Hiển thị các bài đăng có nhãn Vu khống chữ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vu khống chữ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

BẢN DỊCH “NHẬT KÝ TRONG TÙ” - NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY

PGS. Đào Thái Tôn

Trên FB của một người lấy tên là Sơn Kiều Mai gần đây có một bài viết chỉ trích nặng nề GS Nguyễn Huệ Chi trong việc chỉnh sửa tác phẩm Nhật ký trong tù (NKTT) do nhà thơ Nam Trân dịch hồi 1960 (dịch 113 bài, để lại 20 bài). SKM mượn bài viết của PGS TS Đào Thái Tôn nói về Nam Trân và việc chỉnh sửa NKTT, và mượn cả ý kiến PGS TS Đoàn Lê Giang nói về ông Nguyễn Khắc Thuần rồi trưng ra một tấm hình tờ bìa lót cuốn Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù do GS Nguyễn Huệ Chi chủ biên (NXB Giáo dục, 1997) đề đi đến kết luận: “Nam Trân vào xó chình ình Huệ Chi”.

Nhưng cũng trên trang FB ấy, ngoài những comment như “Nản khi đọc về một nhân sĩ chấy thức” (Nguyễn Văn Minh) hoặc “Toàn một lũ chống cộng điên cuồng” (Trần Thư)…, có 3 comments của hai người là Tom Jerry và PGS TS Đoàn Lê Giang. Trong comment thứ nhất, Tom Jerry đưa ra tấm hình một trang ghi tên những người soạn Suy nghĩ mới về NKTT và những người dịch NKTT rồi bình: “Thấy lời chửi bới mở sách ra đọc thì ô hay, không tên cụ Nam Trân đứng trên cùng trong Dịch thơ thì là gì đây? SKM là ai mỗ không biết, mỗ chẳng thiên vị ai, nhưng có lẽ cái trò chỉ đưa một phần sự thật để biến không thành có đã đủ biết bài viết có đáng tin hay ko và người đưa nhân cách thế nào!”.

Tiếp đó, PGS TS Đoàn Lê Giang trong comment của mình viết: “NÓI CHO RÕ. Trong Status trên [của SKM] có đoạn: “P/s: Có người hỏi tôi rằng: Hình như ông Huệ Chi chưa từng tự dịch được một tác phẩm nào từ bản gốc? Tôi mượn câu nói của ông Đoàn Lê Giang thay câu trả lời: Nếu ông Nguyễn Khắc Thuần tự dịch được một tác phẩm nào từ bản gốc thì sẽ đổi cả tủ sách Hán Nôm. Huệ Chi cũng vậy”. Nên hiểu cho rõ là tôi chỉ nhận xét về ông Nguyễn Khắc Thuần, ông Thuần dịch lại Lê Quý Đôn toàn tập và nhiều sách khác, nhưng tôi chưa thấy ông Thuần dịch một bản chữ Hán nào mới cả. Còn câu sau “Huệ Chi cũng vậy.” là câu của Kiều Mai Sơn. Tôi chưa bao giờ nhận xét gì về chữ Hán và việc dịch chữ Hán của GS. Nguyễn Huệ Chi”.

Tiếp đó nữa, Tom Jerry lại viết trong comment thứ hai: “Tò mò vì thấy SKM viết hình như có cái gì đó anh hùng núp bên trong, mỗ quyết tìm bằng đc bài Đào Thái Tôn để đọc. Thì ra mình nghĩ chẳng có sai. Ô ĐTT có phê phán ô Huệ Chi mô, ông ta phê cấp trên đã truyền lệnh xuống cho Tiếu Ban Viện Văn Học bắt phải dịch lại “Nhật ký trong tù” từ hồi năm 1978 nên Viện này phải “làm dâu trăm họ” đó chớ. Này nha: “Nhưng nếu như năm 1961, Nam Trân đã trình bày cặn kẽ với thực khách về kỹ thuật bếp núc của người đầu bếp thì năm 1978 Viện Văn Học lại quá tin theo góp ý của mọi người, lâm vào cảnh làm dâu trăm họ nên thế tất sẽ phát sinh lúng túng. Nhg một khi cấp trên đã chủ trương như vậy, cấp dưới phải thực hiện. Tiểu Ban đã thực hiện một cách nghiêm túc trên tinh thần phát huy truyền thống khoa học của Viện, lần lại hồ sơ, tìm thêm được ba trong 20 bài Nam Trân đã dịch chưa công bố để đưa thêm vào “Nhật ký trong tù” (bản dịch trọn vẹn)... ” (Bài “Bản dịch Nhật ký trong tù - Những điều trông thấy" sách “Nam Trân - nhà thơ, nhà giáo, dịch giả”, trg 289). Này nữa này: “Từ chỗ thành tâm thực hiện chủ trương cấp trên, những tưởng sẽ góp phần nâng cao hơn nữa bản dịch, Tiếu ban ko thể ngờ rằng những lúng túng trên đây đã tạo tiền lệ cho một số người vì mục đích riêng bám vào. Từ đó, họ mượn cớ “dịch lại” Nhật ký trong tù, tha hồ tùy tiện sửa chữa, xóa bỏ những bản dịch thơ Nam Trân, đưa thêm những bản dịch khác” (trg 290). Đọc xuống nữa thì mới ngộ ra “một số người vì mục đích riêng bám vào” là 2 người, đó là Ng Đức Diệu nào đó - GĐ Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, và ghê gớm hơn là Mai Quốc Liên - Trung Tâm Quốc Học nào đó, mỗ đều chẳng rành. Kkk... Hôm trước mỗ đã đoán già đoán non mà hóa trúng. Thời buổi này giới văn chươg chữ nghĩa đang huých thẳng nhau gọi là phê bình đấy”.

Để có cái nhìn khách quan, dưới đây chúng tôi xin đăng lại bài viết chính thức, có lẽ là bài sau cùng của PGS TS Đào Thái Tôn viết về vấn đề đã nêu (mà MKS đã nhắc), đọc tại lễ kỷ niệm 100 năm sinh Nam Trân 2008, in trong sách Nam Trân – Nhà thơ, nhà giáo, dịch giả, NXB Tri thức, 2017, tr. 283-311, ngõ hầu giúp bạn đọc thưởng lãm (Chúng tôi có in đậm hai đoạn mà Tom Jerry đã trích dẫn).

Văn Việt

Đào Thái Tôn đã rất thông cảm tình cảnh "làm dâu trăm họ" của Viện Văn học khi đó (1978) nhưng vẫn chưa biết hết những cú điện thoại từ tận trên cao gọi xuống "chỉ thị" nhiều điều, trong đó có một điều không ngờ là yêu cầu khôi phục "Văn Trực-Văn Phụng" tức ông Phạm Văn Bình vốn ngồi ở Văn phòng Trung ương hồi 1955 và dịch ra vần cuốn "Nhật ký trong tù" đầu tiên. ĐTT chỉ đoán là "chịu sức ép" mà thôi, nhưng Viện trưởng Hoàng Trung Thông đã phải bàn với tôi đến nát óc, cuối cùng chấp nhận khôi phục tên VT-VP dưới 7 bài - 7 bài này tuy đã qua tay hiệu chỉnh chút ít của Nam Trân nhưng vẫn rõ nét lời dịch của Phạm Văn Bình mà tôi nghĩ, trả về cho VT-VP là hoàn toàn chính đáng.

ĐTT cũng quá yêu nhà thơ Nam Trân nên tưởng bài nào nhà thơ cũng đúng và cần bảo lưu nguyên vẹn thơ dịch của Nam Trân. Tất nhiên hai trường hợp mà ĐTT phê phán kịch liệt ở dưới mà Tom Jerry đã chỉ đích danh thì hoàn toàn chính xác. Họ chủ tâm bỏ Nam Trân vì những mục đích tạm gọi là thực dụng, có kẻ thì rõ ràng vụ lợi, thì phải vạch mặt chỉ tên là đúng. Còn chúng tôi cũng rất yêu Nam Trân nhưng khi khảo kỹ văn bản (chỉ có VVH mới có những văn bản này để khảo kỹ và sâu), chúng tôi tìm ra những chỗ nhà thơ đã đọc sai nguyên tác, chẳng hạn hai chữ "nhân áng" 人 盎 trong bài "Nhà ngục Thiên Giang" (遷江獄) mà Nam Trân đọc nhầm ra "cá áng" 个盎 . "Cá áng" là cái chậu, thế thôi. "Nhân áng" = cái chậu chôn người, nghĩa hay và chua chát hơn nhiều. Vậy phải sửa cả dịch thơ là chính đáng và là công lao chứ. Băng Thanh đã sửa: "Ngoài lao sáu chín chiếc ang người / Ang chất trong lao biết mấy mươi / Nhà ngục mà như nhà chế thuốc / Gọi là hàng chĩnh cũng không sai". Hay bài "Dạ tuc Long Tuyền" (夜宿龍泉), Nam Trân dịch mà lại phá bỏ cách ngắt nhịp cổ điển của câu thơ 7 chữ là ngắt 4/3 nên hai câu thứ 2 và thứ tư đọc khó hiểu: "Đôi ngựa" ngày đi chẳng nghỉ chân / Đêm "gà năm vị" lại thường ăn / Thừa cơ rét, rệp xông vào đánh / Mừng sớm nghe oanh hót xóm gần" (người đọc thơ muốn hiểu thì phải ngắt: Đêm / "gà năm vị" lại thường ăn, và Mừng / sớm nghe oanh hói xoam gần, nếu không thì không hiểu được) . Vì thế chúng tôi phải chữa: "Đôi ngựa" ngày đi chẳng nghỉ chân / Món "gà năm vị", tối thường ăn / Thừa cơ rét, rệp xông vào đánh / Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần" đọc thông hơn nhiều. Thế mà những kẻ chủ tâm xóa bỏ Nam Trân (mà ĐTT đã vạch mặt) lại mở miệng ra gào là sửa làm hỏng cả thơ Nam Trân. Đúng là thời buổi muốn nói gì thì nói.

Nguyễn Huệ Chi 

 

TỪ TIỀN LỆ DỊCH LẠI “NHẬT KÝ TRONG TÙ” …

1. Bản gốc Ngục trung nhật ký hiện lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đánh số từ bài 1 đến 133. Nếu tính cả 4 câu thơ như lời Đề từ viết phía trên bức tranh minh họa hai cổ tay bị xích, là 134 bài. Nhưng vì bài số 100 chỉ có ba chữ “Liễu Châu ngục”, nên tập thơ vẫn là 133 bài. Theo Nam Trân, ngày đó do có một số bài liên quan tới những người làm việc cho Tưởng Giới Thạch, dịch ra không tiện (1) nên năm 1960 đã để lại 20 bài, công bố 113 bài. Nếu tính cả bài Mới ra tù tập leo núi Tố Hữu đề nghị dịch thêm (2) vốn nằm ngoài tập thơ, thì bản in năm 1960 đã công bố 114 bài.

2. Vì thế, cuối năm 1977, một Tiểu ban chỉnh lý và bổ sung bản dịch Nhật ký trong tù của Viện được thành lập và đến năm 1983, lần đầu tiên đưa thêm được 13 trong 20 bài chưa công bố. Đến năm 1990 mới công bố được bản dịch trọn vẹn, kể cả bài Mới ra tù tập leo núi, gồm 134 bài. Phần bổ sung đã xong. Nhưng việc dịch lại phần dịch nghĩa, chỉnh lý một số câu chữ trong phần dịch thơ, thay thế một vài bài thơ dịch bằng bài dịch mới, hoặc dịch thêm một bản dịch khác (3) khi tác giả và dịch giả đều đã mất, là việc làm khá bất ngờ; bởi ai cũng biết rằng, để tỏ lòng thành kính đối với tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khẳng định chất lượng bản dịch Nhật ký trong tù, từ khi công bố (1960), bản dịch không mang danh nghĩa cá nhân mà mang danh nghĩa VIỆN VĂN HỌC. Nam Trân rất thanh thản về điều đó. Có lẽ Chế Lan Viên là người đầu tiên khẳng định công lao của Nam Trân. Trong bài Nhớ tiếc Nam Trân (4), Chế Lan Viên viết: “Chỉ một việc anh dịch xong tập thơ của Bác, Anh đã coi là có thể làm xong nhiệm vụ của Cách mạng. Nếu anh rất vinh dự được Cách mạng giao cho công tác ấy thì hàng triệu độc giả cũng cảm ơn Anh vì nhờ Anh, họ đã thưởng thức được Nhật ký trong tù”.

Lý do việc dịch lại, đã được Viện Văn học cho biết, là: Trong 30 năm qua, bạn đọc từ nhiều miền của Tổ quốc đã gửi về những bản góp ý cụ thể, tỉ mỉ về chất lượng bản dịch. Báo chí cũng từng trao đổi nhiều xung quanh vấn đề đó nên năm 1977 một Tiểu ban đã chính thức được thành lập để chỉnh lý bản dịch. Vậy chúng ta hãy cùng nhau xem lại những góp ý qua các thời kỳ:

Năm 1961. Ngay khi bản dịch mới ra đời, bên cạnh nhiều thư từ gửi đến Viện Văn học hoan nghênh, Nam Trân cũng “nghe được nhiều tiếng chuông rất khác nhau”. Vì thế, trên Tạp chí Văn học số 9/1961, khi viết bài cảm ơn thịnh tình của bạn đọc, ông không quên dẫn ra hai góp ý tiêu biểu để từ tốn thưa lại. Ông viết:

- “Bà Hoàng Thị Liên, phát biểu: “Bản dịch của Viện rất hay nhưng tôi nghĩ rằng muốn phổ thông hóa các bài thơ đó thì phải dịch theo thể thơ lục bát mà dịch liên tiếp nhau thành một tập thơ kể chuyện”. Nam Trân thưa: “Chúng tôi thấy đó là một sáng kiến xuất phát từ tinh thần phục vụ quảng đại quần chúng nhân dân. Song rất tiếc là sáng kiến đó không thực hiện được vì lẽ rằng chúng ta không thể kết lại thành một thiên tự sự những bài thơ có lối cấu tạo riêng biệt của nó”.

- “Bạn Hồ Lãng có ý kiến: “Kể thì đọc những câu thơ dịch, những ai dễ tính rất có thể khen là bay bướm mượt mà, nên thơ hơn nguyên tác thật. Song chính cái hay hơn này, nên bản dịch mới thật là đáng trách. Chúng ta cứ tưởng tượng như có một người nào đó xem tượng vạc đắp, rồi trông thấy mà đắp theo, nhưng lại gọt hết những nét gai gợn xù xì trên pho tượng cho mượt mà đi; hoặc họ xem tranh chấm phá, rồi vẽ theo nhưng lại tô những nét loang lổ xơ xác cho gọn lại; thì ta sẽ thấy việc làm của họ không những đã không nên khen mà còn phải phê bình là khác”. Nam Trân thưa: “Trong bài này chúng tôi sẽ không đề cập tới những ý kiến liên quan đến các vấn đề lý luận (Thế nào là giữ phong cách của thơ trong bản dịch? Thế nào là không lệ thuộc quá mức vào nguyên tác?…). Vì lẽ rằng ý kiến của các bạn đã xác định những điều mà chúng tôi sẽ học tập được trong quá trình dịch tập thơ. Tuy nhiên, có một điểm cần phải nêu lên là chúng tôi không bao giờ quan niệm công tác dịch thơ như công tác bắt chước đắp lại một pho tượng hoặc vẽ lại một bức tranh. Trái lại, theo chúng tôi, người dịch thơ phải làm việc với óc sáng tạo, chí ít cũng có phần sáng tạo trong ngôn ngữ dân tộc. Sau khi tìm hiểu tâm cảnh, ý cảnh trong bài thơ, người dịch phải diễn đạt lại tinh thần của một tác phẩm nghệ thuật dưới một hình thức hoàn toàn thích hợp với nội dung. Đó là chỗ chúng tôi thấy có khác nhau với quan điểm trên đây của bạn Hồ Lãng.

Hơn nữa, bút pháp trong thơ Hồ Chủ tịch có cái hoàn chỉnh đặc biệt của nó. Ấy là lối hoàn chỉnh mà người xưa gọi là thiên y vô phùng (áo trời không có đường may), tuyệt nhiên không phải là những nét xù xì gai gợn như trên một pho tượng nào. Điều khó dịch trong thơ Hồ Chủ tịch là thơ của Người đã vượt qua khỏi cái đỉnh cao nhất của thời kỳ điêu luyện và đã trở thành một nghệ thuật giản dị hầu như tự nhiên”.

Năm 1978. Xem lại biên bản cuộc họp cộng tác viên đầu năm 1978 “góp ý về những bản dịch” (5), thì thấy:

Một là, đã gọi là góp ý thì phải góp từ khâu bản thảo. Đằng này ván đã đóng thuyền, sách đã in từ 1960 mà năm 1978 mới “góp ý”, thì góp cho ai? Đây là cuộc họp phê bình bản dịch. Nhưng Nam Trân đã mất (1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đã mất (1969), trong khi bản dịch tập thơ đã đi sâu vào tâm thức quần chúng như một hiện tượng lịch sử, văn học lớn thì việc dịch lại như vậy, có nên chăng?

Hai là, đọc biên bản, thấy nhiều người mang một số chữ trong câu thơ dịch để phê phán rằng dịch chưa sát với nghĩa chữ Hán của nguyên tác, thì là điều thật lạ lùng. Trong không khí như thế, khi Lê Trí Viễn nói “cái đích là phải đạt được những bản dịch khiến người ta quên nguyên bản. Đối với bản dịch thì khó hơn. Có khi người ta chấp nhận một bản dịch xa nguyên tác một chút, nhưng hay” thì, ý kiến của ông như lạc đề, không được ai chú ý. Nếu như vậy thì từ bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm đến những bài thơ tự dịch của Phạm Quý Thích, Nguyễn Khuyến, thậm chí là cả bản dịch Tân xuất ngục học đăng sơn (Mới ra tù tập leo núi) của T.Lan (6), của Nam Trân… cũng sẽ bị phê là những bản dịch “không sát với nguyên tác”!

Có nhìn lại như thế mới thấy rằng người dịch thơ như người soạn món ăn mà người đọc chẳng khác nào thực khách. Nhưng nếu như năm 1961, Nam Trân đã trình bày cặn kẽ với thực khách về kỹ thuật bếp núc của người đầu bếp thì năm 1978 Viện Văn học lại quá tin theo góp ý của mọi người, lâm vào cảnh làm dâu trăm họ nên thế tất sẽ phát sinh lúng túng. Nhưng một khi cấp trên đã chủ trương như vậy, cấp dưới phải thực hiện. Tiểu ban đã thực hiện một cách nghiêm túc trên tinh thần phát huy truyền thống khoa học của Viện, lần lại hồ sơ, tìm thêm được ba trong 20 bài Nam Trân đã dịch chưa công bố để đưa thêm vào Nhật ký trong tù (bản dịch trọn vẹn) (7). Nhưng vì theo sát những góp ý của cộng tác viên, Tiểu ban đã hồn nhiên chỉnh lý cả phần dịch nghĩa lẫn phần dịch thơ, thậm chí dịch lại một số bài. Thế là những lúng túng bắt đầu hiện ra khi gặp những câu hỏi:

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn