Hiển thị các bài đăng có nhãn Trí thức Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trí thức Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Trí thức Việt hay thầy bói mù tả voi

Đặng Đình Mạnh

Trên thế giới này, không đâu mà người có ăn, có học lại dễ xúc động như tại Việt Nam. Chỉ cần một quan chức lên sân khấu ôm đàn hát nghêu ngao, hoặc phát biểu mà không cần đọc giấy, đã khiến cho cử tọa, là nhà báo, giáo sư, tiến sĩ, doanh nhân… rưng rưng nước mắt.

Chẳng ai có ý định hỏi: “Sau màn trình diễn ấy thì người dân sẽ được những gì?,” vì hỏi thế… mất vui.

Bình luận Nghị quyết về trí thức

Nguyễn Đình Cống

Để tỏ ra quan tâm đến trí thức, Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng) đã có nhiều văn bản đề cập đến đội ngũ này, trong đó quan trọng là Nghị quyết số 27 ngày 06 tháng 8 năm 2008, do TBT. Nông Đức Mạnh ký, về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, và Nghị quyết số 45 ngày 24 tháng 11 năm 2023 do TBT.Nguyễn Phú Trọng ký, về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Dưới đây tôi sẽ tóm tắt một số nội dung của hai NQ (từ trên 9000 từ xuống còn trên 900 từ) và viết vài bình luận. 

Viết cho ngày Chủ nhật: Trí thức?

Lê Phú Khải

Thời còn làm việc tại cơ quan Đài Tiếng nói Việt Nam ở Sài Gòn, tôi thường được các Hội Nhà báo các tỉnh Miền Tây, Miền Đông Nam bộ mời làm giảng viên bồi dưỡng các lớp nghiệp vụ báo chí cho anh em phóng viên đài báo địa phương.

Một lần, được Hội Nhà báo tỉnh Cà Mau mời làm việc, sau khi kết thúc lớp bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí, anh Bảy Minh bảo tôi: Mời đồng chí ở lại dự Hội nghị Trí thức của tỉnh vào sáng mai. Tôi nhận lời ngay và xin các anh cho xem danh sách các vị trí thức trong tỉnh được mời dự hội nghị.

Tôi thấy một danh sách dài các bác sỹ, kỹ sư, giáo sư, có người còn có bằng tiến sỹ học ở Liên Xô về.

Tôi hỏi: Sao các anh không mời nhà văn Nguyễn Ngọc Tư?

Các đồng nghiệp của tôi có vẻ ngạc nhiên (!). Tôi nói tiếp: “Trí thức là những người lay không cho xã hội ngủ, bất kể họ là ai!” (Cao Huy Thuần).

Trí thức như tôi thấy

(hay một cách nhìn về trí thức đương đại)

Thái Hạo

1. Tiếp xúc nhiều với những người trí thức và nghệ sĩ cả ngoài đời lẫn trên không gian mạng, tôi có vài nhận xét sơ bộ, với góc nhìn của “thế giới như tôi thấy", về những ứng xử xét như là thái độ tinh thần của con người trước cuộc đời.

Chủ trương thái độ sống “cùng tắc độc thiện kì thân” (Nếu đến mức bi đát nhất thì ta chỉ cần giữ cho bản thân mình được thanh cao). Đây là hành xử của Nho giáo, thống nhất trong lối xuất – xử, hành – tàng. Những người Nho giáo chủ trương “tu thân”, lấy tu thân làm gốc và cũng làm “ngọn”, nếu thời thế an định trị bình thì ra “hành đạo” giúp đời, nếu xã hội động loạn nhiễu nhương thì lui về ở ẩn để giữ tiết tháo và sự thanh cao của mình. Nho giáo là một tư tưởng giao thoa giữa đạo và đời, giữa tôn giáo và chính trị; nó không phải 1 học thuyết thuần “xã hội học”, cũng không phải 1 tôn giáo đúng nghĩa. Khi “thần học” còn thống lĩnh tư tưởng của thời cổ thì sự xuất hiện của Nho giáo như một học thuyết trung gian, học thuyết này không thể dùng vào 1 phía nào cho trọn vẹn. Nếu dùng để trị nước thì sinh ra mê tín và chuyên chế, nếu dùng để “tu” thì bị mắc kẹt trong các giáo điều và thái độ nửa vời “triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải”. Thái độ bất lực của các nhà Nho trước xã hội và cuộc đời đã được sự chống đỡ của "thánh hiền" như 1 sự an ủi và tự vỗ về bằng cách chui sâu vào các giáo huấn đầy tính tự phụ nhưng bao giờ cũng bất an.

Nông cạn, cẩu thả, ảo tưởng sức mạnh - những đặc trưng mang tính vấn nạn với thế hệ lao động tri thức trẻ ngày nay

FB Giang Le
Nông cạn về tri thức. Với sự phát triển của công nghệ ngày càng tiến bộ, hàm lượng tri thức có thể tiếp cận tăng với cấp số nhân, nhưng cũng chính sự tiến bộ đó đi cùng với một nghịch lý tư duy, đó là con người ta càng ngày càng trở nên tư duy phiến đoạn (clip thinking). Tư duy phiến đoạn có ba đặc trưng chính:
+ Nó chia cắt thông tin/dữ liệu/tri thức thành từng mảnh nhỏ - dễ tiếp cận, dễ “nuốt”, dễ hiểu, nhưng phá vỡ mọi tính hệ thống và sự liên kết mang tính phức hợp của thông tin/dữ liệu/tri thức đó khỏi “môi trường” của nó, dẫn đến một kiểu tri thức mang tính “phi thực tại”.
+ Nó làm cho người dùng tạo thành một thói quen mang tính “ăn liền” (fast-food): tìm kiếm (search) - cắt ra một đoạn chọn lựa phù hợp (options) - và áp dụng (applying); mà không cần phải tìm hiểu về tri thức đó một cách có ngọn ngành, miễn sao có cái để dùng và hợp hợp là được rồi.
+ Nó làm cho tri thức bị đứt đoạn, làm cho con người ta mất năng lực tư duy có phương pháp.
Chính những điều đó hiện nay, với sự dễ dàng quá mức của các công cụ tìm kiếm như Google, đã làm cho các lao động tri thức trẻ hiện tại, ngày càng trở nên lạm dụng tình trạng đó. Họ ngại tất cả những thứ phải tư duy trừu tượng, ngại phải tìm hiểu vấn đề một cách có hệ thống và ngọn ngành, ngại phải bỏ công sức cho việc đánh giá phân tích một cách cẩn thận các tri thức mà họ tiếp nhận và sử dụng. Việc học tập cũng vậy, chú trọng nhiều vào việc học các kỹ năng, các mô hình mà rất ít tiếp cận về lý thuyết và phương pháp. Đó là nguyên nhân của sự nông cạn về tri thức, biết rất nhiều, nhưng hiểu chẳng bao nhiêu. Thậm chí có cả một tình trạng là chỉ biết mỗi “cái giếng” của mình, mà không hề tìm hiểu “cái giếng” đó đang nằm ở đâu, trong cái vườn nào, và xung quanh như thế nào.
Cẩu thả là một đặc trưng thứ hai, nó cũng là hệ quả của sự nông cạn về tri thức. Chính vì nông cạn về tri thức, nên việc sử dụng các tri thức cho công việc cũng trở thành “cẩu thả”. Cẩu thả bởi vì:

Ông Trần Đức Anh Sơn bị khai trừ hay "trí thức là cứt" là có thật?

Hoa Nghi 
Sự kiện kỷ luật ông Sơn hay cách ứng xử của thời đại Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với giới trí thức thực sự đã cho thấy một phản ứng ngược mà bản thân ông Trọng không nhận ra.

Ông Trần Đức Anh Sơn

Kỷ luật trong ĐCSVN có nhiều mức độ, và càng ngày nó càng khiến người dân biểu lộ những cảm xúc đầy tính liên quan.

Có những kỷ luật khiến người dân phẫn nộ, vì mức độ kỷ luật nhẹ trong khi vi phạm nặng, có những kỷ luật khiến người dân càng tôn trọng người bị kỷ luật hơn. Ví như trường hợp Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, ông Trần Đức Anh Sơn, bị Ủy ban thường vụ thành ủy ra quyết định kỷ luật vì “đã viết, đăng tin, bài sai sự thật, không đúng với quan điểm của Đảng,… trên mạng xã hội” (vào ngày 08- 3- 2019).

Ông Nguyễn Lương Thịnh, một người bạn với ông Trần Đức Anh Sơn đã chia sẻ trên Facebook cá nhân rằng, ông Sơn “chọn vị trí là Nhà Khoa học để bảo vệ và phát triển các thành quả nghiên cứu, thay vì nhận các chức danh do Đảng phân công, trong đó phải chấp hành nghị quyết của tổ chức về đề tài và biên độ nghiên cứu.” Và ông Sơn “đã chủ động” thông báo quyết định của mình trước khi cơ quan báo chí của Đảng loan tin (thực tế cho thấy, ngày ông “về với Nhân dân” được đăng tải trên Facebook là ngày 18/02/2019.)

Bị kỷ luật nhưng được hoan nghênh: vì sao?

Càng ngày, những bản án kỷ luật nhắm vào những người trí thức thực sự (những người đang là đảng viên nhưng lại phát ngôn hoặc hành động trái với quan điểm và chủ trương của đảng) lại được người dân hoan nghênh. Bởi câu chuyện của ông Sơn khá giống ông Chu Hảo, khi cả hai dám lên tiếng chỉ ra cái “sai của Đảng”, và đánh giá về các sự kiện – hiện tượng trong xã hội theo quan điểm thẳng thắn của một sĩ phu đau lòng trước thời cuộc.

Trên Facebook của ông Sơn, có những bài đăng tải liên quan đến Biển Đông, và chủ quyền bị giành giật bởi Trung Quốc; bài về vấn đề Trung Quốc “thọc gậy” thượng đỉnh Mỹ - Triều,… Ông cũng từng chia sẻ thẳng thắn trên Facebook về vấn đề chiến tranh Biên giới 1979 bằng luận điểm: Lịch sử muốn phản ánh đúng sự thật, còn chính trị chỉ muốn sự thật được phản ánh đúng lúc. Đáng buồn là chính trị luôn thắng lịch sử.

Nhà báo, Facebooker Chu Vĩnh Hảo cũng đón nhận tin ông Sơn bị khai trừ bằng cảm giác “rất vui”, bởi ông tin rằng, “là một học giả, Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn nhất thiết phải coi trọng tính độc lập của các tiểu luận và các công trình nghiên cứu, và để đạt được tính độc lập ấy, anh cũng như các học giả khác, cần phải độc lập với sự bảo hộ của bất cứ đảng phái nào”.

Sự kiện kỷ luật - khai trừ đảng đối với ông Trần Đức Anh Sơn đã cho thấy, Đảng CSVN đang tự rút ra khỏi tổ chức những nhân tố tích cực và bền vững cho sự trường tồn của mình. Tại sao? Bởi phản biện và dám lên tiếng sẽ tạo nên nội lực trong một đảng phái, làm sạch đảng phái chứ không phải là sự tuân lệnh 100% đối với những chủ trương, điều lệ, nghị quyết sai của đảng. Đảng CSVN đang suy thoái, muốn cứu vãn bằng phương pháp “hồng hơn chuyên”, nhưng vô tình, những yếu tố này khiến cho Đảng trở thành một tập hợp của những con sâu đục phá và dàn lợi ích nhóm chằng chịt, sẵn sàng không trái quan điểm của đảng để hoàn toàn tư lợi cá nhân.

Bởi, hình thức kỷ luật đảng bằng cách khai trừ là điều nên làm, nhưng sự lớn mạnh trong đảng chỉ có thể diễn ra khi hình thức kỷ luật này áp dụng cho chính những đối tượng tham nhũng và tham vọng quyền lực tập trung, thay vì tập trung đánh giới trí thức trong đảng (vốn là những nhân tố luôn nhấn mạnh sự độc lập, tự chủ phản biện). Bởi, kỷ luật lần này không khác gì đảng đang trương cao quan điểm của Lenin trong thời điểm hiện nay: Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức – đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là cứt... Một quan điểm khinh thị trí thức như thế càng đẩy nhanh tiến trình khủng hoảng trong đảng. Và có vẻ, “Trí thức là cứt” nên “không phải muốn nói gì thì nói”, ngay cả khi là con cháu “công thần”- điều này được quán triệt trong đảng một cách tuyệt đối dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng.

Mặt khác, sự ra đi của giới trí thức thực sự khỏi ĐCSVN cho thấy, trong đảng luôn tồn tại “vòng kim cô" siết chặt sự tự do học thuật và tự do phản biện (điều làm nên tính chất chân chính của nền khoa học nhân bản, khai phóng). Và kỷ luật khai trừ lần này cùng lúc cho thấy một lúc hai vấn đề: giới trí thức ngày càng không chấp nhận sự cưỡng chiếm tư tưởng, và Đảng CSVN ngày càng không chấp nhận để giới trí thức là đảng viên được mở rộng quyền tự do tư tưởng của mình. Có lẽ chính vì vậy, mà Facebooker Huy Truong đã chúc mừng ông Sơn trên Facebook cá nhân bằng luận điểm: Thầy Sơn là nhà khoa học chứ không phải là nhà chính trị, nên khi ra khỏi Đảng sẽ có nhiều thời gian và “không gian” để làm khoa học hơn. Chúc mừng thầy.

Sự kiện kỷ luật ông Sơn hay cách ứng xử của thời đại Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với giới trí thức thực sự đã cho thấy một phản ứng ngược mà bản thân ông Trọng không nhận ra. Bởi sự ra đi của ông Chu Hảo hay Trần Đức Anh Sơn không làm mất đi tính danh giá của cá nhân họ, mà ngược lại nó càng gia cố thêm sự danh giá cá nhân của họ, và họ được hoan nghênh, ca tụng là “sự trở về với Nhân dân”. Và với quyết định kỷ luật lần này mà Đảng CSVN áp dụng đối với ông Sơn, câu hỏi đặt ra là: Những người có tài có tâm huyết đều ra đi, vậy trong đảng còn lại những ai?

H.N.

VNTB gửi BVN

Trí thức Việt vui vì điều gì

Nguyễn Đình Cống

Trí thức Việt, vui vì cái gì? Chắc không có câu trả lời thống nhất vì có người được nhận là trí thức của Đảng, số khác lại tự cho là trí thức của Dân. Phải chăng 2 loại trí thức này có những niềm vui khác nhau?

Ngày 29/1/2019 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp gỡ chúc Tết 300 đại biểu trí thức Việt. Trong buổi đó ông Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã có bài phát biểu đáng chú ý. Ông nêu ra 4 điều. Báo Đất Việt đặt tên bài là: “Bốn niềm vui của trí thức năm 2018”. Trong bài còn nâng lên thành 4 niềm vui lớn. Đó là:

1. Mặc dù khó khăn, đất nước vẫn phát triển nhanh và toàn diện;

2. Giữ được môi trường hòa bình, ổn định;

3. Đảng và Nhà nước quan tâm đến công tác cán bộ;

4. Chiến thắng của đội bóng đá.

Xét về tên gọi thì 4 điều vừa nêu là niềm vui cho mọi người Việt, đặc biệt là đối với những người dễ tính, chỉ cần nghe thông tin từ một phía để củng cố lòng trung thành với chế độ. Tuy vậy khi đọc xong tôi phát hiện một số nhàm chán và sai lạc, thể hiện trình độ yếu kém của nhận thức và nắm tình hình. Ông Chủ tịch Liên hiệp Hội tự nghĩ rằng đã đại diện cho trí thức Việt Nam, nói lên các niềm vui, để ca ngợi. Tôi, một lão già U90, nhưng vẫn tự xem là trí thức, thấy xấu hổ khi biết rằng, một người có tầm hiểu biết yếu kém về xã hội như vậy mà làm đến Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH và KT và nghe đâu còn giữ những chức vụ quan trọng khác.

Trong niềm vui thứ nhất, ông Chủ tịch không nhắc đến các chỉ số tăng trưởng (ví dụ GDP tăng 7,08%).Đó là điều may cho ông, vì nhiều trí thức không tin vào các chỉ số đó. Nếu lặp lại như vẹt các chỉ số do tuyên truyền của Đảng nêu ra ông không giấu nổi vai trò bồi bút. Hãy để cho các UV của Bộ Chính trị và BCH TƯ cùng các đảng viên trung kiên tự sướng với các chỉ số đó. Ông dẫn ra việc thông xe Hầm Cù Mông và có quầy đổi tiền Việt ở Sân bay Singapore như là vài dẫn chứng cho kinh tế phát triển nhanh và toàn diện. Đúng là kinh tế có phát triển nhưng không thể nói là nhanh và toàn diện khi phần lớn nguồn thu từ xuất khẩu là của các doanh nghiệp FDI nước ngoài, khi các con đường hàng ngàn tỷ đồng vừa làm xong đã hỏng, khi đang mắc nợ hàng trăm tỷ đô la, không thể trả nợ gốc, phải đi vay thêm chỉ để trả lãi, khi môi trường bị phá hủy ở nhiều nơi, khi hàng vạn thanh niên trai tráng vui sướng được đi làm thuê ở nước ngoài v.v…

Trong niềm vui thứ hai, ông nói về ổn định. Đó là sự ổn định chính trị được giữ bằng sự đàn áp và tuyên truyền dối trá. Về ổn định cần thấy hai điều: 1. Ngoài ổn định về chính trị còn cần ổn định xã hội. Mà ổn định xã hội quan trọng hơn. Ổn định chính trị chỉ là một điều kiện, một phần của ổn định xã hội. Xã hội Việt Nam hiện nay đang mất ổn định, đó là sự sa sút đạo đức, sự xuống cấp của giáo dục, sự bành trướng của nhiều thói hư tật xấu và tội phạm, là nỗi oan của dân ở Thủ Thiêm, Lộc Hưng và nhiều nơi, là sự gia tăng đàn áp nhân quyền, là tòa án thích dùng luật rừng với các bản án bỏ túi v.v… 2. Ổn định có trạng thái bền vững và tạm thời. Cách giữ cho ổn định chính trị bằng đàn áp và tuyên truyền dối trá chỉ tạo ra ổn định tạm thời, nó sẽ bị lật khi có tác động đủ mạnh. Đó từng là ổn định của các nước XHCN Đông Âu, Liên Xô, Mông Cổ và gần đây là Venezuela.

Sự ổn định của VN hiện nay như cái cột gỗ, bên ngoài được sơn quét, tưởng như vững chắc vô cùng, nhưng bên trong đã bị mục ruổng, bị mối mọt đục khoét. Ca ngợi một sự ổn định như vậy thật không xứng với trí thức dân tộc, chỉ có thể là người tuyên truyền của Đảng.

Bàn về vài quan điểm của Nguyễn Trần Bạt Phần 2

Nguyễn Đình Cống

4- Về trí thức

Bàn về trí thức VN, có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, khen chê đủ cả. Văn bản chính thức có NQ 27-NQTƯ tháng 8 năm 2008 về xây dựng đội ngũ trí thức. Trong năm 2018 nhiều tổ chức của Đảng mở hội thảo đánh giá 10 năm thực hiện NQ 27. Tôi có một số ý kiến phản biện NQ này, nhưng ở đây chỉ xin bàn đến vài ý kiến trong sách của Nguyễn Trần Bạt.

Ông Bạt cho rằng quan trọng phải có tiêu chuẩn để nhận diện trí thức, vì nếu tiêu chuẩn không rõ ràng thì: “tức là cổ vũ cho một bộ phận trí thức nhạy cảm và đủ năng lực để biến hình, biến màu, trở thành kẻ cơ hội sớm nhất và giỏi nhất. Những người cầm quyền nếu không đủ tinh khôn, không đủ kinh nghiệm sẽ rất dễ nhầm lẫn những kẻ đội lốt trí thức với trí thức chân chính (350)”.

Trong đoạn vừa trích có 3 loại trí thức: Trí thức chân chính, trí thức nhạy cảm (thiếu chân chính) và kẻ đội lốt trí thức (trí thức dỏm hoặc kém chất lượng). Ông Bạt đưa ra tiêu chuẩn để nhận diện trí thức là “Tính độc lập” (351), thể hiện trên 4 khía cạnh. Độc lập đối với nhau tạo nên sáng tạo, tranh luận. Độc lập với nhà cầm quyền tạo nên phản biện. Đối lập với văn hóa ngoại lai tạo nên sự lựa chọn. Độc lập, đối diện với quá khứ tạo ra động lực của sự phát triển và năng lực phỏng đoán tương lai.

Tôi không phản bác những ý kiến trên, chỉ bổ sung vài ý. Ông Bạt cho rằng những người cầm quyền nếu không đủ tinh khôn…, tôi lại thấy hiện nay lắm kẻ cầm quyền thừa ranh ma, lắm thủ đoạn tạo ra và sử dụng bọn trí thức dỏm. Ông Bạt cho rằng cần dựa vào tính độc lập…, tôi thấy đó chỉ mới là một phần của điều kiện đủ, trong ấy còn cần thêm sự trung thực. Ngoài ra còn điều kiện cần mà chủ yếu là khả năng trí tuệ. Chỉ dựa vào tính độc lập là chưa đủ để đánh giá trí thức chân chính.

Ông Bạt viết: “Trí thức là những người chịu trách nhiệm lớn nhất đối với sự phát triển, đối với vận mệnh của dân tộc (354)… Việc tạo ra cuộc cách mạng là của giới chính trị, nhưng hàn gắn vết nứt của CM để tạo ra sự đồng thuận xã hội là việc của giới trí thức (13)… Phát triển gắn liền với việc tìm kiếm ra phương thức thay đổi một cách từ tốn tất cả các nhược điểm của một nền chính trị. Đấy là công việc của giới trí thức (20)”… Việc giới trí thức có và cần đóng góp vào các công việc vừa kể là đúng, nhưng cho rằng đó là trách nhiệm chính của họ là không chuẩn. Nếu trí thức phải gánh phần trách nhiệm chính thì phải chăng chính quyền, lãnh đạo chỉ chịu trách nhiệm phụ hoặc phối hợp mà thôi. Không phải! Trách nhiệm chính phải là của chính quyền, của lãnh đạo.

Ông Bạt có nhận xét: “làm giàu kho trí tuệ của dân tộc là nhiệm vụ của giới trí thức, còn lựa chọn cái gì trong đó để đưa ra dùng là nhiệm vụ của giới chính trị (359). Đúng ra, lựa chọn cái gì là nhiệm vụ của giới chính trị cầm quyền. Giới này mới chịu trách nhiệm chính. Khi cho rằng trách nhiệm chính thuộc về trí thức là đã làm nghiêng lệch vai trò của họ.

Khi đưa ra khẩu hiệu: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, có người đã bình luận: Thế chính quyền và lãnh đạo làm gì, phải chăng là ngồi chơi, xơi nước.

Bàn về vài quan điểm của Nguyễn Trần Bạt Phần 1

Nguyễn Đình Cống

1- Giới thiệu

Trong vài chục năm trở lại đây Nguyễn Trần Bạt nổi lên như một trí thức làm kinh doanh rất thành đạt. Ông sinh năm 1946 tại Nghệ An, năm 1963 vào quân đội, năm 1973 tốt nghiệp Đại học Xây dựng. Năm 1984 thôi việc nhà nước, năm 1989 thành lập Công ty tư vấn về đầu tư và chuyển giao công nghệ - Invest Consult Group. Hiện nay Công ty hoạt động trên nhiều nước, có doanh thu nhiều triệu đô la mỗi năm. Ông Bạt là người nổi tiếng trong các lĩnh vực: doanh nhân, luật sư, nhà tư vấn, học giả. Ngoài thành tích về kinh tế, ông được giới trẻ rất hâm mộ vì những buổi nói chuyện hấp dẫn, những cuộc  trả lời phỏng vấn thông minh, và in hơn chục quyển sách về rất nhiều vấn đề nhằm hướng dẫn, động viên thanh niên trên con đường lập nghiệp.

Tôi kính phục kiến thức, ý chí, quan hệ và sự đóng góp của ông Bạt. Tôi đã từng say sưa đọc các sách của ông bàn về  văn hóa, con người, tri thức, kinh tế, đạo đức, tự do, dân chủ, khoa học, giáo dục, cải cách v.v… và công nhận rằng sách của ông đã giúp tôi hệ thống hóa một số suy nghĩ còn rời rạc, giúp phát hiện một vài nhận thức mới. Thế nhưng gần đây đọc sách “SỨC MẠNH CỦA CÁI ĐÚNG”, NXB Hội nhà văn - 2018, tôi gặp một vài quan điểm khó chấp nhận, liên quan đến chính trị, thời cuộc. Những vấn đề này không mới, chắc rằng có xuất hiện trong những sách tôi đã đọc, nhưng trước đây  tôi không để ý tới.

Ông Bạt luôn nhận mình “không phải là người đối lập. Khi viết sách ông chủ trương vì sự tiến bộ, vì trăn trở với tương lai đất nước, làm hết mình để giải độc cho thế hệ trẻ, v.v.”… Nhưng tôi nhận thấy trong sách ông có vài điểm bất đồng, đó là nhận thức về Mác, về cách mạng, về sự lãnh đạo của ĐCS VN, về vai trò của trí thức và vài điều lẻ tẻ. Tôi xin nêu ra một cách vắn tắt để những ai quan tâm có thể tham khảo và thảo luận. Riêng với ông Bạt, nếu ông vui lòng  chấp nhận trao đổi kỹ hơn, tôi xin sẵn sàng gặp trực tiếp để nói chuyện như giữa những người bạn.

Trong các phản biện dưới đây tôi có trích vài câu trong sách “Sức mạnh của cái đúng”, con số đặt trong ngoặc (…) ghi số trang có câu được trích.

2- Về  Mác và chủ nghĩa Mác Lê

Ông Bạt tỏ ra vẫn một lòng tin vào Mác và Chủ nghĩa Mác Lê (CNML). Ông nhận xét “Chủ nghĩa Mác hấp dẫn ở phương pháp luận của nhận thức (386)”. Về vấn đề này ông còn viết: “Tôi có hai hệ thống tín hiệu để suy nghĩ tạo cảm hứng. Một là luận lý… (187)”.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn