu nhất sinh
Vãng sự không thành Hòe quốc mộng…
(Ký cữu Dịch trai Trần công)
(Sau cuộc binh hỏa, thân thích đã rơi rụng một nửa
Trải muôn chết thân tàn ngẫu nhiên còn sống
Việc cũ xưa đã thành giấc mộng Hòe quốc…)

Vậy là đúc kết quy luật của lịch sử ở tầm vóc của một vĩ nhân khác xa việc mượn lịch sử một cách lố bịch của kẻ xu thời muốn ăn theo cái xu thế ngỡ là đang thượng phong để kiếm chác chút đỉnh khi vốn liếng chính trị chẳng còn gì qua bao toan tính bẩn thỉu để rồi “bừng con mắt dậy thấy mình tay không”! Của đáng tội, lịch sử không thiếu gì những kiểu người như vậy. Thì chẳng phải Nguyễn Trãi đã mắng thẳng vào mặt lũ giảo hoạt, quay quắt bon chen, nịnh bợ để cốt leo lên cao đó thôi: “Sở dĩ có tai nạn ấy chính là tự lũ các ông. Các ông chỉ là loại người thích sưu cao thuế nặng để vơ vét của dân cho nhiều”. Theo cách nói hôm nay là “ăn của dân không chừa một thứ gì”! Nguyễn Trãi dám mắng bọn quyền thần sâu mọt vì ông đã thật sự nêu gương sáng trong suốt thời kỳ “nằm gai nếm mật” với Lê Lợi, rồi vào buổi “đảng ngụy ngầm gian, theo hùa [với giặc Minh] mà bán nước” cho đến khi bị thất sủng “triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải”, cho dù “Bữa ăn dù có dưa muối, Áo mặc nài chi gấm là” (Nói chí mình, bài số 3) vẫn ung dung tự tại “Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh, Áo bồ quen cật vận xênh xang” (Tức sự, bài số 4) . Nguyễn Trãi chỉ có một điều canh cánh trong lòng không bao giờ nguôi:

Suốt đời ôm mãi lòng lo trước
Chăn lạnh choàng vai thức suốt đêm
Bình sinh độc bão tiêu ưu niệm
Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên
(Hải khẩu dạ bạc hữu cảm, bài số 9)

Đối với triều đình nhà Lê lúc bấy giờ, sau “bốn biển đã yên lặng”, Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá! Nguồn gốc sâu xa của thảm án vô cùng đau thương của Nguyễn Trãi bị tru di ba họ là ở đó” (Phạm Văn Đồng). Duyên do của họa phúc đâu chỉ phải một ngày mà nếu bằng vào sự nghiệp và vận mệnh của Nguyễn Trãi thì quả là vì ông “nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá”. Đúng như thế, nhưng cũng cần nói rõ thêm là trong lịch sử, những người phải gánh chịu nỗi oan khiên như Nguyễn Trãi không chỉ có một, Nguyễn Trãi là bi kịch thảm khốc nhất, được nói đến nhiều nhất vì ông vượt hẳn lên trên những người khác về đức độ và tài năng của một anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới. Nhiều oan khiên trong suốt tiến trình lịch sử là do cái nan đề của lịch sử nhân loại vẫn tồn tại từ buổi Nguyễn Trãi tham chính và dai dẳng cho đến tận hôm nay chứ không chỉ trước 1945!

Một khi quyền lực được tập trung vào độc quyền cá nhân nhà vua (thiên tử) thì cái ông “con trời” ấy tùy theo lợi ích của chính nó, có khi do tính cách cá nhân, trình độ hiểu biết, dục vọng riêng tư mà định đoạt mọi vấn đề của đất nước. Cùng với cái đó, sự chuyển giao quyền lực giữa các chủ thể quyền lực theo cơ chế nối truyền hoặc gia đình, dòng tộc còn nhân dân, lũ “dân đen con đỏ” gọi là “bách tính” là viên đá lát đường cho các cá nhân đại diện cho gia đình, dòng tộc trong cuộc tranh bá đồ vương để leo lên ngai vàng, cái ghế quyền lực cao nhất. Chính cái nan đề đó khiến cho tất thảy mọi triều đại đầy rẫy những “tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây” không sao kể xiết. Có chăng chỉ ít hay nhiều tùy thuộc một phần vào thời thịnh trị so với thời suy vong, với minh quân hay với hôn quân trị vì mà thôi.

Đúng là, sự vĩ đại thuộc về Nguyễn Trãi, còn những hạn chế thuộc về điều kiện lịch sử như Võ Nguyên Giáp đã khẳng định nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Gợi lại hình ảnh của Nguyễn Trãi với câu đúc kết ở tầm triết lý mang tính quy luật cốt để có cái nhìn tham chiếu như vừa nói với những gì đang diễn ra trong thời đại đau thương của dân tộc trong buổi nhá nhem, tranh tối tranh sáng đầy nhiễu nhương với câu khái quát của Nguyễn Phú Trọng: “Nhìn tổng quát đất nước có bao giờ được thế này không?” và lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã kịp thời phản bác lại thật tường minh: “Nhìn tổng quát đất nước có bao giờ bi đát thế này không?”.

Bi đát thể hiện tập trung nhất ở chế độ toàn trị phản dân chủ ngày càng bộc lộ rõ cái nan đề của lịch sử đã phân tích ở trên lại đang được phơi bày lộ liễu. Câu chuyện “tiếm quyền” cứ ngỡ chỉ là sản phẩm của chế độ thần quyền thời phong kiến với các “con trời” muốn cho ai sống thì được sống, ai chết thì phải chết thì nay đang hiện diện một cách trắng trợn trong xã hội ta hiện nay. Hai từ “nhân dân” đầy rẫy trên mặt báo, và là điệp khúc mỹ miều được nói đến từ cửa miệng các quan chức từ chóp bu cho xuống đến nơi “thôn cùng xóm vắng”. Thế nhưng trên thực tế thì nhân dân hoàn toàn đứng ngoài mọi quyết định của bộ máy quyền lực do Đảng hoàn toàn áp đặt. Việc “trưng cầu dân ý” được ghi vào Hiến pháp 1946 bị cố tình lờ đi suốt 70 năm qua.

Câu mở đầu cho Khế ước xã hội của J.J. Rousseau ra đời năm 1762, đánh dấu một cột mốc lớn trong tư duy của con người tự nhận thức về quyền làm người của mình:Con người sinh ra đã là tự do, vậy mà ở khắp mọi nơi, con người lại đang bị cùm kẹp vẫn đang là một giục giã cho tất thảy những người đang bị cùm kẹp hiện nay. Thành tựu của văn minh loài người với sự ra đời nhà nước pháp quyền với Montesquieu và nguyên lý “Nhà nước của dân, do dân, và vì dân” của Abraham Lincoln đã bị đánh tráo. Đúng hơn là bóp méo và xuyên tạc khi thêm cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” vào để dễ lừa mị.

Cùng với việc đặt cương lĩnh của Đảng lên trên hiến pháp, gần đây với các “Quy định 105” và “Quy định 102” dấn thêm một bước trắng trợn hơn việc chà đạp lên những thành tựu của văn minh vừa nói. Trên thực tế thì điều đó vẫn đã diễn ra trong nhiều thập niên, nhưng với việc nói toẹt tra là cấm không được có ý nghĩ và nói đến “tam quyền phân lập, xã hội dân sự” cho thấy triều đại Nguyễn Phú Trọng với sự dẫn dắt và áp lực nặng nề, tức thời của tư tưởng và đường lối Tập Cận Bình: độc trị hành pháp, “đảng chỉ huy súng” ở Trung Quốc đã vượt xa những tiền nhiệm như Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn Linh.

Sự đàn áp khốc liệt những người yêu nước chống Trung Quốc xâm lược, đòi dân chủ dân sinh diễn ra dồn dập song song với cuộc thanh trừng nội bộ mỗi lúc một tàn bạo và hối hả hơn. Xin dẫn ra đây một nhận định vừa tìm thấy trên mạng:
Vietnam – Cali Today News – Tổng bí thư Trọng đã như thể “lột xác” kể từ tháng Mười Một năm 2017, đặc biệt sau cuộc gặp với Tập Cận Bình của Trung Quốc vào ngày 12/11/2017. Gần một tháng sau cuộc gặp vừa lộ diện vừa cực kỳ bí mật đó, cựu ủy viên bộ chính trị Đinh La Thăng đã bị còng tay. Và đúng hai tháng sau cuộc gặp đó, Đinh La Thăng đã phải đối diện với một mức án nặng chưa từng có đối với một quan chức cấp cao. Chỉ mới vào ngày thứ tư của phiên tòa xử “Thăng – Thanh”, Viện Kiểm sát tối cao đã xuất hiệ n với đề nghị mức án 14 – 15 năm đối với cựu ủy viên bộ chính trị Đinh La Thăng và chung thân đối với Trịnh Xuân Thanh. Với sự xuất hiện khá sớm như thế, có khả năng phiên tòa trên – dự định kéo dài khoảng 2 tuần – sẽ được rút ngắn hơn.

Chính vì thế Theo quan điểm của tôi, Việt Nam không phải là một quốc gia pháp quyền”, nữ luật sư Petra Schlagenhauf đã khẳng định. Cho nên, một phiên tòa công bằng ư? Theo quan điểm của vị nữ luật sư ở Berlin, CHLB Đức, điều này sẽ không thể có. Suốt hai tháng ở Hà Nội, thân chủ của bà không hề được tiếp cận với sự trợ giúp pháp lý, nhóm biện hộ Việt Nam của người này có quá ít thời gian để nghiên cứu bản cáo trạng. Bà là người bị từ chối cho nhập cảnh trước khi bắt đầu phiên xử. Rồi chuyên gia am hiểu sâu sắc Việt Nam, giáo sư Carl Thayer cũng đưa ra một kết luận tương tự: “Ở Việt Nam không có những cuộc điều tra độc lập”. Theo nghĩa này, mọi cáo buộc đều mang tính chính trị. Nhưng vụ tố tụng này có nghĩa như thế nào? Đằng sau đó phải chăng là cuộc chiến quyền lực giữa các phe phái trong Đảng Cộng sản? Một bức tranh rõ nét khó được đưa ra trong những tình trạng không minh bạch đến vậy.
Trong bài này chưa tiện phân tích sâu về sự kiện Đinh La Thăng, nhưng lập luận sau đây của một người tự giới thiệu “chỉ là gã dân đen, bằng những quan sát của riêng mình, tôi thấy những điều sau đây” không phải là không gợi lên những suy ngẫm:
Tàu Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2, của Petro Việt Nam (PVN) vào tháng 5 năm 2011. Thăng là người quyết liệt, ngay lập tức, không úp úp mở mở theo kiểu “tàu lạ” “tàu quen”, cho họp báo, chỉ rõ tọa độ, tố cáo thẳng mặt Trung Quốc xâm phạm lãnh hải, tại thềm lục địa Việt Nam, bùng lên ngọn lửa chống Tàu trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Vụ này, Tàu đau lắm. Đó là tội thứ nhất của Thăng với bọn Tàu.

Thăng là người đầu tiên dám đập bàn mắng chửi tổng thầu Trung Quốc, bố láo, láu cá láu tôm, tại công trường Cát Linh – Hà Đông. Thêm tội thứ hai của Thăng với Tàu.

Thăng là người cách chức hàng loạt những cán bộ cao cấp ngành Đường sắt Việt Nam thân Tàu, tay sai của Tàu, mua đầu máy, toa xe, phụ tùng đểu, toàn đồ phế thải của Tàu với giá cắt cổ, nhưng không dùng được – Tàu hậm hực lắm . Đó là tội thứ ba của Thăng.

Thăng là người công khai ủng hộ Bob Kerry làm chủ tịch quỹ tín thác Đại học Fulbright tại thành phố Hồ Chí Minh. Bọn Tàu cho đó là ý đồ thoát Trung. Tàu điên lên. Tàu càng điên tiết khi không còn người Việt nào căm thù Đế quốc Mỹ, mà lại chỉ căm thù Tàu. Đó là tội thứ tư của Thăng.

Petro Vietnam (PVN) đang ở tuyến trước trên Biển Đông, đối đầu, trực diện với Trung Quốc, bị lôi ra cắt tiết vào lúc này. Ai hưởng lợi nếu không nói là Tàu. Từ nay về sau, PVN còn dám to miệng tố cáo nữa không? Có dám đối đầu không? Có dám xông lên tuyến trước không? PVN suy sụp là loại được một hiểm họa. Trung Quốc giờ đây một mình một chợ trên Biển Đông, hưởng lợi to trong vụ án này.
Nếu một mai lỡ Thăng vào Bộ Tứ, thì hiểm họa thoát Trung là hiển nhiên. Bọn Tàu nham hiểm, thủ đoạn, nên đã phải tính trước, không để Thăng yên. Giết Thăng! Tàu thêm vây cánh. Mỹ và phương Tây mất đi một người bạn quan trọng tại Việt Nam.

Chỉ cần một “tội”, bọn Tàu đã không tha. Đằng này Thăng mắc tới bốn tội với Tàu….

Làm quan có ông nào là không tham ô chấm mút. Tham ô như Thăng thì bao nhiêu người không tham ô trong giới quyền chức Việt Nam. Làm việc và lãnh đạo sao không mắc sai lầm. Sai lầm như Thăng thì nhiều người còn sai lầm nghiêm trọng hơn. Sao không mang ra cắt tiết, xẻ thịt.

Tôi không tin Đảng giành lại được chiến trường quần chúng sau đại án Đinh La Thăng. Trái lại, Đảng còn mất thêm, gây thù chuốc oán, suy sụp lòng tin, mất đoàn kết nội bộ. Đảng càng suy yếu, Tàu càng hưởng lợi. Chỉ có Đất Nước Việt Nam là nạn nhân.

Sẽ quá dài và không cần thiết nếu cứ đi mãi vào cái mê hồn trận của những phiên tòa với những bản án bỏ túi theo một quyết định đã có từ trước của người đang thâu tóm mọi quyền lực vào một tay mình. Chưa bao giờ mà sự dằn vặt của nhà văn Nguyễn Khải từng được dẫn ra trong bài viết về sự ngột ngạt của môi trường xã hội của tôi cách đây nhiều năm lại giằng xé trái tim tôi như những ngày vừa qua: Một môi trường xã hội ngột ngạt vì cái bóng quyền lực phủ lên tất cả, quyết định tất cả, thì số phận những cá nhân sẽ ra sao”? (Nguyễn Khải, Đi tìm cái tôi đã mất).

Trong những ngày này quyền lực không còn là “cái bóng” nữa mà đã hiển hiện lên bằng nhà tù và những phiên tòa nhân danh luật pháp xã hội chủ nghĩa. Mà vì vậy, sự đúc kết mang tầm triết lý của Nguyễn Trãi hơn 600 trước đây “họa phúc hữu môi phi nhất nhật” cũng đang là hiện thực bằng xương bằng thịt của những bản án phi luân kết tội rất nặng những người phụ nữ Việt Nam yêu nước, kiên cường trong khát vọng tự do cho bản thân mình, cho con mình như Mẹ Nấm, Trần Thị Nga và bao nhiêu người khác nữa đang bị hành hạ trong nhà tù chế độ xã hội chủ nghĩa này.

Cũng nên nói thêm rằng, chính vào lúc đúc kết về quy luật tàn nhẫn của cuộc sống, Nguyễn Trãi vẫn đủ bản lĩnh và tinh thần lạc quan để ước ao làm sao xóa đi những thảm trạng giày vò cuộc sống của con người, muốn đem nồi nước hoa lan gội cho khắp cả thế gian sạch sẽ:
Nguyện bả lan thang phân tứ hải
Tùng kim tảo quyết cựu ố dân
(Đoan ngọ nhật)
Bởi vậy ông răn dạy con cháu phải sống có đạo lý:
Khó khăn phải đạo cháo càng ngon
(Bảo kính cảnh giới, bài số 22)

Liệu Nguyễn Trãi có rơi vào ảo tưởng? Thì chẳng phải Albert Einstein từng cảnh báo “Quyền lực thường muốn thu nạp những người vô đạo đức” nên cũng chính Einstein đòi hỏi: Hãy có can đảm để đại diện một cách nghiêm túc những niềm tin đạo đức trong một xã hội đầy rẫy những kẻ vô liêm sỉ”.

Dù sao thì cũng cần nói rằng, làm sao sống mà không có đủ dũng khí để giữ vững một niềm tin về công lý và chính nghĩa trong cái xã hội đang bì thao túng bởi những kẻ vô liêm sỉ!

Ngày 13.1.2018
T. L.

Tác giả gửi BVN.

Vở diễn dở

Phạm Đình Trọng

Ô tô tiền tỉ của Trịnh Xuân Thanh đúng chỉ là con muỗi so với những biệt phủ của quan này quan nọ, nhưng bản thân Trịnh Xuân Thanh thì chẳng phải là con muỗi thưa anh Phạm Đình Trọng. Anh ta là một mắt xích trong cái tập đoàn kinh tế siêu lợi nhuận huyết mạch của cả nước đấy. Nếu lần cho hết đầu mối biết đâu sẽ thấy chính những kẻ mang phong cách “bốc rời” như anh ta và tay họ Đinh mới đóng được vai trò “rải thảm”/“lót đường” để Ba X thắng một keo ngoạn mục khiến cụ Tổng phải rơi lệ ngậm ngùi trong một hội nghị trung ương nào đó mà chắc đến chết cụ vẫn còn ghi xương khắc cốt. Muỗi ấy thì cụ phải ưu tiên đưa vào lò chứ còn gì nữa.

Bauxite Việt Nam

Ông Trịnh Xuân Thanh Phó chủ tịch một tỉnh miệt vườn châu thổ sông Cửu Long ngông nghênh cưỡi ô tô tiền tỉ mang biển số xanh của cơ quan chóp bu nhà nước cộng sản lượn lờ trước dân tỉnh lẻ Hậu Giang chỉ là thói trưởng giả học làm sang của những kẻ quyền cao, chức trọng, tiền nhiều mà văn hóa thấp kém, đức độ thiếu vẳng, những kẻ chỉ biết có sức mạnh của quyền lực và sức mạnh của đồng tiền, không biết đến sức mạnh của văn hóa, không biết đến giá trị của nhân văn.

Triều đại nào đến thời suy tàn cũng đều là thời của đám quan chức cơ hội, lòng tham ngự trị trong con người họ, nhân cách đã bỏ họ ra đi từ lâu. Lí tưởng sống thấp hèn, lí tưởng thẩm mĩ méo mó, những trưởng giả học làm sang nhan nhản trong đám quan chức của triều đại suy tàn như nấm tua tủa ngóc lên trên bãi cỏ mục sau cơn mưa. Đó là những ông quan đầu tỉnh, đầu huyện, đầu sở, đầu ngành đua nhau [mua những tấm bằng đại học và cao học nước ngoài để che giấu trình độ lớp 5 lớp 6 nhưng vẫn lòi ra trong nói năng và ứng xử], xây biệt phủ nghênh ngang, diêm dúa và kệch cỡm trên khắp đất nước còn quá nhiều người dân đang phải sống trong nghèo khổ, thiếu thốn.

Dù dát vàng hay dát bạc lấp lánh thì dưới mắt người dân những biệt phủ của đám quan chức vô lại đó chỉ dát bằng sự lố lăng, vô liêm sỉ. So với những biệt phủ đó thì chiếc ô tô vài tỉ đồng mang biển số xanh của ông Trịnh Xuân Thanh chỉ là con muỗi so với con voi. Vậy mà con muỗi Trịnh Xuân Thanh đã làm ông đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng nổi lôi đình hét các cơ quan pháp luật từ đảng đến nhà nước phải vào cuộc truy xét ông Thanh trong khi ông đảng trưởng lại bình thản bỏ qua những con voi khổng lồ của sự sa đọa, lố lăng, vô liêm sỉ.

Truy xét ông Trịnh Xuân Thanh vì Trịnh Xuân Thanh là vây cánh, là đầu mối của đường dây dẫn đến đối thủ chính trị Ba Dũng đã làm ông đảng trưởng phải nghẹn ngào nuốt mối hờn căm suốt bao năm, nuốt nỗi cay đắng từ nhiệm kì đảng trưởng khóa trước của ông.

Chiếc ô tô vài tỉ đồng của Phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang Trịnh Xuân Thanh là con muỗi tham nhũng.

Những biệt phủ diêm dúa trải rộng trên hàng ngàn mét vuông đất thênh thang của ông Trần Văn Truyền vốn là Tổng thanh tra Chính phủ, của ông Phạm Sỹ Quý đương nhiệm Giám đốc sở Tài nguyên Môi trường Yên Bái, của ông Nguyễn Sỹ Kỳ, đương chức Phó ban Nội chính tỉnh ủy Đắk Lak, của ông Nguyễn Đức Vượng đang là Bí thư huyện ủy Duy Tiên, Hà Nam, của ông Phạm Thanh Hà đang ngồi ghế Trưởng ban quản lí khu kinh tế Kon Tum, của ông Bùi Thanh Tùng chỉ giữ chức nhỏ Trưởng phòng thuộc Sở Lao động Thương binh Xã hội nhưng là quí tử của ông quan to Bùi Thanh Quyến Bí thư tỉnh ủy Hải Dương… Đó là những con voi tham nhũng.

Hàng trăm hecta đất sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Gia Lâm bị các tướng quân đội núp dưới cành lá ngụy trang quân đội làm kinh tế chiếm đoạt làm sân golf, làm nhà hàng, khách sạn kinh doanh kiếm lời cho nhóm lợi ích nhà binh, mặc cho sân bay Tân Sơn Nhất kẹt cứng dưới đất, kẹt cứng trên không, mặc cho ngành hàng không của đất nước bế tắc không thể mở thêm bãi đỗ để tăng chuyến, tăng lượng máy bay cất, hạ cánh, không thể có thêm đường băng để phát triển ngành hàng không, ngành kinh tế đang phát đạt, đang là thời thượng, mặc cho nhiều hãng hàng không nước ngoài phải rời bỏ sân bay Tân Sơn Nhất tắc nghẽn để tìm đến sân bay các nước lân cận mở văn phòng, mở điểm trung chuyển, làm cho đất nước và ngành hàng không Việt Nam mất đi một nguồn thu hàng ngàn tỉ đồng mỗi năm. Chiếm cứ hàng trăm hecta đất sân bay khai thác kiếm lời riêng của một nhóm lợi ích, đó là con khủng long tham nhũng.

Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng hét các cơ quan pháp luật phải truy xét con muỗi tham nhũng Trịnh Xuân Thanh nhưng lại không dám một lần hé răng đụng đến con khủng long tham nhũng biến hàng trăm hecta đất vàng sân bay của dân của nước thành đất sinh lời của riêng một nhóm lợi ích.

Nhiệm kì trước đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng đã lèo lái được Bộ Chính trị nhất trí kỉ luật đối thủ chính trị của ông là ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng khi đưa ra Ban Chấp hành trung ương biểu quyết việc kỉ luật đó thì lá phiếu của trên năm mươi phần trăm ủy viên trung ương đã bác bỏ. Không kỉ luật được ông Ba Dũng vì ở cương vị Thủ tướng ông Ba Dũng đã ban phát mưa móc, ban phát ân sủng, ban phát bổng lộc cho đám quan chức trong bộ máy hành pháp của ông. Mà những ông Bộ trưởng, Tỉnh trưởng trong bộ máy hành pháp đó đều là những trung ương ủy viên, những người có quyền biểu quyết nhiều vấn đề ông đảng trưởng đưa ra. Đây là bài học cay đắng nhớ đời với đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng về quyền năng của Ban Chấp hành trung ương. Trong 180 ủy viên trung ương chính thức có quyền biểu quyết của khóa XII đương nhiệm có tới 37 ủy viên trung ương mang hàm tướng, tá nhà binh. Bài học nhớ đời của khóa trước làm cho đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng không dám ho he làm mất lòng 37 lá phiếu, 37 cánh tay có quyền biểu quyết. Và con khủng long tham nhũng nuốt chửng hàng trăm hecta đất vàng sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Gia Lâm cứ lừng lững tồn tại.

Ông Đinh La Thăng, ông Trịnh Xuân Thanh làm thất thoát hàng ngàn tỉ đồng đều xảy ra ở nhiệm kì đại hội đảng khóa XI, khi ông Dũng đang đầy quyền lực và trong cái ô quyền lực ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ của ông Dũng, ông Vũ Huy Hoàng đang mặc sức thao túng bộ lớn Công thương, ngang nhiên đưa con trai mới ngoài 20 tuổi vừa kết thúc cuộc đời du học vi vu, chưa làm được tích sự gì lên làm sếp lớn của công ty lớn rủng rỉnh tiền bạc nằm trong bộ của ông. Ông Thăng, ông Thanh cũng đang mặc sức thao túng, tùy tiện tung hoành ở tập đoàn dầu khí.

Quyền lực bảo kê của ông Dũng còn đó, ông Thăng, ông Thanh có làm thất thoát hàng ngàn tỉ đồng hay thất thoát hàng triệu tỉ đồng của dân của nước thì những kẻ tội phạm đó vẫn bình an và ung dung thăng tiến trên con đường công danh. Và ông Thăng đã hiên ngang bước vào Bộ Chính trị, rồi trở thành lãnh chúa của mảnh đất giàu có nhất nước, thanh thế nhất nước. Còn ông Thanh thì đầy hả hê, thỏa mãn trên bệ phóng Phó chủ tịch tỉnh trù phú, vựa lúa, vựa cây trái Hậu Giang để rồi bệ phóng đó còn phóng ông lên cao nữa.

Nhưng đại hội đảng đưa ông Thăng vào Bộ Chính trị cũng là đại hội chấm dứt quyền lực của ông Ba Dũng, đại hội hoan hỉ tiễn ông Ba Dũng rời ghế quan chức không tử tế để về làm người dân tử tế.

Ông Dũng rời quyền lực tháng Một, năm 2016, thì chỉ năm tháng sau, tháng Sáu, năm 2016 ông đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng nổi lôi đình đòi truy xét chiếc ô tô tiền tỉ mang biển số xanh của ông Trịnh Xuân Thanh. Từ đó lòi ra việc thất thoát, thua lỗ hơn ba ngàn tỉ đồng của Tổng công ty xây lắp dầu khi do ông Thanh đứng đầu. Lòi tiếp ra những thất thoát trăm tỉ, ngàn tỉ đồng của tập đoàn dầu khí do ông Đinh La Thăng thống lĩnh. Lúc này con voi tham nhũng mới lộ ra và ông Thăng, ông Thanh trở thành bị cáo đầu vụ trong vụ đại án tham nhũng đang diễn ra ở pháp đình gây xôn xao cả nước.

Dông dải điểm lại vài sự việc để thấy cuộc sát phạt mang tên chống tham nhũng chỉ là vở diễn về vay trả nợ nần ân oán của triều cộng sản thời suy tàn. Và phiên tòa đang xử tội của ông Đinh La Thăng, ông Trịnh Xuân Thanh chỉ là một màn trong vở diễn do ông đảng trưởng Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tổng đạo diễn mà thôi.

Những con muỗi, con voi tham nhũng đã đủ làm kiệt quệ đất nước, làm khốn đốn, cùng quẫn người dân thì những con khủng long tham nhũng còn khủng khiếp như thế nào. Nhưng cuộc chiến chống tham nhũng chỉ truy xét con muỗi, con voi tham nhũng mà không đụng đến con khủng long tham nhũng thì đó là một vở diễn dở. Để người dân nhận ra hệ thống quyền lực đang diễn vở chống tham nhũng chứ không thực sự chống tham nhũng là cái dở nhỏ. Diễn để lấy lại lòng tin của người dân. Nhưng diễn dở, người dân càng mất lòng tin hơn là cái dở quá lớn!


Những con voi tham nhũng Vũ Huy Hoàng, Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh vui vẻ quây quần quanh ông Thủ tướng đã tạo ra một Chính phủ tham nhũng kinh hoàng nhất, tàn phá đất nước khủng khiếp nhất từ trước đến nay, Chính phủ Nguyễn Tán Dũng!

P.Đ.T.
Tác giả gửi BVN.

Sau 40 năm nhìn lại hải chiến Hoàng Sa

Phỏng vấn nhà nghiên cứu Dương Danh Dy
Huỳnh Phan thực hiện

Trong con mắt dân chúng mấy chục năm nay, ông Nguyễn Cơ Thạch là một người CS có phẩm chất yêu nước. Tuy vậy, những quan điểm của ông thời ấy, không phải tất cả đến nay vẫn còn là khuôn vàng thước ngọc. Khi ông Thạch hỏi ông Dy “Thống nhất đất nước so với việc Trung Quốc chiếm nửa Hoàng Sa thì cái nào lớn hơn?” hàm ý chiếm miền Nam là việc hệ trọng hơn mất biển đảo, thì chẳng cần đôi co làm gì nữa, hãy nhìn sang Hàn quốc và Triều Tiên rồi thử đặt lại câu hỏi: Nếu để cho Hàn quốc rơi vào tay cha con ông cháu họ Kim, vận mệnh dân tộc Hàn sẽ như thế nào. Trường hợp Việt Nam không còn là “nếu” mà đã là hiện thực của cái “nếu” ấy từ 42 năm trước, thưa ông Dương Danh Dy.


Bauxite Việt Nam

"Tôi có thể khẳng định rằng các thế hệ đàm phán của Việt Nam đều không bao giờ cắt đất cho Trung Quốc cả. Nhưng cũng còn những chuyện khác do hoàn cảnh lịch sử..."

LTS: Nhân kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa, 19.1.1974, có một băn khoăn của nhiều người là tại sao lúc đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại không lên tiếng.

Có phải chăng như sử gia Nguyễn Đình Đầu đã nghĩ rằng tình đồng chí giữa những người Cộng sản lúc đó còn lớn hơn lãnh thổ?

Tuanvietnam có cuộc phỏng vấn với nhà nghiên cứu Trung Quốc lão thành Dương Danh Dy – người có may mắn biết được nội tình câu chuyện.

- Có một câu hỏi mà nhiều người thắc mắc là, hồi Trung Quốc đánh Hoàng Sa đầu năm 1974, tại sao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại không lên tiếng phản đối?

Và, đối với một số người, thậm chí còn đặt vấn đề nặng hơn là Việt Nam lúc đó đã nể, sợ Trung Quốc. Thậm chí không ít người còn chỉ trích Ban Lãnh đạo Việt Nam lúc đó còn đặt tình đồng chí cao hơn lãnh thổ quốc gia?

Tôi xin nói rằng đó chính là câu hỏi mà tôi cũng thắc mắc cách đây 40 năm, khi còn là một tổ trưởng theo dõi quan hệ Việt - Trung. Tất nhiên, tôi phàn nàn với mấy anh bạn đồng nghiệp thôi. Nhưng không hiểu sao, ông Nguyễn Cơ Thạch, lúc đó là Thứ trưởng Ngoại giao, nghe được, và cho gọi tôi lên gặp ông.

Ông Thạch, vốn rất quý tôi vì biết rõ tính ngay thẳng của tôi, đã nói luôn:
"Dy ơi, sao cậu dại thế! Đất nước đã thống nhất chưa? Thống nhất đất nước so với việc Trung Quốc chiếm nửa Hoàng Sa thì cái nào lớn hơn?

Cậu có biết rằng viện trợ của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu dành cho chúng ta chủ yếu đi qua đường nào? Rồi cậu chắc biết hơn những người khác rằng Trung Quốc viện trợ cho chúng ta như thế nào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ...

Thế mà bây giờ, vì cái chuyện Hoàng Sa, mà đằng nào họ cũng chiếm của Việt Nam rồi, chúng ta lên tiếng, đã không làm được gì còn ảnh hưởng tới sự nghiệp lớn hơn".

Lúc đó, ông Thạch chỉ nói cho tôi đến thế thôi, và tôi cũng thông.



Ảnh vệ tinh đảo Quang Hòa (Duncan) - nơi bắt đầu trận hải chiến Hoàng Sa 1974

Đến tháng 4.1975, khi chúng ta giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta đã đồng thời giải phóng luôn những hòn đảo ở Trường Sa, tôi mới ngã ngửa người ra rằng Ban lãnh đạo Đảng ta quả thật là tài tình, và quá hiểu Trung Quốc.

Vì sao? Việc không nói để không ảnh hưởng tới sự nghiệp thống nhất đất nước thì rõ rồi. Nhưng việc không nói còn làm cho Ban Lãnh đạo Trung Quốc chủ quan, nghĩ rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi nhẹ vấn đề biển đảo mà không tìm cách đánh chiếm luôn quần đảo Trường Sa nữa.

Tôi có đọc được một tài liệu của Trung Quốc nói rằng họ tiếc tại sao trong đầu năm 1979, khi tấn công Việt Nam, lại không chiếm luôn những hòn đảo mà Việt Nam chiếm giữ thuộc Trường Sa đi.

- Tức là theo ông, nếu chúng ta lên tiếng khi họ đánh quân Việt Nam Cộng hòa năm 1974, họ sẽ cảnh giác hơn và có khi chiếm luôn Trường Sa từ Việt Nam Cộng hòa?

Tôi nghĩ vậy. Trong lúc chúng ta tập trung quân trên bộ trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung Quốc sẽ thừa cơ chiếm các đảo.

Hơn nữa, có khi chuyện này còn ảnh hưởng tới sự nghiệp thống nhất đất nước ấy chứ. Chắc anh còn nhớ vụ Pháp, thông qua Tùy viên Quân sự - Tướng Vanusseme, định can thiệp với Đại tướng Dương Văn Minh - Tổng thống Việt Nam Cộng hòa cuối Tháng Tư năm 1975, về khả năng đưa quân Trung Quốc vào Việt Nam, chứ?

- Vâng.Nhưng tôi muốn hỏi thêm rằng lúc đó ý niệm về biển đảo của chúng ta có rõ ràng như hiện nay không, hay vẫn mơ hồ?

Ý thức rằng Hoàng Sa là một phần lãnh thổ Việt Nam là bất di bất dịch. Ngay cả thời gian trước khi Trung Quốc đánh Hoàng Sa, trên bản đồ của họ đã vẽ rành rành cái đường lưỡi bò, và chúng tôi bên ngoại giao có phản ứng lại họ, hỏi tại sao trên bản đồ của Trung Quốc lại vẽ đường lưỡi bò. Họ mới giải thích, đấy là của bọn Quốc dân đảng vẽ thôi, chứ Đảng Cộng sản Trung Quốc không cho chuyện đó là nghiêm túc, nhưng có điều họ dứt khoát không bỏ cái đường lưỡi bò đi.
- Đường lưỡi bò có trên bản đồ của họ từ lúc đó?

Từ năm 1947, thời Quốc dân đảng, đường lưỡi bò bắt đầu xuất hiện trên bản đồ chính thức của Trung Quốc. Khi chính quyền cộng sản lên nắm quyền vào 1950, đường lưỡi bò vẫn tiếp tục tồn tại trên bản đồ cho đến nay.

Nhân chuyện Hoàng Sa, tôi muốn hỏi ông về mối nghi ngờ đây đó trong dân chúng rằng, khi đàm phán biên giới trên bộ, Việt Nam đã chịu mất đất. Với tư cách là người nghiên cứu kỹ Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung, ông có thể trả lời được không?

Tôi có thể khẳng định các thế hệ đàm phán của Việt Nam đều không bao giờ cắt đất cho Trung Quốc. Nhưng cũng còn những chuyện khác do hoàn cảnh lịch sử...

Ví dụ, có một thời gian để viện trợ cho Việt Nam đánh Mỹ, mỗi đêm Trung Quốc có 500 chiếc ô tô để chở vũ khí, hàng hóa hay lương thực, nhu yếu phẩm cho Việt Nam, và những xe này phải về ngay trong đêm để không ảnh hưởng đến chuyện khác.

Muốn vậy, phải làm đường cho tốt, và chỗ biên giới giáp nhau nếu làm theo đúng biên giới Trung Quốc thì đường phải đi vòng, hoặc qua đèo lội suối, nhưng để làm việc đó chúng ta đã để cho Trung Quốc được thuận tiện làm đường cho ngắn nhất, đơn giản nhất. Đến lúc sau này khi đàm phán với Trung Quốc, họ bảo đường của họ đến đâu thì đất của họ ở đấy (!).

Hay, trong thời gian đó, từ năm 1966, Trung Quốc tiến hành Cách mạng Văn hóa, một số người Trung Quốc trốn tránh đấu tranh áp bức của Hồng vệ binh truy đuổi, chạy sang Việt Nam, và chúng ta đã cho nương nhờ theo nghĩa "đồng chí", cấp đất cho họ ở. Từ đó đến nay, làng xóm hình thành, mồ mả có, và khi đàm phán Trung Quốc nói dân của họ ở đâu thì đất Trung Quốc đến đấy (!!!)

Vấn đề biên giới Trung - Việt chỉ có chuyện từ khi Trung Quốc tiếp đón Nixon năm 1972, và Việt Nam phản ứng dữ dội lại, từ đó Trung Quốc mới dùng vấn đề biên giới tác động. Chứ trước năm 1972, biên giới Trung - Việt cơ bản là biên giới hữu nghị và hòa bình.

Cám ơn ông.
H.P.
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/sau-40-nam-nhin-lai-hai-chien-hoang-sa-156702.html