Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam Cộng hòa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam Cộng hòa. Hiển thị tất cả bài đăng

Miền Nam trước 1975 có là “phồn vinh giả tạo”?

Tuấn Khanh 

Trong xu hướng hưởng ứng phong trào mừng 50 năm thống nhất, do nhà nước đề ra, có không ít những ngôn luận bầy đàn, chọn một cách tấn công: cứ nhắm vào các diễn đàn, hay bài viết đăng lại những hình ảnh của Sài gòn hay của miền Nam xưa. Những nơi này bị các lực lượng dư luận viên, thành phần tuyên truyền cực đoan góp lời chê bai là "phồn vinh giả tạo", "chỉ sống dựa vào tiền viện trợ"... Dĩ nhiên, nói một cách ngu xuẩn và không suy nghĩ thì có muôn vàn hình thái.

Bài dưới đây, viết đã lâu, để nói về cụm từ gọi là "phồn vinh giả tạo", mà gần đây Tổng bí thư Tô Lâm cũng đã có dịp đính chính và trân trọng về "Hòn ngọc Viễn đông" của thời gian đó, nhưng nay lại đang bắt gặp nhiều trong các comment định kiến đây đó. Xin được post lại bài, giữa những ồn ào phỉ báng có chủ đích thấp kém về ý nghĩa "miền Nam được giải phóng".

8 điều đáng chú ý về Hiến pháp 1956 của Việt Nam Cộng hòa

Võ Văn Quản

Chúng ta có thể học được gì từ bản Hiến pháp của nền Đệ nhất Cộng hòa?

Bản Hiến pháp 1956 của Việt Nam Cộng hòa được công bố vào ngày 26/10/1956. Đồ họa: Luật Khoa. Ảnh gốc: nhatbaovanhoa.com.

Luật Hiến pháp (hay luật nhà nước) là một trong những ngành luật quan trọng nhất đối với quá trình đào tạo pháp luật cũng như nắm bắt nền tảng pháp lý và lịch sử pháp lý của một quốc gia. Nó bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ cơ bản về tổ chức quyền lực nhà nước, về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, chế độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ của công dân, về quốc tịch, v.v.

Tại Việt Nam, sinh viên và những người theo học chuyên ngành luật nhà nước thường sẽ được giới thiệu năm bản hiến pháp gồm: Hiến pháp 1946 và 1959 của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hiến pháp 1980, 1992 và 2013 của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tuy nhiên, vẫn còn hai bản hiến pháp quý giá mà hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay phủ nhận: Hiến pháp 1956 và Hiến pháp 1967 của nhà nước Việt Nam Cộng hòa (hay còn được biết đến là chính quyền miền Nam Việt Nam). Với những đặc trưng riêng biệt về hình thức chính thể, chế độ chính trị và cấu trúc nhà nước, việc tìm hiểu các bản hiến pháp của Việt Nam Cộng hòa chắc chắn sẽ có những lợi ích nhất định cho các nhà nghiên cứu pháp lý về một giai đoạn lịch sử thường bị bỏ qua của Việt Nam.

Trong bài viết này, tác giả xin được phép giới thiệu đến bạn đọc Việt Nam một số điểm thú vị trong Hiến pháp 1956 của Việt Nam Cộng hòa (bạn đọc hứng thú với bản tiếng Anh có thể xem tại đây).

Chuyện người tù Việt Cộng trong bệnh viện tâm thần VNCH (Kỳ 1)

Mạc Văn Trang

Thiều Thị Tân bảo, từ 1972 đến nay, 49 năm đã qua rồi, xem hồ sơ bệnh phạm, nhớ đến các y bác sỹ, nhân viên y tế của BV Tâm Trí Biên Hoà và Trại 13, vẫn xúc động nghẹn ngào. Chị bảo, kể những câu chuyện này chỉ cốt nói với các bác sĩ, các nhân viên y tế rằng, dù ở dưới chế độ nào thì các thầy thuốc hãy giữ đúng lời thề Hippocrate để cứu chữa bệnh nhân đúng với lương tri của người thầy thuốc.

Đó là chuyện của nữ biệt động Sài Gòn nổi tiếng THIỀU THỊ TÂN.

Có thể là hình ảnh về 2 người và văn bản cho biết 'Báo Phu Nữ ngày 28 tháng 04 năm 2017 Nữ tù nhân nhỏ tuổi nhất chuồng cọp 15 tuổi Thiều Tháị Tân bư°ác vào chuồ“ng cọp, Côn Đảo. Mười năm vất vả tìm kiếm cô gái nhỏ tuổi nhất chuồng cọp năm nào, chàng trai nưác ngoài ấy tình cờ gặp cô Sài Gòn. Năm xưa, cô người đã thắp lên trong anh và hàng nghìn thanh niên khác ngọn lửa phản chiến. Nay, họ là vợ chồng. Hai chị em Tạo Tân'

Thiều Thị Tân và Thiều Thị Tạo (2017)

Có thể là hình ảnh về 2 người và trong nhà

Thiều Thị Tân và tác giả

Sau khi đọc “THƯ GỬI CÁC THẦY THUỐC CÓ LƯƠNG TRI” của tôi trên FB nói về sự nghiệt ngã của các tù nhân lương tâm vừa qua và hiện nay bị đưa vào bệnh viện tâm thần, chị đã gọi điện cho tôi, muốn gặp để ghi lại giúp câu chuyện của chính bản thân chị đã từng vào “NHÀ THƯƠNG ĐIÊN BIÊN HÒA” (BV Tâm Trí) của Việt Nam Cộng hòa ra sao.

Chuyện chị Thiều Thị Tân và chị gái là Thiều Thi Tạo trở thành biệt động Sài Gòn như thế nào, bị bắt, bị tù ra sao, các “báo chí cách mạng” đã viết  nhiều rồi. Tuy nhiên, ở đây cũng cần nhắc lại một chút bối cảnh của câu chuyện liên quan đến Thiều Thị Tân.

Thiều Thị Tân sinh ngày 31/01/1953 và chị gái Thiều Thị Tạo lớn hơn 3 tuổi. Cha mất sớm, mẹ mua gánh bán bưng, nhưng một sự khác thường là từ Mẫu giáo và Tiểu học các chị chỉ học tiếng Pháp ở Trường Tây như tiếng mẹ đẻ và đến Trung học thì vào trường Lycée Marie Curie tại Sài Gòn, nhưng trực thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục bên Pháp.

Chịu ảnh hưởng tư tưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái và được dạy dỗ tinh thần thượng tôn dân tộc, 11 tuổi đã được học Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, nên khi 12 - 13 tuổi Tân đã muốn phải làm gì để ngăn chặn người Mỹ đem máy bay ném bom Miền Bắc và tàn phá làng mạc Miền Nam. Nhiều đêm Tân khóc về thảm trạng đó của đất nước mình. Bạn bè “tây con, đầm con” của Tân quan tâm hỏi han vì sao Tân khóc sưng mắt, Tân đem 2 tấm bản đồ Việt Nam và Pháp ra cho bạn bè bu lại coi và giải bày tâm sự u uất không dám nói cùng ai: “Tao khổ lắm. Nè, tụi bay thấy hông? Nước Pháp của tụi bay bự như cái bánh, còn nước Việt Nam tao mỏng dánh như cái lá lúa, ngang đây là Vĩ tuyến 17 chia cắt hình chữ S nước tao ra làm 2, máy bay Mỹ cứ ném bom từ cái đường ngang này trở lên thì phân nửa nước tao sẽ rơi xuống biển. Mai mốt tao lớn lên, nước tao sẽ chỉ còn lại phân nửa hình chữ S mà thôi“! Và Tân “khóc hụ hụ dưới tàng cây cổ thụ giữa sân trường”… Các bạn nhỏ của Tân mới 11-12 tuổi, ôm Tân an ủi, chia sẻ nỗi đau buồn.

Việt Nam Cộng hòa lừng lững đi vào lòng đất nước

Trần Doãn Nho

1.

30/4/1975, Việt Nam Cộng hòa (VNCH)[1] tức tưởi chết!

Đọc được từ một email tình cờ lạc vào inbox tôi:

“Còn nhớ trưa ngày 30/4/1975 dưới bầu trời u ám như muốn đổ lệ, tôi đứng ngay cổng xe lửa số 6 trên đường Trương Minh Giảng - Phú Nhuận. Lúc đó lính Cộng hòa đã trút bỏ quần áo đi bộ từng đoàn thất thểu. Súng ống, ba-lô, quân phục họ vất đầy lề đường. Xe tăng và các binh đoàn Motolova của Cộng sản đã tràn vào Thủ đô Sài Gòn, chạy rầm rầm hướng về Bộ tổng Tham mưu. Chung quanh ai cũng hốt hoảng lo tìm đường chạy về nhà, giờ này đi di tản kể như đã quá trễ. Lâu lâu lại thấy một vài đứa khốn nạn Cách mạng 30/4 đeo băng đỏ ngồi trên xe Jeep cầm súng chĩa lên trời, chúng bắn từng tràng đạn chào mừng ngày Giải phóng. (…) Sau ngày 30/4 vào khoảng tháng 5 khi có chiến dịch Bài trừ văn hóa đồi trụy Mỹ Ngụy, có một vụ chấn động Sài Gòn là vụ nổ ở một tiệm cho mướn sách cũ. Chủ tiệm lùa hết bọn đeo băng đỏ vào trong rồi mở kíp lựu đạn tự sát cho dính chùm. Nghe đâu chết vài mống Cách mạng 30/4, ông chủ cũng chết. Tiệm này nằm trong phường 10, quận Phú Nhuận (chung với phường của nhà mình bên đường Thiệu Trị - Nguyễn Huỳnh Đức). Còn một vụ khác vào khoảng năm 1976, có một gia đình bên khu đường rầy xe lửa hướng đi ra Cống Bà Xếp. Gia đình này có hai vợ chồng và tám đứa con. Vì căm phẫn chế độ Cộng sản, họ đã tìm ra đường thoát. Hôm đó, họ nấu một nồi cháo vịt, bỏ thuốc giết chuột vô, cả nhà cùng ăn chung bữa cuối cùng rồi nắm tay nhau chết hết.[2]

Đọc được từ một nữ bộ đội miền Bắc, sau này là nhà văn nổi tiếng Dương Thu Hương: “Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ”.[3]

2.

Chao ôi, đã bốn mươi lăm năm rồi kể từ cái ngày tang thương 30/4/1975!

Trong những ngày này, khi tất cả chúng ta ngậm ngùi nhớ lại thời điểm bi thảm đó, thì trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, chính quyền Cộng sản Việt Nam đang cố gắng vô hiệu hóa Công hàm nhượng bộ Trung Quốc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 bằng cách khẳng định tính cách hợp pháp của chế độ VNCH trong cuộc đấu tranh pháp lý giành lại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua hai Công hàm 257-HC năm 2016[4] và A/72/692 năm 2018 do họ gửi cho Liên Hiệp Quốc.[5] Xin dẫn một trích đoạn liên hệ: “Từ khi quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam năm 1956, chính quyền VNCH đã tiếp quản quần đảo Trường Sa từ Pháp. Bằng Sắc lệnh số 143-NV đề ngày 22 tháng 10 năm 1956, Chính phủ nước Việt Nam Cộng hòa đã chuyển quần đảo Trường Sa từ tỉnh Bà Rịa về tỉnh Phước Tuy. Trong khoảng thời gian giữa 1954 và 1975, Việt Nam tạm thời bị chia thành hai phần. Do vị trí địa lý, vào thời gian này, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được đặt dưới quyền cai trị của Chính phủ VNCH (Miền Nam Việt Nam). Như thế, sự kiện Chính phủ VNCH hành xử việc cai trị lãnh thổ hai Quần đảo trong thời điểm đó là phù hợp với thực tế và luật pháp trong bối cảnh của giai đoạn này. Thông lệ quốc tế chỉ rõ rằng trong thời Chiến tranh Lạnh, có sự hiện diện của hai quốc gia giống Việt Nam như Đức, Yemen…(…) Vào năm 1975, sau khi Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa (vào tháng 1 năm 1974), Chính phủ VNCH đã công bố một Bạch thư đưa ra những bằng chứng lịch sử xác định một cách rõ ràng và đầy thuyết phục chủ quyền lâu dài của Việt Nam trên hai quần đảo này”.[6]

Trong lúc nguy cấp, rốt cuộc, nhà cầm quyền Cộng sản buộc phải bỏ cái thói kiêu ngạo cổ hữu, chính thức thừa nhận sự hiện hữu hợp pháp của VNCH như một cái phao cứu sinh.

Vụ ám sát GS Nguyễn Văn Bông: Cái kết được báo trước của VNCH (kỳ cuối)

Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ(*)

Hiện trường vụ ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông.

Hiện trường vụ ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông.

Ám sát, sụp đổ và đôi điều nhận định

Lẽ dĩ nhiên, Giáo sư Bông càng hữu ích cho việc củng cố chính quyền chống Cộng ở miền Nam Việt Nam, xương sống của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, thì ông càng nguy hiểm đối với bên kia chiến tuyến. Chưa nói đến việc Giáo sư Bông được bổ nhiệm làm Thủ tướng, chỉ riêng các vai trò quan trọng mà ông đang nắm giữ, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, “lò” đào tạo quan chức bộ trung, cao cấp cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa và vì vậy là một trong những “cơ quan đầu não” của chính quyền này, và chủ xướng Phong trào Quốc gia Cấp Tiến, một tổ chức chính trị chống Cộng triệt để, đã đủ đưa ông vào “tầm ngắm” của hoạt động “trừ gian, diệt ác” của các lực lượng an ninh Cộng sản, đặc biệt sau khi có Chỉ thị số 32/CT ngày 15/12/1967 của Thường vụ Trung ương Cục miền Nam.

Lễ cưới của Jackie Bông và Lacy Wright, Washington D.C., 1976.

Lễ cưới của Jackie Bông và Lacy Wright, Washington D.C., 1976.

Được ban hành nhằm chuẩn bị cho “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa” dịp Tết Mậu Thân 1968 theo Nghị quyết tháng 12/1967 của Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam, Chỉ thị này nêu nhiệm vụ, phương hướng của công tác an ninh trong thời gian tới với nội dung: “Hướng vào các đô thị, thị xã, thị trấn và các vùng xung yếu, phối hợp với các lực lượng vũ trang khác và lực lượng chính trị của quần chúng đẩy mạnh trừ gian, diệt ác và bộ máy kìm kẹp, hạ uy thế của địch, tạo thế cho phong trào cách mạng của quần chúng nổi dậy, tiến lên tiêu diệt cơ quan đầu não, các tổ chức cảnh sát, tình báo của Mỹ - Ngụy, các đảng phái phản động của địch một cách triệt để, góp phần đánh sụp ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, giành chính quyền về tay nhân dân, tích cực nắm vững tình hình địch, tích cực chuẩn bị lực lượng chuyên môn để truy kích địch, bảo vệ chính quyền cách mạng”(9).

Cựu đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam, Ellsworth Bunker, và cô dâu Jackie Bông tại lễ cưới Jackie Bông và Lacy Wright, Washington, 1976.

Cựu đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam, Ellsworth Bunker, và cô dâu Jackie Bông tại lễ cưới Jackie Bông và Lacy Wright, Washington, 1976.

Cũng cần nói thêm rằng hoạt động “trừ gian, diệt ác” gia tăng với việc “Ông trùm tình báo Cộng sản” Mười Hương (tức Trần Quốc Hương)(10) tham gia Thường vụ T4 - Khu ủy Sài Gòn - Gia Định và nắm chức Trưởng ban An ninh T4 vào năm 1970, hai năm sau khi ông từ Bắc về Nam và công tác tại Tình báo Miền, Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam (Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam). Thực vậy, Mười Hương có ba nhiệm vụ chính khi về làm Trưởng Ban An ninh T4: diệt ác ôn, đánh xẹp khí thế chính trị của địch; tiến hành công tác điệp báo, xây dựng mạng lưới cơ sở, nắm âm mưu địch; đảm bảo an ninh khu vực.

Để nói, ngay sau khi bắt đầu vận động thành lập Phong trào Quốc gia Cấp Tiến vào tháng 10/1968, vị Viện trưởng Viện Quốc gia Hành chính trở nên nguy hiểm gấp đôi và vì vậy trở thành mục tiêu trừ diệt hàng đầu của Ban an ninh T4.

Ngày 25 tháng 11 năm 1968, sinh viên Luật khoa Đỗ Hữu Cảnh và công nhân Trần Văn Hoành đã đặt chất nổ ở bức tường ngăn giữa phòng họp của Học viện Quốc gia Hành chánh và phòng làm việc của Giáo sư Bông(11). Ông may mắn thoát chết, chỉ bị xây sát đôi chút và ngất đi. Ông Lê Công Truyền, nhân viên Học viện và là người đưa Giáo sư Bông đến bệnh viện, cho biết vụ nổ tạo một lỗ thủng bằng cái nong trên tường và đẩy Giáo sư tọt vào gầm bàn làm việc. Vẫn theo nhân chứng này, câu đầu tiên của Giáo sư Bông sau khi hồi tỉnh tại bệnh viên là: “Có anh em nào bị gì không?”.

Thế nhưng Giáo sư Bông không còn gặp may mắn trong vụ mưu sát thứ hai. Vụ này do sinh viên năm thứ ba Khoa Khoa học Vũ Quang Hùng và trung úy Quân lực VNCH Lê Văn Châu, thành viên Trinh sát vũ trang thuộc Ban An ninh T4 (12), thực hiện bằng một trái mìn DH khoảng 5kg liên kết với ba trái lựu đạn da láng tại ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản, Sài Gòn, vào trưa ngày 10/11/1971.

Trong bài viết “Tôi ám sát người sắp làm Thủ tướng Sài Gòn” đăng trên Dân Việt (báo điện tử của Trung ương Hội nông dân Việt Nam) ngày 30/4/2011, ông Vũ Quang Hùng kể: “Trung tuần tháng 10 năm 1971, ngay sau khi nhận lệnh của cấp trên về mục tiêu cần diệt là Giáo sư Nguyễn Văn Bông, việc đầu tiên là tôi điểm lại tất cả anh chị em trong đội do tôi (Vũ Quang Hùng, bí danh Ba Điệp) làm đội trưởng. Đội trinh sát võ trang mang bí số S1 hoạt động nội thành Sài Gòn-Chợ Lớn thành lập chưa đầy một năm, gồm 11 người (kể cả tôi). Tôi nhớ dặn dò của đồng chí Tám Nam (tức Thái Doãn Mẫn, sau 30/4/1974 là Đại tá, phó Giám đốc Công an thành phố Hồ Chí Minh - CHHV) - phó Ban An ninh T4: “Để bảo đảm bí mật, chúng ta sẽ đặt cho mục tiêu bí số G.33. Cần giữ bí mật đến phút chót và theo tin tức tình báo, G.33 đang chuẩn bị lên nắm ghế Thủ tướng. Nếu G.33 đã nắm chức, sẽ rất khó hành động vì khi ấy việc bảo vệ ông ta sẽ khác hẳn. Và nếu tình huống này xảy ra, cách mạng có thể gặp khó khăn hơn bởi Nguyễn Văn Bông là một trí thức có uy tín và chính quyền ngụy chuyển từ quân sự sang dân sự mọi diễn tiến sẽ có lợi cho địch”.

Đã có nhiều nhân vật cao cấp của chính quyền và quân đội Sài Gòn bị An ninh T4 bị ám sát. Tuy nhiên vụ ám sát Giáo sư Bông mới là đòn chí tử vào Việt Nam Cộng hòa.

Như đã phân tích, Giáo sư Bông là sự lựa chọn hoàn hảo của Mỹ cho “Việt Nam hóa chiến tranh”, chiến lược gây dựng cho chính quyền Sài Gòn khả năng tự đương đầu với địch thủ Cộng sản, trong đó tăng cường năng lực “đấu tranh chính trị” ở vị trí ưu tiên. Thực vậy, Hội nghị Paris đang bàn đến hiệp thương giữa các bên tham chiến người Việt để tổ chức bầu cử cử ở miền Nam Việt Nam. Về phần Tổng thống Thiệu, dù muốn dù không ông cũng phải thừa nhận “Giải pháp Nguyễn Văn Bông” là cách duy nhất có thể giúp Việt Nam Công hòa tiếp tục tồn tại bởi Tướng ba sao này quá hiểu rằng không có cơ may nào, dù là nhỏ nhất, ngăn chặn bước tiến của các lực lượng Cộng sản bằng biện pháp quân sự. Do đó, vụ ám sát Giáo sư Bông dập tắt hy vọng sống sót duy nhất của Việt Nam Cộng hòa. Ông Hoàng Đức Nhã kể: “Khi nghe tin Giáo sư Bông bị ám sát, Tổng thống Thiệu buồn lắm, rất là buồn, Ông ấy nói với tôi: “Đấy chú thấy không, mình cố gắng như thế đó mà không biết thằng nào nó phá” cho dù đã tự động nghi vấn Cộng sản đứng đằng sau.

Thực tế cho thấy sau khi Giáo sư Bông bị ám sát, Tổng thống Thiệu theo quán tính tiếp tục giữ Tướng Khiêm ở vị trí Thủ tướng, đồng nhất với duy trì nội các chiến tranh. Điều này không chỉ củng cố quyết tâm thống nhất đất nước bằng quân sự của những người Cộng sản Việt Nam mà còn biện minh hơn nữa việc theo đuổi chiến tranh đến cùng của họ trong dư luận thế giới nói chung, dư luận Mỹ nói riêng. Tóm lại, cổng Dinh Độc lập bị hai xe tăng mang số hiệu 390 và 843 trong đội hình tổng tấn công của 20 sư đoàn chính quy Quân đội Nhân dân Việt Nam húc đổ vào trưa ngày 30/4/1975 chỉ là sự kiện được tiền định bởi vụ ám sát Giáo sư Bông mà thôi!

Để kết thúc bài viết này, tác giả có đôi điều nhận định từ vụ ám sát Giáo sư Bông.

Vợ chồng tác giả và bà Jackie Bông Wright (phải). Virginia, 10, 2019.

Vợ chồng tác giả và bà Jackie Bông Wright (phải). Virginia, 10, 2019.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn