16/11/2018

Hợp tác với Mỹ

Vũ Quang Việt
(1 tháng 6 năm 2015)

Vài lời nói thêm

(11/13/2018)
Bài này viết từ năm 2015 nhưng chỉ được trao đổi trong nhóm nhỏ những người quan tâm. Có lẽ công bố bây giờ cũng không muộn.
Tập Cập Bình tháng 10 mới đây bỏ 4 ngày thăm căn cứ quân sự miền Nam TQ, lên tiếng cho rằng TQ sẽ không từ bỏ một tấc đất thuộc chủ quyền của họ và lệnh cho lực lượng quân sự TQ ở thế sẵn sàng chiến đấu. Cuộc họp mới đây giữa Mỹ và TQ (9/11/2018) cũng thất bại vì Mỹ đòi hỏi TQ thi hành cam kết không quân sự hoá Biển Đông và tôn trọng quyền tự do hàng hải và không lưu ở đó mà TQ đang vi phạm. Còn TQ đòi hỏi Mỹ chấm dứt thực hiện quyền đi lại của chiến hạm Mỹ, và trả lời lấp liếm cho rằng TQ bồi đắp và xây dựng là ở vùng lưỡi b (gần 80% Biển Đông Nam Á) thuộc chủ quyền của họ, không phải với mục đích quân sự mà là “xây dựng những cơ sở an ninh nhất định đáp lại các mối đe dọa tiềm năng từ bên ngoài”, và “không có chuyện tự do hàng hải và đường bay trên không bị cản trở”. Tất nhiên hiện nay TQ chưa đủ lực để cản trở nhưng trong tương lai khi điều kiện chín muồi, họ sẽ đòi hỏi các nước khác xin phép và cho tầu chiến ra bảo vệ hoạt động khai thác của họ ở Vùng lưỡi bò (tức là Biển Đông Nam Á) như đánh cá, khai thác dầu khí và khoáng sản và xua đuổi các nước khác “xâm phạm lãnh thổ họ”.
Tình hình ở Biển Đông Nam Á căng thẳng hơn trước, không chỉ vì Trump trở thành Tổng thống Mỹ. Thực tế là cả hai đảng Dân chủ và Cộng hoà đã thấy rõ ý đồ muốn kiểm soát Biển Đông Nam Á của TQ và đều muốn có những hành động không chấp nhận những bãi cát mà TQ đã xây lên từ khu vực thuộc hải phận quốc tế và muốn ngăn chặn TQ biến chúng thành căn cứ quân sự. Mỹ đã cho tầu chiến đi vào trong vùng 12 dặm quanh các vùng TQ bồi lên ở vùng biển quốc tế mà theo Luật Biển LHQ không thể thuộc chủ quyền của riêng ai.
Tuy thế trong hiện tại và tương lai, không có nghĩa là Mỹ muốn và có khả năng quân sự và chính trị để cô lập TQ như đã làm với Liên Xô trước đây. Ngay cả các nước khu vực cũng không muốn thế, vì nó ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế đang có với TQ của mọi nước. Tuy vậy, các nước có quyền lợi ở Biển Đông Nam Á đều có thể hợp tác nhằm tự vệ và bảo vệ quyền lợi chung như quyền đi lại và quyền tham dự khai thác khu vực quốc tế ở Biển Đông, theo đúng như Luật Biển LHQ. Qua tuyên bố của Phó Tổng thống Pence (4/10/2018), Mỹ cũng “muốn có một quan hệ mang tính xây dựng đối với Bắc Kinh mà sự thịnh vượng và an ninh của chúng ta cùng nhau thay vì rẽ lối lớn mạnh” và “quả quyết rằng chúng tôi sẽ không lùi bước chừng nào quan hệ với TQ chưa đặt trên nền tảng công bình, có qua có lại, và tôn trọng chủ quyền của chúng tôi”.
Như thế, nhu cầu hiển nhiên là việc thiết lập một cơ chế mới gồm các nước tham gia hợp tác chiến lược bảo vệ hòa bình và công lý, kể cả việc hợp tác khai thác tài nguyên ở vùng biển quốc tế (the Area) trong Biển Đông Nam Á, mà tài nguyên ở đó theo đúng Luật Biển LHQ là tài nguyên chung của nhân loại (Điều 136, Luật Biển) đặt dưới sự quản lý khai thác của Cơ quan Công quyền Đáy Đại dương Quốc tế (International Seabed Authority). Có thể gọi đó là Ủy ban liên quốc gia thực hiện Luật Biển LHQ nhằm bảo vệ hoà bình và khai thác chung ở vùng biển quốc tế thuộc Biển Đông Nam Á. Tất nhiên các thành viên sẽ chào đón Trung Quốc tham gia nếu họ đồng ý với những điểm cơ bản của Ủy ban, đó là Luật Biển LHQ, bời vì TQ cũng có quyền lợi ở đó.
1. Trung Quốc đã nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc kinh tế, với dự trữ ngoại tệ lên tới 3800 tỷ USD vào cuối năm 2013, có GDP năm 2013 tính bằng USD là 9.2 ngàn tỷ, bằng 55% GDP của Mỹ (16.8 ngàn tỷ) và gần gấp đôi Nhật (4.8 ngàn tỷ) mà vào năm 1970, chỉ bằng 14% Nhật và 4% Mỹ. Nếu TQ tăng với tốc độ trung bình năm là 5% và Mỹ là 3% thì TQ sẽ bằng Mỹ vào năm 2045, sau 32 năm. Dù dân chúng sẽ vẫn có mức thu nhập thua xa Mỹ và nhiều nước khác, TQ vì có có nền kinh tế lớn, và lại là một nước độc tài, có thể dễ dàng đẩy cao thêm tỷ lệ GDP chi cho quân sự. Và TQ hiện nay đã thực sự làm thế, tăng chi cho quân sự từ 1.7% GDP những năm 1990 lên 2.1% những năm gần đây, nhưng dù thế, khó có thể so với Mỹ có lúc lên đến gần 6% GDP và hiện nay là 3.8%; đó là chưa kể tới chi tiêu của các nước đồng minh của Mỹ. Với mục tiêu phục hồi giấc mộng bá vương ít nhất là ở châu Á, TQ đã và đang xây dựng lực lượng hải quân, tuyên bố và có hành động kiểm soát Biển Đông Nam Á, lợi dụng lúc Mỹ đang phải chi phí lớn cho các cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. TQ đang trở thành mối đe dọa cho rất nhiều nước ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, nhưng trơ trọi một mình. Vì thế, cuộc phiêu lưu quân sự nhằm đòi hỏi quyền lợi này chỉ thành công nếu các nước trong khu vực, Mỹ và đồng minh của Mỹ bấm bụng chịu nhường để tránh chiến tranh hoặc rã đám vì lợi ích riêng. TQ chỉ chờ có thế.



2. Chính sách bành trướng và yêu sách đòi chủ quyền trên vùng biển quốc tế, và tranh chấp chủ quyền với nước khác là lý do mà một số nước khu vực nghĩ đến chiến lược liên minh với Mỹ nhằm tự bảo vệ mình. Nhưng cũng chính vì vậy, chữ đồng minh (alliance) hay liên minh đã được dư luận ở Việt Nam dùng rất tùy tiện hoặc hiểu một cách tùy tiện. Vậy đồng minh là gì? Nội dung của đồng minh nếu có với Mỹ là gì? Trên cơ sở mục tiêu nào cho phép đánh giá vào thời điểm hiện nay và trong tương lai gần, có thể có tình thế nghiêm trọng đến mức mà người Mỹ cần liên minh với VN để sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình, coi như nhiệm vụ bảo vệ VN cũng là nhiệm vụ bảo vệ chính mình không? Nếu tình thế chưa đến mức nghiêm trọng thì cấu trúc hợp tác với Mỹ và các nước nên mang hình thức gì nhằm bảo vệ hòa bình ở khu vực Biển Đông Nam Á Nam Á? Câu hỏi sau là vấn đề bài viết lý giải.

Việt Nam đang chết đuối ở Biển Đông

Phạm Trần
Giữa lúc Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch nước Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vùi đầu vào canh bạc chọn người cho Đại hội Đảng khóa XIII diễn ra vào tháng 01/2021 thì Trung Hoa đã xiết gọng kìm để chuẩn bị bóp cổ Việt Nam ở Biển Đông.
Hiện tượng này diễn ra ở Việt Nam và Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ trong vòng 6 tháng nửa sau của năm 2018.
Tại phiên họp lần thứ 11 của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc diễn ra ngày 16/9 (2018) tại Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn), Trưởng đoàn Trung Cộng, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị đã nói với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao CSVN Pham Bình Minh rằng: “Cách tốt nhất để kiểm soát bất đồng trên biển (giữa Việt Nam và Trung Quốc) là hợp tác khai thác trên biển”.
Lập trường của Vương Nghị không mới mà đã thường xuyên được phía Trung Hoa lập lại với Việt Nam mỗi khi có cuộc họp chính thức song phương, hay bên lề các cuộc gặp gỡ Quốc tế. Sở dĩ Bắc Kinh muốn nhắc lại là muốn cho phía Việt Nam hiểu rằng Hà Nội không có lựa chọn nào khác, khi xét về tương quan lực lượng quân sự và sức mạnh kinh tế-chính trị của Trung Hoa đối với Việt Nam.

NỢ TRUNG HOA BAO NHIÊU?

Nếu đem yêu cầu Việt Nam “cùng hợp tác để khai thác trên biển” của Vương Nghị áp dụng vào món nợ khổng lồ của Việt Nam đối với Bắc Kinh thì “quả đấm” của họ Vương dành cho ông Phạm Bình Minh không nhẹ chút nào.
Món nợ tài chính này đã được chuyên gia Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia thuộc Cục Thống kê Liên Hợp Quốc, tiết lộ trong bài viết trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ngày 03/09/2018. Bài này sau đó được đăng lại trên nhiều báo ở Việt Nam.
Ông Việt viết: “Theo một nghiên cứu chi tiết về các khoản nợ của các nước trong đó có Việt Nam với Trung Quốc, thì tổng số nợ của Việt Nam với Trung Quốc (bao gồm cả Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư) có thể đã lên tới 4 tỉ đô la Mỹ, chỉ có thể tính đến hết năm 2013. Số liệu trên cũng chưa thể tính trừ đi khoản nợ gốc đã trả”.
“Tuy thế”, ông Việt viết tiếp, “nếu dựa vào số liệu nợ Trung Quốc là 4,1 tỉ đô la năm 2013, tính ra bằng 6,3% tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam (kể cả nợ của doanh nghiệp) là 63,5 tỉ đô la vào năm 2013. Dựa vào cùng tỷ lệ trên, và với số nợ nước ngoài hiện nay ước là 100 tỉ đô la Mỹ, có thể ước nợ Trung Quốc vào năm 2018 đã trên 6 tỉ đô la. Ngân hàng Thế giới tính số nợ nước ngoài của Việt Nam là 86,9 tỉ đô la vào cuối năm 2016”.
Vẫn theo tính toán của ông Việt thì: “Số nợ Trung Quốc thật sự có thể lớn hơn số trên, vì từ sau năm 2010, Bộ Tài chính chỉ theo dõi và công bố nợ công tức là nợ của Chính phủ và nợ của doanh nghiệp do Nhà nước bảo lãnh, theo định nghĩa của Việt Nam. Từ 2011, bộ đã chấm dứt công bố nợ nước ngoài bao gồm cả nợ của doanh nghiệp tư nhân. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có bản hướng dẫn về nội dung quản lý nhà nước đối với vay và trả nợ của doanh nghiệp (03/VBHN-NHNN, 12-7-2017). Như thế về nguyên tắc, Ngân hàng Nhà nước nắm được thông tin nhưng không công bố”.
Với đống nợ to bằng cái đình làng như thế thì liệu Việt Nam có khả năng tránh được áp lực đòi cùng khai thác ở Biển Đông của chủ nợ không?

Thủ Thiêm, giọt nước tràn ly

NB Trần Quang Vũ
Thủ Thiêm, Văn Giang, Dương Nội, Đồng Tâm... và rất nhiều nơi khác đã tạo nên một tầng lớp mới của xã hội, gọi là “dân oan”. Mỗi năm, các cơ quan nhà nước (NN) nhận được khoảng 20.000 đơn thư khiếu kiện, trong đó có 70 đến 80% là đất đai.
Có lẽ, sự kiện Thủ Thiêm gợi ý những người có trách nhiệm cho nghiên cứu thấu đáo hơn về vấn đề đất đai.
Thông qua đất đai để tham nhũng là phổ biến nhất, tràn lan nhất, khủng khiếp nhất. Đảng đang chống tham nhũng, lấy lại lòng tin của nhân dân mà không giải quyết vấn đề đất đai cả về lý luận và thực tiễn thì khó đạt được điều mong muốn.
Tôi viết về nó như một góp ý có trách nhiệm.
Cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954), Đảng và Nhà nước làm Cải cách Ruộng đất với khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, lấy đất công điền, tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào chia cho dân nghèo. Việc này được Đảng nâng lên tầm lý luận là: cuộc cách mạng dân chủ (CMDC).
Lứa chúng tôi và nhiều lứa khác được dạy dỗ: cách mạng dân tộc là giải phóng đất nước khỏi ngoại xâm và cách mạng dân chủ là người cày có ruộng (không phải khái niệm dân chủ như hiện nay - xin người đọc đừng hiểu lầm).
Tổng quan lại, cuộc CMDC của nước ta đã đi một vòng tròn và khó giải thích về lý luận. Từ tịch thu ruộng của địa chủ chia cho dân nghèo đến thu hồi ruộng của dân để giao cho tầng lớp tư sản mới (các chủ doanh nghiệp).
Hành trình đó được khép kín như sau:

CỜ BẠC VÀ QUYỀN LỰC: CÂU CHUYỆN THIỆN, ÁC, TÀ

Nguyễn Hồng Lam

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, kính mắt và cận cảnh 

1. Tháng 8 - 2008, tại khách sạn Caravelle TP Hồ Chí Minh, một buổi hội thảo quốc tế về khả năng hợp pháp hóa thị trường cá cược và các hình thức đánh bạc khác đã diễn ra, có sự tham dự của quan chức Bộ VHTT, Bộ Tài chính, Bộ Công an và CA TPHCM. Những con số khảo sát thống kê mà Hãng cá cược Ladbrokes (Anh) đưa ra đã khiến tất cả cử tọa có mặt phải sửng sốt. Nó là những số tiền quá khổng lồ nằm ngoài hình dung của tất cả mọi người, kể cả những người máu me và liều lĩnh nhất.
Theo nghiên cứu của Ladbrokes, đến cùng thời điểm, mỗi năm người dân Việt Nam chi 4.8 tỷ USD cho riêng các khoản cá cược và cờ bạc, phần lớn là cá độ bóng đá, từ V.League cho đến các trận đấu quốc tế. Tất cả các hoạt động cá cược, bài bạc này đều bị xem là bất hợp pháp. Bất chấp mọi sự cấm đoán và trừng phạt của luật pháp, số tiền chi cho đỏ đen vẫn không hề giảm, chỉ tăng tịnh tiến theo thời gian.
Bằng kinh nghiệm tổ chức kinh doanh cá cược lâu năm, Ladbrokes cho biết, chỉ xấp xỉ 40% số tiền con bạc bỏ ra cá cược quay trở lại túi dân chơi thắng cược. Trong điểu kiện luật pháp cấm đoán, khâu trung gian nhiều, chi phí tăng, số tiền chi cho mọi khâu dịch vụ, đến tận người phát hành “phơi” (ghi nhận đặt cược)… cùng lắm cũng chỉ chiếm 20% tổng số tiền. Nếu tổ chức tốt, nhà cái sẽ ẵm gọn 40% tổng số tiền đặt cược dưới mọi hình thức.
Để tối ưu hóa lợi nhuận, các hãng cá cược cả quốc tế lẫn đám ma đầu hang cùng ngõ hẻm đều dùng một chiêu thức giống nhau: đẻ ra càng nhiều hình thức cá cược càng tốt. Nhà cái sẽ hưởng lợi nhuận nhiều vòng hơn từ tỷ lệ chiết khấu. Một trận đấu, từ trước khi bóng lăn đến phút mãn cuộc, tổng cộng Ladbrokes có 42 loại kèo khác nhau. Đến tận áp giây cuối cùng của quả pennalty cuối cùng trong loạt sút luân lưu của trận cuối cùng tranh chức vô địch giải đấu, dân cá cược vẫn có thể tiếp tục bắt kèo với hy vọng đã thắng cược, họ lại tiếp tục thắng thêm kèo nữa. Cứ cho là tỷ lệ thắng thua là 50 - 50, nhà cái vẫn hưởng thêm được 5-10% hoa hồng cho kèo “hốt cú chót” này, móc ra từ hầu bao của những người thắng cuộc. Tuy nhiên, nhiều khả năng, những kèo “nhả ăn xương”, “bẻ kèo”, “ngược kèo”, “đảo lai (like - chọn)” cuối trận, dân thắng cược trước đó sẽ nướng hết số tiền mà họ đã thắng và dân thua kèo trước thì sẽ thua thêm kèo nữa, rồi kèo nữa…
Một ít trong số tiền khổng lồ rụng lại ở các khâu trung gian cò con, gọi là tiền tráng nhựa hoặc tiền lót đường. Một số khác, không nhỏ về con số, nhưng rất nhỏ nếu so tỷ lệ được gọi là bôi trơn để những gì là bất hợp pháp trở nên vô thanh và vô hình, để đường dây hình gân lá của trò cá cược cứ thế mà lan khắp mọi hang cùng ngõ hẻm.

CPTPP quy định người lao động được thành lập công đoàn độc lập như thế nào?

Thường Sơn
CTTPP sẽ cho phép đình công cấp ngành, đình công hưởng ứng và có thể có đình công “phản đối chính sách kinh tế - xã hội”.

https://2.bp.blogspot.com/-0EUph8P20ko/W-ubsjvm1mI/AAAAAAAAc3o/gq6gFS1u5K8xQSAFhvtxarfSfDhu7C2nQCLcBGAs/s640/dinh_cong_vqap.jpg

Vào năm 2015, gần 100.000 công nhân Pouyuen đã biểu tình phản đối điều 60 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 không cho người lao đông được nhận trợ cấp một lần. Đây chính là dạng ‘đình công phản đối chính sách kinh tế - xã hội’ mà CPTPP đã chính thức quy định được phép diễn ra ở các nước tham gia hiệp định này, trong đó có Việt Nam.
Vào cuối năm 2018, để được tham gia vào CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), lần đầu tiên Nguyễn Phú Trọng và chế độ độc trị của ông ta đã phải nhượng bộ chấp nhận điều kiện về cho phép người lao động được tự do thành lập các tổ chức nghiệp đoàn tự do để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, tức về thực chất sẽ có một hình thái tổ chức nghiệp đoàn độc lập, hay còn gọi là công đoàn độc lập, tồn tại song song với hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam từ trung ương xuống các địa phương. Không những thế, công nhân còn được thành lập nghiệp đoàn tự do không chỉ giới hạn ở từng khu vực mà còn trên cả nước, và các nghiệp đoàn độc lập này được kết nối với nhau…
Dưới đây là những nội dung cơ bản liên quan đến công đoàn trong Hiệp định CTTPP:
- Cho phép người lao động làm việc trong một doanh nghiệp được thành lập tổ chức của NLĐ/Công đoàn ở cấp cơ sở theo sự lựa chọn của họ. Để hoạt động, tổ chức này hoặc gia nhập vào Tổng Liên đoàn Lao động VN hoặc đăng ký hoạt động độc lập với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (do Chính phủ quy định) tùy theo sự lựa chọn của tổ chức đó.
- Các tổ chức công đoàn - NLĐ này được quyền không kém hơn so với Công đoàn cơ sở; thuộc hệ thống của Tổng Liên đoàn Lao động VN.
- Tổ chức này có thể yêu cầu và nhận sự trợ giúp kỹ thuật và đào tạo từ các tổ chức hoạt động về lao động đang hoạt động hợp pháp tại VN.
- Lộ trình: Chậm nhất từ 5 đến 7 năm; kể từ khi CTTPP có hiệu lực; các tổ chức NLĐ - Công đoàn có thể gia nhập / hoặc thành lập tổ chức của NLĐ ở cấp cao hơn như: cấp ngành, cấp vùng lãnh thổ theo đúng trình tự đăng ký được pháp luật quy định.

15/11/2018

Thư bày tỏ quan ngại về các cáo buộc đối với Giáo sư Chu Hảo và Nhà Xuất bản Tri Thức

Kính gửi:

Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

Ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam

Uỷ ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Đồng kính gửi: Các Đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội

Kính thưa quý vị,

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, là các học giả, các giáo sư và nhà nghiên cứu, những người đã dành phần lớn sự nghiệp và cuộc sống của chúng tôi cho việc nghiên cứu Việt Nam. Đến từ các trường đại học và viện nghiên cứu trên khắp thế giới, chúng tôi thường đi đầu trong việc thúc đẩy sự hiểu biết về Việt Nam, cũng như việc học tiếng Việt và hợp tác giáo dục quốc tế. Là một phần của công việc này, chúng tôi thường xuyên tìm kiếm nguồn tài trợ và các cơ hội khác cho sinh viên và học giả Việt Nam đến thăm, học tập và làm việc tại các trường đại học, các khoa và các viện nơi chúng tôi nghiên cứu và giảng dạy.

Chúng tôi viết lá thư này để bày tỏ sự không đồng ý và thất vọng sâu sắc của chúng tôi về những cáo buộc đối với Giáo sư Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất bản Tri Thức, bởi Ủy ban Kiểm tra Trung ương vào ngày 25 tháng 10 năm 2018, cũng như về các bình luận tiếp theo được đăng trên trang mạng của Ủy ban vào ngày 31 tháng 10.

Công việc chính của ông Chu Hảo tại Nhà xuất bản Tri Thức là giúp các sinh viên và học giả Việt Nam tiếp cận nhiều hơn với các công trình học thuật lớn của các nước khác bằng cách dịch chúng sang tiếng Việt. Sáng kiến ​​này là một tầm nhìn xa và rất quan trọng cho việc nghiên cứu khoa học. Các công trình học thuật lớn đó là nền tảng của nghiên cứu và tư duy hiện đại trong ngành khoa học xã hội và nhân văn. Ở các trường trung học và đại học trên khắp thế giới, chúng nằm trong giáo trình cơ bản của nhiều ngành học và môn học khác nhau mà sinh viên phải đọc và nắm bắt được. Rất đáng tiếc rằng, rào cản ngôn ngữ mà các học giả Việt Nam và đặc biệt là các sinh viên phải đối mặt khi cố gắng tiếp cận các công trình này đã đặt họ vào một thế bất lợi đáng kể khi cạnh tranh để vào các trường đại học, để được nhận học bổng và tài trợ nghiên cứu.

Là các nhà nghiên cứu và nhà giáo dục từ khắp nơi trên thế giới, chúng tôi bác bỏ bất kỳ khẳng định nào cho rằng những tác phẩm này là mối đe dọa cho sự phát triển ổn định hoặc hòa bình của Việt Nam. Giáo dục hiện đại đã được thành lập dựa trên nền tảng là khả năng thảo luận và kết hợp rộng rãi các ý tưởng và các đề xuất lý thuyết. Hạn chế hoặc từ chối việc tiếp cận của mọi người với những tư tưởng này sẽ chỉ làm giảm các công cụ phân tích có sẵn cho họ và cản trở sự phát triển tri thức của họ. Ngay cả các công trình gây tranh cãi cũng phải được đọc và phân tích trước khi chúng có thể bị chỉ trích hoặc bác bỏ một cách đáng tin cậy.

Vào thời điểm mà Việt Nam nỗ lực để cạnh tranh trên trường quốc tế trong giáo dục đại học và học bổng học thuật, chúng tôi thấy những lời buộc tội bởi Ủy ban Kiểm tra Trung ương là vô căn cứ và đáng lo ngại. Vì lợi ích của hợp tác quốc tế và phát triển giáo dục cho Việt Nam, chúng tôi mạnh mẽ yêu cầu Ủy ban sửa đổi các đánh giá về công việc quan trọng mà ông Chu Hảo đang dẫn dắt tại Nhà xuất bản Tri Thức. Chúng tôi cũng ủng hộ mạnh mẽ bức thư ngỏ ủng hộ ông Chu Hảo được ký bởi các thành viên cũ của Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) và hơn 200 người ủng hộ có tên tuổi.

Đồng thời, chúng tôi khuyến nghị rằng chính phủ nên khuyến khích việc thảo luận tri thức rộng rãi về tất cả các chủ đề ở Việt Nam, và chúng tôi mạnh mẽ thúc giục chính phủ từ bỏ mọi nỗ lực quấy rối, đe doạ hoặc trừng phạt những người đã thể hiện quan điểm hoặc ý kiến ​​của họ một cách ôn hòa.

Chúng tôi cảm ơn sự quan tâm của quý vị đối với vấn đề này và chúng tôi tin tưởng rằng sự phản hồi của quý vị sẽ phản ánh sự văn minh, phẩm giá và tham vọng giáo dục của Việt Nam.

Ngày 11 tháng 11 năm 2018

DANH SÁCH NGƯỜI KÝ

STT Họ tên Chức vụ và tổ chức hiện tại Nơi chốn

1 Pierre ASSELIN Giáo sư khoa Sử, San Diego State University USA

2 Margaret B. BODEMER Chủ tịch, Nhóm Nghiên cứu Việt Nam, Giáo sư khoa Sử và Nghiên cứu châu Á, California Polytechnic State University USA

3 Pascal BOURDEAUX Phó Giáo sư, École Pratique des Hautes Études France

4 Mark Philip BRADLEY Giáo sư khoa Sử, University of Chicago USA

5 Pierre BROCHEUX Giáo sư (nghỉ hưu), Université Paris - Denis Diderot France

6 Joe BUCKLEY Nghiên cứu sinh, SOAS University of London United Kingdom

7 BÙI Xuân Quang Biên tập, Viet Nam Infos, Nhà Nghiên cứu độc lập France

8 Jim COBBE Giáo sư Hưu trí khoa Kinh tế, Florida State University USA

9 Nguyet DANG Nghiên cứu sinh, Erasmus University Rotterdam Netherlands

10 ĐỖ Đăng Giu, Giám đốc Nghiên cứu CNRS (nghỉ hưu), University Paris-Sud, France France

11 ĐOÀN Cầm Thi, Phó Giáo sư, Inalco France

12 George DUTTON Giáo sư khoa Sử, Giám đốc chương trình Nghiên cứu Đông Nam Á, University of California - Los Angeles (UCLA) USA

13 Dominique FOULON Carnets du Viet Nam, Nhà Nghiên cứu độc lập France

14 Laurent GEDEON, Phó Giáo sư, ENS de Lyon France

15 Francis GENDREAU Chuyên gia Nhân khẩu học (nghỉ hưu), Institute of Research for Development (IRDn), Paris France

16 Christoph GIEBEL Giáo sư khoa Sử, University of Washington USA

17 Christopher GOSCHA Giáo sư khoa Sử, Université du Québec à Montréal

18 François GUILLEMOT Kỹ sư Nghiên cứu CNRS, ENS de Lyon, Lyon Institute of East Asian Studies France

19 HÀ Dương Tường, Giáo sư Toàn (nghỉ hưu), University of Technology of Compiègne France

20 Erik HARMS Phó Giáo sư khoa Nhân học và Nghiên cứu Đông Nam Á, Yale University USA

21 Bill HAYTON, Nhà Nghiên cứu độc lập United Kingdom

22 Judith HENCHY Giảng viên Liên kết, Jackson School of International Studies, University of Washington USA

23 HERBELIN Caroline Phó Giáo sư, University of Toulouse Jean Jaurès France

24 Carina HOANG, Tác giả/Nhà xuất bản, School of Humanities, Curtin University Australia

25 Hue-Tam HO TAI, Giáo sư Hưu trí, Harvard University USA

26 Rob HURLE Giảng viên (nghỉ hưu), Australian National University Australia

27 Charles KEITH Phó Giáo sư, Department of History, Michigan State University USA

28 Ben KERKVLIET Giáo sư Hưu trí, Australian National University Australia

29 John KLEINEN Phó Giáo sư Hưu trí,

Amsterdam Institute for Social Science Research (AISSR) Netherlands

30 Gary KULIK Nhà văn, Cựu Chiến binh Việt Nam USA

31 Scott LADERMAN Giáo sư khoa Sử, University of Minnesota USA

32 LÊ Minh Hằng, Nhà thuỷ văn học (nghỉ hưu), Vietnam Hydro-Meteorological Services Vietnam

33 LÊ Trung Tĩnh Kỹ sư United Kingdom

34 Christian C. LENTZ Phó Giáo sư khoa Sử, University of North Carolina USA

35 Ann Marie LESHKOWICH Giáo sư Nhân chủng học, College of the Holy Cross USA

36 David MARR Giáo sư Hưu trí, Australian National University Australia

37 André MENRAS (Hồ Cương Quyết) Nhà Làm phim ài liệu và Nghiên cứu độc lập France

38 Pamela MCELWEE Phó Giáo sư, Department of Human Ecology, Rutgers University USA

39 Edward MILLER Giáo sư khoa Sử, Dartmouth College USA

40 Dominique De MISCAULT Họa sĩ France

41 Anthony MORREALE Nghiên cứu sinh, University of California - Berkeley USA

42 Jason MORRIS-JUNG Giảng viên cao cấp, Singapore University of Social Sciences Singapore

43 NGÔ Như Bình, Harvard University USA

44 Lam NGO Chuyên gia Thông tin học, Special Collection Services, Leiden University Netherlands

45 NGÔ Vĩnh Long, Giáo sư khoa Sử, University of Maine USA

46 NGUYỄN Thế Anh Giáo sư Hưu trí, École Pratique des Hautes Études France

47 NGUYỄN Điền, Nhà Nghiên cứu độc lập Australia

48 NGUYỄN Ngọc Giao Giảng viên (nghỉ hưu), Université Paris - Denis Diderot France

49 NGUYỄN Trọng Hiền Nhà Vật lý học, Jet Propulsion Laboratory, California Institute of Technology, Pasadena USA

50 NGUYỄN Đức Hiệp Nhà Khoa học Khí quyển, Office of Environment & Heritage, NSW Australia

51 Huong NGUYEN, Biên tập, The 88 Project USA

52 NGUYỄN Thanh Lam, California Institute of Technology USA

53 Lien-Hang T. NGUYEN

Giáo sư khoa Sử, Columbia University USA

54 Viet Thanh NGUYEN Nhà văn, Giáo sư, University of Southern California USA

55 Le Anh Tu PACKARD, Nhà Kinh tế học cao cấp (nghỉ hưu), Moody’s Analytics USA

56 Natasha PAIRADEAU Bye Fellow, Murray Edwards College, University of Cambridge United Kingdom

57 PHẠM Xuân Yêm Nhà Vật lý học, Giám đốc Nghiên cứu CNRS (nghỉ hưu), Université Paris-Sorbonne France

58 Chloé PHAN-LABAYS, Giảng viên, University of Lyon 3 France

59 Emmanuel POISSON Phó Giáo sư, Centre de Recherches sur les Civilisations de l’Asie Orientale (CRCAO) France

60 John PRADOS Nghiên cứu viên Cao cấp, Intelligence Documentation and Vietnam Projects, National Security Archive USA

61 Benoit QUENNEDEY Tác giả nhiều sách và bài viết về Đông Á France

62 Sophie QUINN-JUDGE, Phó Giáo sư (nghỉ hưu) USA

63 Frédéric ROUSTAN Nhà Nghiên cứu liên kết, Institut de Recherche Asiatique (IrAsia) France

64 Christina SCHWENKEL Phó Giáo sư, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Đông Nam Á, University of California, Riverside USA

65 Mark SIDEL Giáo sư khoa Luật và các Vấn đề Công, Hàm vị Doyle-Bascom, University of Wisconsin-Madison USA

66 Balazs SZALONTAI Phó Giáo sư, Korea University Korea

67 Tai Van TA Nguyên Giảng viên và Nghiên cứu viên, Harvard Law School USA

68 Philip TAYLOR Giáo sư Hưu trí, Australian National University Australia

69 THÁI Văn Cầu, Chuyên gia Khoa học Không gian USA

70 TRẦN Hải Hạc Phó Giáo sư (nghỉ hưu), Université Paris XII France

71 TRẦN Hữu Dũng, Giáo sư Hưu trí, Wright State University USA

72 Nhung Tuyet TRAN, Phó Giáo sư, University of Toronto Canada

73 Qui-Phiet TRAN, Giáo sư Hưu trí, Schreiner University USA

74 Richard TRAN Phó Giáo sư, Ca’Foscari University of Venice Italy

75 TRỊNH Văn Thảo, Giáo sư Hưu trí, Aix-Marseille University France

76 TRỊNH Xuân Thuận, Giáo sư, University of Virginia USA

77 William TURLEY Giáo sư Hưu trí, Southern Illinois University Carbondale USA

78 Kieu-Linh Caroline VALVERDE Phó Giáo sư, University of California - Davis USA

79 VŨ Quang Việt Nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia, Cục Thống kê, Liên Hợp Quốc USA

80 VŨ ĐỨC Vượng Biên tập, Trồng Người, A Clearinghouse on Education in Vietnam, San Francisco - Sai Gon USA

81 Peter ZINOMAN Giáo sư khoa Sử, University of California - Berkeley USA

Statement of Concern over Accusations Directed at Chu Hảo and the Knowledge Publishing House (Nhà Xuất Bản Tri Thức)

To:

Mr. Nguyễn Phú Trọng, General Secretary of the Vietnamese Communist Party and President of the Socialist Republic of Vietnam

Mr. Nguyễn Xuân Phúc, Prime Minister of the Socialist Republic of Vietnam

Central Inspection Commission of the Vietnamese Communist Party

Cc: Foreign Embassies in Hanoi

Dear Sirs and Madams:

We, who have signed our names below, are scholars, academics and researchers, who have dedicated much of our careers and lives to the study of Vietnam. Hailing from universities and research institutes around the world, we are often at the forefront of promoting a deeper understanding of Vietnam, as well as Vietnamese language learning and international educational cooperation. As part of this work, we regularly seek funding and opportunities for Vietnamese students and scholars to visit, study and work at our respective universities, departments and research institutes.

We write this letter to express our profound disagreement and disappointment with accusations directed at Professor Chu Hảo, Director of the Knowledge Publishing House, by the Central Inspection Commission on October 25, 2018, as well as follow-up comments posted on the Commission’s webpage on October 31.

Chu Hảo’s primary work at the Knowledge Publishing House has been to make more accessible major academic works to Vietnamese students and scholars by translating them into Vietnamese. This initiative has been both far-sighted and highly important for scientific inquiry. Such works constitute the foundations of contemporary research and thinking in the social sciences and humanities. In high schools and universities around the world, they represent a body of essential readings across disciplines and subjects. Unfortunately, the language barriers that Vietnamese scholars and, especially, students face when trying to access these works puts them at a significant disadvantage when competing for university admissions, scholarships and research funding.

As researchers and educators from around the world, we reject any assertion that these works present a threat to the stable or peaceful development of Vietnam. Modern education has been founded on an ability to discuss and incorporate a wide range of ideas and theoretical propositions. Restricting or denying people access to these ideas will only reduce the analytical tools available to them and impoverish their intellectual development. Even controversial works must be read and analysed before they can be credibly criticized or refuted.

At a time when Vietnam is vying to be internationally competitive in university education and academic scholarship, we find the accusations made by the Central Inspection Commission to be unfounded and disturbing. In the interests of international cooperation and educational development for Vietnam, we strongly request the Commission to revise its assessment of the important work that Chu Hảo is leading at the Knowledge Publishing House. We also strongly support the open letter to support Chu Hảo signed by former members of the Institute of Development Studies (IDS) and more than 200 eminent supporters.

At the same time, we recommend that the government cultivate wide intellectual discussion of ideas on all topics in Vietnam, and we strongly urge the government to desist from any efforts to harass, intimidate or otherwise punish persons for peacefully expressing their views or opinions.

We thank you for your attention to this matter and we trust that you will respond in a matter that reflects the civility, dignity and educational ambitions of Vietnam.

November 11, 2018

LIST OF SIGNERS

Sửa Luật Đặc xá nhìn từ ‘nhu cầu đối ngoại’

Phạm Chí Dũng

14/11/2018

Mẹ Nấm, tù nhân chính trị được "đặc xá" gần nhất.

Mẹ Nấm, tù nhân chính trị được “đặc xá” gần nhất.

“Tội chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng được xét đặc xá” - một trong những nội dung mang tính ‘đột phá’ của Dự án Luật Đặc xá (sửa đổi) - đã được đưa ra Quốc hội để thảo luận vào ngày 7/11/2018.

Một nội dung ‘đột phá’

‘Đột phá’ là từ ngữ rất thường được giới quan chức và tuyên giáo Việt Nam sử dụng như một cách ‘tự sướng’ và lên dây cót tinh thần ngay trong hoàn cảnh chẳng có gì đáng tự hào.

Theo Dự thảo này: “để đảm bảo đồng bộ với các Luật về tư pháp mới được Quốc hội ban hành, tạo động lực cho người chấp hành án phấn đấu cải tạo, dự thảo Luật quy định đối với một số tội mà Bộ luật Hình sự quy định không được tha tù trước thời hạn có điều kiện thì nay vẫn có thể được đặc xá nhưng điều kiện về thời gian đã chấp hành án dài hơn so với các tội danh khác. Đó là các tội liên quan đến phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội, tội phá hoại chính sách đại đoàn kết, tội làm-tàng trữ-phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tội phá hoại an ninh, tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân... Với những người phạm các tội danh trên, phải chấp hành ít nhất ½ thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, ít nhất là 17 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn”.

Đây là lần đầu tiên từ khi Luật Đặc xá được thông qua vào tháng Mười Một năm 2007, luật này mới được bổ sung cơ chế đặc xá cho những tù chính trị ‘phạm tội an ninh quốc gia’ mà giới đấu tranh dân chủ nhân quyền và nhiều người dân gọi là tù nhân lương tâm.

Dạng tù nhân chính trị trên thường gồm những nhà hoạt động nhân quyền (khái niệm của nhà cầm quyền là ‘quyền con người’) bị chính quyền quy chụp vào tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’, ‘lợi dụng quyền tự do dân chủ’, ‘phá hoại đoàn kết dân tộc’, ‘gây rối an ninh’ và không ít trường hợp bị xem là ‘lật đổ chính quyền’. Trong số tù nhân chính trị, có cả những người dân không thuộc giới đấu tranh nhân quyền mà chỉ hoạt động phản đối thảm họa ô nhiễm môi trường và những dân oan đất đai phản đối nạn cướp đất nhưng cũng bị nhà cầm quyền bắt bớt và quy chụp các tội danh chính trị.

Vậy vì sao đã hơn 10 năm tồn tại, Luật Đặc xá mới bổ sung nội dung đặc xá cho tù chính trị, trong khi trước đó hoàn toàn không có nội dung này?

Lịch sử của ‘nhu cầu đối ngoại’

Trước đó, đã chỉ có Điều 21 của Luật đặc xá quy định “trường hợp đặc biệt, cụ thể, để đáp ứng yêu cầu đối nội, đối ngoại của Nhà nước” thì Chủ tịch nước quyết định đặc xá trong trường hợp đặc biệt này.

Nhưng trong thực tế, hoàn toàn chưa có biểu hiện và thậm chí chưa có dấu hiệu nào cho thấy Điều 21 của Luật Đặc xá được áp dụng cho ‘nhu cầu đối nội’, với lý do hết sức độc trị là một nhà nước công an toàn trị hoàn toàn chưa hề có ý muốn thả tù chính trị để đối thoại với giới đấu tranh dân chủ nhân quyền và với người dân, hay thậm chí để mị dân. Vì thế, đã chưa có bất kỳ trường hợp tù nhân lương tâm nào được đặc xá do nhu cầu đối thoại hay thương lượng về những điều kiện nhân quyền và an sinh xã hội.

Chỉ có một số ít tù nhân chính trị được phóng thích, chứ không phải áp dụng hình thức đặc xá, do ‘nhu cầu đối ngoại của Đảng và Nhà nước’.

Sau mốc bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ vào năm 1995 và đặc biệt là mốc Hiệp định thương mại song phương Việt-Mỹ được ký kết vào năm 2001, chính quyền Việt Nam đã trả tự do nhỏ giọt trước thời hạn tù cho một ít tù nhân chính trị, và cũng chính thức khởi động một chủ trương ngầm ‘đổi tù nhân chính trị lấy lợi ích thương mại’.

Tuy nhiên, chủ trương ngầm trên chỉ hiện ra một cách thật sự lộ liễu và bất cần sĩ diện lẫn liêm sỉ vào năm 2014, khi các trại giam tối đen và dơ bẩn của Bộ Công an phải mở toang để trả tự do cho đến 12 tù nhân lương tâm, trong đó một số người bị tống xuất đi Mỹ, nằm trong chiến dịch trao đổi tù nhân chính trị lấy một lợi ích thương mại rất cụ thể vào năm đó là Hiệp định TPP.

Đó chính là ‘nhu cầu đối ngoại’ của ‘Đảng và Nhà nước ta’.

Nhưng như một quy luật của nhà nước độc trị, ngay khi đã được thỏa mãn về lợi ích thương mại (Việt Nam tham gia vào WTO năm 2007) hoặc khi đã không còn hy vọng vào lợi ích thương mại đó nữa (Việt Nam thất vọng vì Mỹ rút khỏi TPP vào năm 2017), cơ chế bắt bớ lại tái diễn một cách lồng lộn, hung dữ và đặc biệt xấu tính.

Ngay sau khi Mỹ rút khỏi TPP vào đầu năm 2017, ‘nhu cầu đối ngoại’ lập tức biến mất, cũng chẳng còn quan chức hay đại biểu quốc hội nào thèm ngó ngàng đến việc sửa đổi Luật Đặc xá liên quan đến điều khoản này hay bổ sung đặc xá cho các tội danh an ninh quốc gia.

Chính quyền VN bắt đầu hé lộ về ‘tổ chức khác’ của người lao động

Minh Quân

Sau khi Quốc hội ‘100% gật’ để Việt Nam chính thức tham gia vào CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), giới tuyên giáo và báo Đảng đã lần đầu tiên kể từ năm 2010 - thời điểm bắt đầu đàm phán về Hiệp định TPP tức tiền thân của Hiệp định CPTPP - hé lộ về sự xuống thang của chính thể độc đảng ở Việt Nam trước quy định bắt buộc của CPTPP về tổ chức công đoàn độc lập phải được tự do hình thành ở đất nước này. Tại Tọa đàm báo chí về cam kết lao động trong CPTPP do Bộ LĐ-TB&XH tổ chức ngày 13/11/2018, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế Nguyễn Mạnh Cường cho biết cam kết lao động của Việt Nam trong CPTPP nằm ở Chương Lao động và Thư trao đổi. Trong đó, cam kết chung về lao động của CPTPP được giữ nguyên trong Chương Lao động của TPP; cam kết riêng về lao động của Việt Nam trong CPTPP là thư trao đổi giữa Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng 10 nước CPTPP.

https://3.bp.blogspot.com/-OOH3cX_jIhM/W-uXiAU0h6I/AAAAAAAAc3c/HmIDuzX71Kosb34Zh346wpcK4Mao0sH5QCLcBGAs/s640/lf3fbce61-274a-4950-bf55-997044c4eb1b.jpg.png

Tọa đàm trao đổi về các cam kết lao động trong Hiệp định CPTPP ngày 13/11/2018

Các cam kết chung được quy định tại Chương Lao động trong CPTPP bao gồm: các bên sẽ thông qua và duy trì trong các đạo luật và quy định cũng như trong thực tiễn những quyền lao động cơ bản được nêu trong Tuyên bố 1998 của ILO: tự do liên kết và thương lượng tập thể; xóa bỏ lao động cưỡng bức; xóa bỏ lao động trẻ em; xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử trong lao động (mức thông qua và duy trì là mức độ cam kết cao nhất trong các FTA trên thế giới); quy định trong luật pháp và thực hiện trong thực tiễn những điều kiện làm việc ở mức chấp nhận được về lương tối thiểu, giờ làm việc và an toàn sức khỏe nghề nghiệp.

Ông Nguyễn Mạnh Cường cho biết, theo cam kết trong Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam có thời gian 3-5 năm để đáp ứng các điều kiện về lao động theo cam kết. Chương về lao động trong CPTPP là cam kết cao nhất trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) hiện có trên thế giới. Theo đó, nếu Việt Nam có vi phạm các cam kết chung liên quan tới lao động, các nước không áp dụng các biện pháp cắt giảm ưu đãi thương mại trong thời hạn 3 năm từ ngày hiệp định có hiệu lực. Nếu Việt Nam có vi phạm với quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể, các nước không áp dụng biện pháp đình chỉ ưu đãi thương mại trong thời gian 5 năm đầu. Trong thời gian năm thứ 5 đến năm thứ 7 CPTPP có hiệu lực, các bên sẽ rà soát về các vi phạm của Việt Nam (nếu có) về quyền tự do hiệp hội.

Quân đội chỉ đạo hạn chế Pháp Luân Công tại Việt Nam

RFA

Người Việt Nam thực tập Pháp Luân Công vào buổi sáng tại Hà Nội, ảnh minh họa chụp trước đây.

Người Việt Nam thực tập Pháp Luân Công vào buổi sáng tại Hà Nội. Ảnh minh họa chụp trước đây.

Vừa qua, Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị Việt Nam, vừa đưa ra một văn bản chỉ đạo các phòng ban về việc theo dõi, kiểm soát, hạn chế hoạt của Pháp Luân Công. “Những văn bản gây nên sự sách nhiễu”

Văn bản của Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc Phòng Việt Nam đề ngày 23 tháng 8 năm 2018, do Thiếu tướng Nguyễn Văn Đức, Cục trưởng Cục Tuyên huấn ký tên đóng dấu.

Cụ thể văn bản được chụp lại nêu ra rằng Pháp Luân Công thời gian gần đây đã có những hoạt động mang màu sắc chính trị, phá hoại an ninh… văn bản cho rằng Pháp Luân Công mang màu sắc chính trị đối lập dưới dạng rèn luyện sức khỏe, tu sửa tâm linh. Cục Tuyên huấn còn cho rằng Pháp Luân Công lợi dụng yếu tố tâm linh nhằm lôi kéo quần chúng, đảng viên, quân đội cùng tham gia.

Qua những yếu tố vừa nêu, Cục Tuyên huấn chỉ đạo các cơ quan chính trị các cấp định hướng cán bộ công chức cùng người thân không tham gia Pháp Luân Công và các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp khác (tổ chức tôn giáo không do nhà nước kiểm soát).

14/11/2018

Ba mươi năm, hành trình giấc mơ Việt

Bùi Minh Quốc

GIẤC MƠ VIỆT của tôi, và bạn tôi - nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự - gói gọn trong mấy từ này: THIẾT LẬP QUYỀN LÀM CHỦ THỰC SỰ CỦA NHÂN DÂN.

Trong lời bài hát của Văn Cao mà tôi hát từ thời Cách mạng Tháng Tám 1945 khi tôi mới 5 tuổi, cô đúc ý trên chỉ trong 3 từ chắc nịch, đanh thép “LẬP QUYỀN DÂN!” (nguyên văn câu hát: “Lập quyền dân, tiến lên, Việt Nam!”)

Đã 30 năm, kể từ buổi lên đường đầy hào hứng ấy.

Xin phép nhắc lại vắn tắt câu chuyện đã được kể 5 năm trước trong bài viết nhân dịp 25 năm:

Đoàn văn nghệ Langbian xuất phát xuống núi lúc 8 giờ sáng ngày 4.11.1988: Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Hoàng Như Thủy An, Lưu Hữu Nhi Dũ, chiến sĩ lái xe Bùi Thanh Thảo và con chiến mã Lada 49A-3842. Phải nhắc ngay đến Bùi Thanh Thảo và con chiến mã Lada, vì nếu không có những người bạn đường trung thành và tận tuỵ này thì chúng tôi không thể nào làm được cuộc hành trình gần 6.000 cây số từ Nam ra Bắc (và trở về) với thời gian đúng một tháng mười bốn ngày, không phải chỉ đi ban ngày mà cả ban đêm, không chỉ giờ hành chính mà cả đến 11, 12 giờ khuya, không chỉ trên đường lớn mà cả trong những ngõ nhỏ đến với bạn bè văn nghệ khắp dọc đường đất nước”.

Đấy là đoạn mở đầu cuốn HÀNH TRÌNH CUỐI ĐÔNG* của Tiêu Dao Bảo Cự, ở phần 1, có dòng ghi chú đặt trong ngoặc đơn bên dưới tên sách: Bút ký về một chuyến đi có thật. Giờ đây, sau 30 năm, tôi ngồi đọc lại lần nữa, vẫn không thể không tủm tỉm cười một mình. Bút ký thì đương nhiên phải ghi thật rồi, những việc thật, những người thật, những thời gian và địa điểm thật. Ấy thế mà ông bạn tôi, với quá nửa đời cầm bút, vẫn phải thêm hai chữ “có thật”. Phải chăng Bảo Cự e ngại bạn đọc sẽ khó mà tin nổi có một việc như vậy đã xảy ra, dù ngay giữa hành trình, chúng tôi đã nghe bậc trưởng thượng yêu kính của mình, lão thi sĩ Hữu Loan, mấy lần thích thú nhắc đi nhắc lại: “Này, các cậu nghĩ mà xem, văn nghệ sĩ trong phe xã hội chủ nghĩa, một cuộc như thế này của chúng mình là chưa hề có đấy!”.

https://1.bp.blogspot.com/-cwD0kTOdAHU/W-mcUdu6xGI/AAAAAAAACsk/eJ4--513UVEHzVY6prprjzD9W8SqnHPbQCLcBGAs/s640/thuguibmq_html_m6b45d47f.jpg

Bùi Minh Quốc (trái) và Tiêu Dao Bảo Cự (giữa) cùng chiến sĩ lái Bùi Thanh Thảo khi ra đến Hà Nội. Ảnh và ghi chú: Tiêu Dao Bảo Cự (Diendan)

Nghiệp đoàn độc lập có thể là Doanh nghiệp xã hội?

Minh Châu

Với tỉ lệ 96,7% đại biểu tán thành, chiều 12-11 Quốc hội đã chính thức thông qua Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Hy vọng năm 2019 câu chuyện EVFTA [Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU] sẽ thành hiện thực như CPTPP. Tuy đó là hai đòn bẩy thương mại quan trọng nhất đối với Việt Nam, nhưng xét cho cùng, nếu không cải cách thể chế để phát huy nội lực, thì trông chờ vào các nước khác trong CPTPP, EVFTA (hay WTO) cũng chỉ là ảo tưởng.

Đã có thể thực thi

Thực thi CPTPP về vấn đề lao động, Việt Nam sẽ có 3 năm để thể chế hóa các luật pháp liên quan đến lao động trẻ em, lao động cưỡng bức và phân biệt đối xử; có 5 năm để cải cách và hoàn thiện các thiết chế về thương lượng tập thể và tự do liên kết. Khi đó, đối với tổ chức công đoàn, đó là ở cấp cơ sở sẽ xuất hiện tổ chức đại diện khác của người lao động, hay còn gọi là đa công đoàn.

Công đoàn Việt Nam hiện tại, khi đó sẽ không còn là tổ chức duy nhất đại diện cho người lao động.

Theo báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội, các quốc gia thành viên CPTPP đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực thi các tiêu chuẩn lao động đã được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, trong đó có việc cho phép thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.

Các tổ chức này phải tuân thủ hiến pháp, pháp luật của nước sở tại, phải đăng ký hoạt động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không được phép tiến hành bất cứ hoạt động nào có khả năng xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, cũng như không được tham gia bất cứ hoạt động nào ngoài tôn chỉ, mục đích và điều lệ hoạt động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

https://4.bp.blogspot.com/-v2RfbkZefzQ/W-mfsO782-I/AAAAAAAACtE/d6O3M8KetIUonV2D38nCd-Kt3kKH6GUDACLcBGAs/s640/doanh-nghi%25E1%25BB%2587p-x%25C3%25A3-h%25E1%25BB%2599i.jpg

Mô hình DNXH đang có xu hướng phát triển mạnh tại Việt Nam.

Nợ xấu ‘dưới 3%’ sao vẫn phải ‘tăng cường xử lý nợ xấu’?

Minh Quân

Không phải ngẫu nhiên mà mới đây, khi vụ Công ty ALC II của ngân hàng thuộc loại lớn nhất quốc gia - Agribank - bị phát hiện đã làm biến mất hàng ngàn tỷ đồng bảo hiểm xã hội, đã tràn ngập thông tin ngoài lề về ‘Agribank sắp phá sản’.

https://4.bp.blogspot.com/-hNtnQltcRFQ/W-ks1T3sdXI/AAAAAAAAc2U/0SvJATD15n4EUbGJRkd8adRz3hDXrgWCwCLcBGAs/s640/photo1532046264620-1532046264620756259996.jpg

Trong thực tế, cơ chế của VAMC là gần như vô tích sự kể từ khi tổ chức này ra đời.

Chưa đầy hai tháng sau khi ban hành Chỉ thị số 05/CT-NHNN ngày 17/9/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) gắn với xử lý nợ xấu, Thống đốc NHNN lại phải có văn bản số 8425/NHNN-TTGSNH ngày 07/11/2018 yêu cầu các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD - trừ Quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô) tiếp tục đẩy mạnh xử lý nợ xấu.

Đáng chú ý, động thái ban hành văn bản của Chính phủ và NHNN về ‘quyết liệt xử lý nợ xấu’ cứ đều đặn diễn ra vào quý tư mỗi năm, lần nào cũng như lần nào đều thúc bách các ngân hàng thương mại cổ phần và chính quyền các địa phương phải gia tăng tiến độ xử lý nợ xấu, trong khi các báo cáo của NHNN vẫn luôn khoe khoang thành tích ‘nợ xấu giảm về dưới 3%”.

Vì sao lại tồn tại nghịch lý quá lớn trên?

Quốc hội: ‘Phản động, xuyên tạc’ là điểm nóng an ninh

RFA

Tù nhân chính trị Nguyễn Văn Túc.

Tù nhân chính trị Nguyễn Văn Túc. AFP

Năm 2018, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo lực lượng công an làm nòng cốt triển khai nhiều phương án, kế hoạch phòng ngừa tội phạm, trong đó các đối tượng bị cho là ‘phản động kích động, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng’ nằm trong những điểm nóng về an ninh đã được giải quyết.

Nhận định trên do Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga nêu ra trong Báo cáo thẩm tra các báo cáo về công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; công tác phòng ngừa, chống tội phạm và vi phạm pháp luật và công tác thi hành án năm 2018 vào sáng ngày 13/11.

Về công tác phát hiện vi phạm, Bà Lê Thị Nga nói số vụ án tham nhũng và các tội phạm về chức vụ được phát hiện tăng hơn 32% và số bị can tăng hơn 13%.

Ngoài ra điểm được cho đặc biệt là nhiều vụ án xâm hại tình dục trẻ em đã được phát hiện. Báo cáo thẩm tra về Công tác điều tra, xử lý tội phạm cho biết tỷ lệ tội phạm xâm phạm trật tự xã hội đạt hơn 81%.

13/11/2018

VN chính thức thông qua CPTPP – phải chính thức công nhận Công đoàn Độc lập!

Phạm Chí Dũng
12 tháng Mười Một năm 2018 cần được ghi vào lịch sử nhân quyền Việt Nam như một trang sử mới: cùng với CPTPP, Công đoàn Độc lập đã đương nhiên và mặc định phải được chính thể độc đảng ở Việt Nam công nhận.

https://1.bp.blogspot.com/-nr2sRk3TdIA/W-lEcmaYyRI/AAAAAAAAc2s/WPp0W1UufBw6TjCusqPgxTaj3-a12GUOwCLcBGAs/s640/hiep_dinh_cptpp_knfb%2B%25281%2529.jpg

Chỉ 5 ngày sau khi được ‘Tổng chủ’ Nguyễn Phú Trọng với tờ trình ‘chỉ đạo’ về tính cấp thiết phải phê chuẩn CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), 100% đại biểu Quốc hội đã đồng loạt ‘gật’ cho Hiệp định này vào chiều 12/11/2018, đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ 7 trong khối CPTPP thông qua Hiệp định CPTPP, sau 6 nước đã thông qua là New Zealand, Canada, Nhật Bản, Mexico và Singapore, Australia.
Hoàn toàn không giống với các dự thảo luật do Việt Nam soạn thảo và thông qua, CPTPP và một văn kiện mà sau khi đã kết thúc đàm phán vào năm 2017 và ký kết, Quốc hội Việt Nam chỉ hoặc lắc đầu hoặc gật đầu mà không có quyền chỉnh sửa bất kỳ nội dung nào trong Hiệp định này. Theo đó, những điều khoản về Công đoàn Độc lập trong CPTPP cũng đương nhiên giữ vai trò bất di bất dịch mà Việt Nam không có quyền xóa bỏ hay tìm cách hạn chế bớt ảnh hưởng của định chế bảo vệ quyền lợi người lao động đó.
12 tháng Mười Một năm 2018 cần được ghi vào lịch sử nhân quyền Việt Nam như một trang sử mới: cùng với CPTPP, Công đoàn Độc lập đã đương nhiên và mặc định phải được chính thể độc đảng ở Việt Nam công nhận.
Theo những quy định của CPTPP, chính quyền Việt Nam sẽ phải cho phép người lao động được tự do thành lập các tổ chức nghiệp đoàn tự do để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, tức về thực chất sẽ có một hình thái tổ chức nghiệp đoàn độc lập, hay còn gọi là Công đoàn Độc lập, tồn tại song song với hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam từ trung ương xuống các địa phương. Không những thế, công nhân còn được thành lập nghiệp đoàn tự do không chỉ giới hạn ở từng khu vực mà còn trên cả nước, và các nghiệp đoàn độc lập này được kết nối với nhau…
Vào lúc này đây, những nhà hoạt động nhân quyền tiền thân của Công đoàn Độc lập, những con người đầu tiên dấn thân đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân Việt Nam - Đoàn Huy Chương, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Trương Minh Đức, Hoàng Bình… đang có thể mỉm cười rạng rỡ.

Giọt nước mắt người phụ nữ “bên thắng cuộc” *

Đinh Quang Anh Thái (Tháng Hai, 2018)

Dương Thu Hương tự nhận mình là “người rừng”, “mụ đàn bà nhà quê răng đen, mắt toét”.

Báo chí Pháp thì gọi Dương Thư Hương là “Con Sói Đơn Độc”.

Còn lãnh đạo CSVN thì chửi bà là “con đĩ chống đảng”.

Gọi bằng gì thì gọi, Dương Thu Hương vẫn là chính mình: bản chất chân quê không hội nhập vào thế giới trên mạng, bõ bã, đốp chát, đơn độc, và trên hết, ngay thẳng, hết mực với mục tiêu nhắm tới là tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ, tự do, thoát khỏi cái chế độ hiện nay mà bà gọi là “chỉ sống bằng xác chết, không có bất cứ giá trị gì cả.”

Dương Thu Hương và Đinh Quang Anh Thái tại một quán ăn Hy Lạp ở Paris năm 2005

Sinh năm 1948, lớn lên tại miền Bắc vào đúng giai đoạn Cộng sản Hà Nội tung toàn lực lượng nhất quyết bằng mọi giá phải đạt được tham vọng “giải phóng miền Nam thoát khỏi sự kềm kẹp của Mỹ-Ngụy.” (sic)

Như lời bà kể, cùng với hơn 100 bạn ngang lứa tuổi, bà đã cắt máu xin vào Nam “đánh Mỹ cứu nước”.

Những trải nghiệm trong chiến tranh, cùng những chua chát của Tháng Tư 1975 đã là chất liệu cho các tác phẩm sau này của bà, như “Những Thiên Đường Mù”, “Bên Kia Bờ Ảo Vọng”, “Khải Hoàn Môn”, “Đỉnh Cao Chói Lọi”, “No Mans Land” (ấn bản Anh ngữ) được dịch sang Pháp ngữ là “Terre Des Oublis”…

***

Dấu mốc quan trọng làm thay đổi hẳn cuộc đời Dương Thu Hương là thời điểm đoàn quân của “bên thắng cuộc” vào Sài Gòn trưa ngày 30 Tháng Tư 1975.

Trong các bài viết, và trong lần gặp bà ở Paris năm 2005, Dương Thu Hương kể: “Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi ngồi bên lề đường khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ...nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ.”

Bầu cử Mỹ: Ai thắng, ai bại?

Từ Thức

Phòng phiếu đã đóng cửa ở Mỹ. Cả hai phe Cộng hòa, Dân chủ đều cho mình đã thắng. Sự thực, kết quả không phải là “một thắng lợi ngoài sức tưởng tượng” như Trump quả quyết, cũng không phải là “làn sóng xanh” (mầu tượng trưng cho Đảng Dân chủ) như phe đối lập mong đợi. Hạ viện rơi vào tay Dân chủ. Thượng viện vẫn ở trong tay Cộng hòa.

Mỗi phe có lý do để nói mình thắng, hay có lý do để thất vọng

1. Phe Dân chủ

Đảng Dân chủ (DC) có thể mừng vì đã lấy lại được Hạ viện, nhưng thất vọng vì những bất mãn về cá nhân và tư cách Trump không cuốn trôi phe Cộng hòa (CH) như dự đoán, nhất là chuyện tranh cử của phe CH đều xoay quanh Trump, như một cuộc trưng cầu dân ý về Donald Trump, mặc dù đó là một cuộc bầu cử địa phương.

Không có, hay chưa có chuyện xã hội Mỹ chối bỏ Trump như nhiều médias tiên đoán. Cái sợ di dân và ổn định kinh tế (nhờ Trump hay không là chuyện khác) khiến hậu thuẫn cử tri của Trump vẫn còn mạnh.

Vai trò của Thượng viện quan trọng hơn Hạ viện, nhưng với Hạ viện trong tay, phe DC sẽ có khả năng gây khó khăn cho Trump, thí dụ về chuyện biểu quyết ngân sách, chính sách di dân, thành lập những uỷ ban điều tra về chuyện kinh tài, thuế má của Donald Trump. Ứng cử viên DC nổi nhất của DC, Beto O‘Rourke thua Thượng nghị sĩ đương nhiệm CH Ted Cruz ở Texas, nhưng là ngôi sao mới nổi mà Đảng DC đang tìm kiếm, để tranh cử Tổng thống hai năm tới, nếu không muốn lôi Hillary Clinton trở lại.

Vấn đề của Đảng DC là phải tìm ra lãnh đạo, và phải minh bạch hơn về chính sách, phải biết mình muốn gì, định làm gì. Chống Trump không phải là một chính sách. Đó cũng là những khó khăn các đảng phái cổ điển ở Âu Châu đang lúng túng, nhất là phe tả. Thế giới đã thay đổi, khó thuyết phục cử tri với những lý luận của thế kỷ trước.

2. Phe Cộng hòa

Với Thượng viện trong tay, Trump vẫn rảnh tay về ngoại giao, nhưng sẽ phải thương lượng, sống chung, thoả hiệp với Hạ viện trên những địa hạt khác.

Tới nay, Trump cai trị như chỗ không người. Hai năm tới, Trump sẽ phải chứng tỏ có khả năng lãnh đạo một quốc gia Dân chủ bình thường, có đối lập, có những người nghĩ khác mình.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống 2020, chắc chắn Trump sẽ nói không thực hiện được những điều đã hứa vì bị Hạ viện ngăn cản, chọc gậy bánh xe. Nhìn dưói lăng kính đó, mất Hạ viện không chừng lại trở thành một lợi khí tranh cử cho Trump. Thí dụ về vụ xây tường, Trump sẽ nói không xây đưọc vì Hạ viện của Đảng DC, trong khi ngay cả khi đa số là Cộng hòa, chuyện biểu quyết ngân sách đã gặp khó khăn. Và không một chuyên viên nào nghĩ rằng một bức tường có thể chận đứng được di dân.

CPTPP và EVFTA: Tương lai tạm thời cho nhân quyền Việt Nam

Phạm Chí Dũng

https://2.bp.blogspot.com/-1UtZR30byCk/W-k6TrBq0tI/AAAAAAAAc2g/hNoottfAjiIK_84uRSfHi_yGjutnMsqpQCLcBGAs/s640/PCD_CPTPP.jpg

Các nước tham dự hội nghị CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) (Hình: Getty Images)

Theo logic phát triển của CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) và EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Châu Âu), năm 2019 sẽ ra sao với nhân quyền? Liệu có hy vọng nào sáng hơn so với một năm 2017 nhân quyền bị bắt bớ gần ba chục người và một năm 2018 bắt ít hơn trong khi phải thả hai nhà hoạt động nhân quyền gạo cội và tiêu biểu là Nguyễn Văn Đài và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh?

Từ TPP đến EVFTA

Hãy nhìn lại logic của Hiệp định TPP - tiền thân của CPTPP.

Logic của TPP là cùng thời điểm Nguyễn Phương Uyên được trả tự do vào năm 2013, hàng loạt tổ chức xã hội dân sự đã lần đầu tiên đồng loạt ra đời, đánh dấu lần đầu tiên phong trào xã hội dân sự - nhân quyền chính thức hình thành ở Việt Nam và được cộng đồng quốc tế công nhận. Đà ra đời và phát triển của các tổ chức xã hội dân sự còn tiếp nối mạnh mẽ vào năm 2014 và sang tận đầu năm 2016. Cho tới năm 2018, số lượng tổ chức xã hội dân sự đã tăng gấp nhiều lần so với năm 2013 và gấp gần 3 lần so với năm 2014.

Logic của TPP cũng thể hiện ở việc nếu vào năm 2013 chính quyền Việt Nam chỉ trả tự do cho duy nhất Phương Uyên, đến năm 2014 chính quyền đó đã phải trả tự do cho một số lượng kỷ lục lên đến 12 tù nhân lương tâm, trong đó đặc biệt là cái tên Điếu Cày Nguyễn Văn Hải - sáng lập viên của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do mà chính quyền Việt Nam sợ hãi và căm ghét đến mức nào. Ngoài ra còn phải trả tự do cho Đỗ Thị Minh Hạnh - sáng lập viên của tổ chức Lao động Việt - có thể xem là tiền thân cho định chế Công đoàn Độc lập ở Việt Nam trong tương lai không xa, và Tạ Phong Tần - bị tống xuất sang Mỹ một năm sau khi Điều Cày ra khỏi nhà tù.

Bốn năm sau đó, khi TPP chuyển thành CPTPP, Công đoàn Độc lập đã có một bước tiến dài: vào cuối năm 2018, để được tham gia vào CPTPP lần đầu tiên Nguyễn Phú Trọng và chế độ độc trị của ông ta đã phải nhượng bộ chấp nhận điều kiện về cho phép người lao động được tự do thành lập các tổ chức nghiệp đoàn tự do để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, tức về thực chất sẽ có một hình thái tổ chức nghiệp đoàn độc lập, hay còn gọi là Công đoàn Độc lập, tồn tại song song với hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam từ Trung ương xuống các địa phương. Không những thế, công nhân còn được thành lập nghiệp đoàn tự do không chỉ giới hạn ở từng khu vực mà còn trên cả nước, và các nghiệp đoàn độc lập này được kết nối với nhau…

Còn với EVFTA, Hiệp định này đã được Ủy ban Châu Âu thông qua vào Tháng Mười Năm 2018 để đệ trình lên Hội đồng Châu Âu nhằm quyết định cho việc ký kết chính thức hay không, và nếu được ký thì sẽ trình lần cuối cho Nghị viện Châu Âu để vào Tháng Ba năm 2019 sẽ quyết định có phê chuẩn hay không.

GIẢI PHÁP NÀO HẠN CHẾ Ô NHIỄM (cafe đắng đầu tuần)

FB Mai Quốc Ấn

Tôi viết khá nhiều bài về phương pháp giải quyết tro xỉ kiểu san lấp của các bộ ngành sẽ gây hại cho môi trường. Về mặt nguyên tắc, tất cả các văn bản cho phép san lấp đều là văn bản dưới luật nên việc san lấp được tiến hành bất kỳ đâu tại Việt Nam đều có thể lập biên bản hành chính. Nếu sau vài năm mà lấy mẫu phát hiện gây nguy hại hoàn toàn có thể khởi tố.

Tuy nhiên, vẫn có giải pháp cho việc này!

Việc san lấp bằng tro xỉ sẽ rất rẻ nhưng phương thức chở tro xỉ (kể cả bằng xe bồn) vẫn có thể gây ô nhiễm thứ cấp khi đổ ra trộn liệu. Nhìn bức ảnh về thí điểm san lấp đường bằng tro xỉ ở Hà Tĩnh có thể thấy điều đó. (Ảnh 1). Nó khác hẳn phương thức “của Tây”. (Ảnh 2)

Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời và thiên nhiên 

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người

Việc beton hóa rắn tro xỉ thành các vật liệu xây dựng như gạch không nung, ngói không nung hay tetrapod đã có. Nếu thu gọn hình dáng còn bằng... đầu đũa thì vẫn làm được. (Ảnh 3) Phương thức này có thể lập tức xử lý tro xỉ phát sinh tại nguồn (nhiệt điện) để giảm bụi mịn phát tán. Xử lý được toàn bộ thì không phải chôn lấp nữa.

Trong hình ảnh có thể có: món ăn

Đem đi san lấp như vậy trước mắt có thể giảm tải tro xỉ phát sinh, không phải cấp thêm đất chôn lấp tro xỉ gây áp lực cho quỹ đất quốc gia. Nhưng như tôi nhiều lần phân tích, tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) lỗi thời mới chính là cái gốc vấn đề của các ô nhiễm phát sinh. Và phương thức san lấp tôi vẫn phản đối quyết liệt bởi nguyên tắc CÁI GÌ CÓ HẠI CHO CON NGƯỜI THÌ KHÔNG LÀM!

Đây cũng là sản phẩm do một nhà khoa học Việt Nam sáng chế và được đăng ký tại Đức. Anh Trần Trung Nghĩa, công ty khoa học công nghệ Trung Hậu là chủ công nghệ này. Tuy nhiên, cũng như các với sản phẩm gạch không nung, ngói không nung hay tetrapod có chứa tro xỉ đều phải làm rõ thành phần có hại sẽ là ở mức bao nhiêu % tro xỉ trong sản phẩm. Thậm chí làm rõ mức tro bao nhiêu, mức xỉ bao nhiêu mới đảm bảo an toàn. Tuy nhiên giá xử lý vẫn còn tương đối cao.

Có một doanh nghiệp khác, cũng của Việt Nam, là công ty gạch ngói không nung Thanh Tuyền. Thật thú vị và đáng hoan hô khi ngói không nung từ tro xỉ của họ có thể xuất khẩu (Ảnh 4). Xin nhấn mạnh là xuất khẩu! Nhưng số lượng sản phẩm của Thanh Tuyền vẫn còn ít nên dĩ nhiên giải quyết tro xỉ cũng ít. Những doanh nghiệp có công nghệ tốt như vậy, đem lại thặng dư cho quốc gia như vậy cần được hỗ trợ lớn, khuyến khích mạnh để phát triển.

12/11/2018

TRAO ĐỔI VỀ BÀI “HÃY CỨU THIÊN NHIÊN”

Nguyễn Đình Cống

“Trực tiếp gây ô nhiểm, phá nát môi trường là một số cá nhân và tập đoàn, nhưng ai bảo kê, dung túng cho chúng nó, tại sao chính quyền bất lực? Phải chăng lực lượng vô cùng hùng hậu của công an, cảnh sát chỉ lo bảo vệ Đảng và chế độ và góp phần bảo vệ cho bọn phá hoại môi trường. Tôi cho rằng bọn trực tiếp phá môi trường là nguy hiểm, là kẻ thù nội xâm, nhưng bọn dung túng, hỗ trợ cho chúng nó nằm trong chính quyền và lãnh đạo còn nguy hiểm hơn, tội ác nặng hơn. Những tên đã lộ mặt, đã trốn tránh như Võ Kim Cự. Còn biết bao tên khác cần bị vạch mặt chỉ tên, bị xét xử và trừng phạt”.

Chỉ xin được phép đính chính vài chữ trong những dòng trên. GS Nguyễn Đình Cống viết: “bọn trực tiếp phá môi trường là nguy hiểm, là kẻ thù nội xâm, nhưng bọn dung túng, hỗ trợ cho chúng nó nằm trong chính quyền và lãnh đạo còn nguy hiểm hơn”, viết như thế vừa đúng mà vừa không hay chưa đúng hẳn. Phải nói chính quyền hiện nay không phải chỉ có một số ít cá nhân dung túng cho những cá nhân và tập đoàn phá hoại môi trường, vì bọn dung túng cho việc phá hoại đó thường là bọn chóp bu nên chúng đại diện cho một tiếng nói ở cấp cao nhất, có giá trị ra lệnh. Vây chúng không còn tư cách cá nhân ở đây. Hãy xem những tên như Nguyễn Thế Thảo cho chặt cây xanh của Hà Nội hàng loạt cách nay vài năm thì đấy có phải là một cá nhân Nguyễn Thế Thảo nữa đâu mà là cả chính quyền Hà Nội đấy chứ. Và Thảo mà lại không ăn chia với Phạm Quang Nghị để được Nghị gật đầu thì đố mà tự Thảo dám làm. Mặt khác, việc tàn phá một thủ đô Hà Nội để đến tình trạng như hiện tại thì đâu còn gọi là việc “dung túng”. Nó là chủ trương đầy chủ động của cả một lũ chóp bu lóa mắt vì tiền nên thi nhau ăn tàn phá hại, kể từ Nghiên cho đến tận Chung hôm nay chứ có phải lẻ tẻ, người này làm người kia không làm đâu nữa.

Cho nên phải gọi đúng bản chất sự vật, chính cái chính quyền đang trong giai đoạn mạt vận ngót 5 thập kỷ lại đây cố thi nhau kiếm tiền cho túi của từng cá nhân các vị ấy căng phồng mới là nguyên nhân đích thực của mọi sự phá hoại môi trường đất nước chúng ta. Chúng tôi nghĩ, có nói như vậy mới là sự nhắc nhở có tác dụng “đòn đau nhớ đời”, tất nhiên ngoại trừ người CS là một đám “điếc dạn súng” mà bằng chứng không phải chỉ ở VN mà bất kỳ nơi nào CS đã chiếm được chính quyền thì đều thấy rõ.

Bauxite Việt Nam

Ngày 10/11 trang Bauxit đăng bài “Hãy cứu lấy thiên nhiên Việt Nam!” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn (NAT).

Bài báo mở đầu và kết thúc bằng tiếng kêu xé lòng: “Hãy cứu lấy Tài nguyên Thiên nhiên của Đất Nước chúng ta đang bị tận diệt”. Đó là tiếng kêu thống thiết của những trái tim và khối óc như bị lửa đốt, dao đâm trước thảm cảnh một phần đất nước đang bị hủy hoại. Tôi xin chân thành chia sẻ tấm lòng vì quê hương của tác giả, xin tỏ lòng cảm phục vì sự hiểu biết, sự dẫn giải và phân tích tình hình khá toàn diện trên thế giới và trong nước. Chỉ xin trao đổi về 3 vấn đề: cách thể hiện, nguyên nhân và biện pháp.

Về thể hiện. Nội dung phong phú là tốt, nhưng bài quá dài. Tôi nghĩ chỉ nên viết dài, trình bày nhận thức đa chiều, lập luận chính xác khi thể hiện kết quả nghiên cứu, nhằm mục tiêu học thuật. Còn những bài có tính thời sự cao nên viết ngắn, thật súc tích, đặc biệt đối với báo mạng. Tâm lý của nhiều người là ngại đọc bài quá dài. Nó dễ làm lẫn lộn các nội dung cơ bản với chi tiết minh họa.

Về nguyên nhân. Tác giả đã chỉ ra nguyên nhân cơ bản là sự vô cảm và ích kỷ, chỉ biết lợi mình mà xem thường việc hại người và để lại di họa cho con cháu.

Riêng ở nước ta, NAT viết: “Ở VN, sự trì trệ, bảo thủ, tầm nhìn hẹp, yếu kém về chuyên môn, cộng với tình trạng tham nhũng khoa học đã khiến Sự nghiệp Môi trường trở nên lạc hậu so với thế giới hàng thập kỷ, và là căn nguyên của một hệ thống chính sách sai lầm về các vấn đề Môi trường. Điều đó dẫn tới hệ quả là môi trường ô nhiễm tràn lan khủng khiếp chưa từng thấy, Tài nguyên (tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người) bị khai thác bừa bãi phung phí khiến những ai có lương tri và hiểu biết đều phải đau xót đến đứt ruột.

Vấn đề Môi trường và Thiên nhiên bị tận diệt cũng đã nóng lên trong các phiên họp Quốc hội…”

Trình bày như trên không có gì sai nhưng chưa chính xác, chưa chỉ ra được sai lầm nghiêm trọng của lãnh đạo trong kế hoạch phát triển đất nước. Sau 1975 VN rơi vào thảm cảnh đói kém, kiệt quệ. Nguyên nhân một phần ít do chiến tranh, phần lớn do sai lầm trong đường lối. Đó là hợp tác xã nông nghiệp, cải tạo tư sản, cấm chợ ngăn sông v.v…Để sửa sai, lãnh đạo đã nhảy từ thái cực cấm đoán sang thái cực phát triển kinh tế bằng bất cứ giá nào. Tuy rằng có đề ra phương châm “Phát triển ổn định”, nhưng thực tế lại vô cùng nóng vội, quá chạy theo sản phẩm vật chất, quá quan tâm làm giàu cá nhân và nhóm lợi ích, quá chạy theo hình thức về chỉ số tăng trưởng GDP v.v… mà làm xuống cấp đạo đức, gây nhiều oan trái, phá nát môi trường.

Phải chăng sự phát triển như thế là vì hạnh phúc của nhân dân. Đúng là đời sống vật chất của đa số nhân dân được cải thiện (trừ số dân oan), nhưng hạnh phúc thật sự thì không đáng kể. Điều mà lãnh đạo hết sức quan tâm là giữ chế độ độc tài toàn trị, giữ được lợi ích nhóm. NAT chỉ ra: “Ở VN, sự trì trệ, bảo thủ, tầm nhìn hẹp, yếu kém về chuyên môn…” Hỏi rằng ai trì trệ, ai bảo thủ…, vì sao trì trệ và bảo thủ đề làm gì? Phải chăng toàn dân VN, phải chăng trí thức tinh hoa của VN trì trệ, bảo thủ. Không phải. Cần chỉ rõ ra rằng, trì trệ, bảo thủ là bản chất của lãnh đạo CS. Họ trì trệ vì kém trí tuệ, họ bảo thủ nhằm thực hiện chủ thuyết Mác Lê đã lỗi thời. Không những họ trì trệ, bảo thủ mà còn tìm mọi cách hủy diệt tinh hoa nếu có gì đó trái ý họ. VN đã từng có nhà khoa học lớn bị hành hạ cho đến chết ở trong tù, đó là TS Nguyễn Duy Xuân (thầy của GS Võ Tòng Xuân), là LS Nguyễn Mạnh Tường bị biến từ nhà trí thức lớn thành kẻ ăn mày, là Nguyễn Hữu Đang, một trí thức và nhà cách mạng tiền bối bị hủy hoại gần suốt cuộc đời trong tù ngục v.v… Đó là những kiến nghị, những phản bác về Bô xit, về Formosa, về nhiệt điện than v.v… bị vứt ngay vào sọt rác và những trí thức đưa ra các kiến nghị như vậy bị quy là thế lực thù địch, phản động.

Trực tiếp gây ô nhiểm, phá nát môi trường là một số cá nhân và tập đoàn, nhưng ai bảo kê, dung túng cho chúng nó, tại sao chính quyền bất lực? Phải chăng lực lượng vô cùng hùng hậu của công an, cảnh sát chỉ lo bảo vệ Đảng và chế độ và góp phần bảo vệ cho bọn phá hoại môi trường. Tôi cho rằng bọn trực tiếp phá môi trường là nguy hiểm, là kẻ thù nội xâm, nhưng bọn dung túng, hỗ trợ cho chúng nó nằm trong chính quyền và lãnh đạo còn nguy hiểm hơn, tội ác nặng hơn. Những tên đã lộ mặt, đã trốn tránh như Võ Kim Cự. Còn biết bao tên khác cần bị vạch mặt chỉ tên, bị xét xử và trừng phạt.

Thế giới hoà bình hơn nhờ dân chủ?

Nguyễn Quốc Tấn Trung

Tranh: Esmeralda Chilapa-Marcelino

100 năm kể từ khi kết thúc Thế Chiến thứ Nhất (11/11/1918), nhân loại đã bước qua nhiều thăng trầm, kể cả cuộc Thế Chiến thứ Hai tàn khốc (1939 – 1945). Tuy vậy, xu hướng thế giới dường như ngày càng hoà bình hơn và ngày càng dân chủ hơn. Liệu hai hiện tượng này có mối liên hệ nào với nhau không?

Thuyết hoà bình nhờ dân chủ cho ta một câu trả lời.

Thuyết hoà bình nhờ dân chủ (democratic peace theory) là một trong những học thuyết quan hệ quốc tế có tầm ảnh hưởng quan trọng lên thực tiễn hoạch định chính sách của các ông lớn trên chính trường thế giới.

Trọng tâm của học thuyết là quan điểm cho rằng các quốc gia dân chủ không bao giờ (hoặc gần như không bao giờ) đối đầu quân sự với nhau. Điều này hiển nhiên không khiến một nền dân chủ bớt hoặc mất đi tính “diều hâu”, nhưng chí ít là các quốc gia dân chủ tương ứng sẽ không quá hung hăng với ý tưởng đánh nhau. Giả dụ, Hoa Kỳ trong lịch sử vỏn vẹn chưa đến 250 năm lịch sử của mình gần như luôn tham gia vào một cuộc chiến tranh ở đâu đó trên thế giới,  nhưng rất ít trong số đó liên quan đến những quốc gia dân chủ.

Do được nhiều nghiên cứu thống kê hậu thuẫn, thuyết hoà bình nhờ dân chủ được thừa nhận rộng rãi trong giới nghiên cứu khoa học cũng như chính bản thân những nhà ngoại giao hay các nguyên thủ quốc gia. Một nghiên cứu vào năm 2015 của Tạp chí khoa học về Hòa bình quốc tế đã công bố bảng số liệu sau đây.