17/01/2019

THÔNG CÁO BÁO CHÍ SỐ 1 CỦA NHÓM LUẬT SƯ LỘC HƯNG

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16 tháng 01 năm 2019

Kính gửi các cơ quan báo chí, truyền thông trong ngoài nước.

Đồng kính gửi cộng đồng mạng xã hội, các cơ quan, đơn vị có thầm quyền và có liên quan.

Chúng tôi, nhóm luật sư giúp dân Vườn Rau Lộc Hưng (viết tắt nhóm Luật sư Lộc Hưng hay nhóm LSLH) xin trân trọng thông báo như sau:

1/. Ngày 15/1/2019, 20 hộ dân tại Vườn Rau Lộc Hưng (VRLH), quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, do các ông bà Cao Hà Chánh, Cao Hà Trực, Trần Minh Thi đại diện đã có giấy đề nghị luật sư gửi những tổ chức hành nghề luật sư của nhóm LSLH, yêu cầu cử các luật sư trợ giúp pháp lý cho họ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong các vụ việc liên quan đến khu đất Vườn Rau Lộc Hưng, đặc biệt trong vụ cưỡng chế phá nhà diễn ra tại đây từ ngày 4 đến ngày 8/1/2019. Các ông bà nêu trên cho biết hầu hết người dân (khoảng từ 150 đến 180 hộ) bị ảnh hưởng từ vụ cưỡng chế phá nhà đều mong muốn nhờ các luật sư giúp đỡ về pháp lý.

2/. Đến nay, đã có các luật sư và tổ chức hành nghề luật sư sau đây đồng ý nhận trợ giúp cho người dân VRLH: Luật sư Đặng Trọng Dũng (Văn phòng luật sư Đặng Dũng & Ninh Hòa), Luật sư Trần Vũ Hải (Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải), Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc (Công ty Luật Inter Law), Luật sư Trần Hồng Phong (Công ty Luật Eco Law), Luật sư Nguyễn Văn Miếng (Văn phòng luật sư Luật Hồng Đức), Luật sư Đào Kim Lân (Công ty Luật An Thuận Phát), Luật sư Đặng Đình Mạnh (Văn phòng luật sư Đặng Đình Mạnh), Luật sư Đồng Hữu Pháp (Văn phòng luật sư Đồng Hữu Pháp), Luật sư Đoàn Thái Duyên Hải (Văn phòng luật sư Hải Đoàn), Luật sư Dương Vĩnh Tuyến (Văn phòng luật sư Dương Chí), Luật sư Nguyễn Duy Bình (Văn phòng luật sư Duy Trinh), Luật sư Phương Văn Thêm (Công ty Luật Phương Gia),Luật sư Nguyễn Hữu Thông (Văn phòng luật sư Nguyễn Hữu), Luật sư Trần Đình Dũng (Văn phòng luật sư Đặng Dũng & Ninh Hòa), Luật sư Thái Thị Diễm Trúc (Công ty Luật Tín Nhân), Luật sư Ngô Thị Phương Thảo (Văn phòng luật sư Trương Anh Tú), Luật sư Phùng Thanh Sơn (Công ty Luật Thế Giới Luật Pháp).

Ngoài ra còn một số luật sư, chuyên gia pháp lý và tổ chức hành nghề luật sư khác đã ngỏ ý sẵn sàng tham gia hỗ trợ pháp lý cho người dân VRLH, chúng tôi sẽ thông báo khi thích hợp.

Tập quyền nhà nước hay tập quyền tham nhũng?

Nguyễn Đình Ấm (VNTB)
Ở một quốc gia, vùng lãnh thổ chỉ do một thế lực chính trị duy nhất cầm quyền thống nhất từ trung ương đến địa phương gọi là chế độ tập quyền, độc tài toàn trị.
Ở Việt Nam từ năm 1954 (ở miền bắc) và từ năm 1975 (ở miền Nam) do đảng CS nắm quyền là chế độ độc tài toàn trị, tập quyền triệt để nhất. Đảng CS nắm quyền từ trung ương đến cả những tổ chức, cơ quan, đơn vị dân cư, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang nhỏ nhất.
Đặc điểm bộ máy cầm quyền của đảng từ trung ương đến cơ sở do “đảng cử, dân bầu”, tức không do dân lựa chọn mà do cơ quan, cán bộ đảng cấp trên “quy hoạch”, chỉ định, bố trí, quản lý không liên quan, phụ thuộc đến bất kỳ thế lực nào khác. Do đặc điểm này mà cán bộ ngày càng trở nên quan liêu, tách biệt với nhân dân bởi sự “hưng, vong” của họ chỉ phụ thuộc quan trên có quyền phán xét họ chứ không phụ thuộc ý nguyện của dân. Ngày 27/12/2018 trong buổi tiếp xúc cử tri HĐNDTP Đà Nẵng, bị cử tri chất vấn về sai phạm của mình, Chủ tịch thành phố Huỳnh Đức Thơ nói rất thật: “Việc tôi đi hay ở là do trung ương quyết định...” (Tức không liên quan đến dân mà hỏi lôi thôi).
Tập quyền tham nhũng
Với bộ máy quyền lực đơn nhất khi họ “đồng tâm” việc gì thì “cộng hưởng” quyền lực thành thế lực, kể cả trong lĩnh vực tham nhũng.
Ở VN thời chiến tranh, bao cấp cán bộ có lý tưởng bảo vệ Tổ quốc, ít tiếp xúc với lợi ích, của cải nên quan chức chỉ tham ô, tham nhũng nhỏ. Thời HTX cán bộ địa phương, chủ nhiệm tham ô tạ thóc, cân chè, con gà, cà phê, con gà, lợn (heo)... Quan chức huyện, tỉnh, trung ương cũng chỉ được cấp dưới biếu xén đồ ăn cao cấp, thuốc thang, cái xe đạp, xe máy, radio, TV... Tức buổi “bình minh” tham nhũng chỉ mang tính cục bộ. Thế nhưng, từ những năm 1990 đến nay do kinh tế thị trường và mở cửa với bên ngoài nên nhiều thứ tài nguyên đặc biệt là đất đai, khoáng sản, rừng, biển, những vụ thương mại, dự án, trao đổi kinh tế lớn, lên chức, lên quyền... trở nên giá trị cao. Từ đây pháp luật cũng sản sinh để gắn kết trách nhiệm của các ngành, cấp, cơ quan quản lý các hoạt động ấy.

Quyền được dốt và quyền được yếu kém (*)

Trương Quang Đệ
Tôi thật sự xúc động khi đọc bài "Đừng làm học sinh giỏi ở Việt Nam" của bạn trẻ Hoàng Huy, được nhiều người chia sẻ trên mạng.
Tôi cảm thấy đó là một bản tuyên ngôn thống thiết về quyền con người trong lĩnh vực giáo dục, quyền của các em học sinh muốn thoát khỏi vòng kim cô của tiêu chuẩn học sinh giỏi, nói nôm na là "quyền được dốt".
Tôi vô cùng lạc quan trước viễn cảnh giới trẻ có suy nghĩ độc lập, biết từ chối những điều không hay mà người lớn muốn áp đặt cho họ. Họ từ chối làm học sinh giỏi vì, theo Hoàng Huy:
Một: Tốn rất nhiều thời gian cho việc học. Học mọi nơi, mọi lúc: ở lớp, ở nhà, học thêm, học luyện thi... Đến nỗi không còn thời gian dành cho vui chơi giải trí, rèn luyện thân thể, hòa mình vào môi trường thiên nhiên.
Thử hỏi khi ra đời với một thân thể yếu đuối, tâm hồn bạc nhược nghèo nàn thì có thẻ làm gì hữu ích?
Hai: Đã là học sinh giỏi thì phải giỏi toàn diện, nghĩa là phải giỏi cho tất cả các môn học. Điều đó giết chết ước mơ cá nhân, ngăn chặn việc phát huy năng khiếu.
Trước câu hỏi: "Em thích làm gì?", câu trả lời của đa số học sinh giỏi là: "Em không biết". Ngán ngẩm thay!
Ba: Tiếp nhận một khối lượng kiến thức đồ sộ, mà phần lớn không tỏ ra thiết thực gì cho nghề nghiệp tương lai. Nếu nghề sau này của bạn là diễn viên điện ảnh thì liệu các công thức vi phân, tích phân, bảng Mendéléev mà bạn ra sức nhớ thuộc lòng sẽ giúp bạn được gì?
Nói thêm: Đấy là chưa kể biết bao lý thuyết mông lung, quá đát dầu bạn thấy rõ là vô ích, nhưng phải tốn công học thuộc từng câu chữ.
Ngược lại những kiến thức giúp bạn quản lý tốt thời gian, suy xét nhanh chóng sự vật như đường cong phân bố Gauss, biểu đồ Perati, tỉ lệ cân bằng sinh thái động vật... thì không thấy bóng dáng trong các bài giảng.
Hơn nữa, tư duy của ngành giáo dục hiện nay quá lỗi thời trước thềm công nghệ 4.0.
Thực vậy, tri thức nhân loại tích lũy từ thời cổ đến nay rất nhiều, cách học kiểu nhồi nhét không còn thích hợp nữa.
Cách học hợp lý là học cách nhận biết, phân tích, tổng hợp sự kiện chứ không học để nhớ hết các sự kiện.

VỀ CÁI LÝ SỰ “ĂN CHÁO ĐÁ BÁT”

Mạc Văn Trang
Xin không dài dòng, nói ngay vào cái “lý sự” này của mấy người “còn đảng còn mình”, lên án những người có thái độ phê phán chế độ hiện nay. Họ cho rằng những người đã học hành, thành đạt từ chế độ này thì phải tuyệt đối phục vụ chế độ này; phải trung thành tuyệt đối, phải ca ngợi chế độ chứ không được phê phán chế độ; thậm chí không được phê phán những sai lầm, tội lỗi của những người cai quản chế độ này. Lý sự của họ là: “Đảng và Nhà nước đã cho ăn học”; “Đảng và nhà nước đã gửi anh ra nước ngoài đào tạo”; “Đảng và nhà nước đã quy hoạch, bồi dưỡng anh”... Thế mà bây giờ anh quay lại phê phán Đảng và chế độ này?
Với cái não trạng như vậy, nên năm trước GS Ngô Bảo Châu có viết một câu gì đó, mà một số người cho là đụng chạm đến vong linh của chế độ, liền bị đám dư luận viên xúm vào phê phán là “vong ân, bội nghĩa”, nhiếc móc là đồ “ăn cháo, đá bát”(?)... Nhưng đối với đám DLV, chả chấp làm gì!
Năm vừa qua, khi GS Chu Hảo bị Đảng CS phê phán, kỷ luật khai trừ đảng, nhiều người bày tỏ sự bất bình với quyết định ấy, thì mấy ông già cũng lên tivi phê phán GS Chu Hảo với ý là “Đảng và Nhà nước đã ưu ái cho đi đào tạo..., bố trí anh vào vị trí này nọ, thế mà bây giờ anh lại quay ra phê phán lại chế độ...”.
Xin có mấy ý kiến thế này:
1. Nếu những ai được đào tạo từ chế độ đó mà không trung thành với nó, là “ăn cháo đá bát”, thì thử hỏi, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945 là gì, khi tất cả các thành viên của nó đều được đào tạo, nuôi dưỡng từ chế độ thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn?

16/01/2019

Xỉ than & tro bay - bài toán khó cần lời giải

Tô Văn Trường

Do nhiều nguyên nhân, trong giai đoạn ngắn hạn nhiệt điện vẫn đóng góp vai trò quan trọng trong bài toán an ninh năng lượng quốc gia. Vấn đề hiện nay là phải làm cái gì, làm như thế nào để giải quyết vấn nạn chất thải xỉ than và tro bay đang ứ đọng trên cả nước làm đau đầu các nhà quản lý điều hành ở trung ương và các địa phương.

Và điều quan trọng hơn theo kinh nghiệm của các nước là làm thế nào để biến cái hại cho môi trường của tro bay và xỉ than thành cái lợi cho ngành vật liệu xây dựng?

Để giải quyết hài hòa vấn đề kinh tế và môi trường cần phân tích các yếu tố công nghệ và lựa chọn các giải pháp thích hợp trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Công nghiệp điện đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Thế giới đang đi vào hạn chế nguồn năng lượng khoáng chất gây ô nhiễm môi trường và đã sáng tạo nhiều công nghệ mới có khả năng sử dụng các nguồn năng lượng sạch. Nhưng vì là công nghệ mới nên hiệu suất sử dụng chưa cao vì công nghệ chưa được hoàn thiện, ảnh hưởng môi trường trong những điều kiện khác nhau và lâu dài chưa đánh giá hết.

Đồng thời, việc giải bài toán an ninh năng lượng cần có cái nhìn tổng thể trên cơ sở các nguồn năng lượng có sẵn, các nguồn năng lượng có khả năng ổn định và các nguồn năng lượng sạch để đảm bảo vừa không bị thiếu hụt năng lượng cho phát triển kinh tế vừa đảm bảo tương lai môi trường chấp nhận được của đất nước.

Bộ Công thương xin bổ sung thêm 17 dự án điện mặt trời vào quy hoạch điện mặt trời là xu thế tất yếu nhưng cần đầu tư đồng bộ với hệ thống truyền tải đấu nối điện. Trong giai đoạn trước mắt, nhiệt điện than vẫn chiếm tỷ lệ chủ yếu trong bài toán năng lượng vì giá điện phát ra là rẻ nhất, đáp ứng công suất nhanh nhất, tính ổn định cao nhất trong khi nguồn thủy điện đã cạn kiệt. Các loại năng lượng khác ngoài than như khí thì đắt quá và đã hết nguồn.

Đối với chất thải của nhiệt điện than thì cần phải xác định nguồn nhiên liệu trước khi thiết kế nhà máy bởi lẽ việc thay đổi loại nhiên liệu sẽ khiến cho lò hơi vận hành kém hiệu quả. Than nhập khẩu sẽ tốt hơn than trong nước do than trong nước là loại Antraxit có nhiều tro, khó bốc cháy, lâu cháy kiệt, hàm lượng carbon còn lại trong tro khá cao nên khó sử dụng tro bay làm phụ gia xi măng. Nếu dùng than nhập khẩu thì có thể lựa chọn loại than có hàm lượng tro ít, dễ bốc cháy và cháy kiệt hơn nên tro thải ra có thể sử dụng ngay làm phụ gia xi măng. Khi đó lượng xỉ thải có thể giải quyết dễ dàng hơn nhiều. Tuy nhiên, than nhập khẩu thì hiện tại khó chủ động với số lượng lớn, hoạt động lâu dài. Nhìn chung các nước thường mua cả mỏ của nước có nguồn nguyên liệu để có thể ổn định vận hành. Việt Nam chưa làm được điều đó nên nguồn cung cấp nhiên liệu ổn định sẽ là vấn đề rủi ro lớn.

Công nghệ nhiệt điện đốt than

Có 2 công nghệ lò hơi sử dụng ở VN bao gồm:

- Lò hơi phun đốt than nghiền. Đây là loại lò có khả năng chế tạo công suất lớn lên đến hàng nghìn MW sử dụng than bột nghiền mịn tới cỡ hạt khoảng nhỏ hơn 90 micromet phun vào lò qua các vòi phun để đốt. Loại lò hơi này cần dùng than chất lượng cao và ổn định với dải dao động hẹp về chất lượng than. Loại lò này tro bay thải ra chiếm 90% có thể dùng làm phụ gia xi măng, gạch không nung với điều kiện hàm lượng carbon trong tro nhỏ hơn 6%. Tuy nhiên, các nhà máy nhiệt điện ở VN đang vượt mức quy chuẩn này, nên khó sử dụng. Việc chuyên chở cũng là vấn đề vì tro bay rất nhẹ, làm sao chở được đến nhà máy xi măng ở xa. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long có ít nhà máy xi măng nên việc xử lý tro bay cũng là vấn đề cần tính đến.

- Lò hơi đốt kiểu tầng sôi thì cỡ hạt than to hơn (khoảng 1 milimet) nên ít tốn điện cho việc nghiền, có thể đốt được than chất lượng xấu, nhiều lưu huỳnh, nhiều tro và dải chất lượng than có thể biến động trong khoảng rộng. Loại này phù hợp với Việt Nam do chất lượng than thấp, khó cháy, lâu cháy kiệt, chất lượng than không ổn định. Tuy nhiên, nhược điểm của loại lò hơi này là công suất không cao. Công suất cao nhất hiện tại là 300MW. Có duy nhất 1 lò ở Ba Lan có công suất đạt được là 450 MW. Nhược điểm về thạch cao là do than được trộn với CaCO3 để xử lý SO2. Nếu xử lý SO2 bằng vôi nhưng ở sau lò đốt thì thạch cao cũng được tách riêng và sạch, sử dụng được cho việc khác.

Các bất cập về xử lý tro xỉ ở Việt Nam

Nhiệt điện than là loại phát thải khí CO2 cao nhất, ngoài ra còn có khối lượng lớn các chất thải rắn. Trước hết, cần phân biệt rõ chất thải tro xỉ (bao gồm cả tro bay và xỉ đáy lò) và tro bay. Ví dụ ở lò tầng sôi xỉ đáy lò sẽ có nhiều thạch cao (CaSO4), trong khi tro bay sẽ có canxi (Ca) cao.

Về hiện trạng thải tro và xỉ nhiệt điện và Phosphorus Gypsum (PG) từ DAP (PG viết tắt của Phosphorus Gypsum - thạch cao thải ra từ quá trình sản xuất phân bón Di-Amoni-Phosphat - DAP, sử dụng Apatite - làm nguyên liệu) ở Việt Nam có điểm rất khác so với thế giới.

Tro xỉ của ta có hàm lượng than dư (chưa cháy hết) rất cao, không thể dùng làm phụ gia xi măng hay làm xi măng đầm lăn ngay được. Muốn sử dụng được cho xi măng hay kết hợp với xi măng thì phải tuyển loại than dư xuống dưới 6%. Đấy là chưa kể đến các nhà máy nhiệt điện có xử lý lưu huỳnh làm hàm lượng canxi tăng cao (tro bay lớp/loại C) thì càng không sử dụng làm phụ gia xi măng được. Một phần nhỏ tro bay của ta đáp ứng yêu cầu sử dụng làm phụ gia xi măng là từ các nhà máy nhiệt điện chạy theo công nghệ tiên tiến, có hàm lượng than dư dưới 6% và phần thạch cao từ xử lý SO2 được tách riêng (như nhiệt điện Thái Bình 1).

Nói đến sử dụng tro bay làm phụ gia xi măng cũng không đơn giản vì khi thêm tro bay vào xi măng, thời gian cần thiết để bê tông đạt tiêu chuẩn kéo dài hơn so với bê tông không có tro bay. Điều này, ảnh hưởng đến tiến độ thi công, cho nên các nhà thầu không thích và không dùng. Muốn họ dùng thì phải có chính sách ưu đãi.

Nhà máy nhiệt điện Mông Dương 1 có nguy cơ phải đóng cửa sẽ làm lãng phí gần 37.000 tỷ VNĐ đầu tư của nhà nước. Mặt khác, nhà máy điện Mông Dương 1, đầu tư 11 hạng mục dùng chung giữa MD1 và MD2 và chịu trách nhiệm quản lý vận hành các hạng mục này. Nếu Mông Dương 1 phải đóng cửa dẫn đến Mông Dương 2 cũng phải đóng cửa theo và như vậy mỗi một ngày Mông Dương 2 đóng cửa, Chính phủ phải trả tiền cho nhà đầu tư BOT là AES - Mỹ khoảng 600.000 USD/ ngày.

clip_image002[6]

Hình ảnh bãi chứa tro, xỉ nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2. Ảnh TL

Những “nhà” phát triển điện than muốn “cởi trói” bằng cách sửa Nghị định 38 về quản lý chất thải và phế liệu để cho tro xỉ cũng như hàng loạt các quy định khác. Điều này, có vẻ như họ đang muốn “gọt chân” cho vừa giầy vì khi phát triển dự án nhiệt điện các nhà đầu tư mới chỉ hoàn thành 1 mục tiêu là sản xuất ra điện, đến khi chất thải trong quá trình sản xuất quá lớn, vướng luật, họ lại muốn kiến nghị điều chỉnh luật, nghị định. Lẽ ra về nguyên tắc chủ đầu tư phải có phương án xử lý chất thải trước khi đi vào hoạt động (trong quá trình lập dự án) không thể cứ đi vào hoạt động rồi lại đem chuyện thiệt hại kinh tế như vậy ra mặc cả được.

Hiện nay ách tắc là do không có đầu ra hợp lý cho tro xỉ - tương tự như phân vi sinh/compost từ rác thải hữu cơ. Việc chỉ cho phép bãi thải xỉ chứa được lượng tro xỉ 2 năm thì tất cả các nhà máy nhiệt điện đều biết là không thể được nhưng tất cả các nhà máy đều biết nhà nước kiểu gì cũng phải tháo gỡ nên nhà máy nào cũng có tâm lý ỷ lại nhà nước giải quyết sau.

Giải pháp

Nhiều người theo kinh nghiệm ở các nước đã đề cập đến cách thức sử dụng tro xỉ nhiệt điện tập trung ở một số nhóm giải pháp như: làm phụ gia xi măng, phụ gia bê tông đầm lăn, vật liệu xây không nung, san nền, nâng cốt trong xây dựng làm đường giao thông v.v… Cố gắng tối ưu hóa các nhà máy điện hiện có, đảm bảo giảm thiểu chất thải và ô nhiễm môi trường của các nhà máy nhiệt điện này.

Chính phủ đã phân công chức năng nhiệm vụ cho các Bộ ngành rõ ràng trong Quyết định 1696/2014/QĐ-TTg và Quyết định 452/2017/QĐ-TTg. Vấn đề ách tắc cho việc xử lý tro xỉ nhiệt điện bao gồm:

- Công nghệ sử dụng tro xỉ nhiệt điện chưa đủ hoàn thiện, đa dạng. Các sản phẩm làm ra từ tro xỉ nhiệt điện chưa được đưa vào thị trường một cách thuận lợi.

- Một số nhà máy nhiệt điện có vị trí xa đặc biệt các nhà máy ở miền Trung, ở Đồng bằng sông Cửu Long, tro xỉ thải có khối lượng riêng thấp nên chi phí chuyên chở cao. Chi phí chuyên chở có thể bị đội thêm trong nhiều trường hợp khi quy định đây là chất thải nguy hại dẫn đến cơ quan giám sát môi trường làm gắt gao.

- Tro xỉ nhiệt điện còn có hàm lượng carbon trong tro cao nên khó sử dụng hơn.

Phải chăng nên có quy định bắt buộc về chất lượng than và công nghệ nhiệt điện. Vấn đề này thuộc trách nhiệm của các Bộ Khoa học & Công nghệ, Tài nguyên & Môi trường, và Công thương.

Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông Vận tải cần xây dựng gấp các tiêu chuẩn, quy chuẩn cho các loại vật liệu làm từ tro xỉ. Bộ KH&CN tập trung cho những việc nghiên cứu triển khai các dự án ứng dụng thực tế đối với tro xỉ, cải tiến cách quản lý khoa học công nghệ thì các nghiên cứu mới có giá trị đưa vào cuộc sống.

Nhìn chung, khi bài toán kinh tế được giải quyết, vấn đề tro xỉ thải sẽ không phải là vấn đề quá lớn không giải quyết được. Hình dưới đây chỉ ra những xe bồn chở tro bay luôn sẵn sàng xếp hàng chờ để mua tro bay từ nhà máy nhiệt điện Hải Phòng. Vấn đề tro xỉ thải có thể là vấn đề lớn với nhà máy nhiệt điện này nhưng lại là nguồn thu của nhà máy nhiệt điện khác. Bởi vậy, vai trò của nhà nước là luôn tìm các chính sách phù hợp để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, đẩy mạnh việc nghiên cứu để tìm ra những sản phẩm mới tiềm năng từ nguồn thải này để ứng dụng cho các mục đích dân sinh.

clip_image004[6]

Các xe bồn xếp hàng dài chờ trước cổng nhà máy nhiệt điện Hải Phòng để lấy tro bay (Ảnh trên mạng).

Gần đây, có thông tin rất triển vọng về việc sử dụng tro bay để cải tạo đất, bón cho cây trồng. Chất lượng trong tro bay của Việt Nam có kích thước khá mịn (nếu qua hút tĩnh điện), khoảng 5-10μm nên sẽ rất phù hợp bón cho đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát, đất xám bạc màu.

Theo tôi tìm hiểu được biết thành phần tro xỉ của nhiệt điện Vũng Áng và mấy mẫu phân tích thành phần hóa học của đất. Nhìn chung thì hàm lượng SiO2 cũng khá tương đồng. Hàm lượng nhôm Al2O3 của tro xỉ nhiệt điện cao hơn đáng kể. Việc đưa tro vào đất nhìn chung đã được thực hiện đối với rơm, trấu và các loại biomass khác có tác dụng làm giàu cho đất. Đối với rơm, trấu thì hàm lượng SiO2 lên đến 97% nên có khả năng làm giàu cho đất khá tốt. Băn khoăn nhất là hàm lượng nhôm trong tro than quá cao, xung quanh 20-25% Al2O3, làm cho nguy cơ đất bị chua hóa khá cao nếu bón nhiều và liên tục, cần có nhiều nghiên cứu thêm.

ĐẶC TÍNH HÓA HỌC TRO XỈ nhiệt điện Vũng Áng

SiO2

%

60.15

Al2O3

%

24.20

Fe2O3

%

6.70

CaO

%

0.73

TiO2

%

0.90

K2O

%

4.30

Na2O

%

0.3

MgO

%

1.20

SO3

%

0.60

Các chất khác

%

0.92

Đặc tính hóa học của đất

Mẫu 1

Mẫu 2

Mẫu 3

Mẫu 4

Hàm lượng hữu cơ

3.58

5.05

6.15

5.52

Siclip_image006[12] (%)

68.81

67.21

65.85

66.64

clip_image008[8](%)

13.98

15.32

15.41

14.21

clip_image010[8] (%)

5.10

5.85

6.31

6.48

Ticlip_image006[13] (%)

0.71

0.83

0.91

0.86

Mg0 (%)

1.93

1.28

1.10

1.38

Ca0 (%)

1.02

0.47

0.39

0.79

clip_image012[6] (%)

3.29

2.90

2.79

2.72

clip_image014[6] (%)

1.35

0.90

0.91

1.13

Về việc nghiên cứu xử lý tro xỉ nhiệt điện có hàm lượng than dư tới trên 20% thành một dạng bê tông không sử dụng xi măng để làm vật liệu không nung và nền (base) cứng ứng dụng trong xây dựng và làm đường giao thông của nhóm chuyên gia Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (đề tài nghiên cứu khoa học thuộc Bộ Công thương) đến nay đã có được công thức để tạo ra loại bê tông không xi măng có cường độ chịu nén lên tới trên 20 MPa mà chỉ sử dụng cao lanh hay fenspat và kiềm làm chất kết dính. Việc thử làm các viên vật liệu không nung (gạch) và 30 m2 nền cứng cho kết quả rất tốt (đã lấy mẫu gửi kiểm tra chất lượng).

Sơ đồ làm vật liệu không nung từ tro xỉ

clip_image016[6]

Về PG từ các nhà máy DAP, cần thử nghiệm xử lý theo kiểu như đối với tro xỉ nhiệt điện sau khi fixed các yếu tố có thể gây ô nhiễm môi trường thứ cấp như flour, phosphat hoạt động, kim loại nặng, asen... thì khả năng thành công là rất cao, có thể giải quyết được vấn đề Phosphorus Gypsum của các nhà máy DAP.

Lộc Hưng và những sự thật được phơi bày

Lưu Trọng Văn

Mấy ngày qua, gã chưa lên tiếng về vụ Lộc Hưng trong khi tin tức Lộc Hưng tràn các ngóc ngách và xa lộ mạng.

Ba lý do.

- Gã đang dở bài viết về sự thật ở nhà thờ Đức Bà mà gã cho rằng một dân tộc sẽ đổ vỡ khi hai dinh luỹ là làng quê và tôn giáo bị tha hoá. Với gã đó là hai dinh luỹ cuối cùng.

- Ngày 14.1 hôm qua là ngày hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực ở VN. Đây là đột phá và niềm hy vọng cho cuộc tháo chạy, mong thoát khỏi nền kinh tế bẩn cùng làn gió độc phương Bắc để từng bước hoà nhập với nền kinh tế sạch - vấn đề sống còn với dân tộc. Gã cần viết bài về sự kiện lịch sử này.

- Gã cần đủ thông tin và độ lùi thời gian để có góc nhìn theo gã là đúng nhất về sự thật vụ Lộc Hưng.

Có một nhà báo tích cực bảo vệ Dân quyền đã giận gã và tuyên bố huỷ kết bạn với gã vì cái mà nhà báo đó cho là gã đã im lặng đồng nghĩa với việc gã đứng về phe áp bức. Gã tuyên bố, không ai có quyền như các quan tuyên giáo chỉ đạo gã phải viết và phải đứng về phe nào. Và sự im lặng không chỉ có nghĩa là vô cảm mà có thể còn có nghĩa chất chứa sóng ngầm. Những ai muốn thành công phải hiểu điều ấy.

Vậy lúc này gã đã nhận chân ra các sự thật nào qua vụ Lộc Hưng đang dậy sóng dư luận?

Người cộng sản VN đã giành được chính quyền nhờ hiểu lòng Dân, biết Dân muốn gì và họ sống trong lòng Dân vận động Dân ủng hộ họ. Nhưng trớ trêu thay khi yên vị ngai vàng không ít người cộng sản đã phạm sai lầm nghiêm trọng nhất trong lịch sử của họ, họ đã coi Dân không là chủ thể nữa mà thay vào đó là họ.

Họ đã càng ngày càng xa Dân, không cần hiểu Dân muốn gì mà chỉ cần biết họ muốn gì rồi bất chấp luật pháp mà do chính họ đặt ra áp đặt, buộc Dân theo họ. Họ trừng trị bất cứ Dân nào chống lại ý muốn của họ.

Tiên Lãng, Đồng Tâm, Thủ Thiêm là minh chứng cho sai lầm đó. Tưởng với bài học Tiên Lãng, Đồng Tâm, Thủ Thiêm họ phải hãi sợ rút ra bài học để đời, nhưng không, Lộc Hưng ngang nhiên một lần nữa xảy ra.

Vậy thực chất họ là ai?

Là nhóm lợi ích cùng những người trong hệ thống chính trị vô trách nhiệm bị nhóm lợi ích chi phối và cho vào bẫy. Gã có thể khẳng định các vụ đất đai đều liên quan đến nhóm lợi ích bẩn thỉu hết. Đồng Tâm, Thủ Thiêm là những minh chứng rõ ràng.

Khi bất động sản là nguồn thu lợi khổng lồ, nhanh nhất, ngon nhất thì bất cứ miếng mồi bất động sản nào đều có đôi mắt cú vọ và vòi bạch tuộc của nhóm lợi ích ấy chõ vào.

Từ rất lâu Lộc Hưng - miếng mồi hơn 4 héc ta quá ngon đã bị chúng nhòm ngó và nuốt nước bọt.

Đó là lý do chính quyền Tân Bình và chính quyền TP bao lâu nay không chịu làm thủ tục theo Luật đất đai để cấp chứng nhận chủ quyền đất cho nhiều người Dân có đủ chứng từ cấp chủ quyền đất.

Họ gài bẫy tạo ra tình hình không kiểm soát ở Lộc Hưng, dẫn đến bên cạnh những người Dân có giấy tờ, chứng cứ hợp pháp là làn sóng một số người dân nghèo khác mua bán đất, chiếm đất không hợp pháp rồi đánh đồng tất cả với nhau thành bất hợp pháp hết.

Họ vừa để cho chính quyền địa phương ăn tiền người Dân xây nhà bất hợp pháp vừa để mặc các nhà xây bất hợp pháp ấy tồn tại.

Bẫy sập.

Nhưng không dễ nuốt trôi mảnh đất ngon ăn này khi tấm gương Thủ Thiêm cùng Lò của bác cả Trọng đang hừng hực, chúng buộc phải chuyển mục đích thu hồi đất để làm trường học, công ích.

Sự thật Lộc Hưng đã bị che giấu. Ngài Bí thư Nguyễn Thiện Nhân bị phong toả thông tin nên không thể biết sự thật này. Cái lý lẽ đưa ra quá đúng, nào là đất công, nào là dân lấn chiếm, xây nhà không phép, nào là kỷ cương phải nghiêm, nào là nhu cầu xây dựng chính đáng. Ngài Bí thư tin sái cổ.

Tin vào đồng chí của mình là tốt, nhưng khi tin không tìm hiểu đồng chí mình là ai là ngớ ngẩn. Tin vào đồng chí mình cho là Dân sai nhưng không gặp Dân, nghe Dân, tìm sự thật trong Dân là sự vô trách nhiệm với Dân.

Sai lầm cố hữu. Sai lầm kinh niên.

Nếu gã là Bí thư Nhân, gã đã một mình lặng lẽ đến Dân. Sự thật quá dễ để biết. Ai có giấy tờ hợp pháp phải được pháp luật bảo vệ. Ai lấn chiếm đất bất hợp pháp phải trừng trị. Ai vì mưu sinh mua bán đất không đúng cần được chia sẻ thích hợp. Ai nghèo quá, bệnh tật, thương phế binh cần hỗ trợ giúp đỡ.

Xong. Ngòi nổ được tháo.

Nhưng không, ngài Bí thư đã để cho chính quyền vơ đũa cả nắm, đã coi tất cả đều bất hợp pháp cần phải nghiêm trị theo phép nước.

Sự phẫn nộ từ sự bất công, từ sự chà đạp sự thật này mà ra.

Gã luôn ủng hộ luật pháp nghiêm minh. Nhưng luật pháp chỉ thực sự công bằng nghiêm minh nếu được trao vào tay chính quyền bất vụ lợi, trao vào tay chính quyền thực sự nghiêm minh.

Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế

Bạch Hoàn

1. Về mặt pháp lý, đất công hay đất tư thì đều phải được ai đó công nhận. Người dân đã đưa ra chứng cứ cho rằng đất này là đất tư, chính quyền nói đất công thì phải đưa ra chứng cứ tương tự. Hai bên sẽ tranh chấp tại toà án dựa trên các chứng cứ. Chưa xác định được tính pháp lý của mảnh đất mà ngang nhiên cưỡng chế là vô pháp, vô thiên.
2. Lâu nay chúng ta thường mặc định là chính quyền đúng, trong khi thực chất chính quyền cũng chỉ là một nhóm người có quyền lực chính trị. Mà đã là người thì có đúng, có sai.
3. Vấn đề quan trọng là: nếu chính quyền sai thì chúng ta làm được gì? Biết bao vụ việc đã xảy ra, chính quyền cũng đã nhận sai, nhưng sau đó thì sao? Cái sai vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi và lại tiếp tục vào vòng luẩn quẫn.


Hai tấm hình tôi post kèm status này là hai tài liệu, một bản tiếng Pháp, một bản tiếng Việt, cho thấy khu đất Vườn rau Lộc Hưng, Q. Tân Bình, TP. HCM, từ 1955 đã thuộc quyền sở hữu của Hội Thừa sai Sơn Tây mà đài phát sóng chỉ được mượn chỗ dựng anten. Hình 1: Bằng chứng khu Lộc Hưng thuộc quyền sở hữu của Hội Thừa sai Sơn Tây.

Không có mô tả ảnh.

Hình 2: Bản dịch

Quan điểm của Toà TGM Sài Gòn năm 2007 về đất Vườn rau Lộc Hưng

Một lần nữa Toà Tổng Giám mục thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở vững chắc để khẳng định rằng bà con canh tác tại khu vườn rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình có đầy đủ cơ sở pháp lý để được công nhận quyền sử dụng đất của mình và được quyền hưởng chính sách đền bù mà pháp luật quy định cho người có quyền sử dụng đất, khi đất của họ bị thu hồi”.

Đó là lời xác quyết rõ ràng của Toà Tổng Giám mục Sài Gòn trong văn bản số I.83.2007.285 gửi ông Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, do Cha G.B. Huỳnh Công Minh, khi ấy là Linh mục Tổng Đại diện của Đức Hồng y Tổng Giám mục Sài Gòn, ấn ký ngày 31/8/2007.

IMG_1432IMG_1433IMG_1434IMG_1435IMG_1436IMG_1437IMG_1438IMG_1439

Nguồn: http://dcctvn.org/quan-diem-cua-toa-tgm-sai-gon-nam-2007-ve-dat-vuon-rau-loc-hung/?fbclid=IwAR0jiFQiH45ZF5ssslozOPoQtuCxjvpfrjTJR5mXFN1FmlrZC1USKvvGJtE#.XD3IpjG7r1U.facebook

Sự rung chuyển ngai vàng-thể chế ở đâu?

Lưu Trọng Văn


Tôi chưa thật tin lắm, vì luật chơi này rõ ràng sẽ làm lay chuyển sự độc tôn quyền hành vốn là vết bánh xe hàng năm bảy chục năm nay trên đất nước hình chữ S này rồi. Nếu người ta lại dựa vào "ông anh" để tìm mưu kế thì thiếu gì cách qua mắt dù là một nhóm 10 nước văn minh có kiểm soát chặt chẽ đến đâu đi nữa. Vì lẽ, đó đều là những nước biết tuân thủ luật chơi dân chủ và tin vào luật chơi dân chủ, trong khi "anh và em" bên nước Gã đều thuộc loại sư tổ của độc tài, xoay xở, lách luật đã thành thần. Sợ rằng điều Gã gieo hy vọng cho mọi người rốt cục lại chỉ nói như Nguyễn Bính: "Nhưng mộng mà thôi mộng mất thôi..."

Nguyễn Huệ Chi



Hiệp định CPTPP hôm nay chính thức có hiệu lực ở VN. Với gã hôm nay là một ngày lịch sử.

Điều gã quan tâm nhất đối với hiện tình của đất nước là Luật chơi. Bao khốn khổ cho Dân gã và Nước gã cả ngàn năm nay là thiếu vắng những Luật chơi công bằng, minh bạch và đặt các giá trị Nhân văn, Nhân quyền làm các giá trị cốt lõi.

Kinh tế Nước gã đã sang trang mới khi bãi bỏ Luật chơi một cửa với đủ các loại khốn - khốn khổ - khốn nạn - khốn cùng.

Nhưng bỏ một cửa thì lại đẻ ra thêm những cửa cũng đủ các loại khốn khi Luật chơi nhiều cửa không rõ, không sáng và vẫn còn đó những sen đầm mặt sắt đen sì gác các cửa. Nước gã dù có chuyển biến kinh tế nhưng vẫn ở vùng trũng và lệ thuộc kinh tế bẩn, bị kinh tế bẩn chi phối. Dân gã vẫn muôn nẻo lầm than cùng những cái chết từ từ.

Không còn con đường nào khác phải thay đổi hoặc chết trong vũng bùn tanh dù sự thay đổi này có thể làm rung chuyển cái ngai vàng - cái thể chế một cửa.

Luật chơi mới CPTPP sẽ là bước đột phá cho sự thay đổi này.

Đấu tố Facebook - bằng chứng thất bại của chính quyền VN

Phạm Chí Dũng

Trong thá»±c tế, những cố gắng và cả những thủ Ä‘oạn không mệt má» i của chính quyá» n Việt Nam nhằm gây áp lá»±c lẫn ‘thuyết phục vận Ä‘á»™ng’ Facebook đã phần nào đạt kết quả. 

Trong thực tế, những cố gắng và cả những thủ đoạn không mệt mỏi của chính quyền Việt Nam nhằm gây áp lực lẫn ‘thuyết phục vận động’ Facebook đã phần nào đạt kết quả.

Lần đầu tiên trong lịch sử du nhập vào Việt Nam, hãng Facebook bị chính thể độc đảng ở quốc gia này lên án và tổ chức đấu tố một cách quyết liệt và đầy cay cú vào đầu năm 2019.

Cả hệ thống chính trị cùng đấu tố

Nhiều tờ báo nhà nước, trong khi im thin thít về vụ chính quyền TP.HCM dùng ‘luật rừng’ cưỡng chế và phá sạch 200 ngôi nhà ở khu Vườn rau Lộc Hưng, Tân Bình, thì đồng loạt nhảy xổ vào Facebook và gào thét về những ‘sai phạm’ của hãng này tại Việt Nam như không đóng các tài khoản cá nhân, Fanpage, nhóm, có bài đăng với nội dung vu khống, chống phá chính quyền, bôi nhọ, phỉ báng các cá nhân, tổ chức, cơ quan Nhà nước; cho phép các tài khoản hoạt động quảng cáo, rao bán sản phẩm, dịch vụ bất hợp pháp; trốn thuế; không hợp tác với cơ quan an ninh Việt Nam yêu cầu cung cấp thông tin về các tài khoản mà Việt Nam cho là “lừa đảo, vi phạm pháp luật”…

Chắc chắn là những tờ báo trên đã được bật đèn xanh bởi hành động thông đồng của Ban Tuyên giáo trung ương của Ủy viên bộ chính trị Võ Văn Thưởng và Bộ Thông tin và Truyền thông của tân Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng.

Kể từ lúc hé miệng ‘sẽ tổ chức đối thoại với những cá nhân khác biệt quan điểm’ vào tháng 5 năm 2017, từ đó đến nay Võ Văn Thưởng hoàn toàn ngậm miệng về dân chủ, nhường chỗ cho những cuộc lên lớp về chủ nghĩa xã hội theo đúng bài bản của Nguyễn Phú Trọng. Một phần do đức tính cố hữu quá thận trọng và ‘dòm trước dòm sau’, trên thực tế Võ Văn Thưởng đã gần như ‘mất tích’ khỏi chính trường giới quan chức cao cấp Việt. Vinh lộ hay hoạn lộ của ông ta cho tới đại hội 13 của đảng cầm quyền, nếu còn có đại hội này, cũng vì thế vẫn là một dấu hỏi to tướng.

Trong khi đó, tại kỳ họp Quốc hội tháng 10 - 11 năm 2018, Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng phụ trách Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel) của Bộ Quốc phòng đã chính thức nhận được ghế Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông, thay cho Phó trưởng ban Tuyên giáo trung ương Trương Minh Tuấn - quan chức mà chỉ thiếu chút nữa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ăn cắp đến hơn 8.000 tỷ đồng trong phi vụ ‘MobiFone mua AVG’, nếu không bị dư luận phát hiện và yêu cầu Bộ Chính trị đảng cầm quyền phải ngăn chặn hành vi tồi tệ này.

Bản tin đấu tố Facebook được đăng tải trên nhiều tờ báo nhà nước lộ hẳn vẻ kẻ cả, trịch thượng và gia trưởng theo đúng khẩu khí và phong cách mà Nguyễn Mạnh Hùng đã thể hiện khi tiếp Phó chủ tịch châu Á - Thái Bình Dương của Facebook Simon Milner vào tháng 9 năm 2018.

Ngay sau tháng Chín ấy, Facebook - một trong những doanh nghiệp mạng xã hội lớn nhất và được xem là uy tín nhất thế giới - đã phải mang một biệt hiệu chẳng hay ho chút nào: ‘Nàng dâu trưởng của nhà chồng Việt Nam’.

Vậy ‘nhà chồng’ muốn gì? Và áp đặt luật ‘làm dâu’ ra sao?

Khu đất Lộc Hưng và khu ăng ten sân bay Gia Lâm: Một hoàn cảnh hai cách ứng xử

Nguyễn Đình Ấm

Lai lịch, hoàn cảnh của khu đất vườn rau Lộc Hưng P.6 Q. Tân Bình (TP. HCM) và khu ăng ten sân bay Gia Lâm (Hà Nội) giống y hệt nhau.

Trước năm 1990 cách sân bay khoảng gần 1 km về phía tây bắc thuộc địa phận xã Bồ Đề (trước là huyện Gia Lâm nhưng từ năm 2003 là P. Bồ Đề, quận Long Biên (TP. Hà Nội) có khu ăng ten viễn thông rộng khoảng 1 ha. Tại đó có nhiều cột ăng ten bằng thép cao hàng trăm mét. Từ ngọn các tháp có dây nối với các tháp khác (phi đơ) cùng dây néo ra bốn bề. Những cột ăng ten này dùng để thu, phát sóng viễn thông cho hoạt động hàng không. Đây là khu ăng ten được thiết lập từ thời Pháp, Nhật. Năm 1954 quân đội CSVN tiếp quản tiếp tục cải tạo, sử dụng.

Do dưới chân các cột ăng ten thoáng, rộng không làm gì nên từ năm 1956 dân xã Bồ Đề vào làm ruộng cày cấy, dựng lều, quán, làm nhà tạm...

https://3.bp.blogspot.com/-mrZZs5D3P2Q/XDykwcS7TPI/AAAAAAAAAck/SIlEonuee5kGXT4ACMb18zUpRg7KM0RfQCLcBGAs/s640/New%2BProject.jpg

Một đường phố ở khu ăng ten sân bay Gia Lâm. Ảnh: Nguyễn Đình Ấm

Thượng tôn pháp luật: Vườn rau Lộc Hưng

Đỗ Thành Nhân

Giới thiệu

Tiếp theo bài “Thượng tôn pháp luật”(1), đã đưa ra 3 trường hợp “Biệt thự ca sỹ Mỹ Linh”, "Lăng mộ Chủ tịch Trần Đại Quang” và "Vườn rau Lộc Hưng”; bài viết này chỉ nói về "Vườn rau Lộc Hưng”; trước khi đi vào nội dung, xin giới thiệu.

- Người viết bài là tác giả của một đề tài nghiên cứu khoa học và sau khi nghiệm thu chuyển thành dự án ứng dụng khoa học công nghệ cấp tỉnh với tên gọi “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đất đai cấp xã, phường, thị trấn” (từ 2002-2008). Kèm theo đề tài có 2 giấy chứng nhận bản quyền tác giả số 344/QTG/2002 và 507/2006/QTG (hình 1). Một trong những mục tiêu của đề tài, dự án là hỗ trợ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) theo Luật đất đai năm 2003.

D:\Downloads\190114 H01 BQTG-2.jpg

Hình 1

- Người viết bài không có bất kỳ mối quan hệ với cư dân nào ở "Vườn rau Lộc Hưng” và hoàn toàn không có lợi ích gì ở đó. Mục đích cũng chính là tiêu đề bài viết: mọi người hãy “Thượng tôn pháp luật” [như câu khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” ra đời, đánh dấu một giai đoạn mới “quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không chỉ bằng đạo lý” như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã xác định. … Nhà nước pháp quyền là Nhà nước đạt đến một trình độ dân chủ cao, ở đó pháp luật được thượng tôn, mọi thành viên trong xã hội thực hiện lối sống theo pháp luật.](2).

oOo

I. Luật đất đai qua các thời kỳ

Từ năm 1945, nước Việt Nam tuyên bố độc lập đến nay đã có 5 lần ban hành mới Luật đất đai (chưa kể những lần sửa đổi, bổ sung) gồm:

1. “Luật cải cách ruộng đất năm 1953” Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua trong khoá họp lần thứ III ngày 04/12/1953. Luật này làm căn cứ pháp lý để thực hiện công cuộc “cải cách ruộng đất long trời lở đất” ở miền Bắc.

Lần đầu tiên và duy nhất: Luật đã xác định chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân

2. “Luật đất đai năm 1987” Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 2, thông qua ngày 29/12/1987

Lần đầu tiên và cho đến hiện nay, Luật bỏ chế độ sở hữu và xác định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý”. Luật ra đời trong bối cảnh đất nước cần phải đổi mới.

3. “Luật đất đai năm 1993” Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 14/07/1993.

a. Lần đầu tiên Luật đã xác định các quyền sử dụng đất “Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất.” (Điều 3.3 - sửa đổi 1998) làm cơ sở cho việc hình thành giá trị tài nguyên đất đai và thị trường bất động sản.

b. Để bảo đảm quyền sử dụng đất, Luật lần này và các lần sau đều khẳng định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” (Điều 2.2)

Ghi chú: “Luật đất đai năm 1993” được sửa đổi, bổ sung thêm các lần:

- Luật số 10/1998/QH10, Sửa đổi bổ sung một số điều Luật đất đai năm 1993, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999

- Luật số 25/2001/QH10, sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993, 1998 ngày 29/6/2001, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2001

4. “Luật đất đai năm 2003” Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2004.

a. Lần đầu tiên Luật xác định “Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người đó.” (Điều 4.3).

b. Lần đầu tiên Luật xác định tôn giáo là người sử dụng đất hợp pháp: “Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất” (Điều 9.4).

5. “Luật đất đai năm 2013” Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2014.

Luật dành các chương riêng “Chương 4. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất”, “Chương 6. Thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư” xuất phát từ những bất cập của công tác quản lý đất đai trước đó.

oOo

II. Đánh giá về thực hiện Luật đất đai

Mặc dù Luật đất đai vẫn chưa hoàn thiện cho một nhà nước pháp quyền vận hành theo một nền kinh tế thị trường và một xã hội dân chủ đầy đủ như các quốc gia phát triển; nhưng phải thừa nhận là nhờ Luật đất đai từ năm 1993 đến nay được sửa đổi, bổ sung, thay thế liên tục nên đã đẩy nhanh tiến trình cấp GCNQSDĐ để bảo đảm quyền của người sử dụng đất.

Đặc biệt là ngay sau khi Nghị định 181/2004/NĐ-CP(3) và các thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003 có hiệu lực cùng với sự phát triển ứng dụng công nghệ thông tin đã tăng tốc độ cấp, đổi GCNQSDĐ ở nhiều địa phương trên cả nước.

Đối tượng được cấp GCNQSDĐ rất rộng, kể cả những trường hợp không có bất kỳ một giấy tờ nào, nhưng mà sử dụng trên 10 năm không ai tranh chấp cũng được cấp.

(Phần cuối bài viết là trích dẫn các căn cứ pháp lý làm cơ sở lập chương trình hỗ trợ đẩy nhanh công tác cấp GCNQSDĐ, bạn nào quan tâm thì đọc tiếp sau phần Ghi chú)

oOo

III. Nhìn về “Vườn rau Lộc Hưng”

Tình trạng đất đai như “Vườn rau Lộc Hưng” không phải là hiếm ở miền Nam. Giai đoạn đất nước chiến tranh, người dân phải ly hương tìm đến một nơi an toàn hơn để sinh sống. Ngoài đất công của chính quyền đương thời cấp cho thì các cơ sở tôn giáo là nơi được nhiều gia đình chọn lựa. Lúc đầu họ trồng rau, chăn nuôi, làm nhà tạm; sau đó để chống chọi mưa bão họ làm nhà cấp 4, có điều kiện làm nhà kiên cố.

Sau ngày 30/04/1975, có người về lại quê, có người ở lại sinh sống tiếp tục nộp thuế cho chính quyền mới. Cho đến khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực.

1. Được cấp GCNQSDĐ

Đa số được cấp GCNQSDĐ, dựa trên các yếu tố như: có tên trong sổ đăng ký nộp thuế, sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính (sổ mục kê); chứng minh sử dụng trên 10 năm không có tranh chấp với xác nhận của một số người ở lâu năm trong cộng đồng dân cư.

Mục đích sử dụng đất nếu chưa có quy hoạch thì cấp theo hiện trạng sử dụng đất.

2. Không được cấp GCNQSDĐ

Cũng có một số ít không được cấp GCNQSDĐ, loại trừ yếu tố gây khó khăn để tham nhũng thì tập trung vào 2 loại chính:

a. Đất đã được quy hoạch cho công trình hoặc dự án đầu tư nào đó.

b. Đất này cơ sở tôn giáo đang đòi lại, có khả năng nhà nước phải giao trả.

3. So sánh với “Vườn rau Lộc Hưng”

Nếu theo văn bản số S.P.55.011 ngày 17/02/1955 của Đài Phát tuyến Chí Hòa xác nhận “hội truyền giáo công giáo là chủ sở hữu đất” (hình 2); thì để không cấp GCNQSDĐ rơi vào các trường hợp 2a, 2b của phần này.

D:\Downloads\190114 H02 SoHuu.jpg

Hình 2

a. Trường hợp 2a. “Đất đã được quy hoạch cho công trình, dự án …”

Kể từ Luật đất đai năm 2013, và các Luật số 10/1998/QH10, Luật số 25/2001/QH10, sửa đổi bổ sung Luật đất đai năm 1993 yêu cầu việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua và trình cơ quan quản lý nhà nước cấp trên phê duyệt. Hồ sơ này lưu ít nhất 3 nơi: Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân và Cơ quan quản lý đất đai cấp trên. Hoặc kế hoạch sử dụng đất đai hàng năm, trên đó có phản ảnh sự biến động đất đai cho các công trình, dự án cụ thể.

Nhà nước chỉ cần trưng ra các tài liệu này để chứng minh đất “Vườn rau Lộc Hưng” không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ.

b. Trường hợp 2b. “Cơ sở tôn giáo đang đòi lại đất”

Thực tế cũng có cơ sở tôn giáo “đòi lại đất”, có trường hợp chính quyền cũng giao trả lại. Dựa trên cơ sở của Luật đất đai 2003:

- Nhà nước thừa nhận “Cơ sở tôn giáo” là “Người sử dụng đất” được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất” (Điều 9.4).

- “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai …” (Điều 10.2).

Điều này được hiểu là: Đất ĐÃ được giao cho người khác sử dụng thì Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại, nhưng nếu đất đất CHƯA được giao cho người khác sử dụng thì (có thể) Nhà nước thừa nhận việc đòi lại.

Trong trường hợp này nhà Nhà nước và/hoặc cơ sở tôn giáo chỉ cần trưng ra văn bản “đòi” lại đất để chứng minh đất “Vườn rau Lộc Hưng” không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ.

c. Ngoài các trường hợp 3a, 3b phần này thì “Vườn rau Lộc Hưng” được cấp GCNQSDĐ theo Nghị định 181 như phân tích ở phần III.1 này.

4. Nói thêm về QĐ 111

Trên Facabook của Manh Dang(4) có nói về Quyết định 111/CP(5) để cho rằng “Vườn rau Lộc Hưng” là “đất công”.

Ngoài quan điểm của Manh Dang, tôi xin bổ sung thêm: ngay chính Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, Về thi hành luật đất đai; cũng không thừa nhận QĐ 111 là căn cứ pháp lý để xác nhận quyền sở hữu / sử dụng đất và tài sản trên đất.

Cụ thể tại “Điều 4. Những bảo đảm cho người sử dụng đất”, Khoản 2 “Việc giải quyết các trường hợp khiếu nại, tranh chấp về đất đai phải căn cứ vào pháp luật về đất đai tại thời điểm xảy ra các quan hệ đất đai dẫn đến khiếu nại, tranh chấp bao gồm các văn bản có liên quan đến đất đai sau đây:” (tóm tắt tất cả văn bản)

a) Luật cải cách ruộng đất năm 1953;

b) Thông tư số 73/TTg ngày 07/07/1962;

c) Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao ban hành ngày 01/05/1969;

d) Nghị quyết số 125-CP ngày 28/06/1971;

đ) Nghị định số 47-CP ngày 15/03/1972;

e) Nghị quyết số 28-CP ngày 16/12/1973;

g) Quyết định số 129-CP ngày 25/05/1974;

h) Nghị định số 01/NĐ/75 ngày 05/03/1975;

i) Chỉ thị số 235-CT/TW ngày 20/08/1976;

k) Quyết định số 188/CP ngày 25/09/1976;

l) Quyết định số 318/CP ngày 14/12/1978;

m) Quyết định số 201/CP ngày 01/07/1980;

n) Luật Đất đai năm 1987 và Nghị định số 30/HĐBT ngày 23/03/1989;

o) Quyết định số 13-HĐBT ngày 01/02/1989.

Để công nhận quyền sử dụng đất, Nghị định 181 vứt QĐ 111 ra giỏ rác (tại sao vứt thì bạn đọc vui lòng xem link nội dung văn bản ở phần ghi chú), nhưng UBND Quận Tân Bình đã nhắc đến QĐ 111 như muốn gọi hồn con quỹ dữ lên để trấn áp người dân.

oOo

Kết thúc

Lẽ ra tôi sẽ viết tiếp những vấn đề liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho những dự án đầu tư công từ ngân sách nhà nước. Nhưng bài viết này đã quá dài, xin tạm dừng ở đây.

Bắt đầu cho quản lý đất đai là “Luật cải cách ruộng đất năm 1953”, kết quả là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải khóc nhận nhận khuyết điểm (12/1956). Tuy nhiên nước mắt của “Người” không thay đổi được lịch sử, cũng không rửa hết những oan sai đã để lại cho hậu thế.

Không biết có phải từ nước mắt nhận lỗi của “Người” đã hình thành nên tư tưởng: “Nếu chúng ta sai, chúng ta nhận lỗi trước dân. Nếu dân sai thì dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật" (6).

Thành phố Hồ Chí Minh - thành phố mang tên “Người” đã có một Thủ Thiêm rồi ?!!!

oOo

Ghi chú

(1) Nội dung bài viết “THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT” đăng tải trên một số trang mạng:

https://www.facebook.com/dotnhanvn/posts/2405844449638727

https://baotiengdan.com/2019/01/12/thuong-ton-phap-luat-2/

https://nghiepdoanbaochi.org/2019/01/13/thuong-ton-phap-luat-ngoai-phap-ly-ra-con-co-dao-ly-nua/

http://www.vietnamthoibao.org/2019/01/loc-hung-va-goc-nhin-tu-at-ai.html

http://danlambaovn.blogspot.com/2019/01/thuong-ton-phap-luat.html#more

(2) Nội dung trong cặp dấu [] trích từ bài viết: Ngày Pháp luật và khẩu hiệu hành động “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Copy ở đây http://baophapluat.vn/tu-phap/ngay-phap-luat-va-khau-hieu-hanh-dong-song-va-lam-viec-theo-hien-phap-va-phap-luat-169017.html

(3) Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, Về thi hành luật đất đai. Nghị định số 17 /2006/NĐ-CP, ngày 27/01/2016, Về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

(4) https://www.facebook.com/manhdang001/posts/2499167063433143

(5) Quyết định số 111/CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Chính phủ, Về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía nam: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bat-dong-san/Quyet-dinh-111-CP-chinh-sach-quan-ly-cai-tao-XHCN-doi-voi-nha-dat-cho-thue-do-thi-tinh-phia-Nam-40396.aspx

(6) Vụ việc Đồng Tâm: 'Nếu sai, chúng ta nhận lỗi, dân sai dân chịu trách nhiệm' https://baomoi.com/vu-viec-dong-tam-neu-sai-chung-ta-nhan-loi-dan-sai-dan-chiu-trach-nhiem/c/22184338.epi

PS. Các văn bản pháp lý liên quan tới bài viết, lưu ở đây: https://drive.google.com/open?id=1czfEkYLVcKB9kqETAEEmJXpuW6NEaFI7

(phần dưới đây chỉ đưa ra các nội dung chính có khả năng liên quan đến “Vườn ra Lộc Hưng”)

A. Luật Đất đai năm 2003

Điều 4. Giải thích từ ngữ

3. Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người đó.

Điều 10. Những bảo đảm cho người sử dụng đất

1. Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.

2. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.

7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

B. Nghị định 181/2004/NĐ-CP

Điều 30. Căn cứ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất bao gồm:

1. Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong các văn bản sau:

d) Đơn xin giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất đối với trường hợp xin giao đất nông nghiệp trong hạn mức giao đất hoặc giao đất làm nhà ở.

đ) Đơn xin giao đất của cộng đồng dân cư có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất.

3. Quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

Trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết thì căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

Điều 48. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất

Việc xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được thực hiện theo quy định sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà không có tranh chấp thì diện tích đất có giấy tờ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp đất thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch mà đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất không có giấy tờ khi có đủ các điều kiện sau:

a) Đất không có tranh chấp;

b) Đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được xét duyệt; trường hợp đất được sử dụng sau thời điểm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được xét duyệt thì phải phù hợp với quy hoạch hoặc kế hoạch đó. Thời điểm sử dụng đất do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận;

c) Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước, nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý thì hộ gia đình, cá nhân đó được tiếp tục sử dụng, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Đ.T.N.

Tác giả gửi BVN

15/01/2019

Thượng tôn pháp luật: Ngoài pháp lý ra còn có đạo lý nữa!

Đỗ Thanh Nhân

4471222_185509792365111_2124175113887678464_o.jpg

Đỗ Thanh Nhân - tác giả gửi bài đến Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

Luật An ninh mạng có hiệu lực rồi, bài viết này đưa tin hoàn toàn đúng sự thật. Tác giả mong nhận được sự phản biện, tranh luận với quan điểm thượng tôn pháp luật. Trên cơ sở Thủ tướng kêu gọi một chính phủ minh bạch, kiến tạo phát triển và muốn có được một nhà nước pháp quyền, một xã hội dân chủ.

Như vậy, từ năm 2018 đến nay chưa đầy một năm đã có 3 vụ xôn xao dư luận về đất đai. Chính quyền minh bạch nên công khai hồ sơ nguồn gốc và tiến trình sử dụng đất cùng với quy định pháp luật về đất đai từng giai đoạn.

Thấy trên mạng xuất hiện vài tấm ảnh về hiện trạng đất đai của “Vườn rau Lộc Hưng” trước kia, từ đó có kẻ cho rằng người dân ở đây vi phạm pháp luật về đất đai (!). Tại sao họ không đưa ra cả một tiến trình sử dụng đất cho các vụ khác nữa?

Với góc độ người dân, tôi tìm hiểu về hiện trạng đất đai từng vụ qua ứng dụng Google Earth Pro (*), và đưa ra 3 clip gồm: “Biệt thự ca sỹ Mỹ Linh” (1), “Lăng mộ Chủ tịch Trần Đại Quang” (2) và “Vườn rau Lộc Hưng” (3) theo đúng hiện trạng qua từng giai đoạn mà hệ thống lưu trữ.

Tài sản khổng lồ và tuyệt vọng khủng khiếp

Tâm Don

Trong các quốc gia độc tài có nền kinh tế quan liêu bao cấp và kế hoạch hóa tập trung cao độ, tư bản thân hữu đã không xuất hiện. Nhưng trong các quốc gia độc tài có nền kinh tế mang bóng dáng kinh tế thị trường như Trung Quốc, CHLB Nga và Việt Nam, tư bản thân hữu nhanh chóng xuất hiện, và nhanh chóng tàn phá khốc liệt đất nước. Nhiều chuyên gia và học giả đã nhất trí cho rằng, tư bản thân hữu là nguồn gốc của tham nhũng và lũng đoạn quyền lực, tạo ra các bất công trong tiếp cận các cơ hội mưu sinh, là tiền đề để cho việc mafia hóa quyền lực nhà nước.

Tư bản thân hữu lần đầu tiên được quan chức Việt Nam nhắc đến và thừa nhận vào đầu năm 2015 bởi TS Vũ Ngọc Hoàng, Phó Trưởng ban Ban Tuyên giáo Trung ương trong bài viết “Nhận diện và ngăn chặn lợi ích nhóm” đăng trên báo Tuổi Trẻ. Ông Cao Sĩ Kiêm, cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đại biểu quốc hội, cũng đề cập đến nhóm lợi ích ngân hàng với đặc trưng là sở hữu chéo và quản lý rủi ro lỏng lẻo. Trước đó, vào năm 2014, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã xuất bản công trình nghiên cứu “Lợi ích nhóm, thực trạng và giải pháp”  trong đó khẳng định rằng : “Những biểu hiện của lợi ích nhóm tiêu cực đã được xã hội tổng kết thành các hành vi “chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương”. Và dư luận xã hội đã tổng kết muốn có chức quyền, lợi ích phải có “tiền tệ, quan hệ, hậu duệ, đồ đệ và cuối cùng mới là trí tuệ”. Tiếc rằng, công trình nghiên cứu này đã không được công chúng biết đến.

Không giống nhận thức của Việt Nam về tư bản thân hữu, giới nghiên cứu quốc tế có những góc nhìn bao quát hơn về tư bản thân hữu. Theo giới nghiên cứu quốc tế, tư bản thân hữu có bốn đặc trưng chính: 01) Hiện trạng mua quan bán chức đã làm hình thành một chợ đen quyền lực chính trị. 02) Sự cấu kết chặt chẽ giữa quan chức và doanh nhân để hai bên cùng thu lợi khủng bất chính. 03) Tham nhũng cấu kết trong doanh nghiệp nhà nước để ăn cắp tài sản của nhà nước. 04)Sự cấu kết giữa lực lượng thực thi pháp luật với tội phạm có tổ chức để thu lợi bất chính.

Mua rẻ tài sản nhà nước

Việt Nam có tư bản thân hữu không nếu căn cứ vào việc giới học giả quốc tế xác định các đặc trưng của tư bản thân hữu? Hãy bắt đầu chỉ với vụ án thượng tá tình báo Phan Văn Anh Vũ, còn có tục danh là Vũ “nhôm”.

Trong các ngày 08 và 09-01-2019, báo chí nhà nước đồng loạt thông tin rằng, cơ quan điều tra Bộ Công an đã xác định với sự giúp sức của một số cán bộ có vị trí cao trong ngành công an và lãnh đạo địa phương, Vũ “nhôm” thâu tóm 7 khu đất “vàng” tại TP.HCM và Đà Nẵng rồi chuyển nhượng để thu lời bất chính, gây thiệt hại 1.159 tỉ đồng. Trong thời gian công tác trong ngành công an, với danh nghĩa thành lập công ty bình phong cho cơ quan, năm 2015, Vũ thành lập công ty cổ phần Nova Bắc Nam 79 và được Sở Kế hoạch Đầu tư TP.HCM cấp giấy phép thành lập. Công ty này Bộ Công an không góp cổ phần mà do Vũ điều hành hoàn toàn.

Việc 2 công ty trên được xác định là công ty bình phong của Bộ Công an đã tạo điều kiện cho Phan Văn Anh Vũ thâu tóm các khu đất vàng tại Đà Nẵng và TP.HCM. Sau khi được giao quyền sử dụng đất tại 7 nhà, đất công sản Vũ đã nhanh chóng chuyển nhượng cho cá nhân mình hoặc liên kết, chuyển nhượng cho cá nhân, tổ chức khác để thu lợi bất chính.

https://1.bp.blogspot.com/-JMUAaVCHOas/XDX61J_XYeI/AAAAAAAAAU8/jiK8zVU6KMYvfsdDvYefnHN9cpsydpHigCLcBGAs/s640/Vu-Nhom1.jpg

Phan Văn Anh Vũ trong buổi xét xử. Ảnh: TTO

Cưỡng chiếm Lộc Hưng: đánh cho tiệt nọc!

Phương Thảo

Việc người xâm chiếm đất và cư ngụ trái phép ở đó diễn ra đã hơn hai mươi năm. Mấy đời chủ đòi trục xuất người không được.

Cưỡng chế di dời ở Tây

Sau hơn 21 năm cư ngụ bất hợp pháp trên một miếng đất rộng 43 hecta ở ngoại ô Amsterdam, 150 người đã bị cưỡng chế phải dời đi nơi khác. Chủ đất cuối cùng lấy lại được mảnh đất này để cho thuê.

Đây vốn là nơi người ta tụ tập lai để dựng các công trình nghệ thuật tự do. Phần lớn người sinh sống ở đây là “nghệ sỹ” vô gia cư, nhưng cũng có cả dân thường. Họ dựng các công trình nghệ thuật nghệ thuật sắp đặt từ những vật dụng bỏ đi như khung xe hơi, sắt thép vụn, vải, đủ thứ hổ lốn để làm tháp UFO - vật thể lạ không xác định, nhà trên cây. Có người hiếm đất làm lều tạm, có người sống trong các căn nhà đổ nát bị bỏ hoang lâu năm, hay sông trong các chiếc thuyền đầy rỉ sắt, rách nát neo đậu ở ven bờ.

Việc người xâm chiếm đất và cư ngụ trái phép ở đó diễn ra đã hơn hai mươi năm. Mấy đời chủ đòi trục xuất người không được. Vào tháng 7 năm 2018, những người cư ngụ tại đây nhận được yêu cầu chính thức phải dời khỏi khu vực này vào ngày Giáng sinh thứ nhất tức ngày 25 tháng 12 năm 2018.

https://1.bp.blogspot.com/-ZN1m9agMlxE/XDdgUYOvVvI/AAAAAAAAAVc/SGV1iS_v2ucf3ynsSqrM-LRStcBBIgD4gCLcBGAs/s640/maxresdefault.jpg

Uỷ ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã yêu cầu Tòa Thị chính hoãn di dời sáu tháng vì người cư ngụ ở đây chưa tìm được chỗ cư ngụ thay thế. Tuy nhiên, Tòa Thị chính vẫn quyết định cưỡng chế di dời vì đã cho những người này đến một khu vực khác ở phía bắc thành phố có sẵn điện nước. Một số người cho rằng nơi ở mới không phù hợp với nhu cầu của họ nên nhất quyết không rời đi. Việc cưỡng chế di dời diễn ra một tuần sau năm mới, tức tụi tư bản vẫn để cho người cư ngụ bất hợp pháp mừng Giáng sinh và năm mới rồi mới bắt họ di dời.

Không có bóng dáng công an, quân đội, cũng không có người dân nào tổ chức biểu tình hay lên tiếng phản đối hay bênh vực ai. Vì việc di dời là chính đáng khi họ cư ngụ trái phép trên một mảnh đất đã có chủ mà không tốn một xu tiền thuê nhà hay đất nào. Khi dời đi, họ để lại hàng tấn rác thải đủ loại và chủ đất yêu cầu chính quyền thành phố phải trả tiền dọn rác. Sự việc được báo, đài truyền hình và mạng xã hội đưa tin trực tiếp, công khai.

Thời điểm cưỡng bức di dời ở đây trùng hợp với sự việc tương tự ở Vườn rau Lộc Hưng Sài Gòn nhưng cách xử lý hoàn toàn trái ngược.

Giải khăn sô cho Lộc Hưng

Tam Ân

Tản văn này được viết dựa trên câu chuyện hoàn toàn có thật, từ địa danh cho đến tên nạn nhân, mốc thời gian được tính theo Âm lịch...

Không như thời chiến tranh, có tiếng “Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe. Đại bác qua đây đánh thức mẹ dậy, đại bác qua đây con thơ buồn tủi, nửa đêm sáng chói hỏa châu trên núi”... mà cố nhạc sĩ họ Trịnh đã miêu tả qua lời nhạc, do ông sáng tác trong ca khúc “Đại bác ru em”, để khắc hoạ bức tranh xám xịt đầy tang tóc. Ở thời buổi đất nước đã “độc lập, hoà bình”, vậy mà về quy mô, về số lượng quân lính tham gia, về mức độ tàn bạo khi nhà cầm quyền cộng sản tổ chức tổng tấn công cưỡng chiếm 50000m2 đất hợp pháp của người dân ở phường 6, Tân Bình mới thấy đáng sợ, đáng kinh hoàng biết bao. Khu đất này được đồng bào đi cư ngoài Bắc vào, khai khẩn, gầy dựng, từ năm 1954 đến nay, hiện nay được trồng rau sạch, một phần diện tích xây dựng nhà cấp 4. Đặc biệt, ở đây có cả một ngôi nhà tình thương dành cho những người thương phế binh, là quân nhân của chế độ Việt Nam Cộng hòa, được xây dựng bằng tấm lòng bác ái đóng góp của giáo dân xa gần thông qua các Linh mục của Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.

https://3.bp.blogspot.com/-NgxwgPw_8BA/XDdi4QX80HI/AAAAAAAAAVw/n-Djq6z9hSgR3RshQv80PFnVrbfyel42gCLcBGAs/s640/IMG_7831.jpg

Khách quan mà nhận xét, cuộc bố ráp bắt bớ người dân xóm đạo trước, rồi tiến hành cưỡng chiếm đất đai Vườn rau Lộc Hưng bởi nhà cầm quyền, trong những ngày cuối năm năm Mậu Tuất 2018, nó khủng khiếp, bi đát, phẫn hận,.. hơn rất nhiều so với thời kì chiến tranh. Trong chiến tranh, ngay cả cuộc thảm sát kinh hoàng người dân Huế vô tội tết Mậu Thân năm 1968, thì nếu còn được sống, người dân Huế vẫn còn cơ hội trở về căn nhà của mình, dù rằng ngày về nó chỉ còn lại một đống đổ nát, ngổn ngang. Một sự đau thương trùng hợp, nửa thế kỉ sau cũng vào năm Mậu, người dân thiện lương ở Vườn rau Lộc Hưng (P6, Tân Bình) đã trở thành nạn nhân của chính quyền cộng sản. Khi chính quyền tổ chức tổng tấn công đập phá nhà cửa, rồi lấy đất đai của họ, vào những ngày cuối năm. Một giải khăn sô cho Lộc Hưng! Nhưng, người dân Lộc Hưng đã tuyệt nhiên không còn được trở về ngôi nhà của mình, như người dân Huế năm xưa. Chỉ trở về một lần thôi, được thăm hay nhìn lại đống đổ nát mà trước đó là ngôi nhà, là vườn rau mà đại gia đình của họ từng sinh sống qua mấy thế hệ, nào có được đâu.

Tính ra, những người đồng bào giáo dân ở nơi này, họ phải chịu tai hoạ cộng sản, đến lần thứ ba gặp cảnh tan nhà nát cửa, kể từ năm 1954, khi mà họ phải khăn gói, dắt díu nhau rời xa cố hương tận ngoài Bắc xa xôi. Có đọc tác phẩm Cố hương của nhà văn Lỗ Tấn, chúng ta mới thấu cảm được phần nào tâm trạng biệt ly, cho những phận người buộc phải rời nơi chôn nhau cắt rốn...! Càng đau đớn hơn, biệt ly cố hương vì chạy giặc, tang thương gánh chịu đến mấy lần. Chính vì điều này, mà nỗi đau của người dân khi bị chính quyền cộng sản cướp bóc đất đai, xảy ra ở Lộc Hưng, nó mang tính chất nỗi đau buốt xé của vết thương cũ vừa sắp da non thì bị rách toạc ra, bởi bàn tay thú tính, khiến cho máu tươi phun bắn ra thành vòi...!

13/01/2019

Thư giãn Chủ nhật: Bóng đá, lòng dân và chỉ tiêu yêu nước

Trịnh Khả Nguyên

Lúc tôi viết mấy dòng này thì Giải bóng đá châu Á (ASIAN CUP) còn đang ở “vòng bảng”. Đội tuyển Việt Nam nằm trong bảng mạnh và kết quả của trận đấu đầu tiên VN-IRAQ không tốt như nhiều người đã dự đoán. Vì chưa qua hết vòng loại nên còn quá sớm để xác ai đi tiếp, ai ra về. Dù thế nào thì cũng khen ngợi tinh thần thi đấu của đội tuyển Việt Nam, các bạn đã “chơi” hết mình.

Nói bóng đá này, liên tưởng tới bóng đá kia. Nhớ khi Việt Nam vô địch giải AFF, nhiều cầu thủ đã cám ơn các người ham mộ (NHM) đã tiếp sức cho họ, còn một bình luân viên (quên tên) lại nói NHM cám ơn các cầu thủ đã đá đẹp, làm cho người xem không thất vọng hay văn hoa hơn thì cho rằng NHM được hưởng một bữa tiệc bóng đá mãn nhãn. (Tôi không thích từ mãn nhãn vì các hiện tượng đang diển ra thấy đã ớn, đã “đầy mắt”rồi).

Nhưng thôi, khách sáo mà chi, biết nói lời cám ơn là quí lắm, là có văn hóa ứng xử như chúng ta thường nghe (đài báo hay nói), chẳng hơn một số người chỉ biết phần mình, giả đui, giả điếc trước những tai ương, khốn khổ của đồng loại.

Về phía cầu thủ họ là con em của nhân dân, đem tài đá bóng để phục vụ NHM, để cám ơn nhân dân là đương nhiên. OK. Chẳng ai đòi hỏi gì thêm, ngay cả khi họ thua. Còn hơn những kẻ từ dân mà ra, nhân danh nhân dân ăn của dân không từ một thứ gì, đã thế lại vô ơn, ngược đãi dân. Hạng này thì quá đông, đông hơn số cầu thủ rất nhiều lần. Và biết đâu, chính những cầu thủ đã “đá” cho họ hưởng (tiếng và miếng nữa).

NHM cũng có mấy lý do để cám ơn các cầu thủ. Vì các cầu thủ đã đáp ứng được sở thích của một số người mê bóng đá. Nhờ vào chiến thắng của đội nhà, NHM được “tự do” tụ tập đông người, được xuống đường được chạy xe, được đánh trống phất cờ, được hò reo. Lâu nay câu khẩu hiệu tất cả cho…, nhưng chưa thấy tác dụng gì, nay với bóng đá thì “tất cả cho bóng đá ” là có thật. Qua các giải trước, nhịp độ hồ hởi tăng theo từ vòng, tứ kết rồi bán kết và chung kết, ai cũng nói, nếu Việt Nam thắng thì “phải biết”. Phải biết là thế nào? Là như đã nói, chạy xe từng đoàn, đánh trống, phất cờ náo loạn đường phố bất chấp luật lệ giao thông. Hàng trăm, không chừng cả hàng nghìn người xuống đường vì bóng đá. Xin đừng ấn tượng với các từ xuống đường biểu tình. Nó rất “trung tính”. Xuống đường là ra ngoài đường, biểu tình là biểu thị tình cảm (không thích/thích) về một việc gì. Hiểu như thế thì hằng ngày mọi người vẫn biểu tình dù nhiều hay chỉ một người). Mới đây có thêm từ đi bão, một từ rất tượng hình, như ta đã nghe bão nổi lên rồi, triều dâng thác đổ để chỉ sức mạnh của các phong trào.

Mong đội nhà thắng trong các trận đấu là tình cảm tự nhiên. Đối với một số người, bóng đá là danh dự quốc gia, cổ vũ cho đội tuyển là yêu nước. Nhưng, không xem hoặc không cổ vũ cho bóng đá nước nhà không phải là không yêu nước.

NHM vì bóng đá gây ách tắc giao thông, làm mất trật tự, có thể gây tai nạn cho người khác và chính họ. Các hành động kia không do ai tổ chức, không thế lực nào xúi dục, mua chuộc. NHM tự động liên kết với nhau biểu thị tình cảm. Không ai tự nhiên mang biểu ngữ, cờ xí ra đường hoan hô hay phản đối mà chỉ vì những lý do nào đấy mới làm cho họ tụ tập đông người để biểu thị tình cảm (biểu tình).

Và không chỉ trong bóng đá, những việc khác cũng thế, nếu hợp lòng dân thì họ hưởng ứng dù có mất thì giờ, bỏ công ăn việc làm, đội nắng dầm mưa, hò hét đến khản giọng hoặc bị cho “là”. Trái lại, việc gì không hợp lòng dân thì họ phản đối dù cho có chịu như vừa kể.

Trước một sự việc, nhất là những việc lớn quan trọng, người dân thường có một trong hai phản ứng thích/ủng hộ hoặc không thích/phản đối. Ông Tổng Bí thư ĐCS ngày 25.6.2018 cũng đã phát biểu chỉ đạo “Cán bộ lãnh đạo phải ghi nhớ, bất cứ ai cũng không có quyền lực tuyệt đối ngoài pháp luật, bất kỳ ai sử dụng quyền lực đều phải phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân… Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm” (Báo Thanh Niên)*

Ông TBT nói rất đúng, không phải bây giờ mà xưa nay ta cũng đã nghe lấy dân làm gốc (dĩ dân vi bổn). Và hiện nay đa số chính phủ của các nước trên trên thế giới đều (tự nhận) là chính phủ của dân, do dân và vì dân, tuy nhiên thực tế thì khác, thậm chí còn ngược lại. Lời TBT, cái gì dân thích thì nhà nước phải làm, cái gì dân căm ghét thì nhà nước không làm. Với bóng đá, nhà nước biết NHM muốn gì? Đơn giản, Việt Nam chiến thắng, muốn cầu thủ đá hết mình, muốn trọng tài “thổi” đúng, muốn tự do đi bão. Còn các vấn đề khác (kinh tế, giáo dục, y tế, pháp luật, quan hệ quốc tế, an ninh quốc gia, môi trường…), nhà nước có cần biết người dân thích gì, không thích gì, suy nghĩ như thế nào? Những vấn đề này nhiều, nhiều lắm, nhưng cũng như bóng đá, muốn cầu thủ ra cầu thủ, trọng tài ra trọng tài, ai lo phần ấy, không thể vừa đá bóng vừa thổi còi, nới phe mình ép phe người. Và cũng muốn luật pháp, các lực lượng an nịnh tạo điều kiện cho dân đi bão ôn hòa (hơn các cuộc đi bão bóng đá). Chung lại, mọi việc từ nói tới làm người dân thích sự thật và ghét giả dối.

Ở một số nước, có một số cơ quan chuyên theo dõi tỉ lệ ủng hộ hay phản đối của dân chúng đối với một, nhiều cá nhân hoặc chính sách của chính phủ. Dù là thăm dò xác suất, nhưng cái tỷ lệ ấy cũng cho những người điều hành biết họ đang được hay mất lòng dân.

Ở ta không có cơ quan, cá nhân nào tổ chức thăm dò ý kiến nhân dân, nhưng có “thi đua yêu nước”, có “phê” và “tự phê”. Ta quen mấy câu nộp thuế là yêu nước / thi hành nghĩa vụ quân sự là yêu nước / tập thể dục là yêu nước / tăng gia sản xuất là yêu nước / kế hoạch hóa gia đình là yêu nước… Tùy tình hình, nhu cầu, tinh thần yêu nước lấy chủ đề theo “vụ việc”. Các chỉ tiêu này do các cơ quan có thẩm quyền (ban thi đua, tuyên giáo, thông tin) nghiên cứu, phổ biến.

PHẦN II: “PECARANDE”…

Nguyễn Thượng Long

[Tiếp theo Phần 1: Thiên đườngmù mịt]

Hơn 50 năm trước, ở tuổi hoa niên, tôi đã từng mê mẩn trước những trang hồi ký có tên “Bất khuất” viết về những hoạt động của ông Nguyễn Đức Thuận, một TW Uỷ viên ĐCS Việt Nam được Đảng chủ động cài lại miền Nam để chuẩn bị cho những bước phát triển mới của chính trường Miền Nam sau Hiệp định Giơ ne vơ 1954. Cuốn sách đó do tác giả Trần Đĩnh viết, xuất hiện vào năm 1965. Cuốn sách này một thời được đưa vào giảng dạy trong chương trình văn học hệ phổ thông 10 năm và đã từng được thế hệ tôi suy tôn như một mẫu mực nghệ thuật, một biểu tượng hoành tráng, một tượng đài vô song của điều gọi là “Chủ nghĩa anh hùng cách mạng”. Nhưng… mỉa mai thay, chính Trần Đĩnh lại là nhà văn PHẢN TỈNH và “PHẢN ĐỘNG” (Xin nhớ là tôi để trong ngoặc kép (“ ”) sớm nhất). Với tác phẩm “Đèn Cù” xuất bản tại Mỹ 2014, ông lại tiếp tục làm đổ nhào những tượng đài cứ ngỡ là sẽ “ĐỜI ĐỜI” và “MÃI MÃI”, làm bật tung những góc khuất nhếch nhác đến thê thảm trong đời sống cung đình của Việt Nam mà thế hệ U70 - U80 chúng tôi đã hồn nhiên tin tưởng… nên lĩnh đủ.

Gần 50 năm đã trôi qua, giờ đây nếu ai hỏi tôi: Chương đoạn nào của cuốn Bất khuất là hay nhất? Tôi xin thưa: Đó là chương viết về cuộc bắt giữ ông Thuận giữa đường phố Sài Gòn của một nhân viên an ninh có biệt danh Sáu Đen và những cuộc thẩm vấn liên hồi dưới những đèn pha cực mạnh của các nhân viên an ninh trong Tổng nha Cảnh sát Đô thành Sài Gòn dành cho ông Nguyễn Đức Thuận tại một căn phòng nằm gần Sở Thú Sài Gòn. Căn phòng ghê gớm đó có biệt danh Pecarande.

Thật trớ trêu, ngót 50 năm trước tôi thích cảnh nào thì nay trời trao cho tôi cảnh vậy. Đúng 8h30 sáng ngày 03/2/2010 tôi phải bước vào phòng thẩm vấn, một thứ Pecarande của chế độ mới ở số 6 Đường Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội theo giấy triệu tập của Công an thành phố Hà Nội.

clip_image002

Khi cánh cửa phòng thẩm vấn khép lại, tôi biết tôi sẽ phải đối diện với hàng loạt câu hỏi và câu trả lời của tôi sẽ đem lại sự hiểu biết đúng đắn về tôi và cũng có thể lắm nếu tôi danh không chính, ngôn không thuận… họ sẽ hiểu sai về tôi, về tờ báo của chúng tôi và hệ luỵ sẽ đến với tôi là vô lường.

clip_image004

… Và thời gian đã trễ nải trôi trong tiếng máy ro ro êm êm của các thiết bị ghi âm, ghi hình đang chĩa vào tôi và tôi không nhầm một đường truyền audio đã được thiết lập nối liền phòng thẩm vấn tôi với một trung tâm ở đâu đó… , mà trước máy sẽ là các sĩ quan cao cấp, các chuyên viên phân tích lời khai giám sát chặt chẽ từng lời khai, từng nét mặt của tôi trong từng thời điểm, từng tình huống.

Trong lúc cô thư ký có gương mặt của một cô giáo hơn là gương mặt của một sĩ quan an ninh đang hoàn thiện những thủ tục ban đầu cho một bản cung và các nhân viên an ninh khác trong phòng đang nghiêng ngả loang loáng chụp ảnh tôi từ mọi góc độ, tôi lơ đãng nhìn ra bên ngoài qua một khe cửa hẹp mà trong lòng man mác buồn. Nếu thực sự là một đời sống pháp quyền thì kể cả khi tôi đứng bên vành móng ngựa, tôi vẫn phải được đối xử như đối xử với người chưa có tội. Bụng bảo dạ, chuyện này cũng nhỏ thôi quan tâm làm gì, thế mà tôi lại buột miệng:

“Các quý vị đã quay, chụp tôi quá nhiều. Tôi có một đề nghị: Khi sử dụng các hình ảnh của tôi, xin quý vị chọn những hình ảnh nào phản ánh đúng con người tôi, xin đừng như báo ANTG số 815 ra thứ Tư ngày 10/12/2008 đã chọn hình ảnh thật bất xứng với tư chất của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh để minh họa cho bài Chất độc hại trong một cuốn hồi kí của nhà nghiên cứu Thượng Nguyên. Ai đời, ông Nguyễn Đăng Mạnh, một Nhà giáo Nhân dân, Một nhà văn, một Giáo sư văn chương, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật cấp nhà nước, người đã góp sức đào tạo ra biết bao những Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ văn chươngmà lại hiện diện trên mặt tờ báo có lượng độc giả đáng nể trong hình hài như một đầu gấu đầy chất bặm trợn!? Biết đâu đấy, nay mai rồi sẽ có một bài báo của một ông Y ông Z nào đó có nhan đề: Kẻ cơ hội chính trị Nguyễn Thượng Long đã cúi đầu nhận tội (!?) kèm với một tấm hình tôi bơ phờ, ủ rũ như một kẻ bụi đời, một gã cô hồn trước mắt mọi người”.

Đáp lại lời buột miệng của tôi, các nhân viên an ninh chỉ im lặng. Tôi cũng chẳng giận gì họ, thôi thì việc cấp trên giao cho họ thì họ cứ làm, việc tôi tôi làm và câu hỏi đầu tiên của viên Thượng tá đã đưa tôi ra khỏi những tạp niệm xét cho cùng cũng là vô nghĩa giữa cõi thế gian đang bị lấp đầy bởi những điều phi lý này.

Hỏi: Trưởng thành từ các môi trường sư phạm, hoàn thành nghĩa vụ lao động trong công việc của người thầy, cuối đời lại vương nghiệp báo chí! điều gì đã xẩy ra vậy?

Trả lời: Không biết có phải cuộc đời tôi là một dẫn chứng sinh động cho 4 cái nghề như có họ với nhau: Nhà văn, Nhà báo, Nhà giáo, Nhà nghèo không? Tôi đến với hoạt động báo chí là sự phát triển tự nhiên và tất yếu. Những người lần đầu gặp tôi đều nghĩ tôi là nhà báo, chẳng ai nghĩ tôi làm nghề dậy học. Có lẽ tôi sinh ra để cầm máy ghi âm, cầm máy ảnh chứ không phải là cầm phấn đứng trên bục giảng. Thế hệ tôi là thế hệ không được tự do khẳng định thiên hướng nghề nghiệp cho mình. Công bằng mà nói tôi cũng là một thứ hèn, đã cúi mặt chấp nhận tư thế “Nhà nước đặt đâu - Con dân ngồi đấy”. Tôi và Giáo dục - Đào tạo suốt 40 năm… tuy không phải là một cuộc “Hôn nhân vì tình yêu”, tôi vẫn tự hào là tôi vẫn giữ được phẩm hạnh của người cầm phấn trước học trò của mình.

Hôm nay ông hỏi điều gì đã xẩy ra? Xin thưa, nếu ngành giáo dục đừng bộc lộ những gì là bất xứng, có lẽ tôi cũng tẻ nhạt như mấy ông giáo già ù lì nơi tôi thôi. Sự đời lại không như vậy, trước sự tụt dốc đến thảm hại của nghề cao quý, ngay từ giữa những năm 1990 tôi đã có hàng loạt bài viết cảnh báo về sự băng hoại của Giáo dục, tôi đã từng như “Con thiêu thân” trong nỗ lực tố cáo những dối trá trong thi cử của Giáo dục - Đào tạo Hà Tây. Tôi cũng đã từng quyên mình nhẩy ra bênh vực những “Con thiêu thân” khác lâm nạn trong các nỗ lực tương tự như những nỗ lực của tôi, những Đỗ Việt Khoa (Giáo viên Hà Tây), Edu Lê Đình Hoàng (Giáo viên Nghệ An)… và tôi đã đến với báo chí trong những lộn xộn và láo nháo như vậy.

Hỏi: Quá trình đến với BNS Tổ Quốc của ông đã diễn ra như thế nào? Ai đã đưa ông đến với những chức danh như thành viên của Ban Biên tập, Phó Tổng biên tậpTheo ông, tờ báo này là sản phẩm của ai? Ông nghĩ gì về tờ báo này?

Trả lời: Tôi nghĩ, nếu không có nhóm những nhà trí thức Việt Nam ở Pháp, những người có tấm lòng thành với đất nước thì không thể có tờ Tổ Quốc, mặc dù bộ phận Tổ Quốc trong nước có những gương mặt trí thức nổi trội, những lão thành cách mạng bậc tiền bối, những cây viết chính luận xuất sắc… họ đã công khai ghi danh trong Ban cố vấn, trong Ban biên tập.

Còn tôi, tôi bắt đầu viết bài cho BNS Tổ Quốc lúc tôi mới rời ngành Giáo dục - Đào tạo để nghỉ hưu. Đó cũng là lúc ông Đỗ Việt Khoa giáo viên Địa Lý Hà Tây được VTV3 Đài Truyền hình TW vinh danh là “Người đương thời” được cả nước yêu thích nhất 2006. Đó cũng là lúc tân Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân xuất hiện trong ánh hào quang của một Minh chủ, người có sứ mạng đạp phanh để cứu đoàn tầu giáo dục lúc đó đang băng băng lao xuống vực thẳm bằng cuộc vận động “Hai không” (Không gian dối trong thi cử và Không vị thành tích trong thi đua). Cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, khi một thời gian ngắn sau thời điểm đó, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã mời ông Nhân tham chính trong cương vị một Phó Thủ tướng trẻ tuổi. Tôi đến với BNS Tổ Quốc lúc báo chí chính thống không còn mặn mà với cuộc vận động Hai không, hàng loạt tờ báo chính thống đã từng đăng tải loạt bài phanh phui những tiêu cực của Giáo dục - Đào tạo Hà Tây của tôi trong giai đoạn trước thì nay đều đồng loạt hờ hững với bài vở của tôi. Tôi đến với tờ Tổ Quốc trong linh cảm cay đắng rằng nếu tôi chưa về hưu thì không sớm thì muộn cả tôi cả Đỗ Việt Khoa sẽ bị hạ nhục và sẽ bị người ta “Hành quyết” như hành quyết những kẻ tội đồ và “Phát súng hai không” của ông Nhân rồi cũng sẽ trở thành những gì tương tự như một điều lố bịch.

Như vậy, tôi đến với tờ Tổ Quốc có khác gì đâu một cuộc hẹn hò của định mệnh, như một tất yếu. Khi thấy tên mình trong BBT của tờ Tổ Quốc, tôi không quan tâm lắm,vì theo tôi tờ Tổ Quốc lúc đó chỉ là một thực thể ảo khi Việt Nam đã hòa nhập vào WTO với biết bao lời hứa của ĐCS với cộng đồng quốc tế về tự do ngôn luận, tự do báo chí cho Nhân dân Việt Nam và khi internet đã len lỏi vào từng căn nhà, từng chiếc bàn làm việc thậm chí cả trong buồng ngủ của mỗi gia đình. Nên khi Tiến sĩ Địa Vật Lý Ngyễn Thanh Giang nói với tôi: “Giai đoạn này tôi muốn dành thời gian cho việc hoàn thiện một số công trình thuộc chuyên môn của tôi và tôi cũng muốn hoàn thiện một số cuốn sách còn đang viết dở. Long giúp tôi trông nom tờ Tổ Quốc với cương vị là một Phó Tổng biên tập”.

Trước khi tôi chấp nhận lời thỉnh cầu của ông Giang, tôi biết những gì ông Giang nói với tôi, ông cũng đã từng mang đi để chiêu dụ Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn, Nhà Báo Nguyễn Vũ Bình… song cả 2 anh đều từ chối. Tôi nhận công việc đó là vì lương tâm, lương tri tôi mách bảo: Đó là một tờ báo tốt. Như vậy tôi không hề bị động trong công việc của một Phó Tổng biên tập tờ Tổ Quốc. Từ Tổ Quốc số 60 trở đi tôi dốc sức cùng với các trí thức khác ở trong nước cũng như ngoài nước, những người có tấm lòng thành với đất nước và bằng kinh nghiệm, sự hiểu biết của mình tôi cùng với mọi người nỗ lực đẩy lùi, loại bỏ những bài viết bất lợi cho dân tộc, bất lợi cho tiến trình đi đến Tự Do - Dân Chủ và Nhân Quyền cho người Việt Nam để tờ báo luôn luôn:

- Là tiếng nói ôn hòa thể hiện những suy tư và ước vọng của người Việt Nam;

- Là tờ báo không khơi gợi những hận thù, không tán thành bạo loạn, lật đổ;

- Là tờ báo dũng cảm đối diện với những vấn đề nóng, vấn đề gai góc, vấn đề được coi là nhậy cảm mà hơn 700 tờ báo chính thống trong nước đồng loạt né tránh;

- Là một kênh phản biện tích cực đầy tinh thần trách nhiệm để ĐCS, Chính quyền trong nước dựa vào đó mà có những điều chỉnh chính sách sao cho có lợi nhất cho đất nước, cho dân tộc;

- Là sự tập dượt cho người Việt Nam trong nước chuẩn bị bước vào giai đoạn ĐCS chấp nhận tự do ngôn luận, tự do báo chí cho Nhân Dân Việt Nam như những gì ĐCS đã hứa với cộng đồng quốc tế;

- Tờ BNS Tổ Quốc tiếp tục là tờ báo không đặt ra mục đích kinh doanh, không có chế độ nhuận bút, tất cả chỉ vì sự nghiệp nâng cao dân trí, vì sự thay đổi nhận thức cho người dân theo hướng văn minh và tiến bộ.

Hỏi: Trong tay tôi là BNS Tổ Quốc số 80, để ra được một số báo có 32 trang như thế này, Phó Tổng biên tập đã có quá trình làm việc thế nào?

Trả lời: Tôi không biết giai đoạn trước, để ra được một số Tổ Quốc thì những người có trách nhiệm ngày đó đã xoay sở như thế nào? Từ số 60 mà tôi làm việc với chức danh Phó Tổng biên tập thì quá trình đó là:

- Tôi dành nhiều thời gian để đọc rất kĩ những bài mà các tác giả đã gửi vào Email của tôi, đọc kĩ các bài trên các trang mạng.

- Tuyển lựa những bài có lợi cho đất nước, có lợi cho Nhân dân trong giai đoạn phấn đấu hướng tới Tự do - Dân chủ - Nhân quyền.

- Với những bài có nội dung tốt nhưng có thể vì trạng thái tâm lý của người viết không ổn nên họ có những lời lẽ cực đoan, thì tôi biên tập lại để bài báo đó vẫn giữ được ý tưởng tốt của người viết mà lại tránh được những dị ứng không cần thiết của người đọc. Ví dụ: Một tác giả khá nổi tiếng, vì quá bức xúc trước thái độ sống dối trá đang trở thành một thứ hội chứng lây lan ra toàn xã hội đã viết: “Đu ma ba quân giả dối đời”, tôi thẳng thừng xoá bỏ động từ quá dung tục đó và thay bằng: “Bá Ngọ ba quân giả dối đời”. Câu chửi vẫn là một câu chửi, nhưng rõ ràng lọt tai người nghe hơn. Cũng bằng cách thức đó, tôi cùng với anh em biên tập làm việc cật lực để tờ báo tránh những rắc rối không cần thiết khi phải đối diện với những đề tài, những lĩnh vực được coi là nhậy cảm và sản phẩm báo chí của chúng tôi khi đến với người đọc phải sáng bừng là những giá trị Chân - Thiện - Mỹ, là tấm lòng trong sáng, là thông điệp hòa bình của người viết muốn gửi đến người đọc và nhờ đó mối quan hệ của người viết và người biên tập là mối quan hệ của những người bạn với những người bạn dựa trên sự tin tưởng nhau.

- Khi đã tuyển chọn được một lượng bài cần thiết, tôi gửi Gmail cho các thành viên khác trong tờ báo để anh em cùng biên tập lại kĩ càng hơn rồi anh em đó lên khuôn một bản thảo. Sau khi bản chính thức được lên khuôn, anh em lại gửi qua Gmail cho tôi và ông Giang để chúng tôi đọc duyệt lần cuối cùng, trước khi chính thức FW đi các Email của bè bạn để cùng thưởng thức.

Với một quy trình làm báo hết sức thiện nguyện, hết sức có nguyên tắc, và cũng hết sức có trách nhiệm với cộng đồng như thế, tờ Tổ Quốc đã thực sự trở thành một sản phẩm báo chí được người đọc trong nước và ngoài nước đón nhận với thái độ trọng thị và tin tưởng. Tờ BNS Tổ Quốc cùng với nhiều kênh thông tin khác như IDS, Bauxit info… nhiều năm tháng qua đã làm xã hội Việt Nam ngày càng đậm nét dân sự hơn và chất trại lính của một xã hội toàn trị kiểu Stalin, Mao Trạch Đông và Pôn Pốt… đã ít nhiều nhạt nhoà và nứt vỡ.

Cuối 2008 một chiến dịch tổng lực của truyền thông được khởi động nhằm xoá xổ BNS Tổ Quốc. Hàng loạt báo lề phải tung ra những đòn đánh, những loạt bài bôi nhọ, miệt thị tờ báo của chúng tôi là tờ báo phản động của bọn cơ hội chính trị, bọn bất mãn, những nhà dân chủ yêu Đô la hơn yêu nước… (!?). Đến nay tôi tin rằng, số những “sát thủ” sẵn sàng xuống tay hạ sát tờ Tổ Quốc theo kịch bản thô thiển như thế ngày càng ít đi và vào thời điểm này nếu vì một lí do nào đó họ buộc phải viết theo chỉ thị của ai đó thì nếu còn là người có lương tri… luơng tâm họ sẽ phải cắn rứt.

Hỏi: Vì sao đến số 80 tờ Tổ Quốc lại quay về cơ cấu nhân sự như từ số 1? (Tức là không còn ghi chức danh cho các thành viên của BBT).

Trả lời: Theo tôi chuyện đó cũng không có gì là đặc biệt. Kể cả lúc tờ Tổ Quốc ghi danh tôi là Phó Tổng biên tập thì cũng chẳng bao giờ tôi coi tôi là nhân vật quan trọng của tờ báo, là yếu nhân của tờ báo. Câu hỏi này cơ quan an ninh nên đặt ra cho những người khởi xướng ra tờ báo thì hợp lý hơn.

Trong mắt tôi tờ Tổ Quốc chỉ là một tập hợp của một số trí thức cả trong nước, cả ngoài nước có tấm lòng thành thực với đất nước và dân tộc. Mọi người cùng nhìn nhau mà làm việc trên tinh thần thiện nguyện, tự giác và tôn trọng nhau. Theo tôi về phương diện nhân sự tờ Tổ Quốc không hề có vấn nạn chạy chọt quyền chức như hơn 700 tờ báo thuộc lề phải trong nước. Việc tờ Tổ Quốc giai đoạn này cơ cấu nhân sự chỉ có Ban cố vấn và Ban biên tập là hợp lý.

Hỏi: Tờ Tổ Quốc nay đã ra được 80 số trong hơn 3 năm, vấn đề tài chính của tờ báo đã được giải quyết như thế nào?

Trả lời: Tôi chưa bao giờ chủ trương tìm hiểu kĩ về truyện này, nếu vào dịp cuối năm 2008, đầu 2009 không có chiến dịch đánh tờ Tổ Quốc của một loạt báo lề phải, tôi cũng sẽ chẳng biết gì về truyện này.Tôi nhớ để trả lời những chất vấn của nhiều người, giai đoạn đó ông Giang đã một lần hé mở: “Nguồn tài chính cho tờ Tổ Quốc là do 3 nguồn, gồm: Sự giúp đỡ của ông Nguyễn Gia Kiểng - Một trí thức yêu nước ở Pháp, cũng là nhà lãnh đạo của “TẬP HỢP DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN”; sự giúp đỡ của các Mạnh Thường Quân ở hải ngoại… Ngay từ những ngày đầu đến với tờ Tổ Quốc tôi đã biết tờ Tổ Quốc không có chế độ nhuận bút, không đặt ra mục đích kinh doanh nên không có cơ chế kế toán, không có động thái giải trình về thu chi hàng năm. Nếu ai muốn tìm hiểu kĩ càng về truyện này xin hỏi ông Giang thì hợp lý hơn.

Hỏi: Ông có bao giờ nghĩ rằng, sự tồn tại của tờ Tổ Quốc là sự tồn tại trái với Hiến pháp và Pháp luật của Việt Nam không?

Trả lời: Tôi không bao giờ nghĩ như thế. Nếu tôi nghĩ như thế tôi đã không tìm đến với tờ báo này. Tôi nghĩ rằng, những người làm báo Tổ Quốc chỉ lúng túng khi Nhà nước yêu cầu xuất trình giấy phép xuất bản. Tờ báo của chúng tôi không thể xin được thứ giấy này. Nhưng thay vì trình giấy phép, chúng tôi sẽ trình ra:

HIẾN PHÁP NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM:

Điều 53: Hiến pháp CHXHCN Việt Nam: Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ VỀ NHÂN QUYỀN (LIÊN HỢP QUỐC):

Điều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bầy tỏ quan điểm, kể cả bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như sự tự do tìm kiếm, thu nhập truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới.

Điều 30: Không cho phép bất cứ một quốc gia nào, nhóm người hay một cá nhân nào được quyền tham gia vào bất cứ hành vi nào nhằm phá hoại bất cứ quyền và tự do nào nêu trong bản tuyên ngôn này.

CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ NHỮNG QUYỀN DÂN SỰ CHÍNH TRỊ (LIÊN HỢP QUỐC BIỂU QUYẾT 1966 VIỆT NAM THAM GIA 1982) XIN TRÍCH LỤC:

Điều 19: Mọi người có quyền giữ vững quan điểm mà không bị ai can thiệp. Mọi người có quyền tự do phát biểu quan điểm. Quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm dưới hình thức nghệ thuật hay mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.

Điều 5: Không một quốc gia nào, một phe nhóm hay một cá nhân nào có quyền tiêu diệt những quyền tự do đã được Công ước thừa nhận hoặc để giới hạn các quyền tự do này.

Xung quanh chuyện này có người đã bắn tin đến tôi rằng: Những điều ông Long nói là đúng thôi, thế với Luật Xuất bản và Luật Báo chí thì những người làm báo Tổ Quốc nghĩ gì? Tôi đã trả lời: Một đất nước thực sự là Pháp quyền - Pháp trị thì luôn luôn coi Hiến pháp là “Luật Mẹ”. Mọi bộ luật, mọi đạo luật chỉ là “Luật Con” và “Luật Con” có nhiệm vụ cụ thể hoá nội dung của “Luật Mẹ” để người dân có điều kiện thụ hưởng những gì mà Hiến Pháp đã quy định. Tôi nghĩ rằng, nhìn nhận sự hiện diện của tờ Tổ Quốc có thể vận dụng cách nói của ông Luật Sư danh tiếng Lê Công Định, người vừa phải thụ án tù 5 năm tù giam: “BNS Tổ Quốc, xét theo hành vi khách quan thì đó là tờ báo không có giấy phép!” có vậy thôi. Nói thật lòng với nhau, xã hội Việt Nam như bà Ngô Bá Thành đã từng thẳng thừng nói giữa Quốc hội rằng: “Việt Nam có cả một rừng luật, nhưng khi thực thi người ta lại chỉ quen dùng luật rừng!”, thì những người làm báo Tổ Quốc khi không có giấy phép nhưng lại rất đúng về Hiến pháp, về Tuyên ngôn Nhân quyền, về Công ước quốc tế về Quyền dân sự chính trị… là điều hoàn toàn có thể lí giải được.

Hỏi: Có dư luậnnhờ có Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang mà thầy giáo Địa Lý Nguyễn Thượng Long mới trở thành nhà tranh đấu cho dân chủÔng nghĩ gì về điều này?

Trả lời: Mặc dù ông Giang là Tiến sĩ Địa Vật Lý (Geophysics), tôi chỉ là một Cử nhân Địa Lý (Geography) bình thường… tôi chưa bao giờ là học trò của ông Giang. Nói tôi đã từng vì ngưỡng mộ ông Giang mà tự tìm đến ông Giang, đã từng viết nhiều bài bênh vực ông Giang thì đúng hơn. Sau sự kiện không biết ông Giang chịu áp lực từ đâu? Có người nói là từ cơ quan an ninh mà ông đùng đùng bắt tôi và cụ Luật Sư Trần Lâm phải tạm đình bản tờ Tổ Quốc mà không hề đưa ra một lý do thuyết phục nào. Tôi thực sự bị sốc, bị bất ngờ vì sự kiện này. Lần đầu tiên tôi được mục kích chân dung đích thực của thần tượng mà tôi đã từng vì kính nể mà hộ giá. Nhân đây tôi cũng chính thức bác bỏ sự kiện một kẻ nào đó đó mạo danh tôi lên diễn đàn hội luận dân chủ cho Việt Nam lớn tiếng kể tội ông Giang. Tôi cũng cười khẩy với bài viết “Nguyễn Thượng Long sau sự cố vấp ngã” của Nickname “longtrung9@gmail.com” viết về tôi. Lại một lần nữa tôi chứng kiến sự thấp kém về trí tuệ của những kẻ lưu manh chính trị trà trộn vào phong trào dân chủ mượn bút để kiếm ăn. Người ta chỉ nói là vấp ngã khi đã làm một việc gì sai trái rồi phải hối hận. Tôi luôn trân trọng và tự hào về chức danh Phó Tổng biên tập BNS Tổ Quốc… thì không thể gọi là vấp ngã, càng không thể có cái gọi là hối hận. Người nào phản bội tờ Tổ Quốc, người đó sẽ phải hối hận. Tôi không phản bội ai hết. Từ chỗ quá ngưỡng mộ con người Nguyễn Thanh Giang cũng như quá yêu qúy tờ Tổ Quốc, đến lúc tôi bỗng tá hỏa khi thấy tờ báo này… ngoài sứ mệnh là diễn đàn của THDCĐN, nó còn là sân chơi của cơ quan an ninh thông qua bàn tay Nguyễn Thanh Giang. Điều này tôi chưa từng nghĩ đến, đã bắt tôi phải chọn trạng thái lãnh cảm trước những gì mà tôi đã chứng kiến. Hãy để các nhân vật của một vở kịch lớn nhiều lớp lang, nhiều tuyến nhân vật diễn hết vai diễn của mình trong một cuộc chơi vô cùng tội lỗi với nhân dân đang vô cùng đau khổ và bế tắc. Xin trả lại Nickname “longtrung9@gmail.com” tất cả những gì mà quý vị đã gán ghép cho tôi như: “Nguyễn Thượng Longnhà Dân chủ, Nhà hoạt động chính trị nổi tiếng nhưng đã vô ơn với người đã giúp đỡ mình” để tôi mãi mãi thanh thản với công việc cầm bút với một khát khao duy nhất là được viết, được nói với đồng bào đau khổ của mình rằng: “Chúng ta đang sống những ngày tháng như thế nào?”. Tất cả chỉ có vậy thôi. Để giữ gìn cái toàn cục, tôi chủ động tạm thời không duy trì mối quan hệ nào với ông Giang nữa, kể cả khi ông Giang tung bài đánh tôi và cụ luật sư lão thành nổi tiếng Trần Lâm lên mạng xã hội, tôi vẫn kiên định chủ trương trước sau là không đối lời. Và tôi vững tin: “BNS Tổ Quốc không thể đình bản vào lúc này”.

Hỏi: Nếu Nhà nước yêu cầu BNS Tổ Quốc phải đình bản! Ông nghĩ gì?

Trả lời: Thưa ông! Tờ Tổ Quốc đứng vững được bấy lâu nay, trước hết là nhờ chất lượng bài vở của những người viết. Khi tờ báo của chúng tôi đã được đông đảo các giới bạn đọc đón nhận bằng thái độ trân trọng thì chúng tôi cũng phải có trách nhiệm với họ. Chúng tôi buông bút một cách quá dễ dãi, người đọc sẽ nghĩ gì về chúng tôi. Mặt khác phần quan trọng sức sống của tờ báo đâu có nằm trong tay Đại tá Phạm Quế Dương với chức danh Chủ nhiệm, trong tay TBT Nguyễn Thanh Giang, Phó TBT Nguyễn Thượng Long cùng toàn bộ Ban Cố vấn… mà là đến từ THDCĐN của Học giả Nguyễn Gia Kiểng ở hải ngoại. Nếu hôm nay Nhà nước yêu cầu bộ phận trong nước của tờ Tổ Quốc phải im tiếng! Xin Nhà nước cũng có một cái gì đó tương tự như Nghị Định 97 mà Nhà nước đã đưa ra để giải quyết vụ IDS và chúng tôi sẽ hội ý nhau để có một giải pháp hợp lý.

Buổi sáng kết thúc bằng một tranh luận cũng rất ôn hòa giữa tôi và cô thư ký. Chẳng hiểu sao tôi không hề một lần nói tới cụm từ “Như thế những người làm báo Tổ Quốc chúng tôi đã vi phạm Hiến pháp và Pháp luật”, vậy mà cụm từ đó lại xuất hiện trong biên bản? Tôi yêu cầu xoá bỏ cụm từ đó. Tôi chỉ công nhận BNS Tổ Quốc là tờ báo không có giấy phép, có vậy thôi.

* * *

Buổi chiều, viên Thượng tá khệ nệ đặt trước mặt tôi ngót 30 tập bài viết đã xuất hiện trên tờ Tổ Quốc và yêu cầu tôi kí xác nhận bút tích của mình. Tôi thực sự bất ngờ về sức viết chỉ tính từ ngày tôi ra khỏi ngành giáo dục. Tôi lúi húi làm theo lời chỉ dẫn của cô thư kí xinh đẹp, kí vào từng trang viết, từng bài viết của mình vừa ngẫm nghĩ: