15/11/2019

Điện mặt trời Nam Ngum có thể thay thế Thủy điện trên dòng Mekong ở Lào?

Phạm Phan Long

Dòng sông Lan Thương–Mekong đang bị tàn phá bởi hàng trăm dự án thủy điện trên dòng chính và các phụ lưu của nó từ cao nguyên Tây Tạng ở Trung Quốc tới hạ lưu sông Sê san ở Campuchia. Riêng trên dòng chính Mekong, Chính phủ Lào đóng vai trò chính trong việc xây dựng những dự án này và thậm chí đang có kế hoạch xây thêm. Nhưng tại sao nước này lại chỉ tập trung vào các nhà máy thủy điện (hydroelectric power plants - HPPs)? Còn những nguồn năng lượng tái tạo khác thì sao? Liệu điện mặt trời Nam Ngum có thể thay thế thủy điện trên dòng Mekong ở đất nước này?

Hình 1. Sự nở rộ các nhà máy thủy điện trên lưu vực sông Lan Thương – Mekong

Nguồn: Phạm Phan Long soạn với Open Development Mekong

Tôi đã thực hiện một nghiên cứu khả thi đơn giản về kinh tế - kỹ thuật để trả lời câu hỏi quan trọng ở trên, và kết quả là có, hoàn toàn có thể. Một trang trại điện mặt trời nổi (floating solar-with-storage, FSS) với công suất thiết kế 11.400 MW là hoàn toàn khả thi về mặt kỹ thuật để sản xuất ra một lượng điện tương đương 15.000 GWh/năm và chi phí thấp hơn so với cả 3 dự án thủy điện hiện đang được lên kế hoạch xây dựng tại Lào - gồm Pak Lay, Pak Beng và Luang Prabang. Quy mô dự án FSS Nam Ngum là rất lớn nhưng có thể thực hiện trong 15 năm với công suất 760 MW/năm với sản lượng 1.000 GWh/năm.

Thư ngỏ về những chiếc áo mang biểu tượng yêu nước

CLB Lê Hiếu Đằng

Kính gởi:

- Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành trên cả nước Việt Nam

- Các bạn thanh niên TP Hồ Chí Minh và trên cả nước Việt Nam

- Các bạn Công an, An ninh TP Hồ Chí Minh và trên cả nước Việt Nam

Nhà cầm quyền Bắc Kinh ngày càng ngang ngược xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông, nhiều lần trắng trợn tuyên bố các đảo ở Biển Đông, Bãi Tư Chính của Việt Nam là của Trung Quốc và yêu cầu Việt Nam không được tiếp tục khai thác dầu ở Bãi Tư Chính!

Chúng đã chủ động dốc toàn lực trên mặt trận tuyên truyền. Chúng lên các diễn đàn quốc tế, tổ chức biểu tình trong nước, đưa hình lưỡi bò trên hộ chiếu, sách giáo khoa, phim ảnh, xe ô tô, các thiết bị điện… rồi dùng mọi thủ đoạn đưa vào nước ta.

Lẽ ra Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam phải chủ động tuyên truyền, tổ chức các cuộc biểu tình lớn trong cả nước và tận dụng mọi phương tiện truyền thông để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông. Nhưng chính quyền Việt Nam chỉ bị động đối phó một cách rời rạc, yếu ớt trước mọi tuyên bố và hình thức tuyên truyền láo xược của Trung Quốc.

Trước tình hình đó thanh niên thành phố Hồ Chí Minh cũng như thanh niên cả nước đã khẳng định lòng yêu nước, chủ quyền quốc gia bằng cách mặc những chiếc áo mang các hình ảnh:

- Logo HOÀNG SA TRƯỜNG SA LÀ CỦA VN !

- Bản đồ Việt Nam CÓ CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA TRƯỜNG SA VIỆT NAM

- Hình LƯỠI BÒ BỊ DÁNH DẤU X HOẶC BỊ CẮT, NO U

Và các nội dung khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, in bằng tiếng Việt tiếng Anh tiếng Trung.

Đáng lý những hành động như trên phải được biểu dương, nhân rộng, để nuôi dưỡng và phát huy lòng yêu nước trong thanh niên, thì ai đó đã ra lệnh cho anh em công an, an ninh tịch thu và tra xét nguồn in, phát hành những chiếc áo in đậm lòng yêu nước ấy. Đó là việc làm không thể biện giải của một bộ máy cầm quyền luôn tự coi mình là kế tục sự nghiệp của những nhà cách mạng đã giành lại độc lập cho đất nước.

Thảm hoạ Cộng sản

Phạm Đình Trọng

KÌ CUỐI

4. QUI HOẠCH THẢM HỌA 

Đảng Cộng sản Việt Nam lại đang bước vào một mùa đại hội mới, Đại hội 13. Lại một dịp đảng ngốn vô tội vạ tiền của dân của nước. Ngân sách nghèo của nước, tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân lại thêm một lần ào ạt chảy máu hàng ngàn tỉ đồng chi cho đại hội đảng các cấp từ đại hội chi bộ ấp, phường ở địa phương, phòng, ban ở cơ quan nhà nước đến đại hội đảng toàn quốc.

Ở nhà đỏ Ba Đình, những nhà lí luận giáo điều cộng sản tập trung dồn tâm sức đánh bóng lại những ngôn từ mĩ miều, sáo rỗng, mòn cũ, đại ngôn, khuếch đại thành tích kinh tế xã hội để có bản báo cáo chính trị rực rỡ màu hồng, khẳng định sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của đảng đã đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Kì đại hội này Đảng Cộng sản cầm quyền còn gấp gáp, tất bật làm một việc thể hiện não trạng chủ quan, duy ý chí muôn đời của người cộng sản là qui hoạch cán bộ cấp chiến lược.

Như trước đây họ đã chủ quan duy ý chí vẽ ra những kế hoạch kinh tế 5 năm, 10 năm, kế hoạch hóa hổ, hóa rồng:“Đến 2020, Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Nhưng cuối năm 2019 rồi, đất nước vẫn tan hoang bởi bô xít Tây Nguyên, Formosa Vũng Áng, điện Vĩnh Tân, đạm Ninh Bình... Bởi làm ăn thua lỗ hàng ngàn tỉ tiền của những quả đấm thép, những tổng công ty kinh doanh của nhà nước như Vinashine, Vinalines… Dân càng è cổ gánh khối nợ quốc gia ngày càng lớn, dòng người  đói ăn, đói tự do ùn ùn bỏ nước ra đi kiếm sống ngày càng đông để rồi phải nhận những số kiếp bi thảm như cái chết trong thùng xe container không có không khí để thở của 39 người Việt Nam trên đường trốn vào nước Anh ngày 23 tháng mười, năm 2019. Những kế hoạch kinh tế chủ quan duy ý chí đều đã chết thảm kéo theo sự thua lỗ, đổ bể cả nền kinh tế, kéo theo sự yếu hèn của nước, sự khốn cùng của dân.

Quy hoạch cán bộ cấp chiến lược lại đi theo lối mòn dẫn đến vực thẳm của những kế hoạch kinh tế viển vông không thể tránh khỏi thất bại ê chề vì không những thiển cận, chủ quan, duy ý chí mà còn dại dột và hỗn xược loại bỏ vai trò nhân dân, những người chủ thực sự của đất nước. Nhân dân mới là những người thực sự có đủ quyền, có đủ tư cách, có đủ sự công tâm và có đủ hiền tài để tiến cử và bầu chọn người thay mặt dân quản trị đất nước. Đảng áp đặt những nhân cách nhem nhuốc của đảng không được dân tin cậy, không được dân bầu chọn ngồi vào ghế cai trị dân là cướp quyền dân, sẽ thất bại nặng nề.

Vì sao báo Nhân Dân đăng bài Hoàng Duy Hùng viết?

Nguyễn Quang Duy

Có bạn đọc thắc mắc luật sư Hoàng Duy Hùng từng nổi tiếng chống cộng, ông từng là đảng viên Đảng Đại Việt Cách Mạng và là Chủ tịch Cộng đồng Người Việt Quốc gia ở Houston, vậy vì sao báo Nhân Dân ngày 29/10/2019 cho đăng bài viết “Một góc nhìn về tổ chức chính trị của người Việt ở hải ngoại”?

Ông nổi tiếng chống cộng là nhờ năm 1992 về nước bị bắt và bị kết án 15 tháng tù. Đến năm 2001, ông lại về nước với ý định đặt bom tại Sài Gòn nhưng không thành, phải trốn sang Thái Lan.

Ông càng “nổi tiếng” khi chuyển sang hoạt động chính trị Mỹ trở thành nghị viên thành phố Houston. Tháng 12/2012, ông đại diện thành phố Houston tiếp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn. Sang đến tháng 3/2013 ông hướng dẫn một phái đoàn nghị viên thành phố Houston thăm Việt Nam.

Ông nhiều lần được báo chí và truyền hình cộng sản ca ngợi như một khuôn mặt chống cộng nay thay đổi lập trường.

Trên diễn đàn PhobolsaTV (trước khi bài viết được đăng) ông Hùng công khai tuyên bố ông cộng tác với báo Nhân Dân và cộng tác với nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội.

Nội dung bài viết

Ông Hùng chỉ trích Đảng Đại Việt Cách Mạng xây dựng trên quan niệm “lãnh tụ chế”, Đảng Việt Tân sống nhờ tiền quyên góp và kinh doanh giỏi, ông Nguyễn Hữu Chánh Đảng Dân Tộc là “bịp”, ông Đào Minh Quân là “phịa”, lập “chính phủ phường chèo” và các “chính phủ” mọc ra như nấm… bài viết đi đến kết luận:

“Chuyện đất nước là chuyện hệ trọng, phải cân nhắc kỹ lưỡng, và không phải là chuyện đùa, hoặc vô tổ chức.

“Người Việt ở nước ngoài có quá nhiều đảng phái, tổ chức, hội đoàn, chính phủ, nhóm, không ai phục ai, ai cũng muốn làm “lãnh chúa trong giang san CÁI TÔI” đầy kịch tính của họ, mà họ còn muốn mang cái quan niệm này về áp dụng cho đất nước, thì đó là mầm họa loạn lạc của dân tộc đưa đến mất nước.

Vụ ám sát GS Nguyễn Văn Bông: Cái kết được báo trước của VNCH

Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ

KỲ 2 - Lựa chọn hoàn hảo

Để thực hiện thành công sứ mệnh giúp Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến mà vẫn bảo đảm cho chính quyền Sài Gòn khả năng tự mình đương đầu với địch thủ Cộng sản, Đại sứ Bunker buộc phải tìm ra một nhân vật người Việt không chỉ là dân sự mà còn phải đáp ứng chí ít ba tiêu chí: có năng lực chống Cộng, có uy tín chính trị và nhất là, có chiến lược xây dựng một Việt Nam Cộng hòa có khả năng “độc lập tác chiến”. Rất nhanh chóng, ông đã tìm thấy nhân vật đó ở Giáo sư Nguyễn Văn Bông.

Nguyễn Văn Bông sinh năm 1929, trong một gia đình nghèo, cha là thợ bạc, mẹ là thợ may. Vì vậy, ông phải làm việc từ lúc mới 12 tuổi để kiếm thêm tiền đi học. Năm 1949, ông mua một vé tàu hạng ba đi Pháp để du học. Tại Paris, ông làm bồi bàn tại tiệm ăn La Table du Madarin và kết thân với một sinh viên Việt Nam khác cũng đang làm bồi bàn tại đây là Nguyễn Ngọc Huy, người sẽ sát cánh cùng ông trong các hoạt động chính trị sau này. Sau khi đạt học vị Tiến sĩ Luật và Tiến sĩ Chính trị học vào năm 1960 và Bằng Giảng dạy đại học (Agrégation) (2) về công pháp vào năm 1962, ông về nước vào tháng 1/1963 theo lời mời của chính quyền Ngô Đình Diệm để giảng dạy tại Phân Khoa Luật - Viện Ðại học Sài Gòn. Trước khi về nước, ông đã hứa hôn với một nữ sinh viên tên là Lê Thị Thu Vân, người mà ông sẽ cưới làm vợ vào năm 1964. Sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963 lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, chính quyền mới bổ nhiệm ông làm Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh có chức năng đào tạo các công chức trung, cao cấp.

Về tiêu chí thứ nhất, Giáo sư Bông là một người chống Cộng có bài bản.

Thời điểm ông về nước, chính quyền Ngô Đình Diệm đang đàn áp dữ dội phe đối lập với việc truy cứu hình sự nhiều người trong số 18 chính khách chống Cộng thuộc Khối Tự do Tiến bộ (gọi tắt là Cấp Tiến), còn gọi là Nhóm Caravelle, Nguyễn Tường Tam, tức nhà văn Nhất Linh… do ủng hộ cuộc đảo chính ngày 11.11.1960 của nhóm sĩ quan Nguyễn Chánh Thi – Vương Văn Đông. Ngày 7/7/1963, trước khi quyên sinh để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ông ra xét xử, Nguyễn Tường Tam viết trong di chúc: “Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản".

14/11/2019

CON NGƯỜI THẬT CỦA THƯỢNG TỌA THÍCH TRÍ QUANG

Đào Văn Bình

Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội đồng Quân dân Cách mạng do Đại tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật khoa năm thứ Nhất, chuẩn bị thi lên năm thứ Hai của Đại học Luật khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng cửa hoặc tự động bãi khóa.

Đại học Luật khoa không có cuộc tự động bãi khóa nào nhưng trường cũng phải đóng cửa một thời gian cho nên một số sinh viên rảnh rỗi, kéo nhau đi tham dự những cuộc biểu tình. Dĩ nhiên trong bối cảnh đó, tôi cũng như hầu hết số sinh viên cùng trang lứa hiểu biết khá nhiều về tình hình của đất nước lúc bấy giờ. Cái kỳ lạ của dân Sài Gòn là dù tiếng súng nổ ầm ầm, xe tăng, quân đội ào ào tấn công vào Dinh Độc Lập, Thành Cộng Hòa (căn cứ của Liên minh Phòng vệ Phủ Tống thống) như thế, nhưng hễ lơi tiếng súng một chút là kéo nhau ra xem, chẳng sợ tên bay đạn lạc gì cả!

Tôi cũng nằm ở trong số dân Sài Gòn, đám thanh niên, sinh viên “điếc không sợ súng” này. Chính vì thế mà tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh đồng bào, bà con buôn bán ở chợ Bến Thành đã đem cơm nước, trái cây ra tặng binh sĩ Nhảy dù khi đài phát thanh loan báo anh em Ô. Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ. Đã chứng kiến cảnh, đồng bào, thanh niên Sài Gòn dùng dây kéo sập tượng Hai Bà Trưng dựng ở Bến Bạch Đằng. Chiếc tượng đổ gục, cổ tượng đứt lìa và được đám đông đưa lên chiếc xích-lô, đẩy quanh đường phố, reo hò như một đám rước. Sở dĩ có chuyện này là vì trước đó lâu lắm, người dân đã bàn tán, đây là tượng của hai chị em bà Ngô Đình Nhu chứ không phải tượng Hai Bà Trưng với tóc con trai (demi-garcon) chải tém và áo hở cổ (decolleté) - kiểu áo quen thuộc của bà Ngô Đình Nhu.

tượng "hai bà Trưng" trước và sau Cách Mạng. Ảnh nguồn http://community.vietfun.com/showthread.php?t=691197&page=3

Quý vị, quý bạn có thể nhìn lại tấm hình lịch sử này ở nơi trang 34 của cuốn The Eyewittness History of the Vietnam War của George Esper and The Associated Press xuất bản Tháng 11,1983 tại Hoa Kỳ, và nơi trang 36&37: Hình ảnh một rừng thanh niên, sinh viên Sài Gòn bu quanh hàng rào Dinh Độc Lập, reo hò hoặc thò qua bắt tay binh sĩ VNCH là những đơn vị đầu tiên đã tấn công vào dinh và lật đổ chế độ.

Sau những cuộc đảo chính, chỉnh lý, biểu dương lực lượng liên miên của các ông tướng và biến cố Miền Trung, năm 1967 Hiến pháp Đệ nhị Cộng hòa ra đời, và sau khi liên danh hai Ô. Thiệu-Kỳ đắc cử Tổng thống, cùng với sự rạn nứt giữa TT. Thích Tâm Châu và TT. Thích Trí Quang khiến Phật Giáo phải chia đôi… thì chuyện đấu tranh của Phật Giáo năm 1963, chuyện gia đình Ô. Diệm cũng đã trở thành dĩ vãng của lịch sử. Hơn thế nữa áp lực quân sự lúc này rất nặng, đời sống của dân chúng quá khó khăn, với sự hiện diện của hơn 500,000 quân đội Mỹ tại Miền Nam, không ai còn rảnh rỗi “hưởn” để đào xới lại lịch sử năm 1963 và hai anh em Ô. Ngô Đình Diệm cũng đã yên nghỉ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Cho tới ngày 30-4-1975, thật tình tôi chưa hề đọc hoặc xem qua một tài liệu, một bài báo nào nói rằng TT. Thích Trí Quang là cán bộ hoặc đảng viên đảng CSVN. Rồi khi khối 1 triệu người Việt di tản rồi vượt biển tìm Tự Do tôi cứ nghĩ mọi người sẽ bỏ qua những đau thương của quá khứ, thành lập một mặt trận thống nhất để giành lại cơ đồ. Nhưng không! Sự yên bình, đoàn kết và cảm thông ở hải ngoại chỉ có được một hai thập niên. Vào giữa thập niên 1990 đã có những bài viết, cuốn sách đánh bóng lại ông Ngô Đình Diệm như một thứ “cha già của dân tộc”. Rồi cả những cuốn sách, bài viết công kích cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 mà chiến lược nhắm vào việc cho rằng TT. Thích Trí Quang là đảng viên đảng CSVN.

Nếu quả thực TT. Thích Trí Quang là “cộng sản nằm vùng” thì điều đó có nghĩa là cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật Giáo hoàn toàn bịa đặt và do cộng sản giựt dây, lèo lái, hoặc chỉ đạo chứ thực ra dưới thời Ô. Ngô Đình Diệm không có chuyện kỳ thị tôn giáo. Vậy thì chính nghĩa của cuộc đấu tranh năm 1963 nằm ở chỗ tìm hiểu lý lịch của TT. Thích Trí Quang. Bản thân tôi, từ trước đến giờ chưa bao giờ nghĩ rằng TT. Thích Trí Quang là cán bộ cộng sản, nhưng nay thì thấy mình cần phải tìm hiểu lại xem con người thực của TT. Thích Trí Quang như thế nào.

Với đà tiến bộ vượt bực của kỹ nghệ điện tử, với Google - bộ nhớ của nhân lọai - chúng ta dễ dàng tìm kiếm những dữ kiện liên quan đến TT. Thích Trí Quang. Trong tinh thần tìm hiểu sự thực, không thêm thắt ý kiến cá nhân, tôi xin dịch ra Việt ngữ bốn tài liệu gửi kèm theo đây để quý vị, quý bạn suy nghĩ.

1) Declassified CIA Documents on the Vietnam War/ Thích Tri Quang

(Tài liệu giải mật của CIA về Chiến Tranh Việt Nam/Thích Trí Quang)

Tài liệu này do Viện Đại học Saskatchewan (Canada) sưu tầm và phổ biến. Tôi xin dịch phần Tóm lược chính (Abstract) trong báo cáo của CIA như sau:

“Một cuộc phân tích để xem - liệu Thích Trí Quang có liên hệ/hoặc là cán bộ cộng sản, Con người và Mục tiêu đấu tranh: Báo cáo tình hình cho tới ngày 27-8-1964 đánh giá rằng Trí Quang không phải là cộng sản, ông ta chỉ muốn thiết lập một chính quyền do thần quyền/tôn giáo lãnh đạo ở Miền Nam. Tin tình báo gửi bằng cable, TDCS 314/02342-64. August 28, 1964. 8 trang. Mật/Không phổ biến. Bản sao đã được tẩy sạch. Giải tỏa ngày 24 Tháng 5, 1976. “

2) “Only Religions Count in Vietnam”: Thich Tri Quang and the Vietnam War

(Chỉ có Tôn giáo Llà đáng kể ở Việt Nam: Thích Trí Quang và Cuộc chiến tranh Việt Nam) biên khảo của James McAllister- Phân khoa Chính trị học, Đại học Williams, Williamstown, MA 01267, điện thư: jmcallis@williams.edu.

Tôi xin dịch phần Tóm Lược Chính (abstract) như sau:

“Đã từ lâu, Thích Trí Quang là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Các học giả cánh hữu cho rằng Trí Quang có thể/có nhiều khả năng là cán bộ cộng sản họat động dưới sự chỉ đạocủa Hà Nội. Còn các học giả cánh tả lại cho rằng Trí Quang là một lãnh đạo tôn giáo đấu tranh bất bạo động/hòa bình cho dân chủ và muốn sớm chấm dứtchiến tranh. Tài liệu biên khảo này cho thấy cả hai lập luận trên đều không có tính thuyết phục. Như các giới chức Hoa Kỳ đã công bằng/đứng đắn kết luận rằng không có bằng chứng khả tín nào cho thấy Trí Quang là một cán bộ cộng sản hoặc có thiện cảm với cuộc chiến của Hà Nội hay Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Rút ra từ những tài liệu rộng rãi còn lưu trữ qua những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, hiển nhiên Trí Quang thật sự chống Cộng mạnh mẽ và hoàn toàn hiểu được/cảm nhận được việc sử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Bắc Việt và Trung Hoa. Yếu tố chính gây mâu thuẫngiữa phong trào đấu tranh của Phật Giáo và bộ tham mưu của Johnson là Trí Quang cương quyết cho rằng những chế độ quân nhân sau Ngô Đình Diệm thù nghịch với Phật Giáo và không có khả năng đưa cuộc đấu tranh chống cộng sản tới thành công.”

Thư kiến nghị hoãn phê chuẩn EVFTA và IPA

Phạm Chí Dũng

Kính gửi:

  • Ông David Sassoli, Chủ tịch Quốc hội Âu Châu;
  • Ông Bernd Lange, Chủ tịch Ủy ban Thương mại Quốc hội Âu Châu;
  • Ông David MacAllister, Chủ tịch Ủy ban Ngoại giao Quốc hội Âu Châu;
  • Bà Marie Aréna, Chủ tịch Ủy ban Nhân quyền Quốc hội Âu Châu;
  • Ông Tomas Tobé, Chủ tịch Ủy ban Phát triển Quốc hội Âu Châu;
  • Các cơ quan thuộc Quốc hội Âu Châu.

Tôi là Phạm Chí Dũng, nhà báo độc lập, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam - một tổ chức xã hội dân sự độc lập và đấu tranh cho dân chủ nhân quyền, ra đời vào năm 2014 ở Việt Nam, với hơn 70 nhà báo tự do, hoạt động hoàn toàn độc lập về quan điểm và nội dung, không phụ thuộc vào chính quyền về đường lối quan điểm, nhân sự và tài chính.

Hội Nhà báo độc lập Việt Nam và cá nhân tôi đặc biệt quan tâm đến Hiệp Định Thương Mại Tự Do giữa Liên Âu và Việt Nam (EVFTA) và Hiệp Định Bảo Vệ Đầu Tư (IPA) mà Liên minh châu Âu (EU) đã ký và có thể sẽ xem xét việc phê chuẩn với Việt Nam. Chúng tôi đã có rất nhiều bài viết nghiên cứu và phân tích, đăng trên trang web của Hội Nhà báo độc lập Việt Nam là vietnamthoibao.org và nhiều trang mạng khác, nêu rõ quan điểm việc ký kết, phê chuẩn và triển khai hai hiệp định này cần được bắt đầu từ việc chính quyền Việt Nam phải cải thiện một cách có thể chứng minh được các vấn đề nhân quyền liên quan đến các công ước quốc tế về lao động, công đoàn độc lập, tự do tôn giáo, tự do báo chí, tự do lập hội, xã hội dân sự, tù nhân lương tâm…

Cho tới nay, tôi vẫn ngạc nhiên không biết vì nguyên do đặc biệt nào mà một số quan chức của EU lại tỏ ra vồ vập EVFTA và IPA, luôn tìm cách thúc đẩy để hai hiệp định này được ký kết và phê chuẩn sớm nhưng lại không hề quan tâm đến khía cạnh mất cân bằng nghiêm trọng trong cán cân thương mại EU - Việt Nam, và đặc biệt là không quan tâm đến cải thiện nhân quyền - là nội dung quan trọng nằm trong hai hiệp định này và cũng nằm trong tiêu chí của EU về tăng cường dân chủ ở các nước trên thế giới.

Khác với cách đánh giá của chính quyền Việt Nam và một số quan chức EU cho rằng có EVFTA và IPA sẽ làm gia tăng đáng kể lợi ích kinh tế cho EU, tôi cho rằng thực tế đã chứng minh ngược lại: trong quan hệ thương mại song phương và đa  phương giữa EU và Việt Nam trong nhiều năm qua, hầu như năm nào EU cũng phải nhập siêu từ Việt Nam đến 20 - 25 tỷ USD, và giá trị nhập siêu này ngày càng tăng theo thời gian. Nếu xét trên phương diện lợi thế so sánh về kinh tế, rõ ràng giá trị nhập siêu quá lớn này cho thấy EU không phải là đối tác được hưởng lợi đáng kể, mà ngược lại EU phải chịu thiệt thòi đáng kể trong giao thương với Việt Nam. Có chăng, chỉ là một nhóm nhỏ trong các doanh nghiệp của EU làm ăn với Việt Nam được hưởng lợi và hưởng lợi đặc biệt từ chuyện buôn bán này.

Đảng, Mặt trận Tổ quốc và Ban Dân Vận là gì và nên làm gì?

Giang Nam

Mấy nước cộng sản độc tài đang lúng túng về thiết chế và tổ chức xã hội, vì có thể đã nhận ra nó khá kỳ quặc đối với xã hội dân chủ và văn minh. Một số lãnh đạo khi lúng túng thì tuyên bố “chúng ta đi còn đường khác, xây dựng đất nước kiểu khác” để phản đối mọi kiến nghị của giới trí thức tiến bộ muốn hòa nhập với thế giới.

DẪN NHẬP

Hiện nay vấn đề “Chính trị học XHCN Việt Nam” có quá nhiều vấn đề nổi cộm.

Từ nền chính trị phong kiến trong quan hệ văn hoá nghìn năm với Trung Quốc để lại một nền ngôn ngữ Việt Nam hiện đại với số lượng từ Hán -Việt cực lớn. Sang đầu thế kỷ XX, con tàu văn hoá Việt Nam bẻ ngoặt đột ngột chuyển từ hướng Bắc sang hướng Tây, liên hệ ngày càng mật thiết với văn hoá dân chủ nhân văn Âu- Mỹ. Tuy nhiên quan hệ chính trị tư tưởng lại bị buộc chặt với Trung Quốc, chính xác là Trung cộng, chưa biết đến bao giờ mới “thoát”. Do vậy, nền chính trị- văn hoá Việt Nam hiện nay ngổn ngang trăm mối về ngôn từ, về sự chính danh, dẫn đến hành xử lúng túng trong thực tế.

Hai thuật ngữ chính trị cơ bản nhất là tên hiệu quốc gia (Nước CH.XHCN.VN và Đảng CSVN) đã được nhiều học giả bàn kỹ, đề nghị thay đổi trong một số bản Kiến nghị của nhóm trí thức tiên phong và cá nhân gửi cho Đảng toàn trị. Tuy nhiên Đảng độc tài không thể hồi âm, vậy nên chúng tôi không bàn nữa. Xin bàn tiếp về một số thuật ngữ khác.

1. Đảng?

Khái niệm “đảng” 黨 vốn xuất sinh như nhau từ cả phương Đông và phương Tây, đó là nhu cầu phát triển xã hội từ hàng ngàn năm qua. Chữ “đảng” trong Hán ngữ và chữ Nho:

https://lh6.googleusercontent.com/cT0XUZoQaRYRqr46mmXmg_yqhzQ_xas3gaxikbh7abWcw57-Lq9i_KiHLUKwWTH15_V4GnGlb7ucD0odY0llic7-QWkhs7Ab0fsAcDck7681QV9526lhjKFP5nMgkDBcy7NWYU_LhCVVLsUauA https://lh6.googleusercontent.com/8hsSF5cZDtJQ1yswomQVLL1B1VncNtCC3VNQgah-K7_jdEAIrT9gKMT4sfkKi0qgY4iVxgsg4UTe4UlWjjckifPCfMzhxfkBIEX2i3pORir8NJDyJ3xFxEWRf3i_o5BaClTA9xrpkD2N8Vp8yA

Đảng gồm các nghĩa gần nhau: nhóm, băng, bè, lũ, tùng đảng, họ hàng…

Đảng là kiểu chữ hội ý, do nhiều thành tố tổ hợp lại (kể từ trên xuống, các nét chữ thể hiện: ánh sáng, mái nhà, ngôn luận, màu đen, bí mật, lãnh thổ, hoạt động).

Phương Tây lập đảng với chữ Party (Partes, Latin; Partie, Pháp; Partido, Tây ban nha) để chỉ nhóm người, đoàn người, bàn tiệc, đảng phái… Tương đồng ngữ nghĩa đó cho thấy “đảng” là nhu cầu chung, tất yếu của các cộng đồng nhân loại.

“Kết bè lập đảng” là nhu cầu tự nhiên của cộng đồng. Vốn từ trong một làng xã, “đảng” mặc nhiên thành lập: đó là hình thức họ tộc. Nhiều nhóm người khác sẽ hình thành trong một cộng đồng, từ làng quê tới phố thị (phường) và rộng ra đất nước, trên cơ sở lãnh thổ. Các thể loại đảng rất phong phú. Đảng kinh tế (nghề nghiệp), đảng tôn giáo, đảng võ lâm…và sau hết, đảng chính trị.

Nước Việt hôm nay (*)

Nguyễn Ngọc Chu

Nhìn lên phía Bắc thì hàng xóm xây căn cứ quân sự cùng nhà máy điện hạt nhân. Ngó lên phía Tây thì bị người đắp đập ngăn sông. Ngoảnh về phía Đông thì trăm chiến thuyền vạn tàu dân quân biển của láng giềng phương Bắc chặn mất đường ra. Ngửa mặt lên trời thì bầu trời cũng sắp bị khoanh vùng nhận dạng. Nhìn xuống hướng Nam cũng đã thấy quân cảng của người phương Bắc!

PHẢI PHÁ THẾ ĐỘC QUYỀN CỦA CÁC NHÓM LỢI ÍCH TRONG CUNG CẤP NƯỚC SẠCH CHO HÀ NỘI

Sau khi xã hội đồng loạt lên tiếng về lợi ích nhóm ở nhà máy nước sông Đuống thì phía Lãnh đạo TP Hà Nội đã có phản ứng bước đầu. Cụ thể là chiều ngày 12/11/2019 tại buổi giao ban báo chí Thành ủy Hà Nội đã đề cập đến vấn đề nhà máy nước sông Đuống. Nhưng thật buồn, mọi sự giải thích đều chứng tỏ nhà máy nước sông Đuống đích thực là dự án của lợi ích nhóm .

1. UBND TP HÀ NỘI KHÔNG PHẢI CHỦ SỞ HỮU CỦA NHÀ MÁY NƯỚC SÔNG ĐUỐNG

Cổ đông sáng lập ban đầu của nhà máy nước sông Đuống là Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội (10%), Công ty TNHH MTV Ứng dụng Công nghệ mới và Du lịch - Newtatco (5%), CTCP Đầu tư Việt Nam - Oman (27%), CTCP nước Aqua One (58% ).

Thương vụ đầu tiên và gây chấn động chính là sự chuyển nhượng cổ phần của nhà máy nước sông Đuống. Trong đó nhà đầu tư Thái Lan WHAUP chi 2073 tỷ đồng để mua 34% cổ phần – bao gồm 7% của Aqua One và toàn bộ 27% cổ phần của CTCP Đầu tư Việt Nam – Oman. WHAUP đã thay thế CTCP Đầu tư Việt Nam – Oman và trở thành cổ đông lớn thứ 2 sau Aqua One.

Nhà đầu tư Thái Lan WHAUP là nhà buôn lọc lõi. Nếu không nhìn thấy nhóm lợi ích đảm bảo lợi nhuận thì không đời nào WHAUP bỏ ra 2073 tỷ vào nhà máy nước sông Đuống. Nói cách khác, phải khẳng định rằng, không có nhóm lợi ích từ phía UBND TP Hà Nội thì đã không có phi vụ chuyển nhượng cổ phần.

Như vậy UBND TP Hà Nội chỉ có được 15% cổ phần qua 2 công ty con là Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội (10%), Công ty TNHH MTV Ứng dụng Công nghệ mới và Du lịch - Newtatco (5%). Chủ sở hữu của nhà máy nước sông Đuống là Aqua One (51%).

Cảm ơn và bái phục họa sĩ Trần Lương

Nguyễn Khắc Mai

Mấy bữa rày đã nghe râm ran chuyện họa sĩ Trần Lương công khai cắt cái đường lưỡi bò của Trung Quốc ngay tại Nam kinh!

Có lần tôi từng viết cái đường lưỡi bò là sản phẩm của những não trạng  bò Bắc Kinh.

Nó từng được gian xảo đưa ra Liên Hiệp Quốc lại vừa xảo trá, vừa lì lợm vẽ, viết, cài đặt trong nhiều sản phẩm “Made in China,(tôi phiên âm theo cách đọc của một đồng bào đáng kính),để đưa vào Việt Nam.

Ở Việt nam, lạ thay, xấu hổ thay, trơ tráo thay, bịp bợm thay, lại có cán bộ cao cấp của Đảng, gần đây có cả Bí thư tỉnh Hưng yên (tôi biết việc này qua tường thuật của một nhà báo, khi đến uống trà với tay bí thư ấy đã thấy trong phòng làm việc của y có treo tấm bản đồ có đường lưỡi bò. Hỏi thì y khoe là được tay Bí thư Côn minh vừa tặng!).

Việc động trời như thế mà không thấy cái UB Kiểm tra trung ương điều tra và kết luận. Nếu đúng như thế thì mấy tay cán bộ cao cấp của đảng không đáng xách dép cho Trần Lương.Nếu kết luận chính xác mà không cách chức buộc thôi việc, thì cái đảng và cái chính quyền này thật chẳng ra gì. Ai thì không biết chứ tôi thì sẽ hồ nghi những tuyên bố mỹ miều nào là chủ quyền của đất nước là tối thượng, nào là phải thừa kế truyền thống oai hùng của Dân tộc mà lại tin phóc ý kiến của tướng Trương Giang Long, nói rằng: Trung quốc cài cắm hết trăm này đến trăm khác những tên gián điệp trong bộ máy của ta từ trung ương đến địa phương. Mà nhân đây tôi cũng phản đối chủ trương của Bộ chính trị đưa cán bộ sang Trung Quốc tập huấn, học tập.

13/11/2019

Phỏng vấn chín mươi sáu phút với Thượng tọa Thích Trí Quang [05.05.1966]

Ngô Thế Vinh

Hình 1: Bìa báo SVYK Tình Thương số 29 phát hành tháng 5 - 1966

Lời dẫn nhập

Đã 44 năm sau cuộc Chiến tranh Việt Nam, vẫn còn những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Chỉ riêng tên tuổi Thích Trí Quang đã gây ra rất nhiều tranh cãi.(1) Có nhiều nhãn hiệu gán cho ông: với một số người Việt chống cộng thì cả quyết Thích Trí Quang là cộng sản đội lốt tu hành hoạt động với sự chỉ đạo của Hà Nội; nhưng ngay với giới chức cộng sản cũng đã từng coi Trí Quang là một loại CIA chiến lược; còn theo tài liệu giải mật của CIA thì đánh giá Trí Quang không phải cộng sản, mà là một nhà tu hành đấu tranh cho hòa bình và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Thêm nguồn tài liệu còn lưu trữ về những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, cho rằng Trí Quang chống cộng mạnh mẽ và hiểu được sự việc sử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Cộng sản Bắc Việt và Trung cộng.

Và trong phần trả lời phỏng vấn của báo sinh viên Tình Thương 1966, cách đây 53 năm, khi "đề cập tới sự nguy hiểm của Cộng sản, TT Trí Quang đã so sánh họ với những chiếc lá vàng có đóng đinh, phải cần tới một cơn gió lốc cách mạng thổi đúng hướng, không phải làm bay những niềm tin mà là bốc sạch đám lá vàng có đóng đinh là Cộng sản."

Vậy thì đâu là sự thật? Đâu là con người thật của Thích Trí Quang? Như câu hỏi trong phim Rashomon, một kiệt tác điện ảnh của Nhật Bản, người viết sẽ không đưa ra một kết luận nào về chân dung TT Thích Trí Quang, nhưng muốn trở lại bối cảnh chính trị xã hội của thập niên 1960s, khi mà tên tuổi Trí Quang hầu như gắn liền với những biến động thời bấy giờ.

Từ sau 1975 TT Trí Quang sống lặng lẽ những năm tháng cuối đời trong ngôi chùa Già Lam ở Gò Vấp Sài Gòn, rồi sau đó trở về chùa Từ Đàm Huế. Và mới đây, khi tin Thích Trí Quang vừa viên tịch ngày 8.11.2019 ở tuổi 96 (ông sinh năm 1923) cũng tại chùa Từ Đàm Huế (6) – nơi chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn ngày 5 tháng 5, 1966 cách đây cũng đã hơn nửa thế kỷ – trên báo chí truyền thông và dư luận trong và ngoài nước lại dấy lên những ý kiến rất khác nhau về ông, nhưng các thông tin về ông thì lại rất ít.

Nhìn lại thập niên 1960s, trong khi tin tức về các phong trào Phật giáo tranh đấu ngoài miền Trung rất nhiễu loạn, thì tại Sài Gòn, ngoài một cuộc phỏng vấn hiếm hoi dành cho tuần báo TIME ngày 22.04.1966 với hai ký giả McCulloch và James Wilde (2); TT Trí Quang sau đó trở ra Huế và rất ít khi dành cho báo giới Tây phương những cuộc tiếp xúc nào khác. Riêng với TÌNH THƯƠNG tuy chỉ là tờ báo của sinh viên Y khoa nhưng lại rất quan tâm theo dõi thời cuộc, nên hai phóng viên Phạm Đình Vy (5) và Ngô Thế Vinh được sự chỉ định của Toà soạn, đã bay ra Huế, được gặp và thực hiện cuộc phỏng vấn Chín mươi sáu phút với Thượng Toạ Thích Trí Quang buổi chiều ngày 5-5-1966 tại Chùa Từ Đàm Huế. Và bài phỏng vấn này đã được đăng ngay trên báo Tình Thương số 29, 1966, và đã được phóng viên của US News & World Report xin dịch sang tiếng Anh nhưng rồi không rõ lý do, [bản dịc] bài báo đã không được phổ biến sau đó.

Và nay qua bộ báo Tình Thương mà Thư quán Bản Thảo của nhà văn Trần Hoài Thư (4) mới tìm lại được từ Thư viện Đại Học Cornell, trong đó có số báo TT 29, với 4 trang 2-3-4-5 đăng trọn vẹn cuộc phỏng vấn đã thực hiện từ hơn nửa thế kỷ trước. Chúng tôi cho phổ biến bài báo này – với không bình luận, không ngoài mục đích chỉ muốn cung cấp tới các bạn trẻ và các sử gia tương lai có thêm một sử liệu hiếm quý về TT Trí Quang tưởng như đã thất lạc.

Ngô Thế Vinh

CHÍN MƯƠI SÁU PHÚT VỚI THƯỢNG TOẠ

THÍCH TRÍ QUANG [05.05.1966]

Ngô Thế Vinh & Phạm Đình Vy

ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY

Với những rối loạn chính trị trong tuần lễ vừa qua, có một hiện tượng TRÍ QUANG trên khắp các báo chương ngoại quốc. Tuần báo Time coi ông như xuất hiện một Machiavel mới, trong khi báo L'Express gán cho ông là mẫu người đang làm rung động cả Mỹ quốc, đó là chưa kể tới những bài báo nói về ông đăng trên US News and World ReportNewsweek... Hiện tượng trên cũng được các báo Việt ngữ toa rập theo, thích thú đem ra phiên dịch và đăng tải; nhiều người coi đó như một khám phá mới lạ về một nhà tu hành tài ba, nhiều quyền lực nhưng cũng rất bí ẩn và khó hiểu.

Đã từ lâu chúng tôi vẫn có thành kiến với các nhà báo ngoại quốc khi họ nhận định về các vấn đề Việt Nam và chúng tôi thành thật tin tưởng rằng không một người ngoại quốc nào am hiểu vấn đề Việt Nam bằng chính những người Việt. Cái thái độ dễ dàng tin cậy vào mấy ông nhà báo ngoại quốc trong công việc tìm hiểu đất nước mình nếu không bắt nguồn từ một thái độ ỷ lại của báo chí Việt thì cũng đang coi là một hiện tượng quái gở.

Trở lại trường hợp Thích Trí Quang, từ nhận định bảo ông là cộng sản đến ý nghĩ một tay quốc gia cực đoan, hình như chỉ cần một chút ngộ nhận. Nghĩ rằng tôn giáo sẽ còn đóng một vai trò quan trọng trong tương lai chính trị miền Nam, việc tìm hiểu mẫu một nhà tu-hành-dấn-thân đang có nhiều ảnh hưởng là điều cần thiết, đó là lý do cuộc gặp gỡ Chín mươi sáu phút với Thượng Toạ Thích Trí Quang buổi chiều ngày 5-5-1966 tại Chùa Từ Đàm Huế.

NHỮNG SAI LẦM CỦA TIME

Hình như có một sự khác biệt rất xa giữa thực trạng miền Trung và các tin tức thổi phồng trên báo chí. Sau hơn bốn tuần lễ tranh đấu, Huế đã có một khuôn mặt sinh hoạt bình thường ngoại trừ những biểu ngữ khẩu hiệu còn treo dán rải rác, các chữ Bãi Khoá Bãi Thị kẻ sơn còn lưu vết trên nền tường; các cô nữ sinh Quyết tử đã lại tóc thề áo dài trắng tới trường đi học, súng ống cũng được trả lại cho quân đội, đài phát thanh cho đọc thông cáo kêu gọi tất cả sinh viên họp đại hội để bàn về bình thường hoá sinh hoạt Đại học.

Nơi bến Toà Khâm, ngay trước khu Đại học, các tàu Há Mồm của Mỹ đang đổ lên bến chồng chất những thực phẩm và đạn dược, đám trẻ con xúm quanh đùa rỡn với những anh lính Thuỷ quân Lục chiến Mỹ. Trước trụ sở Thông tin ngoài các khẩu hiệu đòi bầu cử Quốc hội, chống Chánh phủ Trung ương, còn có khẩu hiệu lên án Việt cộng pháo kích vào Thành nội sát hại dân chúng...

Dấu vết những ngày máu lửa chỉ có vậy.

Trên dốc tới Nam Giao, chùa Từ Đàm vẫn yên tĩnh nằm đó. Ngoài một số đệ tử đi lễ chùa, trong sân không có chút náo nhiệt của những phút tranh đấu. Nơi nhà Trai, trong bộ đồ rộng trắng, Thượng toạ Trí Quang đang ngồi bình thản đánh cờ với một cụ già, ngồi cạnh đó là một nhà sư trẻ Thích Mẫn Giác.

Khi chúng tôi tới ván cờ đã mãn với phần thắng về phía Thượng toạ, dĩ nhiên. Tuy chưa giáp mặt ông lần nào, chúng tôi đã biết mặt Thượng toạ qua hình ảnh báo chí, và đặc điểm đầu tiên để nhận ra ông là đôi mắt vô cùng sắc sảo. Không với một cử chỉ xa cách nghiêm trọng, không với cả tia nhìn mãnh liệt như thôi miên, Thượng toạ vui vẻ tiếp chúng tôi qua những nụ cười dễ gây thiện cảm và những cử chỉ tự nhiên thoải mái.

Vào đề ngay, chúng tôi nhắc tới những lời tuyên bố của Thượng toạ trên các báo chí ngoại quốc, đặc biệt là bài của tuần báo TIME (2). Thượng Toạ cho biết:

Họ có tới gặp tôi hỏi ý kiến, tôi cũng có trả lời họ một số những câu hỏi, nhưng khi bài đăng có cả những ý kiến mà tôi không hề nói, tính tôi không bao giờ muốn đính chính, bởi vậy trong các bài báo đó có những điều sai lạc.

Chẳng hạn tuần báo TIME gán cho tôi óc bài ngoại gay gắt và nhất là muốn quay lại thời Hoàng kim của đời nhà Lý là một điều hoàn toàn bịa đặt.

Không bao giờ tôi chủ trương như vậy; hơn nữa công thức đời nhà Lý với những thày chùa hăng hái nắm quyền chính hoàn toàn không còn thích hợp với thời đại bây giờ, mơ ước điều đó là vô lý. Cũng như khi hỏi tôi về Quốc hội, tôi chỉ nhấn mạnh với họ ở mấy điểm: số người đi bầu, sự xâm nhập của Việt cộng và cách bầu gián tiếp người lãnh đạo hành pháp qua một Quốc hội trung gian.

Còn về tiểu sử Thượng toạ, ông cho rằng đó chỉ là tài liệu không xác thực của Công an.

Xem ra bài báo TIME đã mô tả nhiều điều không đúng ý Thượng toạ nhưng chúng tôi không muốn đi sâu vào thêm.

CHIẾN TRANH HAY HOÀ BÌNH

Từ những nhận định cho ông có óc bài Mỹ, nhiều người e sợ rằng Quốc hội đầu tiên được thiết lập với ảnh hưởng của Phật giáo sẽ biểu quyết yêu cầu Mỹ rút lui khỏi Việt Nam để đi tới thương thuyết và chấm dứt chiến tranh. Thượng toạ cho rằng:

Bây giờ còn quá sớm để nói tới nên thương thuyết hoặc tiếp tục chiến tranh. Chỉ biết rằng chính quyền hiện tại chẳng đại diện cho một ai và hậu quả là tình trạng vô cùng bi thảm về chính trị cũng như quân sự. Nói chiến tranh thì chẳng ra chiến tranh, nói thương thuyết thì lại càng nhục nhã, chỉ có Mỹ với Hà Nội mà không ai đếm xỉa tới chính phủ Sài Gòn. Bởi vậy, chúng ta bắt buộc phải có một Quốc hội, một chính quyền dân cử, tạo một khuôn mặt quốc gia cho đúng nghĩa một Quốc Gia, việc chiến hay hoà là do nơi Quốc hội. Nếu tiếp tục chiến tranh thì lúc đó mới đúng nghĩa là một cuộc chiến tranh và nếu thương thuyết thì đó đúng là một cuộc thương thuyết nghĩa là chúng ta đã có một ưu thế.

Phải ngồi trên chiếc xe lúc đó mới nói tới chuyện lái tới hoặc lui. Đó là phải cho có một Quốc hội. Và tôi cũng không dại gì đính chính là không muốn thương thuyết để mang lấy tiếng hiếu chiến.

Khi nhắc đến giải pháp Trung Lập mà có người nghĩ rằng đó là chủ trương tương lai của Phật giáo, Thượng toạ Trí Quang nói:

Nếu có thương thuyết để tiến tới giải pháp trung lập thì nền trung lập đó phải như thế nào. Người liều lĩnh nhất cũng không thể chấp nhận một hoàn cảnh như Lào. Pathet Lào trước đó là một phe nổi loạn, hiệp ước đình chiến 62 ở Lào là một công khai chấp nhận cuộc chiến tranh đó, Pathet Lào đương nhiên được hợp thức hoá và lại tiếp tục chiến đấu và thực sự không có một nền trung lập ở Lào.

Như Việt Nam với tình trạng hiện giờ, một ký kết như thế là đương nhiên chấp nhận Việt Cộng và chỉ trong sáu tháng là miền Nam rơi vào tay họ. Bởi vậy tôi vẫn nghĩ phải có chiếc xe cái đã, một Quốc hội được đa số dân chúng đi bầu, đến lúc đó hãy tính xa hơn. Mọi dự đoán trước theo tôi là quá sớm.

Vì sao Trung Quốc nên từ bỏ Đường 9 đoạn?

Trương Quang Nhuệ (Trung Quốc)

Nguyễn Hải Hoành Lược dịch

Lời giới thiệu của người dịch:

Đường 9 Đoạn (Nine-dotted line), tức Đường Chữ U (U-shape line) hoặc Đường Lưỡi Bò là đường ranh giới biển do Trung Quốc (TQ) đưa ra nhằm chiếm 80% diện tích Biển Đông, điểm cực Nam đến vĩ độ 4. Tham vọng ấy quá lớn, quá vô lý và trắng trợn nên đã bị dư luận Đông Nam Á và toàn thế giới phản đối. Đường này có chỗ lấn vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của một số nước Đông Nam Á, khiến cho không còn tồn tại vùng biển quốc tế trên Biển Đông nữa, do đó cản trở các tuyến hàng hải quốc tế. TQ rất lúng túng vì không đưa ra được bằng chứng lịch sử và tính pháp lý của Đường 9 Đoạn. Trong khi chính quyền Việt Nam từ thế kỷ 17 đã đưa người ra kiểm soát quần đảo Trường Sa thì TQ mãi đến năm 1946 mới có người ghé qua đây cắm cờ nhận chủ quyền rồi về.

Bản đồ TQ công bố trước 1947 đều vẽ đảo Hải Nam là lãnh thổ cực Nam của họ. Vả lại ai cũng biết bản thân một đường nét đứt chia làm 9 đoạn rời nhau thì không thể coi là đường biên giới quốc gia. Hơn nữa, các đảo bên trong đường ấy ở rất xa TQ và rất gần các nước Đông Nam Á khác. Vì thế xét về luật quốc tế, Đường 9 Đoạn hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Việc hạm đội chính phủ Trung Hoa Dân Quốc năm 1946 tiếp quản quần đảo Trường Sa từ tay Nhật rồi đặt tên cho 4 hòn đảo và vẽ vào bản đồ phát hành nội bộ Trung Quốc sao có thể coi là bằng chứng TQ có chủ quyền ở đấy? Năm 1946 quân đội chính phủ này chẳng đã đến tiếp quản Việt Nam (nửa trên vĩ tuyến 16) từ tay Nhật đó sao? Thế nhưng TQ đâu có chủ quyền ở đây? …

Các sự thực ấy chính quyền TQ đều biết, nhưng họ giấu kín không cho dân biết, chỉ một mực nói bừa là toàn bộ các đảo bên trong Đường 9 Đoạn là thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của TQ. Dưới sự tuyên truyền dối trá như vậy, đa số dân TQ đều cho rằng nước này nên dùng quân sự “giải phóng” các đảo đang bị nước khác kiểm soát. Rất may là một số trí thức TQ tỉnh táo và dũng cảm đã dùng hình thức Blog mạng để vạch ra sự thật về Đường 9 Đoạn. Bài dưới đây của Blogger Trương Quang Nhuệ, một tác giả thường gây tranh cãi ở TQ. Bài rất dài, chúng tôi chỉ giới thiệu phần đầu. Trong 2 phần sau, tác giả kiến nghị TQ và các nước liên quan thành lập Khối Cộng đồng Biển Đông (South China Sea Commonwealth) để cùng khai thác Biển Đông theo kiểu một công ty đa quốc gia mà TQ chiếm 50% cổ phần.

Gần đây một trang mạng quân sự nổi tiếng trong nước có kêu gọi viết bài về đề tài “Trung Quốc nên thoát ra khỏi tình trạng khó khăn về chủ quyền biển đảo như thế nào”. Bản thân đề tài này thật là có ý nghĩa. Nhưng các bài viết hưởng ứng lời kêu gọi này đã đăng thì hoặc là sặc giọng căm phẫn, hoặc là đầy những ý tưởng ngớ ngẩn. Tôi có cảm giác: Đầu óc đồng bào ta không hề tỉnh táo hơn [những người Trung Quốc hồi cuối thế kỷ 19 từng khuất phục trước tàu chiến súng lớn của phương Tây].

Cách đây ít lâu tôi từng nói: “Trong thế giới cạnh tranh, thực lực là điều quan trọng” … Nhưng không thể đơn giản hiểu thực lực là nước mình có bao nhiêu máy bay tàu chiến, có GDP bằng bao nhiêu, có bao nhiêu dân… Khi bàn chuyện lớn của đất nước, cần phải biết mình biết người thì mới bách chiến bách thắng, chuyện ấy chẳng nói cũng hiểu. Thế nhưng chúng ta có biết mình không? Có biết người không?

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học không cần thiết phải là Uỷ viên Trung ương Đảng

Nguyễn Ngọc Chu

1. Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học, dù là Tự nhiên hay Xã hội, đều phải là những nhà khoa học giỏi đứng đầu một hay nhiều ngành. Đó là những trí tuệ tạo nên những công trình khoa học giá trị manh tính mở đường cho những hướng nghiên cứu mới, hay phát minh ra những sáng chế đột phá, tạo nên những bước tiến dài cho kỹ thuật, công nghệ và sản xuất. Nhờ trí tuệ sáng láng mà họ trở thành thủ lĩnh xác định hướng nghiên cứu và dẫn dắt đội ngũ các nhà khoa học đi đúng hướng đến thành quả cuối cùng.

2. Bởi thế, bổ nhiệm chức vụ Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học phải lấy tiêu chí khoa học là đầu tiên và duy nhất. Các nhà khoa học vĩ đại luôn là những người vĩ đại về khoa học và thừa vĩ đại về lòng yêu nước và tình yêu nhân loại, nên không cần phải lo lắng về phương diện đạo đức, nhân văn.

3. Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) là Giáo sư Trần Đại Nghĩa – không phải là UVTƯ Đảng.

Nhiều Đại biểu bị kỷ luật nhưng Quốc hội chưa một lần bấm nút cho thôi nhiệm vụ

Trần Thường - Thu Hằng

ĐB Phạm Trọng Nhân (Bình Dương): Thực chất chỉ có khoảng hơn 260 ĐBQH hoạt động toàn thời gian

Từ đầu nhiệm kỳ QH tới nay, rất nhiều ĐBQH bị cho thôi làm nhiệm vụ nhưng chưa bao giờ QH biểu quyết cho thôi đại biểu nào, mà là do UB Thường vụ Quốc hội.

Tranh luận tại QH về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Tổ chức Quốc hội, ĐB Phạm Văn Hòa nhận định kỳ này sửa luật là phải sửa vấn đề nào bất hợp lý, chứ không phải chỉ có một số điều mà Ban soạn thảo đề ra.

Ông nêu thực tế từ đầu nhiệm kỳ tới nay, rất nhiều ĐBQH bị cho thôi làm nhiệm vụ nhưng chưa bao giờ Quốc hội biểu quyết cho thôi đại biểu nào, mà là do UB Thường vụ Quốc hội: "Tôi nghĩ tại sao có những trường hợp đương nhiên có quy định hẳn hoi như vậy, gần cuộc họp của Quốc hội cũng nên để cho Quốc hội cho ý kiến, cho thôi làm nhiệm vụ 1-2 đại biểu, không phải qua Uỷ ban Thường vụ Quốc hội"- ông Hòa đề xuất.

Về cơ cấu thành viên các UB Quốc phòng an ninh của QH, ĐB Hòa cho rằng là chưa phù hợp. UB QPAN hiện nay cơ cấu chỉ có sĩ quan quân đội, sĩ quan công an biệt phái qua làm thường trực UB.

Ông Hòa đặt vấn đề tại sao không cơ cấu giống những thành viên UB khác, là ĐBQH khác không phải là sĩ quan công an, quân đội. Khi cơ cấu như vậy thì việc thẩm tra các dự án luật của công an, quân đội sẽ khách quan hơn.

Chúng tôi được giao "súng" nhưng không được giao "đạn"

Bắt bớ, bỏ tù các tài xế là tiếp tay cho BOT “bẩn”

Minh Hải

Mặc dù đã gần một tháng kể từ thời điểm Tòa án Nhân dân tỉnh Bắc Ninh hôm 18/10/2019 đã tuyên y án sơ thẩm tại phiên xử phúc thẩm là 30 tháng tù giam với cáo buộc tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 dành cho tài xế chống trạm thu phí BOT “bẩn” Hà Văn Nam, đến nay người thân, bạn bè vẫn bày tỏ bức xúc cho rằng đây là bản án quá nặng và việc công an bắt bớ, bỏ tù những tài xế như ông Nam đã góp phần tiếp tay cho sự tồn tại của những BOT “bẩn”….

https://1.bp.blogspot.com/-zNbPoqZLKlM/XcmX-tnqPwI/AAAAAAAAE2o/OdHIAfPoDUMRIjJ-WVthiGp6TUj7yljqQCLcBGAsYHQ/s640/ha%25CC%2580%2Bva%25CC%2586n%2Bnam.jpg

Chia sẻ với Việt Nam Thời Báo (VNTB), một người quen với gia đình tài xế Hà Văn Nam cho biết tính từ ngày 18/10/2019, tức là ngày Tòa án Nhân dân tỉnh Bắc Ninh đưa tài xế Hà Văn Nam ra xét xử phúc thẩm và tuyên y án sơ thẩm là 30 tháng tù giam với cáo buộc tội:“Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 thì cũng chưa thấy gia đình đi thăm nuôi tài xế Nam nên chưa có thông tin gì mới nhất.

“Nam xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm 30 tháng tù giam và từ lúc xử xong tôi chưa thấy gia đình Nam đi gặp mặt Nam vì chưa tới ngày thăm nuôi nên chưa có thông tin gì mới”.

Người quen với gia đình tài xế Nam cho biết thêm, hôm diễn ra phiên xử phúc thẩm chị có vào tham dự. Nhìn chung phiên xử này diễn ra không mấy căng thẳng bằng hôm diễn ra phiên xử sơ thẩm. Lực lượng công an, an ninh bố trí bảo vệ Tòa ít hơn và người thân, bạn bè được phép vào tham dự phiên xử công khai tự do hơn.

“Phiên xử cũng nhẹ nhàng, cơ bản là họ cứ thế mà đọc thôi chứ không có gì căng thẳng cả, không như cái hôm diễn ra xét xử sơ thẩm. Phúc thẩm họ cởi mở hơn”.

Cũng liên quan đến phiên xử phúc thẩm, trước đây VNTB từng liên lạc với gia đình, bạn bè của tài xế Nam thì được chia sẻ là tài xế Nam không kháng cáo bản án sơ thẩm vì cho rằng là án “bỏ túi”. Tuy nhiên, phiên xử phúc thẩm đã diễn ra, VNTB liên lạc với gia đình tài xế Nam để rõ thực hư thì được thân nhân tài xế Nam cho biết việc làm thủ tục kháng cáo là anh Nam ở trong trại tạm giam làm, gia đình cũng không rõ.

12/11/2019

Thảm hoạ Cộng sản

KÌ BA

Phạm Đình Trọng

3.  ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, MỘT TỔ CHỨC CƠ HỘI VÀ LỪA ĐẢO CHÍNH TRỊ LỚN NHẤT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Thời nước mất, dân nô lệ, đảng cộng sản giương lá cờ yêu nước, chống xâm lược, giành độc lập và lá cờ yêu nước do người cộng sản phất lên đã tập hợp được đông đảo người dân đang đau đáu với vận nước đi theo cộng sản, từ những quan lại đầu triều nhà Nguyễn đến những công chức trong bộ máy hành chính của thực dân Pháp, từ những trí thức hàng đầu ở trong nước đến những trí tuệ lớn người Việt ở nước ngoài, từ nhà tư sản ở thành thị, đến người cùng đinh đi ở đợ nơi thôn dã.

Nhưng lá cờ yêu nước, lá cờ độc lập mà người cộng sản phất lên chỉ là lá cờ vay mượn, lá cờ ngụy trang. Lá cờ thực sự của họ, lá cờ họ tôn thờ và quyết chiến đấu để nó thống soái trên toàn cõi Việt Nam là lá cờ công nông, lá cờ búa liềm. Tổ quốc của người cộng sản là Đảng Cộng sản. Họ đặt đảng của họ lên trên dân tộc, trên nhà nước. “Hiến pháp là văn bản pháp lí cao nhất sau cương lĩnh của đảng” Câu nói bộc lộ đầy đủ sự trống vắng tư duy và tình cảm với quốc gia, dân tộc, với nhân dân, đất nước của ông đảng trưởng cộng sản Nguyễn Phú Trọng. Đưa cương lĩnh của đảng lên trên hiến pháp của nước, những người cộng sản không những tự tách mình đứng ngoài và đứng trên hiến pháp, pháp luật của quốc gia, mà họ còn đứng ngoài và đứng trên dân tộc. Những người cộng sản đích thực chỉ có đảng, không có tổ quốc, chỉ có giai cấp, không có dân tộc, chỉ có bốn phương vô sản, không có quốc gia. Bốn phương vô sản là mục đích, quốc gia, dân tộc chỉ là phương tiện đưa họ đi đến mục đích.

Quốc gia, dân tộc không phải là mục đích, không phải là lí tưởng phụng sự thiêng liêng, không phải là giá trị thẩm mĩ cao cả thì làm gì có lòng yêu nước. Không có lòng yêu nước nhưng tuyên truyền cộng sản đã làm được điều lừa dối vĩ đại là: Những người Việt Nam vì lòng yêu nước đi theo cộng sản đều đinh ninh rằng cộng sản đồng nghĩa với yêu nước và người phất lá cờ yêu nước đương nhiên phải là người lãnh đạo.

Cũng vì yêu nước, vì lí tưởng độc lập dân tộc, người dân sẵn sàng hi sinh cả tính mạng của cá nhân, hiến dâng cả tài sản, cơ nghiệp của gia đình cho sự nghiệp cứu nước và người dân cũng hi sinh cả tự do cá nhân, hi sinh cả quyền con người, quyền công dân thiêng liêng của mỗi người, chấp nhận để đảng cộng sản, tổ chức lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thâu tóm toàn bộ quyền lực của dân thời chiến tranh cách mạng.

Lòng yêu nước là sức mạnh vô địch tạo nên sức sống trường tồn của giống nòi Việt Nam. Giương lá cờ yêu nước để có được sức mạnh đó, người cộng sản đã mau lẹ thôn tính được nửa nước. Khi phát động cuộc nội chiến Nam Bắc thâu tóm nốt nửa nước còn lại, để huy động, tập hợp được sức mạnh của lòng yêu nước, người cộng sản đã biến cuộc nội chiến người Việt giết người Việt đau đớn giống nòi của lịch sử Việt Nam do đảng cộng sản phát động thành cuộc kháng chiến giữ nước vĩ đại, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thanh niên, học sinh, sinh viên Sài Gòn rầm rộ xuống đường chống chính quyền hợp pháp và dân chủ miền Nam, những trí thức lớn rời bỏ đô thị vào rừng tham gia hàng ngũ kháng chiến với những người cộng sản đều đinh ninh rằng họ đi theo tiếng gọi giục giã của trái tim yêu nước, đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, tiếng gọi chống Mỹ cứu nước. Những người cộng sản đã thực hiện thành công mĩ mãn cú lừa lịch sử hào nhoáng, hoành tráng nhất trong trang sử bi tráng Việt Nam.

Người Việt Nam hãy học tập làm theo hoạ sỹ Trần Lương

Mạc Văn Trang

Hoạ Sỹ Trần Lương Người cắt Đường Lưỡi Bò

Ảnh: Nghệ sỹ Nguyễn Đức Thanh choàng khăn đỏ chụp cùng Nghệ sỹ Trần Lương áo đen, bên cạnh tấm bản đồ mới bị Nghệ Sỹ TL “cắt đường lưỡi bò” xong.

Đây là Hoạ Sỹ Trần Lương và Nguyễn Đức Thanh -  đoàn Việt Nam, trong một buổi dự cuộc triển lãm nghệ thuật đương đại Đông Nam Á khai mạc tại Bảo tàng Nghệ thuật của Đại học Nghệ thuật Nam Kinh (AMNUA) Trung Quốc, với hàng trăm người tới dự.

Họa Sỹ Trần Lương đã làm một hành động hiếm hoi nếu không muốn nói là lịch sử, các tấm poster quảng cáo trong sự kiện này do ban tổ chức Trung Quốc in đều có “đường lưỡi bò”, nhưng Nghệ Sỹ Trần Lương yêu cầu phải thay hết phải treo những tấm bản đồ không có “đường lưỡi bò”, nếu không nghệ sỹ dẫn đoàn Việt Nam sẽ bỏ về. Các nghệ sĩ các nước Đông Nam Á khác cũng nhất trí như vậy.

Thế là ban tổ chức Trung Quốc phải thay không có “đường lưỡi bò”. Sự việc này diễn ra ngay Nam Kinh một cố đô của Trung Quốc.

Đây có lẽ là cuộc triển lãm đương đại quy mô lớn đầu tiên của Đông Nam Á tại Trung Quốc. Các nghệ sĩ đương đại danh tiếng nhất Đông Nam Á và các nhà phê bình danh tiếng của khu vực đều có mặt.

Quy trình “tam phản” về cán bộ, sai ở đâu?

Nguyễn Đình Cống

Trong buổi trả lời chất vấn tại Quốc hội ngày 7/11/2019 về  bổ nhiệm, đề bạt cán bộ, Bộ trưởng Nội vụ Lê Vĩnh Tân nói:“Tôi biết hiện nay có những đồng chí sai phạm hiện là cán bộ cấp cao, nên việc xử lý vấn đề này hết sức nhạy cảm và phải theo từng tình huống xử lý cho phù hợp, vừa đảm bảo nghiêm minh pháp luật, vừa đảm bảo sự ổn định chính trị và đặc biệt là chuẩn bị cho Đại hội Đảng các cấp”.

Ông Tân còn khẳng định: “sai phạm trong tuyển dụng hiện chiếm nhiều nhất trong số các loại sai phạm”.

Một số đại biểu QH (Nguyễn Thị Thủy, Phạm Tất Thắng, Cao Thị Giang…) nêu vấn đề rồi đặt câu hỏi:“Chúng ta có quy trình tuyển dụng, đào tạo, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ khá chặt chẽ, sao lại xảy ra hiện tượng nhiều cán bộ, công chức, viên chức sai phạm đạo đức công vụ của một bộ phận không đáp ứng yêu cầu như vậy?”.

Không riêng gì vài đại biểu QH mà khá nhiều người đặt câu hỏi như thế, tương tự như các câu sau: Chủ nghĩa Mác Lê là hay là đúng mà sao vận dụng nó mang lại tai ương? Đường lối của Đảng là đúng đắn, là phù hợp mà sao thực hiện nó lại mang đến thảm họa ( hủy hoại môi trường, nợ nần chồng chất, đạo đức xuống cấp v.v…)?...

Những người đặt các câu hỏi ấy thực ra đã bị mắc triệu chứng kém trí tuệ của cộng sản, thể hiện bởi sự dễ tin, không biết hoặc không dám suy nghĩ. Thế rồi họ được giải thích: Nguyên nhân (của các sai phạm, các tai họa….) là do một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất.

Giải thích như vậy có đúng không?. Chỉ đúng một phần rất nhỏ, hời hợt, hình thức, vuốt đuôi. Để biết rõ hơn cần hỏi tiếp: Nơi nào? cái gì sinh ra và nuôi dưỡng bọn người thoái hóa đó?, chúng dựa vào đâu để hoạt động ?.

Riêng Quy trình về cán bộ, khi tách ra từng câu, từng điều, thấy rằng chúng khá đúng đắn, khá chặt chẽ, được một số nhà lý luận của Đảng viết bài ca ngợi, nhưng xét tổng thể Quy trình đã sai ngay từ gốc rễ mà từ người làm ra đến người thực hiện đều không thấy, hoặc có thấy nhưng  giấu đi. Về cơ bản Quy trình đó phạm 3 điều: phản dân chủ, phản tiến bộ, phản khoa học. Tôi tạm gọi là “quy trình tam phản”. Điều này tôi đã viết trong bài: “Phản biện đường lối cán bộ cộng sản” (*) . Xin nêu lại vài ý ở đây.

Vụ ám sát GS Nguyễn Văn Bông: Cái kết được báo trước của VNCH

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ 

KỲ 1

Vợ chồng Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ – Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà và bà Jackie Bông Wright tại buổi thuyết trình về dân chủ hóa Việt Nam tại NED ngày 11-12-2014.

Ngày 7/4/2014, tôi đặt chân tới Thủ đô Washington của Hoa Kỳ, sau một chuyến bay dài đưa tôi ra khỏi Trại giam số 5 ở Thanh Hóa, nơi tôi bị giam suốt 3 năm rưỡi với bản án 7 năm tù do bị kết: “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Ngay sau đó, tôi được nhập học tại Viện Quốc Gia Phát Triển Dân Chủ (National Endownment for Democracy - NED) cho dù tiếng Anh của tôi lúc đó chỉ ở mức ABC. Tuy nhiên, nhờ có tiếng Pháp mà tôi thông thạo, tôi cũng đã xoay xỏa được với ngôn ngữ của Washington và Lincoln để rồi 8 tháng sau, ngày 11/12/2014, tôi thuyết trình về đề tài “Thực hiện nhân quyền để dân chủ hóa Việt Nam” (Implementing Human Rights as a Path to Democracy in Vietnam) tại NED.

Trong số những người đến chúc mừng tôi sau thuyết trình, có một phụ nữ nhỏ nhắn, điềm đạm, tự giới thiệu là Jackie Bông và đề nghị chụp ảnh cùng tôi và vợ tôi, Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà. Lúc đó có ai đó nói: “Chị Jackie Bông nguyên là phu nhân của Giáo sư Nguyễn Văn Bông, người bị Việt Cộng ám sát khi sắp làm Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa”. Thực tình lúc đó tôi không chú ý tới chi tiết này, không chỉ vì phía trước tôi là cả một thách thức to lớn đặt ra cho bất cứ nhà hoạt động lưu vong nào mà còn vì tôi chưa bao giờ nghe tên của Giáo sư Bông. Thực vậy, sau 30/4/1975, các tài liệu chính thức về chiến tranh Việt Nam chỉ nhắc tới các lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa tại nhiệm, dù chỉ vài ngày như Vũ Văn Mẫu hay Nguyễn Xuân Oánh.

Sau này, thỉnh thoảng tôi lại gặp bà tại các cuộc họp của cộng đồng Việt Nam hay hội thảo về Việt Nam. Mùa thu năm ngoái, nhân danh tổ chức “Họp mặt dân chủ” (The Assembly for Democracy in Vietnam -ADVN) bà mời tôi dự Hội thảo có tên “Nhìn lại cuộc chiến Việt Nam” (Vietnam War Revisited). Tôi đã dự Hội thảo và thấy rằng Jackie Bông là một phụ nữ năng nổ và có tài tổ chức, điều này khiến tôi bắt đầu tò mò về người chồng quá cố của bà, Giáo sư Nguyễn Văn Bông. Cuối tháng 10 vừa qua, khi mùa thu đã nhuộm vàng cả vùng Thủ đô Washington, Jackie Bông mời vợ chồng chúng tôi điểm tâm tại Phở 95 ở Van Dorn Plaza và sau đó mời chúng tôi về thăm nhà bà.

11/11/2019

Nhà văn Nguyên Ngọc: Tường Berlin đổ, trông người mà ngẫm đến ta

Trọng Thành

Cách nay 30 năm một sự kiện xảy ra tại Đông Âu gây chấn động toàn cầu. Bức tường Berlin, biểu tượng cho cuộc Chiến tranh Lạnh sụp đổ, báo hiệu cho sự tan rã hoàn toàn của khối cộng sản toàn trị, do Liên Xô đứng đầu. Sự kiện Bức tường Berlin sụp đổ có ý nghĩa gì với lịch sử Việt Nam đương đại?

RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà văn Nguyên Ngọc, một trụ cột của cao trào Đổi mới văn nghệ Việt Nam trong những năm 1987-1989, nhân chứng lịch sử của thời điểm bước ngoặt này.

Theo nhà văn Nguyên Ngọc, sự kiện Bức tường Berlin sụp đổ chấn động này đã làm cho người Việt Nam phải suy nghĩ rất nhiều. Tuy nhiên, tình hình Việt Nam trước đây và hiện nay khác xa với Đông Âu. Bởi chế độ cộng sản tại Việt Nam ''ăn sâu, trộn lẫn với chủ nghĩa yêu nước trong một thời gian rất dài''. Tìm được con đường thoát khỏi một chế độ như vậy là vô cùng khó. Để tìm ra được một kịch bản khả dĩ giải thoát cho Việt Nam, cần trở lại với sự lựa chọn gốc: văn minh hay chuyên chế, hướng về các nền dân chủ phương Tây hay ngả sang các thể chế độc tài – toàn trị.

Bức tường Berlin sụp đổ, những biến chuyển trong khối cộng sản toàn trị trước và sau biến cố lịch sử này dường như, với nhà văn Nguyên Ngọc, vẫn là câu chuyện của Việt Nam hôm nay. Thời gian 30 năm như ngưng đọng. Việt Nam vẫn đứng trước thách thức chọn đường thoát, như 30 năm về trước.


media

Một đoạn tường chia cắt thủ đô Berlin. Ảnh chụp năm 1986.

Noir/wikipedia.org

RFI: Ông nhận định ra sao về sự kiện Bức tường Berlin sụp đổ ngày 09/11/1989?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Đối với Việt Nam cũng như đối với thế giới, đây là một sự kiện rất lớn. Nó chấm dứt một chế độ đã kéo dài cả thế kỷ. Tôi cũng có ở Liên Xô không lâu trước khi Bức tường Berlin sụp đổ. Và tôi cũng có ở một số nước Đông Âu. Thì tôi nghĩ rằng đã có những dấu hiệu là chế độ này không tồn tại lâu dài nữa đâu. Cho nên đến cái ngày nó sụp đổ, thì cũng là bất ngờ, nhưng đối với riêng tôi cũng là tất yếu thôi. Tôi cũng có ở Đức, ngay Berlin, phía đông Berlin. Tôi thấy rằng đối diện với Tây Berlin, với Tây Đức, một chế độ như vậy không thể kéo dài.

Còn riêng đối với Việt Nam, sự chấn động đó, theo tôi, nó làm cho Việt Nam, cho người Việt Nam phải suy nghĩ rất nhiều. Tôi nghĩ rằng sự thay đổi ở Việt Nam cũng sẽ là tất yếu. Nhưng chưa biết sẽ diễn ra theo kịch bản nào. Đang rất khó chọn kịch bản nào. Nhưng thể nào cũng phải chấm dứt chứ.

RFI: Theo ông, vì sao lại khó?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Hiện nay ở Việt Nam, có nhiều người suy nghĩ về điều đó rồi, nhưng cũng thường nói với nhau là: chưa thấy kịch bản.

Tôi thì tôi thấy thế này. Ở Việt Nam, có chỗ khác thế này: Ở các nước Đông Âu, sau khi quân đội Liên Xô đánh Đức ở các nước đó, rồi áp đặt chế độ cộng sản vào các nước đó, cho nên khi họ rút xe tăng đi, thì chế độ cộng sản cũng đi theo luôn. Nhưng ở Việt Nam, ''cộng sản'' gọi là nội sinh. Và có thể nói là nó chui được vào trong chủ nghĩa yêu nước, nó lẫn lộn với chủ nghĩa yêu nước. Cho nên nó sâu đậm hơn rất nhiều. Nó ăn sâu, trộn lẫn với chủ nghĩa yêu nước trong một thời gian rất dài. Qua hai cuộc chiến tranh.

Tôi cũng có sống cuộc chiến tranh thứ nhất, cuộc chiến tranh chống Pháp. Theo tôi, nó hoàn toàn là cuộc chiến tranh yêu nước, mặc dầu đã mượn chủ nghĩa cộng sản về để làm việc này rồi…

Ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc sau năm 1950, sau khi giải phóng biên giới với Trung Quốc và ông Mao Trạch Đông đã xuống đến Hoa Nam rồi, thì tác động của Liên Xô, Trung Quốc đến Việt Nam ngày càng đậm. Làm biến dạng tính chất của cuộc chiến tranh đi.

Nhưng ở Việt Nam hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam rất khó ở chỗ chủ nghĩa yêu nước vẫn còn, vẫn có trong đó, nó lẫn lộn với chủ nghĩa cộng sản, mặc dù cái chủ nghĩa cộng sản càng về sau càng bộc lộ rõ rệt hơn. Cái phần đó nặng hơn, nhiều hơn. Cho nên việc gỡ ra ở Việt Nam, khó khăn hơn rất nhiều. Nó ăn quá sâu trong mấy mươi năm, trong gần một thế kỷ (tính đến nay).