Những câu hỏi về vụ Hồ Duy Hải và Lê Đình Kình (Bài 12b)

Nghiêm Huấn Từ

Tiếp theo: Bài 1: Nếu lâm nạn, liệu cách ứng phó nào tối ưu? Bài 2: Chống oan sai: Khó như lên Trời! Bài 3: Vì sao Hồ Duy Hải chưa thể bị thi hành án; Bài 4: Sai trái phiên tòa giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải; Bài 5bài 6: Chặng đường gian lao đi đến phiên giám đốc thẩm; Bài 7A: Khúc khuỷu con đường tới phiên tòa tái thẩm; Bài 7B: Đồng chí Nguyễn Hòa Bình và phiên tòa tái thẩm; Bài 8: Hoán đổi vị thế giữa bên “Buộc tội” và “Gỡ tội”; Bài 9: Liệu “kiến nghị” của VKS có cứu được Hải? Bài 10: Phiên tòa tái thẩm: Hy vọng sống của Hồ Duy Hải; Bài 11: Vụ Lê Đình Kình: Xử như một vụ án chính trị; Bài 12a: Vụ Lê Đình Kình: Nạn nhân tiêu biểu của Luật Đất Đai

II- Có sửa được oan sai không?

1- Chỉ sửa được những oan sai cụ thể trong các vụ hình sự cụ thể

– Thời gian chục năm gần đây đã liên tiếp xảy ra nhiều vụ án oan sai, ở mức “suýt tử hình” – nạn nhân cứ như từ cõi chết hiện về… Do vậy, buộc pháp luật của chế độ XHCN phải nhận sai và phải sửa. Hầu hết nạn nhân bị vu tội giết người. Kèm giải oan, họ được xin lỗi, bồi thường vật chất, phục hồi danh dự…

– Nhưng đây chỉ là sửa những oan sai cụ thể nào đó… chớ không phải là sửa lại cách xử án dẫn đến oan sai. Ví dụ, cách xử (không có tranh tụng tới cùng) khiến ông Nguyễn Thanh Chấn bị oan sai năm 2004, nhưng (sau 16 năm) tới phiên giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải, năm 2020 – do đích thân chánh tòa tối cao làm chủ tọa – thì cách xử vẫn thế… Chưa cần xử vụ Lê Đình Kình, nhiều người đã hết trông mong nó được xử theo cách tranh tụng đúng nghĩa. Quả nhiên.

– Như vậy, chuyện giải oan chỉ thực hiện trong những vụ án hình sự đúng nghĩa. Đó là những vụ “không có yếu tố thách thức quyền lực của ĐCS”. Trước quan tòa, người bị oan chỉ khóc lóc kêu oan, cố tỏ ra hối lỗi và thành khẩn, cầu xin sự khoan hồng… mà không dám có bất cứ hành động phản kháng nào.

– Hồ Duy Hải, tuổi U30, lúc đầu tưởng rằng nhận tội 25 lần sẽ được giảm án; nhưng con người non dại này không ngờ điều này lại bị đồng chí Nguyễn Hòa Bình (bí thư TƯ, chánh tòa tối cao, tuổi U60, lõi đời trong sự nghiệp chính trị) đã dùng ngay nó để kết án tử hình lần thứ ba cho anh ta.

– Còn oan sai trong đất đai thì khác. Đầu tiên, nó chưa mang tính hình sự, chỉ có khiếu kiện dai dẳng vì thiệt hại và mất nguồn sống. Nơi có nghĩa vụ giải oan đã không giải quyết vấn đề, mà chỉ nghĩ mưu đối phó rất tắc trách, vô cảm, khiến nạn nhân phẫn nộ… Thế là thành án. Dường như chưa có vụ kiện đất đai nào được đưa ra tòa Hành chính giải quyết. Do vậy, cách sửa trong các vụ liên quan đất đai (gọi là “sửa”) là không trúng, hời hợt, hoặc… không sửa. Thậm chí, không thể sửa, vì sự bất công nằm ngay trong Luật và các văn bản dưới luật. Ví dụ, giá đền bù quá rẻ mạt, mặc dù cơ quan phụ trách đã vận dụng tối đa mọi quy định, nhưng vẫn… chỉ được mức ấy.

2- Không thể sửa, chỉ sửa nửa vời trong oan sai đất đai

Còn những vụ án có sự phản kháng cường quyền – dù chỉ dùng luật, dùng lý lẽ, dù ôn hòa… nhưng sẽ bị xử cách khác. Tức là bị xử như một vụ án chính trị. Đặc điểm rất dễ nhận ra là chúng hạn chế ở mức tối đa số người dự khán, đưa tin, vì cách xử phi lý và phi công lý.

Ở nước ta, các vụ án loại này chủ yếu do tranh chấp đất đai: Một bên là người dân mất đất, bên kia là hai từ vô cảm: “thu hồi” và “cưỡng chế” đã được luật hóa. Quan tòa là đại diện bằng xương thịt của hai từ này. Nói khác, oan sai, bất công đã nằm ngay trong luật. Làm sao có thể sửa thật sự?

Thế nào là giáo dục chất lượng cao?

Chu Mộng Long

Những ngày đầu ngồi ghế Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, ông Phùng Xuân Nhạ tuyên bố: "Học phí thấp thì khó đòi hỏi giáo dục chất lượng cao!"(?)

Mô hình kỹ năng Thế kỷ 21 do Tổ chức Đối tác Giáo dục Thế kỷ 21 và Bộ Giáo dục Hoa Kỳ công bố

Lý thuyết này đúng tinh thần kinh tế thị trường, dù là thị trường giáo dục, tôi không cãi. Tôi chỉ hỏi ngược, rằng lâu nay chất lượng giáo dục thấp là do học phí thấp? Và thời tôi đi học cũng như các ông đi học, dân không đóng học phí thì chất lượng bằng không? Chưa kể nhiều quốc gia văn minh như Đức và Bắc Âu, người dân của họ được miễn học phí hoàn toàn, chất lượng bằng không ư?

Nay các trường thi nhau tăng học phí, tăng thu đủ các loại, kể cả tăng giá sách giáo khoa, dù đã vay nợ cho dân trả 34 ngàn tỷ đồng, ắt đã có một nền giáo dục chất lượng cao? Nhiều giáo sư tiến sĩ ăn theo nói leo Bộ trưởng để biện hộ rằng, dân phải có trách nhiệm đóng nhiều tiền, trong đó có sách giáo khoa vì các ông đã xây dựng được một nền giáo dục, cụ thể là sách giáo khoa chất lượng cao thật sự!

Bây giờ thì tôi phải hỏi thế nào là "giáo dục chất lượng cao"? Ông Nguyễn Minh Thuyết đã khoe chương trình tổng thể của ông ấy đảm bảo dạy học phát triển năng lực, sách giáo khoa do ông ấy làm tổng chủ biên in đẹp, chất lượng hơn các sách trước đây (cũng do bàn tay ông ấy làm ra!).

Cứ cho ông Thuyết nói đúng đi thì việc tiêu ngân sách 34 ngàn tỷ và thu giá sách gấp bốn lần trước đây thì phải trả lời nghiêm túc rằng chất lượng đã tương đương với giá cả chưa?

Riêng cá nhân tôi, bằng sự miệt mài tìm hiểu giáo dục thế giới nhiều năm, tôi hiểu giáo dục chất lượng cao không phải như các ông đã hiểu và làm. "Cao" mà nói đại khái như các ông thì không định lượng được, không chừng giáo dục kinh viện ngày xưa cũng tự hào là chất lượng rất cao.

Theo tổ chức Đối tác giáo dục thế kỷ 21 (Partnership for 21st century learning, với các thành viên sáng lập gồm các tập đoàn hàng đầu như Apple Computer, Cisco System, Microsoft, AOL Time Warner… và là đối tác của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ), một nền giáo dục hiện đại (không dùng khái niệm cao - high) là đảm bảo những kỹ năng cần thiết trong thế kỷ 21 để tạo ra công dân thế kỷ 21.

Ngoại trưởng Mỹ hoan nghênh Anh, Pháp, Đức phản đối yêu sách của TQ ở Biển Đông

VOA tiếng Việt

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo vào chiều thứ Hai 21/9/2020 bày tỏ rằng ông hoan nghênh việc ba cường quốc chủ chốt ở châu Âu bác bỏ các tuyên bố chủ quyền hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông.

Trên một tài khoản Twitter của chính phủ Mỹ và mang tên ông, Ngoại trưởng Pompeo viết: “Chúng tôi hoan nghênh việc Anh, Đức và Pháp bác bỏ tại Liên Hiệp Quốc các yêu sách hàng hải trái pháp luật của Trung Quốc ở Biển Đông. Trung Quốc phải tuân thủ các quy tắc quốc tế. Chúng tôi đứng cùng với các đồng minh trong việc bác bỏ lối suy nghĩ cho rằng ‘có sức mạnh thì có lẽ phải’".

Bài đăng trên Twitter hôm 21/9 của Ngoại trưởng Mỹ Pompeo về Biển Đông

Tuyên bố của ngoại trưởng Mỹ được đưa ra sau khi 3 cường quốc châu Âu gửi một công hàm chung tới Liên Hiệp Quốc hôm 16/9, trong đó nói rằng các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông không tuân thủ luật pháp quốc tế và các quy định của Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS).

Công hàm chung của Anh, Đức và Pháp nhấn mạnh rằng quan điểm của họ cũng đã được khẳng định trong phán quyết hồi năm 2016 của Tòa Trọng tài Quốc tế ở La Haye, trong đó tuyên rằng Philippines thắng kiện và bác bỏ yêu sách đường 9 đoạn phi lý của Trung Quốc.

Ba nước châu Âu lưu ý đến tầm quan trọng của các quyền tự do không bị cản trở trên biển khơi, nhất là tự do hàng hải và tự do bay bên trên vùng biển, cũng như quyền được qua lại vô hại, được quy định trong UNCLOS, bao hàm cả Biển Đông.

Nhà lập pháp Hoa Kỳ giới thiệu Dự luật hủy bỏ 'Chính sách một Trung Quốc' của Hoa Kỳ

Frank Fang

Anh Khoa dịch

Hạ nghị sĩ Tom Tiffany (R-Wis.) đã đề cử một dự luật kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ nối lại quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, đồng thời hủy bỏ “chính sách một Trung Quốc”.

"Trong hơn 40 năm qua, các tổng thống Mỹ của cả hai đảng chính trị đã lặp lại lời nói dối trắng trợn của Bắc Kinh rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc Cộng sản - mặc dù thực tế khách quan là không phải như vậy", ông Tiffany nói, theo thông cáo báo chí ngày 17 tháng 9 từ văn phòng của ông.

Nghị sĩ này nói thêm: "Mỹ nên đưa 'Chính sách một Trung Quốc' vào thùng rác lịch sử."

Hoa Kỳ hiện không có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, kể từ khi Washington thay đổi chính sách ngoại giao theo hướng có lợi cho Bắc Kinh vào tháng 1 năm 1979.

Hoa Kỳ từ lâu đã giữ "chính sách một Trung Quốc", khẳng định rằng chỉ có một quốc gia có chủ quyền với tên gọi "Trung Quốc", nhưng nó khác với "nguyên tắc một Trung Quốc" mà theo đó chế độ Trung Quốc khẳng định chủ quyền đối với Đài Loan. Chính phủ Đài Loan cũng đã bác bỏ “nguyên tắc một Trung Quốc” của Trung Quốc.

Hoa Kỳ đã duy trì mối quan hệ phi ngoại giao với Đài Bắc dựa trên Đạo luật Quan hệ Đài Loan (TRA), được cựu Tổng thống Jimmy Carter ký thành luật vào tháng 4 năm 1979.

Đạo luật TRA cho phép Hoa Kỳ tiếp tục “quan hệ thương mại, văn hóa và các mối quan hệ khác” với Đài Loan, cũng như cung cấp cho hòn đảo này các thiết bị quân sự để tự vệ. Ngoài ra, TRA kêu gọi thành lập một công ty phi lợi nhuận có tên là Viện Hoa Kỳ tại Đài Loan, hiện là đại sứ quán Hoa Kỳ trên thực tế trên đảo này.

Trong khi đó, Trung Quốc coi Đài Loan là một tỉnh nổi loạn, mặc dù trên thực tế hòn đảo này là một quốc gia độc lập trên thực tế với hiến pháp, các quan chức được bầu cử dân chủ, quân đội và tiền tệ. Bắc Kinh chưa bao giờ từ bỏ mong muốn sử dụng vũ lực quân sự để đưa hòn đảo về dưới quyền kiểm soát của mình.

Dự luật (H.Con.Res.117) đề xuất nối lại quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan và chấm dứt việc Hoa Kỳ thông qua “Chính sách một Trung Quốc”, ngoài việc yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ hỗ trợ Đài Loan trở thành thành viên trong các tổ chức quốc tế và bắt đầu các cuộc đàm phán với Đài Loan về một hiệp định thương mại tự do song phương.

Bộ tứ mới sau đại hội XIII

Bùi Quang Vơm

Xin gửi đến bạn đọc bài viết của học giả Bùi Quang Vơm dự đoán về những khả năng dẫn đến danh sách “bộ tứ” sau Đại hội XIII của ĐCSVN. Tất nhiên, mọi dự đoán dầu có viễn kiến cỡ nào trước sau cũng chỉ là … dự đoán, bởi tình thế đặc biệt khiến cho nhiều ẩn số trở thành nổi cộm trong kỳ đại hội này.  Bên cạnh nguyên nhân “gà mắc tóc” của một thứ đường lối đến nay đã quá già cỗi do ông Tổng bí thứ đương chức khư khư chủ trương như tác giả nói, đã không làm cho người có chút tỉnh táo trong hàng ngũ kế cận dễ dàng nhắm mắt tin theo: “Đó là tham vọng cố chấp của một bộ não ngoan cố, bảo thủ. Nhưng ông Trọng không biết rằng, cho dù cố gắng mức nào, thủ đoạn cỡ nào thì thực chất ông đã là một quá khứ, một thứ ngoáo ộp, một hoàng đế không còn tại vị. Tất cả đều đã thấy rõ điều đó, thậm chí, chỉ sau khi ông «đứng trên vỉa hè» của chính trường, người ta sẽ nhắc tới ông như một cơn «giãy dụa» cuối cùng”, thì theo chúng tôi, còn có những sự cố kinh hoàng xảy ra ngay trước thời điểm đại hội chỉ một năm, đó là “sự kiện Đồng Tâm” làm mất niềm tin nghiêm trọng không phải chỉ trong lòng dân mà ngay cả trong hàng ngũ chóp bu của Đảng. Tìm được một “bộ tứ” nào để có thể dựng lên một thể chế sớm đưa xã hội thoát khỏi nỗi ám ảnh rùng rợn về một tổ chức giữ nguyên đường lối khủng bố dân bằng bạo lực, giết người không ghê tay kể từ 1930 đến nay, nhằm làm cho người dân tin rằng với “bộ tứ” kỳ này mình sẽ được sống trong an bình thật sự, được đem sức mình ra làm lụng cho xã hội mà không còn sợ những đám đông  một tay cầm cờ đỏ một tay cầm vũ khí, đang đêm thình lình kéo đến tận ngôi làng ngàn đời cha ông để lại để nhân danh lý tưởng này nọ - như kiểu “sở hữu toàn dân” mà thực chất là “cướp nay có đảng có đoàn” - nổ súng triệt hạ mình. Đó mới là điều vô cùng khó, có thể nói là thiên nan vạn nan trong tâm lý. Góp thêm một lý do vào những lý do gây khó khăn cho việc sắp xếp nhân sự Đại hội kỳ này chúng tôi cũng không dám chắc  mình đúng mà chỉ là thêm vào một nguyên nhân để chúng ta cùng xét đoán, luận bàn, thưa học giả  Bùi quang Vơm cùng toàn thể bạn đọc xa gần.

Bauxite Việt Nam

Đại hội XIII đảng CSVN dự kiến được tổ chức vào tháng 1/2021, nghĩa là chỉ còn không đến 5 tháng nữa, nhưng diện mạo nhân sự chủ chốt, số lượng ủy viên bộ chính trị sẽ được bổ sung, bộ tứ mới, Thủ tướng chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước và đặc biệt là vị trí Tổng bí thư, vẫn chưa có một tín hiệu được phỏng đoán nào. Hiện tượng chưa từng có.

Ở các kỳ Đại hội khác, dù nhân sự luôn là tuyệt mật, cơ cấu Bộ chính trị, các vị trí chủ chốt, như bộ tứ, đặc biêt là hại vị trí Tổng bí thư và Thủ tướng, dư luận bao giờ cũng phỏng đoán được với độ chính xác ít nhất cũng khoàng 60-70%. Lần này thì không. phản ánh khủng hoảng trong nhân sự đảng, khoảng trống trong nhân sự kế tiếp.

Nhìn vào hàng ngũ cán bộ chủ chốt hiện nay, người ta không khó nhận thấy khoảng cách quá xa giữa những người tại vị và lực lượng của đội ngũ kế cận bổ sung. Cả về trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị, đặc biệt là lập trường tư tưởng, quá trình thử thách, đều không đủ độ tin cậy đối chiêu với quan điểm nền tảng chính thống.

Đảng đã không làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ? hay những nhân tố đủ tiêu chuẩn để lọt qua lưới lọc cổ điển đã trở nên khan hiếm? Điều mà người ta thấy rõ ràng là việc lấp đầy chỗ trống của cơ cấu 19 ủy viên Bộ chính trị và 200 ủy viên Trung ương vào thời điểm hiện tại là một thứ nhiệm vụ «bất khả thi». Gần 5 triệu đảng viên, không còn ai vừa tin vào chủ nghĩa Mác vừa leo lên tới cấp trung ương mà lại «nghèo và trong sạch».

Những ai sẽ vào Bộ chính trị?

Bộ chính trị sau đại hội XII gồm 19 người là một sản phẩm chịu áp lực của Nguyễn Tấn Dũng. Để Nguyễn Tấn Dũng chịu rút khỏi Bộ chính trị, Đại hội XII buộc phải chấp nhận bổ sung 3 nhân vật do Dũng đề nghị là Nguyễn Văn Bình, Hoàng Trung Hải và Đinh La Thăng, bỏ qua con số 15 đã thành luật không lời. Để tạo thành con số lẻ 19, Nguyễn Phú Trọng đưa Trương Hòa Bình vào làm đặc vụ chìm bên cạnh Thủ tướng, kiềm chế Chính phủ.

Sau bốn năm, Đinh La Thăng đi tù, Hoàng Trung Hải bị cảnh cáo, còn lại Nguyễn Văn Bình không quyền lực, không có dấu hiệu ra tòa, nhưng không rõ thuộc quy hoạch cho vị trí nào.

Đinh Thế Huynh mất ghế ủy viên, dù cho đến nay vẫn không được chính thức công bố miễn nhiệm, cộng với cái chết bất ngờ và bí ẩn của Trần Đại Quang, số ủy viên bộ chính trị về lại con số 15.

Nếu không có cơ chế đặc biệt, (tái cử hay tái ứng cử quá 65 tuổi), con số tái ứng viên bộ chính trị của Đại Hội XIII sẽ chỉ còn 7 người, gồm:

1- Phạm Bình Minh (1959)

2- Nguyễn Văn Bình (1961)

3- Vương Đình Huệ (1957)

4- Võ Văn Thưởng (1970)

5-Trương Thị Mai (1958)

6- Phạm Minh Chính (1958)

7- Tô Lâm (1957)

Do khan hiếm lực lượng kế cận, phương án quay về con số 15 ủy viên, thậm chí rút xuống 13 có lẽ được lựa chọn. Như vậy, có thể thấy các ủy viên bổ sung sẽ có thể là:

1- Lương Cường sẽ là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

2- Phan Đình Trạc, Trưởng ban Nội chính

3- Trần Cẩm Tú Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương

4- Vũ Đức Đam, sẽ là Phó thủ tướng thường trực.

5- Nguyễn Thành Phong, Bí thư Th.ủy HCM

6- Bùi Thanh Sơn Bộ Ngoại giao hay Nguyễn Xuân Thắng Hội đồng lý luận Trung ương.

Việc lựa chọn giữa Bùi Thanh Sơn hay Nguyễn Xuân Thắng thể hiện tranh chấp giữa cấp tiến và bảo thủ. Nếu ảnh hưởng của Nguyễn Phú Trọng còn mạnh, Nguyễn Xuân Thắng sẽ trúng cử.

Phó Đức Phương – Người nhạc sĩ nặng lòng với đất nước (*)

Lưu Trọng Văn

Nhạc sĩ Phó Đức Phương, người nhạc sĩ tài danh của những ca khúc bất hủ như Trên đỉnh Phù Vân, Chảy đi Sông ơi …luôn khiến người nghe cảm thấy yêu đất nước Việt đến cháy lòng. Chỉ có nặng tình lắm với đất nước, con người mới có thể làm được như vậy.

Ngày ông rời cõi tạm, qua lời thương nhớ của Nhà thơ Lưu Trọng Văn, ta còn biết nhiều hơn về tình yêu của ông với Đất nước.

BVN

Ông từ Trường Sa về, đau đáu chuyện Biển Đông và chuyện cộng sản Tàu từng giây từng phút chống phá đất nước mình.

Đêm ngồi bên cây đàn piano chỉ muốn dập ào ạt bão tố. Phó Đức Phương dòng dõi Phó Đức Chính anh hùng cùng Nguyễn Thái Học là vậy đó.

Cũng đêm, ông gọi cho gã: “Tớ gửi cậu Bản Kiến nghị đến lãnh đạo Đất nước, ngăn ngay không cho bọn Tàu Cộng làm đường cao tốc Bắc Nam. Phải chặn bàn tay lũ quỷ ấy lại. Ra Trường Sa về, đêm không ngủ được, tức ói máu”.

Gã điều chỉnh thêm lời mạnh mẽ chống bọn Tàu Cộng rồi hỏi Phó Đức Phương, bác có thấy ngại không? Phó Đức Phương cười:“Sợ đếch gì? Cậu tập hợp các trí thức văn nghệ sĩ Sài Gòn ký nhá. Đám Hà Nội tớ lo”.

Nói là làm, cấp tập. Cứ vài ba tiếng, từ Hà Nội ông lại điện thoại khoe ai đã ký tươi, ai đã nhận ký. Rồi ông báo đã bỏ tiền túi mua vé máy bay đem Bản Kiến nghị vào Sài Gòn yêu cầu gã tụ họp văn nghệ sĩ, trí thức tên tuổi cùng ký. Nhiều văn nghệ sĩ con cưng của đảng xưa nay an phận, cứ nghe ký kiến nghị là lỉnh. Phó Đức Phương đến từng nhà, vận động, Trà Giang, Thế Anh, Phạm Tuyên... ký hết.

Hơn 118 trí thức văn nghệ sĩ nổi tiếng Việt Nam đã ký Bản Kiến nghị yêu cầu không cho bọn đang cướp Hoàng Sa, Trường Sa được đầu tư, thi công đường cao tốc Bắc Nam- việc mà lãnh đạo nhiều bộ ngành liên quan đã dọn bãi rước chúng.

Trong danh sách ký có một số văn nghệ sĩ bị an ninh cho là chống đảng. Gã bảo Phó Đức Phương Bản Kiến nghị này có thể sẽ bị ông an ninh nào đó quy kết do bọn thù địch giật dây để bênh vực cho kế hoạch dọn bãi bọn Tàu Cộng tham gia dự án.

Phó Đức Phương ngồi lặng một lúc, châm thuốc hút, rồi uống cạn ly rượu. Đột nhiên gõ ngón tay lên cạnh bàn, ngoác mồm hát:

Bài học từ COVID-19: Hiểm hoạ của công nghệ chỉnh sửa gen

Vivek Wadhwa
Nguyễn Thanh Hải dịch

Trận đại dịch tiếp theo có thể được tạo ra trong ga-ra để xe của một ai đó, chỉ cần sử dụng những kỹ thuật di truyền giá thành thấp và phổ biến.

Là người thường đưa ra những thuyết âm mưu, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho rằng virus gây ra COVID-19 do con người cố tình tạo ra hoặc do một tai nạn trong phòng thí nghiệm tại Viện Virus học Vũ Hán, Trung Quốc. Việc virus bị phát tán không loại trừ khả năng là do một tai nạn nhưng trong trường hợp này, tác nhân gây bệnh không phải là một tổ hợp các loại virus đã biết như thường thấy đối với những thứ được tạo ra trong phòng thí nghiệm. Một bài báo của tạp chí Nature Medicine từng kết luận: “Nếu ai đó đang tìm cách tạo ra một chủng coronavirus mới như một mầm bệnh thì họ sẽ tạo ra nó trên cơ sở của một loại virus gây bệnh đã được biết đến.”

Kỹ thuật di truyền tuy có thể không đứng sau đại dịch lần này, nhưng rất có thể sẽ là nhân tố gây ra đại dịch tiếp theo. Nhìn thấy sức tàn phá khủng khiếp của COVID-19 đối với nền kinh tế các nước phương Tây, các chế độ độc tài trên thế giới giờ đây nhận ra rằng việc gieo rắc mầm bệnh có sức hủy diệt không kém gì so với vũ khí hạt nhân. Điều đáng lo ngại hơn nữa là việc tạo ra virus giờ đây không phải chỉ các phòng thí nghiệm quy mô lớn của chính phủ mới làm được. Nhờ cuộc cách mạng công nghệ trong kỹ thuật di truyền, tất cả các công cụ cần thiết để tạo ra một chủng virus mới đang ngày càng trở nên rẻ tiền, đơn giản và sẵn có đến mức những nhà khoa học không có đạo đức hoặc những “hacker sinh học” độ tuổi thiếu niên cũng có thể dễ dàng tiếp cận, khiến cho mối nguy ngày càng lớn hơn. Những thí nghiệm mà trước đây chỉ có thể thực hiện được bên trong những bức tường bảo vệ của các phòng thí nghiệm thuộc về chính phủ và những công ty lớn giờ đây có thể được tiến hành ngay trong căn bếp với những thiết bị có trên Amazon. Kỹ thuật di truyền cùng với những tiềm năng tốt và xấu của nó ngày càng trở nên “đại chúng hóa”.

Để tạo ra chủng virus mới, bước đầu tiên của nhà nghiên cứu sinh học là thu thập thông tin di truyền của một mầm bệnh hiện có, chẳng hạn như chủng coronavirus gây ra cảm lạnh thông thường, sau đó cải biến nó để tạo ra thứ còn nguy hiểm hơn. Vào những năm 1970, việc giải trình tự gen đầu tiên của một thể thực khuẩn (chỉ các loài virus chuyên kí sinh vi khuẩn) có chi phí hàng triệu đô-la Mỹ và phải nỗ lực làm việc trong nhiều tuần, kết quả cũng chỉ xác định được 5.386 nucleotide là các đơn vị cấu tạo nên gen. Ngày nay, việc giải trình tự của 3.000.000.000 cặp bazơ (1 cặp gồm 2 nucleotide) tạo nên bộ gen người, là thứ quy định cấu trúc và duy trì hoạt động của cơ thể, có thể được thực hiện chỉ trong vài giờ với chi phí khoảng 1.000 đô-la ở Hoa Kỳ. Xun Xu, Giám đốc điều hành của công ty nghiên cứu gen BGI Group (Trung Quốc), nói với tôi qua email rằng ông dự kiến sẽ cung cấp dịch vụ giải trình tự đầy đủ bộ gen người trong các siêu thị và qua hình thức trực tuyến với chi phí khoảng 290 đô-la vào cuối năm nay.

Bước tiếp theo trong kỹ thuật di truyền là sửa đổi bộ gen của mầm bệnh hiện có để thay đổi tác động của nó. Một công nghệ đặc biệt giúp cho việc thiết kế các thực thể sống trở nên dễ dàng như chỉnh sửa tài liệu trên Microsoft Word là kỹ thuật chỉnh sửa gen CRISPR, được phát triển chỉ vài năm trước, kỹ thuật này mô phỏng lại cách vi khuẩn sử dụng trong tự nhiên để cắt những phần thông tin di truyền từ bộ gen này và chèn nó vào bộ gen khác. Cơ chế mà vi khuẩn đã phát triển qua hàng thiên niên kỷ để tự vệ trước virus đã được con người biến thành một cách thức đơn giản, nhanh chóng và rẻ tiền để chỉnh sửa DNA của bất kỳ sinh vật nào trong phòng thí nghiệm.

“Phản động” rốt cuộc là gì?

Lóm

Chuyện kỳ lạ ở Việt Nam, là những người thích giữ nguyên hiện trạng lại gọi những người đòi hỏi thay đổi là “phản động”.


Minh hoạ: Lóm

Cứ sau mỗi một sự kiện chính trị xáo động nào đó, chúng ta lại thấy những quả bom gắn nhãn “phản động” được ném dày đặc về phía một số người.

Vụ án Đồng Tâm là một điển hình như vậy. Những ai lên tiếng về sự kiện này, cho dù là yêu cầu một phiên tòa minh bạch công bằng, hoặc muốn kiểm chứng tính chân thật các cáo buộc, hay chỉ đơn giản là muốn mọi sự thật về vụ án được công khai minh bạch, đều dễ dàng được ăn quả bom thối “phản động”.

Rốt cuộc thì “phản động” là gì mà có sức công phá lớn vậy?

“Phản động” là một từ Hán - Việt, được dịch từ chữ tiếng Anh “reactionary”. Chữ này lại có gốc tiếng Pháp “réactionnaire”, là một thuật ngữ được tạo ra vào thời Cách mạng Pháp năm 1789.

“Réactionnaire” có gốc từ “reaction”, danh từ của “react”, được sinh ra từ chữ Latin “reagere” với “re” là quay lại còn “agere” là hành động.

Nghĩa đen của các từ này đều là “làm ngược lại”.

Lưu ý là “react/reaction” khi được dịch sang tiếng Việt chỉ có nghĩa hiền lành là “phản ứng”. Trong khi đó “reactionary” lại mang nghĩa ghê gớm hơn: “phản động”.

Nhìn vào nguồn gốc của nó, có thể thấy các từ phản ứng hay phản động thực chất đều là một. Nhưng nhờ gia cảnh khác nhau nên số phận hai từ này cũng một trời một vực: phản ứng càng tốt thì càng được khen, phản động càng giỏi lại càng dễ bị ăn đòn.

Dự ngôn hơn 20 năm trước về Mỹ – Trung

Hồng Bác Học

Vào thời điểm bàn giao chủ quyền Hồng Kông năm 1997, có hai vị phóng viên của Tạp chí Time trú tại Bắc Kinh là Ross H.Munro và Richard Bernstein đã cùng hợp tác viết một cuốn sách mà sau này có thể được coi là dự ngôn, có tên “Cuộc xung đột sắp xảy ra với Trung Quốc” (The coming conflict with China). Vào thời điểm đó, cuốn sách này được coi là tràn đầy học thuyết xằng bậy về “mối đe dọa từ Trung Quốc”. Năm đó, bình luận của Tân Hoa Xã về cuốn sách này là “luận điểm cố ý yêu ma hóa Trung Quốc”. Hiện nay, đọc lại cuốn sách này, chúng ta có thể nói, hai vị tác giả đúng là tiên tri, họ đã nhìn thấy “yêu ma” sớm hơn bất cứ người nào.

Đảng Cộng sản Trung Quốc một tay cầm đao một tay rải tiền

(Ảnh minh họa: ghép tổng hợp)

Một tay cầm dao một tay rải tiền

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) là ác ma một tay cầm đao một tay rải tiền. Cách đây vài ngày, Bộ trưởng Ngoại giao ĐCSTQ Vương Nghị đến thăm nước Mông Cổ, đem theo món quà trị giá 700 triệu USD với ý đồ thuyết phục Mông Cổ không nên can dự vào kế hoạch diệt chủng văn hóa của ĐCSTQ tại Nội Mông Cổ. Vừa hạ cánh máy bay, liền bắt gặp biểu ngữ kháng nghị “cút về” do người Mông Cổ viết bằng chữ Mông Cổ. Phương pháp mua chuộc thế giới bằng cách một tay cầm dao một tay rải tiền của ĐCSTQ lần này đã gặp khó.

Tôi từng nói, đất Nội Mông Cổ từng bị dân tộc Hán chiếm hết và chiếm xong, người Mông Cổ hiện tại biến thành dân tộc thiểu số. Nội Mông Cổ bị Hán hóa toàn diện là xu thế tất nhiên. Nếu người Mông Cổ có cốt khí, chỉ có một con đường đào thoát vào Ngoại Mông Cổ, nếu không sẽ giống như người Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, bị cưỡng chế nhốt vào vào trại tập trung, bị buộc phải từ bỏ văn hóa của dân tộc mình.

Đồng Tâm: vở bi hài kịch vụng về

Lê Quốc Trinh, Canada
Kỹ sư cơ khí về hưu

Trước hết tôi xin có lời cám ơn BVN đã cho đăng vài dòng nhận xét về cảnh thiêu sống công an (CA) trong hố kỹ thuật để ủng hộ ý kiến “thực nghiệm hiện trường để tìm ra sự thật”.

Sau đây xin giải thích rõ ràng thêm về hiện tượng cháy:

1) Điều kiện vật lý để hoàn tất sự cháy trong không gian hạn hẹp là cung cấp dưỡng khí đầy đặn và liên tục vào vật thể, tạo thành một luồng khí lưu động từ dưới lên cao, bao trùm vật thể đang cháy. Hãy quan sát những bếp than bằng đất nung ngày xưa trước khi bếp ga xuất hiện. Bao giờ cũng phải có một tấm vỉ đục lỗ nằm ở lưng chừng bếp. Than hay củi được xếp ở bên trên vỉ rồi nhúm lửa đốt. Phần dưới để trống có một cửa lò, để không khí bên ngoài bay vào rồi bốc lên nhằm cung cấp dưỡng khí (oxygene) cho ngọn lửa. Cầm quạt phất lia lịa vào cửa lò chính là thúc đẩy cung cấp không khí thêm cho ngọn lửa dễ cháy khi bắt đầu nhúm lò. Bịt kín cửa lò thì ngọn lửa yếu dần và khói đen tỏa ra vì chứa nhiều CO (Monoxide Carbone).

Đó là lý do tại sao tôi nghi ngờ chi tiết ba anh CA bị ngã xuống hố và bị tưới xăng đốt. Với kích thước hạn hẹp của cái hố, tôi e rằng không đủ chỗ để ba anh đứng dưới hố. Không khí không thể nào từ trên tràn xuống một cách tự nhiên, ngoại trừ có người cầm quạt máy bên trên thổi mạnh vào;

Đoản văn

Lê Hữu Khóa

THẢM NHÂN

Thảm bại của ĐCVN đã làm nên thảm họa của Việt tộc là:

Áp đặt bằng bạo quyền lên một Việt tộc đã cúi đầu.

Đè nén bằng bạo lực lên một Việt tộc đã khom lưng.

Còng xiết bằng bạo hành lên một Việt tộc đã khoanh tay.

Truy hãm bằng bạo động lên một Việt tộc đã quỳ gối.

Việt tộc hãy nhận lại nhân cách:

Đứng thẳng lên... duỗi mạnh tay... gồng cứng lưng... ngẩng cao đầu... mà đi về hướng nhân phẩm!

CẤM TIẾNG VIỆT

Bạo quyền độc đảng toàn trị cấm tôi đọc tiếng Việt, vì chúng giành độc quyền để điếm nhục hóa tiếng Việt.

Tà quyền độc đảng hoạn trị cấm tôi viết tiếng Việt, vì chúng muốn độc tài để trần truồng hóa tiếng Việt.

Ma quyền độc đảng cuồng trị cấm tôi hiểu tiếng Việt, vì chúng giành độc tôn để ghẻ lạnh hóa tiếng Việt.

Nhưng tôi vẫn lẳng lặng viết di chúc ngày đêm bằng tiếng Việt vì tổ tiên Việt của tôi.

ÁNH NHÌN CỦA TÔI KHÔNG CỦA AI

Ánh nhìn của tôi không của ai!

Tôi nhìn tham quyền tôi thấy chất lạm quyền của nó.

Ánh nhìn của tôi không của ai!

Tôi nhìn bạo quyền tôi thấy lõi tà quyền của nó.

Ánh nhìn của tôi không của ai!

Tôi nhìn ma quyền tôi thấy cốt quỷ quyền của nó.

Ánh nhìn của tôi không của ai!

Tôi nhìn cực quyền tôi thấy rễ cuồng quyền của nó.

Ánh nhìn của tôi không của ai!

Không ai cướp được ánh nhìn của tôi!

Viết trong những ngày đại dịch tháng 9/2020

Phan Thành Đạt

Thế giới đang trải qua những ngày gian khó: Đại dịch Covid-19 đã khiến gần một triệu người chết. Con số này khiến tôi nhớ đến câu nói nổi tiếng của nhà độc tài Joseph Staline: “Cái chết của một người là một bi kịch, cái chết của triệu người là một bản thống kê”.

Khi những người đầu tiên chết về coronavirus, người ta nhắc đến họ trên các mặt báo, sau này quá nhiều người chết, báo chí không còn nhắc đến nữa và chỉ đưa ra con số thống kê mỗi ngày. Danh sách cứ dài thêm và cuộc sống của con người ngày càng mỏi mệt vì đại dịch này.

Tôi thử đi tìm những nguyên nhân gây ra thảm cảnh này cho con người. Thế giới sẽ rút ra được bài học gì sau thảm họa này hay mọi chuyện sẽ vẫn như cũ. Môi trường sẽ tiếp tục bị tàn phá, chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật sẽ tiếp diễn, cuộc sống của con người tiếp tục bị hủy hoại.

I. Con người hủy diệt thiên nhiên

Trong suy nghĩ sai lầm của con người, thiên nhiên luôn là một kho báu vô tận được tạo hoá ban tặng. Con người coi đó là tài sản của mình. Họ khai thác, tàn phá, làm cho thiên nhiên kiệt quệ và không thể tái tạo lại được. Ở đâu có bàn tay của con người chạm đến, ở đó thiên nhiên bị hủy diệt.

Khi những người châu Âu đầu tiên đến châu Mỹ, sau khi Christophe Colomb tìm ra châu lục này năm 1492, họ nhìn thấy phong cảnh kỳ vĩ của tự nhiên mà hôm nay con người không thấy được: Những cánh đồng hoa tuyệt đẹp trải dài hàng trăm km, phong cảnh thật kỳ diệu và hùng vĩ khi hoàng hôn xuống, cảnh đàn bò rừng hàng chục ngàn con đang gặm cỏ trên cánh đồng mênh mông, những cánh rừng với cây cao khổng lồ che khuất mặt trời…

Trước khi Christophe Colomb tìm ra châu Mỹ, khoảng một trăm triệu thổ dân da đỏ sống rải rác ở đây. Chỉ sau mấy thập niên, thổ dân da đỏ chỉ còn lại vài triệu người vì họ không có sức đề kháng với những dịch bệnh lạ đến từ châu Âu như sốt vàng da, kiết lị, lao… hậu quả là có những bộ tộc không còn ai sống sót.

Sau này, nước Mỹ thực hiện chính sách dồn người da đỏ vào các khu quy hoạch để chiếm những vùng đất của họ. Nhiều bộ tộc chống lại chính sách này. Geronimo của bộ tộc Apache trở thành người anh hùng trong cuộc chiến giữ đất. Để hủy diệt cuộc sống của người da đỏ, người Mỹ tìm cách triệt tiêu nguồn sống của họ bằng cách tiêu diệt bò rừng, vì đây là nguồn thức ăn chính của các bộ tộc da đỏ.

Từ năm 1870 đến 1875, theo thống kê, đã có khoảng 12,5 triệu còn bò rừng bị giết, hệ sinh thái ở nhiều vùng bị đảo lộn, môi trường ô nhiễm. Những người da đỏ buộc phải rời đến ở tại các khu vực mà chính quyền dành riêng cho mình do thiếu thức ăn và bị dồn ép đến đường cùng. Geronimo đã nhận xét: “Khi cái cây cuối cùng bị chặt, dòng sông cuối cùng bị nhiễm độc, con cá cuối cùng bị đánh bắt, khi ấy người ta sẽ hiểu rằng, tiền không ăn được”. Nhận xét này càng đúng với hoàn cảnh hôm nay.

An ninh kinh tế: Mục tiêu chính của Việt Nam

Khánh An biên dịch

Khi đại dịch COVID-19 qua đi, Việt Nam cần có những hành động phối hợp để củng cố nền tảng của nền kinh tế.

Dù đã tương đối thành công trong việc ứng phó với đại dịch virus corona, nền kinh tế Việt Nam vẫn không chắc sẽ hồi sinh nhanh chóng. Phương Pham(*) nhận định rằng Việt Nam cần phải tập trung phát huy các yếu tố then chốt của nền kinh tế nhằm phục hồi nhanh chóng nền kinh tế vốn đang bị ảnh hưởng nặng nề do dịch Covid-19.

Đến cuối quý 3, Việt Nam cuối cùng cũng bắt đầu cảm nhận được những hậu quả kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được ở mức thấp nhất trong 35 năm qua dù là một trong số ít các quốc gia vẫn giữ được ở mức tăng trưởng dương. Hậu quả đó cũng đã có tác động lên người dân khi có đến 30,8 triệu người bị ảnh hưởng do đại dịch vì mất việc, hoặc giảm lương.

Trong khi chờ phát triển có vắc-xin, rủi ro kinh tế của COVID-19 vẫn còn đó và nền kinh tế Việt Nam còn rất lâu mới trở lại “như bình thường”.

Theo tác giả trong bối cảnh trong nước hiện nay, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất đối với Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) cầm quyền sẽ là đảm bảo sự thịnh vượng kinh tế lâu dài của đất nước.

Vào tháng 1 năm 2021, ĐCSVN sẽ tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13 và theo đó sẽ là ​​việc công bố các chiến lược kinh tế mới cho Việt Nam. Theo Bộ Công an, an ninh kinh tế là một bộ phận không thể thiếu của an ninh quốc gia, và tăng cường an ninh kinh tế là công cụ để duy trì tăng trưởng kinh tế dựa vào tính chính danh của ĐCSVN.

Hình ảnh của ĐCSVN đã được cải thiện nhờ phản ứng đối phó với Covid-19. Tuy nhiên với phiên xử sơ thẩm vụ án Đồng Tâm, thì hình ảnh đó lại có vẻ như đi theo chiều ngược lại. Nguyên nhân là do việc xét xử vụ án Đông Tâm mà nhiều người tin rằng là bất công, thể hiện sự yếu kém của hệ thống tư pháp Việt Nam.

Vụ án liên quan tranh chấp đất đai đã được hình sự hoá với bản án nặng nề dành cho 29 người dân Đồng Tâm cũng đã “làm sáng tỏ các vấn đề về quyền sử dụng đất đã đi kèm với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam trong hai thập kỷ qua”.

Vụ án này cho thấy rằng mặc dù có thành tích trong xử lý COVID-19, nhưng ĐCSVN lại không thể nghiễm nhiên dành được sự yêu thích lâu dài. Vì vậy, cách duy nhất có thể giúp Đảng lấy lại lòng tin và củng cố tính chính danh của mình là phải thực hiện các biện pháp cải thiện sinh kế kinh tế cho người dân trong nước.

Thư ngỏ kính gửi các Đại biểu Đại hội 13 của Đảng CSVN

Nguyễn Khắc Mai

a.

Nhân các anh các chị đang bước vào tiến trình ĐH 13, tôi, một người của thế hệ Lập Quyền Dân Tiến Lên Việt Nam, xin gửi tới quý anh chị đôi điều để tham khảo.

Hồ Chí Minh không mách bảo sự nổi dậy, đạp phá, dù đã tiên đoán về những cũ kĩ, hư hỏng (Di chúc). Chỉ cần biết Chấn và Chỉnh. Chấn chỉnh nghĩa là chấn hưng lên từ nguồn nội lực dân chủ đoàn kết, tôn trọng nhân dân, tôn trọng qui luật và chân lý tóm lại từ những gì đang có sẵn; chỉnh đốn thanh lý cái gì là cũ kỹ và hư hỏng. Như thế là ta nên tự diễn biến tiếp.

Hãy dũng cảm trở lại với chính mình, từ bỏ “giáo điều ba rọi” Từ bỏ “cái chủ nghĩa xã hội cậy quyền”, chữ của Nguyễn Văn Tố khi thuật lại lời của nhà nho tân tiến, yêu nước, thủ lãnh của Đông Kinh Nghĩa Thục là cụ Nguyễn Hữu Cầu, đăng trên tờ Le Peuple của Đảng CS Đông Dương năm 1946.(*)

- Quyết tâm xây dựng một cơ chế thị trường thực chất và hữu hiệu. Trên cơ sở công nhận quyền sở hữu kể cả sở hữu đất đai của dân, cấu trúc lại những đòn bẩy kinh tế, như thuế và tín dụng, hoàn thiện các luật đất đai, kinh doanh, đầu tư, thuế… sao cho thuận lợi đối với nhân dân và xã hội, tạo ra những kích thích mới cổ vũ tư nhân bỏ vốn, bỏ vàng đầu tư phát triển. Tạo những kích thích mới khuyến khích đầu tư tạo nhiều công việc làm, những ngành nghề có hàm lượng tri thức cao, công nghệ mới, tiên tiến, tiêu hao năng lượng thấp, bảo vệ môi trường, thực hiện hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển kinh tế biển v.v. Hoàn thiện hệ thống luật pháp kinh tế, minh bạch hóa, tạo ra thể chế nhà nước để hình thành một nền kinh tế quốc dân hài hòa phát triển, hiệu quả đầu tư cao. Xóa bỏ tình trạng quan liêu hóa, tham nhũng hóa, hoạnh họe dân, hoạnh họe doanh nghiệp như K. Mác và Hồ Chí Minh đã dự báo. Chứ không phải làm trò lừa đảo, nuôi cho béo rồi thịt, như từng đã xảy ra trên quê hương.

- Xây dựng và phát triển xã hội dân sự theo đạo lý của dân, do dân, vì dân. Thi hành và tôn trọng trong thực tế, chứ không hình thức, Hiến pháp nói một đằng, qui chế, nghị định thì thắt lại mọi quyền dân sự, quyền tự do, dân chủ của công dân. Tôn trọng quyền tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do báo chí, xuất bản của xã hội dân sự, quyền tự do thiêng liêng phê bình, chỉ trích, phản biện của xã hội dân sự đối với mọi cá nhân, cơ quan điều hành đất nước, kể cả ban lãnh đạo của Đảng. Hồ Chí Minh nói “Bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, “Làm sao cho dân ta dùng được quyền dân chủ, hưởng được quyền dân chủ, dám nói, dám làm” v.v. Những tư tưởng ấy sao không đem áp dụng, để chúng ta hình thành nên một xã hội dân sự vừa văn minh vừa dân chủ, chỉ có như thế dân tộc VN mới có thể nhanh chóng phát triển vươn lên tự mình giải đáp mọi vấn nạn, mọi khó khăn, ách tắc đang xuất hiện trước mắt.

- Nguyễn Ái Quốc tha thiết về một nhà nước pháp quyền thật sự của dân do dân, vì dân kể từ khi thay mặt nhóm ái quốc ở Pháp đưa bản Kiến nghị Versailles năm 1919.

Hãy lấy tinh thần và những nội dung cơ bản của Hiến pháp 1946, căn cứ lời dạy của Mác, Ăng ghen: các đảng cộng đồng chủ nghĩa phải căn cứ những thực tế văn minh của các dân tộc hiện đại để xây dựng chính sách, để xây dựng một mô hình phát triển dân tộc, có một thiết chế chính trị - xã hội hòa đồng cùng nhân loại.

Trong trường hợp Cộng sản Trung Quốc tấn công Việt Nam, lập trường của chúng ta là gì?

Đào Tăng Dực

I. Dẫn nhập

Trong suốt 90 năm kể từ khi thành lập Đảng CSVN năm 1930, thì tương quan giữa tập thể này và Đảng CSTQ là một tương quan có tính chủ tớ, trong đó Đảng CSTQ là chủ và Đảng CSVN là tớ. Chỉ trừ một giai đoạn trên một thập niên từ năm 1979 (khi CSVN tấn công tiêu diệt đàn em CSTQ là Khmer Đỏ và CSTQ tấn công Việt Nam để dạy một bài học) cho đến năm 1990 (khi CSVN chấp nhận ký Hiệp ước Thành Đô) tái thiết lập sự lệ thuộc vào TQ truyền thống từ hồi Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông.

Tuy nhiên Đại dịch Vũ Hán bắt đầu từ cuối năm 2019 có tiềm năng thay đổi cục diện thế giới kể cả tương quan Hán - Việt này.

Các quốc gia dân chủ và các quốc gia độc tài, vì những điều kiện khách quan, có những phản ứng tuy khác nhau nhưng rất dễ hiểu trong khi đối phó với đại dịch.

Các quốc gia dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính, tuy bề mặt có nhiều quan điểm và tranh cãi khác biệt, nhưng ổn định vì có một khung sườn pháp trị vững chắc và các định chế dân chủ hùng mạnh.

Các chính đảng thay nhau nắm quyền trong những cuộc bầu cử công khai và luật định. Chính vì thế nổ lực của các chính quyền là:

a. Diệt dịch;

b. Giảm thiểu thiệt hại kinh tế;

c. Ổn định an sinh cho người dân, và

d. Kế hoạch phục hồi kinh tế.

Trong khi đó, các chế độ độc tài thì bề ngoài phẳng lặng nhưng bao hàm sự bất ổn tiềm tàn. Chính vì thế họ chú trọng vào:

a. Triển khai chiến lược tạo ra những thế lực thù địch, từ nhỏ đến lớn;

b. Huy động bộ máy quốc phòng cũng như công an, một mặt kiểm soát nhân dân, viện cớ tiêu diệt mọi mầm móng đối lập. Chính vì thế, chúng ta thấy việc tăng cường đàn áp đối lập trong nước tại Việt Nam, và tại TQ;

c. Gây hấn nặng nề với các quốc gia lân bang, thậm chí đưa đến chiến tranh;

d. Mục đích duy nhất là bảo vệ độc quyền cai trị.

II. Hiểm họa chiến tranh với Việt Nam

Đảng CSTQ đã có những gây hấn như sau với các quốc gia lân bang.

Trước hết, tháng 6 vừa qua, CSTQ, tại vùng Ladakh thuộc Hy Mã Lạp Sơn, gây hấn với Ấn Độ là một cường quốc nguyên tử khác.

Lá thư từ Canada - Rất đồng ý phải thử nghiệm hiện trường

Thân gửi các bác, các anh chị trong BBT trang Bauxite Việt Nam

Tôi hoàn toàn đồng ý "phải thử nghiệm hiện trường vụ án" để kiểm chứng vài chi tiết quan trọng, như sau:

Theo kiến thức KHKT của tôi thì cái hố sâu 4m (bốn mét) đó khiến tôi nghi ngờ khả năng xăng có thể cháy dễ dàng. Vì hố càng hẹp càng sâu thì không khí ít có khả năng chuyển động từ trên tràn xuống tới đáy, cho nên ít có Oxygene để cung cấp cho ngọn lửa.

Hãy quan sát những tai nạn thương tâm cho những người thiếu hiểu biết thường hay bị chết ngạt dưới giếng sâu, ở thôn quê. Vì ở chỗ đó không có không khí lưu động lại có thán khí (metan) do thực vật ẩm mốc bốc lên. Ở Canada, người ta cấm kỵ không được chui xuống những nơi sâu thẳm không thoáng khí (gọi là espace clos, rất nguy hiểm).

Thường rất nhiều căn nhà ở Canada bị hỏa hoạn thiêu rụi, ở tầng lầu trên cháy 100%, nhưng ở tầng hầm (basement, sous-sol) thì ít bị cháy vì thiếu không khí.

Mong các bác các anh chị quan tâm đến chi tiết này

Cám ơn,

Lê Quốc Trinh, Canada

Kỹ sư cơ khí về hưu

TB: Còn rất nhiều chi tiết "rất vô lý" quanh vụ án Đồng Tâm này, dưới nhãn quan một kỹ sư cơ khí tôi phát giác rất nhiều sơ hở của nhà cầm quyền Hà Nội (chủ yếu Công an) đem lên mặt báo trình bày thì họ không đường chối cãi

THƯ GỬI THỦ TƯỚNG VỀ VỤ ÁN ĐỒNG TÂM

Tôi (Hoàng Hưng) được quyền công bố: Thư của TS Tô Văn Trường, người trí thức rất gần gụi với các lãnh đạo trong công việc hiện tại. Ông cho biết nhận được phản hồi tích cực từ nhiều vị trưởng thượng và lão thành CM

Kính gửi: Anh Bảy Phúc

Sau phiên tòa sơ thẩm vụ Đồng Tâm, trên mạng xã hội như có đợt “sóng gầm” nhiều người dân công khai phản ứng mạnh mẽ cho rằng các cơ quan pháp luật đã phạm sai lầm nghiêm trọng dùng cường quyền để trị dân. Nếu tuân thủ quy định của Đảng và luật pháp thì hậu quả sẽ không nặng nề như vậy.

Tôi xuất thân từ gia đình nông dân ở vùng quê nghèo khó Thái Bình. Gia đình tôi, nhiều bà con ruột thịt tham gia lực lượng vũ trang cả bên quân đội và công an từ thời chống Pháp, chống Mỹ nên khi thấy 4 đồng chí là cụ Kình và 3 chiến sĩ công an hy sinh trong thời bình rất đau buồn, day dứt vì nỗi đau này, chẳng phải của riêng ai.

Để tường minh trước công luận, Nhà nước ta là của dân, do dân và vì dân, dưới góc nhìn của người làm công tác khoa học khách quan, trung thực, và nhà báo độc lập, tôi viết thư này để Anh Bẩy có thêm thông tin xem xét, tham khảo:

1. Phiên tòa xét xử vụ án ở Đồng Tâm thu hút sự quan tâm rất rộng lớn của người dân và của nhiều nước phương Tây. Xét xử thiếu công tâm sẽ đem lại hậu quả rất lớn. Vì vậy, cần có sự chỉ đạo chặt chẽ của lãnh đạo cấp cao (Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và Quốc hội).

2. Nhiều thủ tục pháp lý không được thực hiện đầy đủ ở phiên tòa sơ thẩm. Lẽ ra vụ tranh chấp đất đai này nên đưa ra toà hành chính xét xử theo đơn kiện của dân làng Đồng Tâm đối với kết luận của thanh tra Hà nội và Thanh tra Chính phủ. Khi toà xử mà cụ Kình thua kiện thì tổ chức kiểm điểm trong chi bộ và cấp ủy địa phương, làm rõ khuyết điểm của cụ Kình, thậm chí kỷ luật khai trừ Đảng. Sau đó, nếu không thuyết phục được thì khởi tố vụ án, có thể bắt giam khi có bằng chứng tàng trữ vũ khí nhưng phải có phê chuẩn của Viện kiểm sát, phải bắt giữ đúng pháp luật: công bố lệnh bắt giữ có sự chứng kiến của hàng xóm và chính quyền địa phương và bắt giữ vào ban ngày. Tôi tin là dù có chống đối thì mấy ông bà nông dân cũng không thể giết được cảnh sát. Và như thế không có ai phải chết. Gia đình cụ Kình không phải chịu án tru di tam tộc thảm khốc thế này. Thực sự tệ hại khi có một kế hoạch tấn công Đồng Tâm vào ban đêm, trong khi chưa làm bất kỳ việc gì như trên.

3. Để phiên tòa phúc thẩm khắc phục được hạn chế của phiên tòa sơ thẩm, cần:

- Xác định đúng mục tiêu của phiên tòa: Tòa xét xử người có tội theo đúng pháp luật; không phải để “làm gương” nhằm dập tắt những hành vi phản kháng trong tương lai về đất đai.

- Nghiên cứu bản án về hành vi giết người ở Nọc Nạn thời Pháp thuộc. Tòa án XHCN không thể kém nhân văn hơn tòa án thực dân.

- Cho điều tra lại. Nếu một số người dân có hành vi giết người thi hành công vụ thì điều đó phải được chứng minh một cách thuyết phục.

- Cần làm rõ các câu hỏi về nguyên nhân xảy ra sự viêc: Vì sao đất nông nghiệp đã giao cho Bộ Quốc phòng nhiều năm nhưng không triển khai như nhiệm vụ đặt ra? Khi người dân đòi đất, vì sao không đưa ra bản đồ thuyết phục? Vì sao không tiếp tục đối thoại sau khi Chủ tịch UBND Hà Nội có cam kết với dân Đồng Tâm?

- Các câu hỏi về tính hợp pháp của cuộc trấn áp: Căn cứ vào đâu? Tại sao trả lời của Bộ Công an thay đổi lý do đến 3 lần? (lần đầu là bảo vệ mục tiêu xây dựng hàng rào đất sân bay Miếu Môn cách làng Hoành 3 km; lần 2 nói là đi tuần tra bị tấn công; lần 3 là bảo vệ chốt …)

- Những câu hỏi điều tra hiện trường: Rất nhiều ý kiến cho rằng việc 3 chiến sĩ cùng rơi xuống giếng trời là vô lý; việc đổ xăng vào hố để đốt 3 chiến sĩ càng không thuyết phục được dư luận.

- Xin lưu ý: Việc hành quyết cụ Kình tại nhà riêng, sau đó mổ xác chính là điểm bức xúc cao độ của dư luận trong và ngoài nước, rất nhạy cảm trong thời điểm hiện nay. Huống chi ngay cả khi cụ Kình phạm tội với hình phạt cao nhất, thì theo quy định tại tiết b, khoản 3, Điều 40 của Bộ luật Hình sự, thì người từ 75 tuổi trở lên không bị thi hành án tử hình.

- Phiên tòa cần thực hiện tranh tụng thật sự, bảo đảm dân chủ. Cần thực hiện đúng các nguyên tắc xét xử “suy đoán vô tội”, “trọng chứng hơn trọng cung”. Tuyệt đối không được dùng nhục hình để ép cung.

- Thận trọng trong việc kết án tử hình; nếu không chứng minh được tội giết người một cách chắc chắn thì không thể kết án tử hình.

4. Để hạn chế tái diễn những vụ việc giống như ở Đồng Tâm, cần:

- Rút kinh nghiệm từ việc giải quyết sự kiện bạo động ở Thái Bình 1997, có cách giải quyết hợp lý, hợp tình “mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân”.

- Sửa đổi Luật Đất đai theo hướng công nhận quyền sở hữu đất đai của người dân theo hạn điền. Đây là gốc gác của vấn đề, đang là nhân tố phá hoại khốc liệt nhất thể chế chính trị hiện hành về mọi mặt.

- Khắc phục trên các phương diện chính trị, pháp lý và truyền thông.

Cần nói thêm là sự sụp đổ của Rumani và cái chết thảm của vợ chồng Ceaucescu cũng khởi đầu từ việc cho cảnh sát bắn chết một linh mục có uy tín và thuộc phe đối lập. Không biết có ai liên tưởng đến bài học Rumani không?

Những người am hiểu nội tình của đất nước có chung nhận định không nên lan truyền những điều dự đoán tốt đẹp về ai đó, hoặc những điều đổ lỗi cho người này, người khác trong bộ máy. Ban lãnh đạo cao nhất của đất nước có trách nhiệm cao nhất và phải đích thân đứng ra chỉ đạo xử lý vụ này, sao cho đỡ tệ hại nhất vì mất lòng dân là mất tất cả.

Kính chúc Anh Bảy luôn mạnh khỏe và mọi sự tốt lành.

Kính

Tô Văn Trường

Nguồn: FB Hoàng Hưng

Tay đấu tranh bất công, tim một lòng yêu đảng: Bốn lý do của một song đề quái gở

Cái Lư Hương

Một bộ phận các nhà hoạt động tại Việt Nam tin rằng với những bất công về thể chế, với hiện thực đàn áp tàn khốc việc thực hiện các quyền chính trị, dân sự do Đảng Cộng sản Việt Nam (cũng như Đảng Cộng sản Trung Quốc) tiến hành, việc một bộ phận lớn người dân không còn tin, căm ghét hay mong muốn phản kháng chính quyền là chuyện đương nhiên, thậm chí là nghĩa vụ.

Tuy nhiên, với vụ việc Đồng Tâm, ông Lê Đình Kình được vợ mình thuật lại là đến chết vẫn tin vào Đảng. Hay trong cuộc biểu tình nông thôn lớn nhất nhì lịch sử đổi mới tại Trung Quốc cũng liên quan đến thu hồi đất ở Wukan (Ô Khảm), nơi mà những người nông dân đứng đầu cuộc biểu tình phải bỏ mạng và hàng trăm nông dân bị bắt bớ, đánh đập, số đông vẫn thể hiện niềm tin “son sắt” cho Đảng Cộng sản Trung Quốc và chính quyền trung ương.

Cho đến nay, có thể thấy rất ít công dân sống dưới triều đại của các chính quyền độc tài tại Việt Nam hay Trung Quốc thật sự nhìn ra, hay chấp nhận những khiếm khuyết bản chất về mặt thể chế và tổ chức của những chính quyền này. Với họ, Đảng Cộng sản và các lãnh đạo chóp bu vẫn tiếp tục là những ngôi sao “Bắc Đẩu” bất khả xâm phạm, còn hệ thống mà những người này lựa chọn tiếp tục là con đường đúng trong mọi hoàn cảnh.

Song đề “vừa đấu tranh bất công, vừa tin yêu đảng cầm quyền” là một câu hỏi cần phải được nghiên cứu từ tổng hòa của nhiều góc độ kinh tế, văn hóa, xã hội và kể cả truyền thống chính trị địa phương. Người viết không kỳ vọng có thể giải quyết hoàn toàn, triệt để và giải đáp hết thắc mắc của mọi bạn đọc, nhưng bốn lý do dưới đây có thể là bước khởi đầu tốt cho các thảo luận kỹ lưỡng sau này.

Các đảng cộng sản: Những ông trùm dân túy

Một trong những sai lầm cốt lõi khi nhận định về một chính quyền độc tài là luôn giả định họ đứng hoàn toàn tách biệt với người dân. Đây là một giả định vội vã.

Bản thân chủ nghĩa cộng sản, vốn vẽ ra mối thù hằn giai cấp vô sản - tư sản và khẳng định sự phát triển của xã hội chỉ có thể được thực hiện thông qua cách mạng bạo lực, tự thân nó đã là một học thuyết dân túy vĩ đại rồi.

Vậy nên không khó khăn để các đảng chính trị này biến mình trở thành người hùng trong mắt một bộ phận lớn dân cư.

Như phân tích của tác giả Võ Văn Quản trong bài viết Nhà nước Việt Nam có “dân túy” không?, ông đã chỉ ra rất rõ ba thành tố chính sách thường được một chính quyền dân túy áp dụng là: (1) tối giản hóa các câu hỏi thể chế nhằm đưa ra những câu trả lời sai lệch nhưng hấp dẫn với số đông, (2) xây dựng tư duy “chúng ta” - chúng nó” để tạo lập kẻ thù chung, tạo tính chính danh cho sự cầm quyền của mình, và cuối cùng (3) tiếm quyền với danh nghĩa “người đại diện duy nhất” cho một cộng đồng.

Tính dân túy thể hiện qua việc tuyên truyền liên tục về cuộc đối đầu với đế quốc Mỹ, thực dân Pháp và nhân dân Việt Nam, hay cuộc đối đầu giữa giai cấp vô sản, công nông và giới tiểu tư sản thành thị, tư sản mại bản. Gần đây, các câu chuyện mới về thế lực thù địch - phản động với khí tài và tiềm lực tài chính “che trời lấp biển” chống đối nhân dân Việt Nam, hay chuyện Trung Quốc bành trướng dần xuất hiện thường xuyên hơn trong các thảo luận về danh tính quốc gia và vai trò quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhưng đó cũng chỉ mới là tầng nổi của mô hình dân túy.

https://2xjs7y10oiyz26vqxu2hok6y-wpengine.netdna-ssl.com/wp-content/uploads/2017/09/150513090703_vietnam_communist_party_hochiminh_poster_640x360_hoangdinhnamafp.jpg

Một tấm áp phích kỷ niệm 85 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ảnh: Hoang Dinh Nam/AFP.

Ở Trung Quốc, theo phân tích của tác giả Wenfang Tang trong danh tác “Populist Authoritarianism” (tạm dịch: Nền độc tài dân túy), nền dân túy thời kỳ đầu của chủ nghĩa cộng sản tại quốc gia rộng lớn này giúp định hướng và thỏa mãn nhu cầu bạo lực của số đông liên quan đến những bất công xã hội mà các chính quyền trước để lại.

Từ đầu thập niên 1950, qua hàng loạt phong trào và các cuộc vận động, các nhóm công dân thuộc tầng lớp thấp, không sở hữu tư liệu sản xuất… nay được can thiệp trực tiếp vào quá trình quản lý và kiểm soát tại địa phương. Họ nắm quyền sinh sát từ bắt bớ, quản lý, xét xử và thậm chí là đánh đập giết hại những kẻ mà nếu không có chính quyền cộng sản, đã có thể tiếp tục vị thế bề trên “ngồi mát ăn bát vàng”. Đây là thứ quyền lực mà giai cấp nông dân, lao động… chưa bao giờ có.

Vậy nên, cho dù hầu hết các chính sách trợ cấp, bao tiêu về công việc, sản phẩm, lương thưởng… của chính quyền cộng sản Trung Quốc đều thất bại thê thảm; ảo ảnh về một quyền lực mới, một chính quyền trao quyền cho dân còn tồn tại sâu trong tâm trí của đại bộ phận dân cư lần đầu tiếp xúc với nó.

Điều này cũng hoàn toàn có thể được so sánh với công cuộc cải cách ruộng đất 1953 đẫm máu tại miền Bắc Việt Nam và phong trào kinh tế mới, cải tạo các nhóm dân cư có liên hệ với chính quyền Việt Nam Cộng hòa sau năm 1975.

Dù bản thân những phong trào này không có bất kỳ sự tôn trọng nào với pháp quyền, nhân quyền, sự chính trực của mô hình tổ chức nhà nước hay một tương lai hòa hợp dân tộc; chúng thỏa mãn nhu cầu “trả nợ máu” của một bộ phận lớn dân cư và thậm chí cho phép họ chủ động tham gia vào quá trình trả thù đó. Đây là cốt lõi của bản chất dân túy, và nền tảng cho “niềm tin son sắt” của cộng đồng dân cư vào tính mới của chính quyền cách mạng.

Công luận như công cụ

Sẽ là rất sai lầm nếu cho rằng các đảng cộng sản không quan tâm công luận. Thực tế, cũng như bản chất dân túy nói trên của các chính quyền độc tài buộc họ phải quan tâm đến công luận như bất kỳ chính quyền dân chủ nào.

Nhưng cách tiếp cận của họ đối với công luận là biến chúng trở thành công cụ cho quá trình quản lý, kiểm soát, đánh chặn và tự điều chỉnh nội bộ. Nói cách khác, ý kiến của người dân được xem như những vật thể, những biến số thay đổi cùng hàng ngàn biến số khác trong bài toán cầm quyền của đảng cộng sản. Họ không xem công luận là những con người bằng xương bằng thịt để mà từ đó nhìn thấy cơ hội để tiếp cận, tôn trọng và thảo luận.

Bắt đầu vào tháng 5/1987, Economic System Reform Institute of China (ESRIC - tạm dịch là Viện Cải cách Hệ thống Kinh tế Trung Hoa) được thành lập dưới sự bảo trợ của thủ tướng đương nhiệm Zhao Ziyang (Triệu Tử Dương). Mục tiêu của viện này là tập trung thống kê, tìm hiểu quan điểm và ý kiến công luận liên quan đến tiến trình cải cách kinh tế theo con đường thị trường tư bản của Trung Quốc, tránh việc chúng có thể gây ra những bất ổn xã hội không mong muốn có thể làm ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Viện này thành công trong việc cảnh báo tác hại của quá trình thị trường hóa quá nhanh và thiếu kiểm soát, với các tác dụng phụ như tỷ lệ thất nghiệp quá cao, lạm phát không kiểm soát, mức sống hạ thấp, hệ thống hành chính xuất hiện hiện tượng tham nhũng - thiếu hiệu quả, nhưng Thủ tướng Triệu Tử Dương không đủ can đảm để lắng nghe những cảnh báo. Kết quả cuối cùng là các bất ổn xã hội leo thang, mà đỉnh điểm là sự kiện Thiên An Môn năm 1989.

https://2xjs7y10oiyz26vqxu2hok6y-wpengine.netdna-ssl.com/wp-content/uploads/2017/06/tiananmen-protester-march-web2-AP-PhotoSadayuki-Mikami-1024x577.jpg

Biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn tháng 5/1989. Ảnh: Sadayuki Mikami/AP.

Kể từ đó, chính quyền Bắc Kinh chưa bao giờ xem nhẹ việc tìm hiểu người dân nước họ đang nghĩ gì, cho dù họ không thật sự xem trọng dân chủ, quyền tự do ngôn luận hay các định chế xã hội dân sự khác.

Tháng 4/2016, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kêu gọi sự trở lại của lý thuyết “Đường lối Quần chúng” (Mass line, hay 群众路线), trong đó đặc biệt nhất là sự hình thành của Message Board for Local Leaders (MBLL, difang lingdao liuyanban).

Hiểu đơn giản, đây là một nền tảng do Nhân dân Nhật báo vận hành (cơ quan ngôn luận chính thức của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc), được sử dụng làm kênh trung gian giúp người dân gửi tin nhắn phản ánh về nhiều vấn đề trực tiếp đến cơ quan quản lý hành chính địa phương. Nền tảng này cũng được tích hợp vào phần mềm WeChat vốn đã trở thành một phần không thể thiếu của văn hóa sinh hoạt của người Trung Quốc.

Không chỉ vậy, MBLL cũng tương đối minh bạch khi cho phép người xem tự do kiểm chiếu lịch sử góp ý tại từng địa phương cũng như phản hồi từ chính quyền ra sao. Chỉ tính từ tháng Một đến tháng Tư năm 2019, có đến 384.631 mẫu góp ý, khiếu nại, thông tin đã được gửi qua hệ thống. Tỷ lệ phản hồi trung bình từ chính quyền địa phương cũng lên đến gần 80%, một con số không tưởng xét theo quy mô dân số của quốc gia khổng lồ này.

Tuy nhiên, đến cuối cùng thì đây cũng chỉ là một nền tảng để… trút giận mà thôi. Các chính quyền địa phương vẫn nắm những công cụ sinh sát trong tay, từ việc có giải quyết những phản ánh hay không cho đến quyền phản hồi (tỷ lệ phản hồi của đại đô thị như Trùng Khánh thậm chí chỉ vỏn vẹn 5%).

Hệ thống giúp tạo nên hình ảnh một chính quyền đi sâu đi sát vào quần chúng. Ở phương diện số đông, khả năng lây lan tâm lý của những niềm tin tích cực giả tạo như vậy rất dễ dàng.

Nhưng về mặt bản chất, hệ thống này khóa chặt người dân có khúc mắc vào khuôn khổ của chính quyền mà không cho họ cơ hội sử dụng các kênh truyền thông khác để đấu tranh hay làm rõ trách nhiệm của cơ quan địa phương (theo kiểu lập luận công cụ của chính quyền cởi mở vậy sao không sử dụng). Đồng thời, nó cũng tạo ra một bức tường lửa bảo vệ giới lãnh đạo chóp bu của Trung Quốc khỏi mọi chỉ trích hay góp ý dân chủ.

Những cá nhân cố gắng sử dụng các nền tảng khác để để cất tiếng nói của mình nhanh chóng bị trừng phạt. Gần đây, nhà tài phiệt lớn của Trung Quốc Ren Zhiqiang cũng bị bắt giữ và điều tra ngay lập tức với cáo buộc tham nhũng sau khi chỉ trích cách chính quyền Tập xử lý khủng hoảng COVID-19 trên mạng xã hội.

Tương tự tại Việt Nam, có thể thấy chính quyền Hà Nội không hề xem nhẹ công luận Việt Nam, nhờ vào sự hiện diện phổ biến của hệ thống mạng xã hội như Facebook.

Từ việc hoãn xem xét dự thảo luật về Đặc Khu cho đến việc ban hành Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) 2020 sau khủng hoảng BOT khắp cả nước từ năm 2018, chính quyền Việt Nam cho thấy họ sẽ nhượng bộ các vấn đề có liên quan đến những vấn đề nhạy cảm như chủ quyền hay túi tiền trực tiếp của người dân lao động. Điều này thật ra khá giống với cách vị “tiến sĩ” dạy cách đây vài năm: “Thu thuế cũng như vặt lông vịt, vặt làm sao cho sạch nhưng đừng quá vội để con vịt nó kêu toáng lên”.

Chính quyền cộng sản hiểu rằng động đến chén cơm manh áo người dân tức là tạo ra những điều kiện cách mạng mà chính họ đã lợi dụng thành công để cướp chính quyền cách đây chỉ mới vài chục năm. Nhưng điều này không có nghĩa là họ thật sự tôn trọng hay chấp nhận lắng nghe ý kiến của người dân.

Bất kể nguyện vọng của các phong trào có hợp lý đến đâu, dù kết quả cuối cùng có ra sao, những người lãnh đạo phong trào, hay “những kẻ xách động” theo cách gọi của chính quyền, đều phải chịu trừng phạt.

Dù có phải bỏ tù 10 tài xế, nhà hoạt động trong phong trào chống BOT hay là vài trăm người sau cuộc biểu tình toàn quốc chống dự thảo Luật Đặc khu, lời tuyên bố của Hà Nội khó có thể rõ ràng hơn: chúng tôi có thể nhượng bộ, cộng đồng có thể hưởng lợi, nhưng không thể bỏ qua cho những kẻ dám thách thức chúng tôi.

Kiểu nhượng bộ “nhấp, dừng” này giúp đè nén mâu thuẫn trong xã hội và tạo ra sự yên bình, ổn định chính trị trên bề mặt và niềm tin của một bộ phận người dân vào thể chế.

Quang cảnh phiên tòa sơ thẩm vụ án Đồng Tâm, sáng ngày 7/9/2020. Ảnh: TTXVN.

Quang cảnh phiên tòa sơ thẩm vụ án Đồng Tâm, sáng ngày 7/9/2020. Ảnh: TTXVN.

“Chặt đầu rắn”

Nói đến bắt bớ và bỏ tù những cá nhân đặc biệt, những lãnh đạo phong trào đối lập, kỹ năng “chặt đầu rắn” đã được các chính quyền tại Trung Quốc và Việt Nam thành thục đến mức… thượng thừa.

Cũng theo tác phẩm “Populist Authoritarianism” mà chúng ta nhắc đến ở trên, trong vòng hàng chục năm bất ổn kèn cựa với chính quyền Quốc Dân Đảng, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thành công trong việc triệt tiêu, giết hại gần như hoàn toàn các nhóm quyền uy thứ cấp truyền thống của xã hội phong kiến như nho gia, nhân sĩ, thương gia truyền thống hay giới quý tộc nông thôn, những nhóm có tầm ảnh hưởng nhất đối với người nông dân và người lao động Trung Quốc suốt nhiều thế kỷ.

Cho đến khi lực lượng cộng Sản Trung Quốc chính thức kết thúc cuộc nội chiến vào năm 1949, cấu trúc xã hội và niềm tin xưa cũ của Trung Quốc không còn lại gì. Đảng Cộng sản Trung Quốc nhờ đó dễ dàng lấp vào khoảng trống niềm tin, đơn giản bởi vì người dân không… còn ai để tin.

Loại “nghệ thuật” cũng được áp dụng gần như tương tự tại Việt Nam, với tên gọi chính thức “Chặt đầu rắn” do kiến trúc sư đường lối lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam - Trường Chinh - đặt ra.

Bằng cách triệt tiêu các lãnh đạo xuất sắc của các phong trào cộng sản đối lập (như phe Trotskyism với Tạ Thu Thâu, Hình Thái Thông, Trần Văn Thạch, Trần Đình Minh) và các phong trào dân tộc, tôn giáo khác (như Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ của đạo Hòa Hảo…), Đảng Cộng sản Việt Nam giành thế chủ động trong cuộc chiến tranh giành niềm tin của quốc dân Việt Nam trong giai đoạn quan trọng trước và sau Cách mạng tháng Tám.

Chiến thuật này được thực hiện cả sau năm 1954 tại miền Nam Việt Nam, và kéo dài cho đến hết chiến tranh Việt Nam.

Theo tổng hợp của các nghiên cứu sử học có uy tín, chỉ trong giai đoạn 1954 - 1958, có hơn 25.000 ngàn nhân viên công vụ, giáo viên, trưởng thôn và trưởng làng cũng như các nhân sĩ có uy tín tại nông thôn miền Nam Việt Nam bị bắt cóc, sát hại, thủ tiêu vì họ… “phản động” và “thiếu hợp tác” với cách mạng.

Nó tước đi hoàn toàn sức sống và năng lực lãnh đạo tự cường của các cộng đồng địa phương miền Nam Việt Nam, tiếp tục tạo nên một lỗ hổng lớn về niềm tin giữa chính quyền trung ương tại Sài Gòn và các địa phương. Đây là thứ mà nhóm Việt Cộng và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mong muốn.

Trở lại với thời kỳ hiện tại, “chặt đầu rắn” cũng là kiểu đàn áp không để lại quá nhiều xáo trộn chính trị.

Sự kết hợp của các trường phái quản trị hiện đại như dân túy, kỹ trị… đi kèm theo đó áp lực từ những định chế quốc tế, giúp cho các Đảng Cộng sản đủ thông minh để nhận ra rằng áp dụng bạo lực, vũ lực vào mục tiêu đàn áp đối lập là thiếu tính định hướng, dễ xảy ra những tình huống bất ngờ và thậm chí là khủng hoảng nhân đạo.

Bằng cách tập trung bắt giữ, trừng phạt, hay đơn giản là cô lập và phá rối những cá nhân, những nhà hoạt động, những nhà khoa học nổi bật nhưng có xu hướng không hợp tác với chính quyền, người dân Việt Nam không còn ai để nương tựa về niềm tin chính trị, ngoài Đảng Cộng sản. Đồng thời, khả năng tụ hội và hình thành những nhóm chính trị có uy tín và đủ khả năng cạnh tranh với nguồn lực gần như vô tận của Đảng Cộng sản là gần như không thể xảy ra.

Ảnh: Chụp màn hình the88project.org/Reuters. Đồ họa: Luật Khoa.

Ảnh: Chụp màn hình the88project.org/Reuters. Đồ họa: Luật Khoa.

“Tiền nói chuyện”

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hu Jintao (Hồ Cẩm Đào, nắm quyền từ 2002 - 2012), mục tiêu chiến lược trong quản trị quốc gia của ông này là đối mặt và giải quyết những bất ổn xã hội bắt đầu bùng cháy trong xã hội Trung Quốc, và từ đó củng cố quyền lực thống trị của đảng lên toàn xã hội.

Trong một bài phát biểu quan trọng của Hồ Cẩm Đào trước Trung ương Đảng Cộng sản vào tháng 2/2005 về việc xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa hài hòa (harmonious socialist society), ông Hồ khẳng định khả năng xử lý ổn thỏa những căng thẳng xã hội đương đại của Trung Quốc phụ thuộc hoàn toàn vào việc nền kinh tế Trung Quốc có tiếp tục phát triển hay không.

Nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc không thể bảo đảm sự phát triển kinh tế, các biến động chính trị dài hơi và sâu sắc, đến sự chia rẽ trong xã hội Trung Quốc, cuối cùng sẽ kéo đến sự sụp đổ nền tảng cầm quyền của đảng.

Việc tập trung vào phát triển kinh tế bằng mọi giá, bất kể những nguyên tắc kinh tế Marxist mà họ rao giảng hằng ngày, lại là thứ tạo nên “sự dẻo dai” của các nền độc tài cộng sản (authoritarian resilience).

Thật vậy, gần đây, tác giả Wenfang Tang phát hiện khi nghiên cứu lại chuỗi dữ liệu bất ngờ của chính quyền Bắc Kinh trong giai đoạn diễn ra sự kiện Thiên An Môn, bản thân phong trào dân quyền - nhân quyền dẫn đến sự kiện này lại không phải là một phong trào dân quyền hay nhân quyền thật sự. Theo ông, nó chỉ là phản ứng “sốc tự vệ” của giới trẻ thành thị Trung Hoa trước các biến đổi kinh tế mà thôi.

https://lh5.googleusercontent.com/N-w35F_GyMLrNCWjypnFOBSzxTBAK3ApLC2Gk-sPlagpNqHOoD6vt-zCurlyc4rC_vXdlA6rNvOaWwFzBBlI_Ma69luReDtOqciUOwII_Di7pjjKDoc4HoxV9Y3IgGGRu1liFz31

Theo bảng tổng hợp trên, việc công chúng cho rằng cải cách thị trường tại Trung Quốc diễn ra quá nhanh (đường nét liền tăng lên đỉnh điểm là 54% và 50% vào các năm 1988, 1989); cùng theo đó là sự bất mãn của công chúng với tỷ lệ lạm phát phi mã (cũng đạt đỉnh cùng giai đoạn 1988 - 1989 với tỉ lệ lên đến 95%), dường như mới là lý do chủ yếu kéo tỷ lệ bất mãn đối với quyền tự do ngôn luận lên con số cao kỷ lục 33%.

Ngay sau khi các vấn đề liên quan đến lạm phát, việc làm và tốc độ cải cách được điều chỉnh, yêu sách về quyền tự do ngôn luận giảm xuống rõ rệt. Theo Wenfang Tang, kinh tế và quá trình cải cách mới thật sự là nguồn cơn của phong trào.

Nhiều tác giả, như Thomas Heberer, Đại học Duisburg-Essen, Đức, gọi hẳn Trung Quốc và Việt Nam là “development states” (cùng với với Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc…), tạm dịch những quốc gia kiến tạo phát triển. Đây là nơi mà hệ thống quan liêu nhà nước tập trung toàn lực cho việc định hướng, can thiệp sâu và bảo đảm sự phát triển của kinh tế vĩ mô quốc gia.

Tại Việt Nam, không chỉ can thiệp sâu vào phát triển kinh tế, chính quyền còn lợi dụng thị trường lao động mở của quốc tế để đẩy mạnh xuất khẩu lao động và giảm bớt gánh nặng việc làm cho thị trường trong nước. Nhờ vậy, họ một mặt tạo nên nguồn thu ngoại tệ, một mặt hạn chế bất ổn xã hội.

Sự phát triển kinh tế chấp nhận được với nguồn thu nhập ít ra luôn ở mức dương trở thành con át chủ bài trong việc kỳ kèo gạ giá để duy trì nền độc tài của Đảng Cộng sản tại Việt Nam, dù thật ra các thành quả về hạ tầng, quản lý xã hội và hoàn thiện thể chế vẫn còn vô cùng hời hợt do đặc trưng tham nhũng, quan liêu và lạm quyền của các chính quyền toàn trị.

Tuy nhiên, chừng nào mối quan tâm lớn nhất của người dân là chén cơm manh áo vẫn còn phần nào được đáp ứng, thì niềm tin của họ vào chính quyền vẫn còn; và chừng đó họ còn nhắm mắt cho qua những xâm phạm nghiêm trọng đến các quyền dân sự và chính trị ngày càng leo thang.

C.L.H.

Nguồn: Luật Khoa tạp chí

Tội ác hiện hình đằng sau những lời nhận tội

JB Nguyễn Hữu Vinh

Một vụ khủng bố có tổ chức

Vụ án Đồng Tâm đã làm sôi sục dư luận xã hội kể từ khi nhà cầm quyền Cộng sản tổ chức cuộc thảm sát đêm 9/1/2020 bằng hàng ngàn công an với đầy đủ thiết bị, chó nghiệp vụ tấn công vào làng lúc 3 giờ sáng.

Dư luận đã sôi sục với hành động man rợ có tổ chức của một nhà nước cộng sản đối với dân lành. Những luận điệu nhà cầm quyền đưa ra nhằm che đậy, xoa dịu và dọa nạt đối với những người quan tâm tìm hiểu sự thật đã không có tác dụng.

Những hành động dọa dẫm, trấn áp, bắt bớ và những việc làm thất đức khác như cướp đoạt tiền phúng viếng đám ma cụ Lê Đình Kình - Một đảng viên kỳ cựu, nguyên Bí thư đảng ủy - đã bị đồng đảng giết một cách man rợ ngay trên giường ngủ của mình… đã không làm hề giảm đi mối quan tâm của xã hội đối với vụ án này.

Thế rồi, sau một thời gian dài dàn dựng, sử dụng đủ mọi cái gọi là “biện pháp nghiệp vụ” và hệ thống tuyên truyền cộng sản, nhà cầm quyền đã đưa ra biểu diễn cái gọi là “Phiên tòa xét xử” vụ án giết người.

Oái oăm thay, cái gọi là phiên tòa này, là sự điển hình của việc đổi trắng thay đen, biến nạn nhân thành thủ phạm và lấy tội ác nhằm che giấu tội ác.

Những nạn nhân đã bị đem ra kết án còn những kẻ đang đêm tổ chức cuộc tấn công thảm sát, khủng bố một làng quê yên tĩnh, giết hại dân lành lại giữ vai quan tòa xét xử.

Chẳng ai có thể biện minh được, việc một nhà nước “của dân, do dân, vì dân” lấy cớ gì để đang đêm tổ chức cuộc thảm sát đối với người dân lành ngay trong giấc ngủ của họ.

Hẳn nhiên, việc này không hề là một việc ngẫu nhiên hay tự phát mà có cả một kế hoạch tỷ mỉ và dàn dựng công phu, có một kế hoạch chi tiết đã được Hà Nội lập nên và Bộ Công an phê duyệt.

Để tổ chức thực hiện tội ác này, nhà cầm quyền Hà Nội đã huy động hơn 3.000 công an đủ các bộ phận từ Bộ Công an tăng cường, chi viện cho đến các thành phần của Công an Hà Nội.

Mặc dù vậy, thì khi đối diện với những người dân lành bị động trong đêm, đội quân “bách chiến bách thắng” với đầy đủ mọi ngôn từ xưng tụng rằng “tinh nhuệ, tài giỏi, võ nghệ cao cường, chiến đấu kiên cường” của Bộ công an kia, cũng đã đưa ra một kết quả: Ba tên bỏ mạng, giết chết được một người dân bằng bắn thẳng vào mặt một cụ già 84 tuổi đời đã bị tàn phế trước đó bởi chính công an.

Lý do nào để khủng bố dân lành?

Dư luận sôi sục đặt câu hỏi rằng: Lê Đình Kình là ai? Ông ta đang là một đảng viên, mới đây chưa lâu đã nhận huy hiệu 55 tuổi đảng và cho đến khi bị đám đồng chí ranh con bằng tuổi cháu chắt mình vác súng vào bắn tan xương nát thịt rồi mang đi mổ bụng phanh thây, vẫn chưa hiểu được vì sao Đảng mà ông ta vẫn tuyệt đối tin tưởng, lại có thể hành động man rợ mất tính người đến vậy với ông.

Tại sao, nếu ông ta là một tội phạm, thì với thân hình tàn tạ vì công an đánh đập gãy chân mấy năm trước hiện ngồi xe lăn, mà một nhà nước tự xưng là “Chánh nghĩa sáng ngời” (Nguyễn Minh Triết) trong “thời đại Hồ chí Minh rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc” (Nguyễn Phú Trọng) lại không đàng hoàng vào nhà ban ngày ban mặt bằng lệnh, bằng lực lượng của nhà nước một cách công minh, chính đại để bắt ra xét xử mà tấn công vào nhà riêng để tiêu diệt trong đêm?

Và đám con cháu của ông ta, họ hàng và người dân Đồng Tâm có vũ trang đến mức nào để “lực lượng vũ trang anh hùng” và hùng hậu của đảng không dám đối mặt, lại đi đánh như đánh giặc công đồn vào ban đêm?

Hẳn nhiên, là nhà cầm quyền Hà Nội không thể trả lời những câu hỏi tưởng như quá đơn giản và dễ dàng đó.

Hàng loạt kịch bản được đưa ra nhằm biện minh cho tội ác của mình được nhà cầm quyền Hà Nội sử dụng đã bị người dân bóc mẽ và đẩy vào thế bị động, lúng túng.

Lún sâu vào tội ác

Bởi sự thật chỉ có một. Đó là bàn tay của nhà cầm quyền CSVN đã nhuộm đỏ máu dân lành bằng những hành động lấy oán trả ân, bằng cách biến nạn nhân thành thủ phạm.

Tưởng rằng, với những chứng cứ rành rành, sự dối trá bị vạch trần không thể chối cãi, nhà cầm quyền CSVN sẽ còn một chút liêm sỉ để cân nhắc lại những hành động của mình trước khi tiếp tục nhúng tay vào máu.

Thế nhưng họ quyết tâm tắm máu dân lành thêm một lần nữa để tỏ ra sự hung hãn, tàn bạo hòng đe dọa người dân có tinh thần phản kháng.

Bằng mọi cách bất chấp dư luận và lòng dân sôi sục, nhà cầm quyền Hà Nội đã buộc phải đưa ra một vở bi hài kịch gọi là “Tòa án” để trả thù người dân Đồng Tâm.

Ở đó, họ thi thố nhiều trò bẩn thỉu như những vụ án khác với đặc trưng Tòa án cộng sản. Đó là việc công khai xử kín, ngăn chặn người dân dự tòa. Nhằm để bóp nặn và che đậy những sự thật đã được giấu kín đằng sau đó.

Kết quả phiên tòa với hai bản án tử hình, và hàng loạt bản án nặng nề khác kể cả chung thân đã nói lên một điều: Nhà cầm quyền Hà Nội đã quyết tâm đi đến tận cùng tội ác, quyết tâm đối đầu và bất khoan nhượng đối với nhân dân. Đồng thời, các bản án cũng nói lên bản chất của một nhà nước “Của dân, do dân, vì dân” mà họ thường leo lẻo có thực chất ra sao.

Đằng sau những lời nhận tội

Điều mà nhiều người thắc mắc, đám dư luận viên và an ninh vẫn lấy để bao biện cho tội ác trời không dung, đất không tha của nhà cầm quyền Việt Nam trước những kẻ bị ngộ độc thông tin cộng sản là các nạn nhân Đồng Tâm bị lôi ra trả thù bằng cái gọi là Tòa Án kia đã nhận tội trước Tòa.

Sở dĩ, họ thắc mắc, thậm chí với một số người khi hiểu rõ bản chất phiên tòa, cũng như cái gọi là “quá trình điều tra, xét xử” của tòa án cộng sản, vẫn cứ phân vân rằng tại sao rõ ràng họ là những kẻ oan khuất, là nạn nhân lại bị đưa ra kết tội lại đi nhận tội trước tòa.

Thế nhưng, chẳng cần nói nhiều về quá trình gọi là điều tra, hay xét xử xưa nay của nhà cầm quyền Cộng sản những vụ án nào xa xôi. Hãy nhìn vào những nạn nhân của phiên tòa này, sẽ hiểu hết mọi sự thật đã diễn ra đằng sau đó như thế nào.

Nhìn tấm ảnh cụ Kình với những phát đạn giết người, cái chân lủng lẳng và vết mổ phanh thây dọc từ ngực xuống đã cho thấy nhà cầm quyền CSVN hành động như thế nào với một cụ già 84 tuổi.

Man rợ hơn, nếu như cụ Lê Đình Kình là kẻ thù không đội trời chung, là người có những tiền sự nguy hiểm hoặc đang có một khả năng nào đó để chống lại bạo lực của nhà cầm quyền Cộng sản thì còn đi một nhẽ. Đằng này, một cụ già ngồi xe lăn mấy năm nay, ở trong giường ngủ đã bị cộng an xông tận giường bắn chết tại chỗ và cho chó lôi đi.

https://jbnguyenhuuvinh1962.files.wordpress.com/2020/09/ledinhkinh1.jpg?resize=438%2C438

https://jbnguyenhuuvinh1962.files.wordpress.com/2020/09/ledinhkinh2.jpg?resize=438%2C438

Mặt khác, ngay cả những nhóm xã hội đen, những băng cướp hoặc kể cả mafia nếu xử những đồng đảng đi nữa, thì chỉ là những kẻ phản bội lại chúng. Đằng này, một đảng viên Lê Đình Kình, với 58 tuổi đảng, nguyên Bí thư Đảng ủy và vẫn một lòng tin tưởng vào Đảng Cộng sản lại bị chính Đảng Cộng sản vào giết tận giường ngủ lúc nửa đêm. Hành động đó là hành động gì nếu không phải là hành động khủng bố thanh toán chính đồng đảng của mình?

https://jbnguyenhuuvinh1962.files.wordpress.com/2020/09/le-dinh-chuc.jpg?resize=438%2C438

https://jbnguyenhuuvinh1962.files.wordpress.com/2020/09/le-dinh-cong.jpg?resize=438%2C438

Nhìn những vết đạn bắn qua đầu Lê Đình Chức làm toác cả hộp sọ, những nốt châm trên mặt Lê Đình Công bằng thuốc lá của “cán bộ điều tra” khi đứng trước tòa, có lẽ chỉ cần im lặng mà suy nghĩ, chúng ta sẽ hiểu vì sao họ nhận tội.

Bởi chưng, những chứng cứ và vết tích hành hạ, dùng nhục hình, tra tấn đó sờ sờ, những lời khai rõ ràng “bị đánh mười ngày như một” của nạn nhân trước tòa… không hề làm cho cái gọi là “Quan tòa” mảy may chú ý.

Và qua đó, nền tư pháp Việt Nam nghiễm nhiên công nhận rằng, chuyện vào tay công an điều tra thì bị tra tấn, bị đánh đập đến thân tàn ma dại hoặc chết người là chuyện bình thường trong hệ thống luật pháp Xã hội chủ nghĩa.

Và hẳn nhiên, sau một quãng thời gian dài gần cả năm, những nạn nhân này bị giam giữ biệt lập với bên ngoài không được gặp bất cứ ai kể cả luật sư, hàng ngày đối diện với tra tấn, với nhục hình thì xương thịt nào chịu nổi. Người ta nói rằng, nếu rơi vào tay công an cộng sản, thì hòn đá cũng phải nhận tội huống chi con người. Và như vậy, việc họ nhận tội trước tòa, từ chối luật sư hoặc bất cứ lời khai nào từ miệng họ đều cần phải nhìn rõ phía sau đó là gì.

Bởi họ biết, ngay trong cái gọi là phiên tòa kia, chỉ có công an với họ, luật lệ, luật sư không có ý nghĩa gì với nhà nước cộng sản. Họ biết rằng, việc gọi là xét xử đối với họ, chỉ là một vở diễn không hơn không kém và nhất là sau phiên tòa thì lại chính họ đối diện với công an, với đánh đập tra tấn và nhục hình.

Người xưa từng nói: “Thịt da, ai cũng là người”. Con người đến một lúc nào đó, bị tra tấn đến mức nào đó, sẽ trở nên khiếp sợ và bạc nhược, trở nên mất hết mọi sự phản kháng.

Ngay cả khi ra trước cái gọi là “Phiên tòa” với nhiều người xung quanh, với luật sư biện hộ, với đủ mọi thành phần của nền tư pháp cộng sản, những nạn nhân Đồng Tâm vẫn cứ khiếp sợ đến mức cùng cực, vẫn cứ mười người như một nhận tội theo một biểu mẫu bày sẵn… mà không hề dám phản kháng, chúng ta có thể hiểu rằng họ đã phải chịu đựng những gì bao nhiêu ngày tháng qua trong ngục tối cộng sản, khi chỉ có mình họ với bầy quỹ dữ xung quanh.

Không phải ngẫu nhiên mà một người đã từng đi qua quãng thời gian dài trong nhà tù cộng sản, đã phải tuyên bố trước khi vào lại nhà tù rằng: “Sau khi tôi bị Cộng sản bắt, những lời nói và hành động do tôi làm sẽ không có giá trị, bởi đó không phải là những lời nói, hành động của tôi nữa”.

Do vậy, hãy nên suy nghĩ về những điều ấn giấu đằng sau những lời nhận tội của các nạn nhân trước Tòa.

Với những sự thật rành rành ai cũng thấy rõ, thì hành động nhận tội của họ càng cho thấy sự khủng khiếp đến mức nào trong cách đối xử của nhà cầm quyền CSVN đối với họ trong nhà tù đã làm tê liệt ý chí và nhận thức của họ trước Tòa.

Những diễn biến của cái gọi là “Phiên tòa” về cách tổ chức, về quá trình tranh tụng, xét xử và qua đó, lộ diện quá trình gọi là điều tra, truy tố của nhà cầm quyền CSVN đối với người dân Đồng Tâm, sẽ đi vào lịch sử của ngành tư pháp trên thế giới về một ngành tư pháp giết người để trả thù đê tiện và hèn hạ.

Quan sát quá trình hình thành, phát triển vụ việc Đồng Tâm, nếu chỉ dùng những ngôn từ như tàn bạo, khốn nạn, đểu cáng hoặc man rợ… hẳn là chưa đủ để nói lên tội ác này.

Có lẽ kho tàng ngôn ngữ Việt Nam không thể đủ để nói lên tội ác nhà cầm quyền CSVN đã làm đối với người dân Đồng Tâm.

N.H.V.

Nguồn: RFA

Tư hữu hóa đất đai sẽ rất phức tạp?

Hà Nguyên

Với người nông dân thời nào cũng vậy, đất đai luôn gắn bó như máu thịt. Bỗng vào một ngày xấu trời, tự dưng đất đai đó được dán bảng “quy hoạch”, vậy là người nông dân bị mất đất - dù họ có nhận khoản tiền gọi là “đền bù giải tỏa”.

Thích thì nhân danh quyền lực Nhà nước, người ta sẽ ‘vẽ’ ra dự án để chiếm đất của người dân với mỹ từ là “đền bù giải tỏa”. Chuyện tùy tiện ấy dường như chỉ xảy ra đối với những quốc gia theo chế độ công hữu về đất đai.

Người viết bài này thử làm một khảo sát nho nhỏ, với câu hỏi chung: Có nên tư hữu hóa đất đai kể từ nhiệm kỳ mới sắp tới của Đảng?

Dưới đây là một số ý kiến ghi nhận:

- “Muốn tư hữu hóa thì phải có một quy hoạch tổng thể thống nhất và xây dựng các chế định hoàn thiện bảo vệ cho quy hoạch đó. Ở Việt Nam mình, quy hoạch thay đổi xềnh xệch, quy hoạch treo lơ lửng, quy hoạch manh mún,… sao dám tư hữu.

Tôi nghĩ không cần quan tâm đến ai sở hữu; vì dù ai sở hữu thì đó cũng trong lãnh thổ Việt Nam chứ không mang ra ngoài lãnh thổ được. Quan trọng là cơ chế đảm bảo cho việc sử dụng, sở hữu nó mà thôi”.

- “Theo tôi, hình thức sở hữu đất đai không quyết định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, cũng như trước đây chúng ta thay đổi từ nền kinh tế tự cung tự cấp (bao cấp) sang nền kinh tế thị trường vậy.

Hiện tại, việc sở hữu toàn dân đang là tiền đề cho quá nhiều phức tạp trong quản lý sử dụng đất, dễ thấy nhất là tình trạng quy hoạch treo mà người dân ẵm đủ; đây cũng là một trong những nguyên nhân kiềm chế hiệu quả sử dụng đất, qua đó tác động tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế”.

- “Sở hữu tư là nền tảng cơ sở của chủ nghĩa tư bản - khuyến khích làm giàu cho cá nhân dựa trên các tài sản mà cá nhân sở hữu thông qua việc sử dụng, phát triển, trao đổi tài sản. Sở hữu toàn dân là chẳng ông dân nào thực sự sở hữu cả nên việc quản lý, sử dụng nó để đem lại lợi ích cho toàn dân là cả một vấn đề mà mấy chục năm qua nhà nước giải mãi mà chẳng ra nên cứ như con kiến lại leo cành đa…”.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.net

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn