Hiển thị các bài đăng có nhãn hồi ký. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hồi ký. Hiển thị tất cả bài đăng

NĂM 1991- KỲ 2

Nguyên Ngọc

image

Thào Mỹ ngày gặp lại

Đồng Văn ngày xưa là một huyện lớn, nay chia làm bốn: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ.

Ngày chiến tranh biên giới, thị trấn Đồng Văn và tất cả các xã đều trở thành phía trước phơi mình ra dưới tầm pháo. Huyện Mèo Vạc phải nhường cho Đồng Văn ba xã để có chỗ mà lui. Huyện lỵ Đồng Văn phải chạy lùi về Lũng Phìn. Nghe nói tốn tới hàng trăm tấn thuốc nổ phá núi dựng cơ quan huyện ủy và ủy ban mới. Cơ quan khá đàng hoàng, cất toàn bằng gỗ trắc núi đá rắn hơn thép, trên đồi cao, khoáng đạt, khang trang. Chỉ có điều rét tê người quanh năm. Đêm chúng tôi ở lại, sương buốt tựa băng rơi lộp độp suốt sáng như một thứ mưa rào chậm chạp và bí mật. Có cửa hàng mậu dịch, có cả ngân hàng, kho bạc… Nhưng hình như quang cảnh chung lại đìu hiu hơn, xơ xác hơn xưa nhiều. So với ngày tôi ở trước đây, chỉ có hai điều thay đổi tân tiến rõ rệt: đường ô-tô đã đến hầu khắp các xã, tất nhiên là đường hiểm trở vô song, nhưng dẫu sao cũng là đường.

Và nước. Trên vùng núi đá vôi mênh mông này nước quý hơn vàng. Mưa ào xuống một cái, vài phút sau núi đá vôi đã hút khô sạch. Nay đã có đường ống dẫn nước, bằng kim loại hẳn hoi, qua các xã. Nước được chứa trong các bể xi-măng lớn, xanh rờn và lều phều rêu rác, nhưng cũng là nước, là thiên đường, so với cái đói nước kinh niên ngày trước.

Tiếp chúng tôi là Phó Bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Lì Mí Pó. Theo chỗ tôi nhớ, tôi chưa gặp người H’mông nào như anh. Không sôi nổi, nhiệt huyết ồn ầo, dễ say và dễ buồn, dễ cực điểm. Lì Mí Pó chắc chắn, hơi trầm mặc, ít nói, cười rất nhẹ, đăm chiêu nhiều hơn. Anh nói chậm, cân nhắc từng chữ, câu nói gọn và chắc. Người gầy, rắn đanh như được tạc bằng gỗ trắc núi đá, mắt không xếch lắm, khuôn mặt rắn rỏi, kiên định. Anh là kỹ sư nông nghiệp.

Câu chuyện loanh quanh một ít những kỷ niệm xưa, rồi lập tức, chẳng dừng được, bị cuốn ngay vào đề tài nóng bỏng nhất: sống thế nào đây, trên núi đá cằn cỗi muôn đời này?

Lì Mí Pó đi nhiều. Người đi nhiều thường cũng là người nghĩ nhiều. Anh bảo:

– Tôi công tác ở huyện mỗi năm trung bình đi bộ ba, bốn nghìn cây số, buổi trưa nhịn đói.

Câu chuyện của anh, tất nhiên, xoắn chặt vào việc làm ăn. Vẫn câu hỏi cháy bỏng ấy: trồng cây gì?

NĂM 1991- KỲ 1

Nguyên Ngọc

Năm 1991 của tôi là một năm rất lắm chuyện, dồn dập, có lẽ cũng cần và nên kể. Chỉ riêng chuyện giải thưởng Hội Nhà văn 91 đã khá ầm ĩ, còn nợ chưa kể hết, lần này lại xin khất. Chuyện kể hôm nay có phần dính dáng ít nhiều đến anh Trần Độ, chắc cũng không ngẫu nhiên.

Anh Trần Độ tham gia cách mạng từ năm 1939, ở tù Pháp nhiều lần, lần sau cùng là tù Sơn La, cùng các ông Nguyễn Lương Bằng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy…, năm 1943 anh vượt thoát trên đường bị giải từ Sơn La đi Côn Đảo, quay về Hà Nội tham gia khởi nghĩa tháng Tám. Trong kháng chiến chống Pháp anh là chính ủy sư đoàn 312 đánh trận Him Lam mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ; trong chống Mỹ là Phó Chính ủy Quân giải phóng miền Nam… Một con nguời có cuộc đời đầy ắp và dãi dầu như thế, thật lạ, lại có một tâm hồn vẫn trẻ trung, đặc biệt giữ được tính tò mò rất quý ở trẻ con mà hầu hết chúng ta được gọi là người lớn đã đánh mất (người ta bảo trừ các nghệ sĩ tài ba và các nhà bác học cao siêu)

Một hôm anh khoe với tôi vừa đọc được trên báo nào đó bài của Phương Quỳnh viết về ngôi miếu cổ ở Hà Nội thờ hai cô ca nữ, anh rất thích và tò mò muốn biết tường tận. Tôi nói tôi có quen Quỳnh, đấy là một là người Hà Nội gốc, rất am hiểu văn hóa Hà thành. Anh bảo nếu có thể thì mời Phương Quỳnh hôm nào đến chơi. Quỳnh đồng ý, hẹn ngày, khoảng 2 giờ chiều. Gần 2 giờ chiều hôm ấy, tôi đang nghỉ trưa, sực nhớ nhà anh Độ có cái cổng quấn dây xích sắt mấy vòng, nhà cẩn thận ban ngày vẫn thêm ổ khóa bên trong nhưng nhà anh thì chẳng bao giờ, ai vào cứ tự gỡ dây xích ra mà vào, mấy hôm đó chuông cổng nhà anh lại hỏng, chưa sửa. Tôi sợ Phương Quỳnh đến, không biết tự gỡ xích sắt mở cổng, bấm chuông mãi chẳng ai ra, sẽ rất lúng túng. Tôi vội chạy đến, quả nhiên thấy cô đang loay hoay với chiếc chuông câm. Tôi mở cổng, đưa Quỳnh vào. Hóa ra trong nhà đang có khách: Dương Thu Hương và một người đàn ông lạ, khá béo, mặc áo nâu nhạt, cúc bằng vải, vừa hơi giống thầy tu vừa giống Tàu. Từ phút đầu tôi đã thấy không có thiện cảm với vị khách bất ngờ ấy, chưa hiểu vì sao, một cảm giác hơi khó chịu. Dương Thu Hương thì rất vui, cô vồn vã giới thiệu: Đây là anh Bùi Duy Tâm, mới ở Pháp về. Rồi cô quay sang chúng tôi: Xin giới thiệu với anh Tâm, đây là chị Phương Quỳnh, còn đây là anh Nguyên Ngọc… Người tên là Tâm ấy nói như reo lên: Ôi, quý hóa quá. Xin chào chị Quỳnh, xin chào anh Ngọc! Rồi ông ta nhận xét ngay: Anh Ngọc giống anh Nguyễn Quang Sáng quá! Phương Quỳnh nãy giờ vẫn im lặng, bỗng lên tiếng, giọng sẵng: Ông Bùi Duy Tâm nhầm rồi, anh Ngọc và anh Sáng rất thân nhau nhưng lại hoàn toàn khác nhau, một người thích tự do ăn chơi, một người cũng tự do nhưng rất nghiêm túc…

Không khí nhạt nhẽo, ngồi lại nữa vô duyên, Quỳnh và tôi đứng dậy kiếu ra về. Đến cổng, Quỳnh bảo sao mới trông đã thấy khó chịu, chẳng ra làm sao.

Mấy bữa sau tôi có hỏi lại anh Độ sao đã hẹn Quỳnh anh lại tiếp Bùi Duy Tâm cùng lúc? Anh bảo mình có biết trước gì đâu, con Hương cứ thế tự động dắt ông ấy tới gọi là ra mắt, mình cũng bất ngờ. Quen biết gần gũi nhau đã rất thân, có lần Thế Thanh và tôi đã nói với anh: Anh Độ ơi, anh tốt quá, nhưng nói thật anh chơi với mọi người rất “tạp”, ai cũng có thể thản nhiên tự xông vào nhà anh, có ngày chúng hại anh như không. Anh cười: Mình sống đàng hoàng, mọi thứ đều công khai, có gi phải đề phòng cho mệt…

Ấy là vào đầu năm, khoảng tháng 3. Đến tháng 4, anh Độ lại có chuyện tò mò mới. Nghe đồn trên Hòa Bình có cô bé có thể nói chuyện với tiên, anh rủ tôi và Nguyễn Văn Hạnh lên xem thử. Muốn xem người có khả năng ly kỳ thế thì phải nhờ đến anh Nguyễn Hoàng Phương, là nhà vật lý tên tuổi đồng thời chuyên nghiên cứu hiện tượng ngoại cảm, dẫn đường. Anh Phương đã nhận lời, nhưng sáng hôm ba chúng tôi đánh xe đến đón ở Hàng Chuối, anh chạy ra xin lỗi, vừa có một bà ngoại cảm cơ sở của anh trên Sóc Sơn bị công an bắt, anh phải lên cứu ngay. Đành đánh xe về.

Trên đường về anh Độ bỗng nảy ý kiến ghé lại thăm Dương Thu Hương ở 25 Ngô Thời Nhiệm, nghe cô ấy ốm đã mấy hôm. Tôi bàn: Có lẽ không nên các anh ạ, ba anh em mình đều là đối tượng thường xuyên bị theo dõi, cùng đến nhà Hương một lúc chẳng hay đâu, để rồi từng người lần lượt đến thăm sau. Anh Độ và Hạnh đều thấy phải. Chúng tôi bèn rẽ vào nhà Phương Quỳnh. Thì thấy một anh công an đang ngồi ở đấy. Hỏi ra, Quỳnh có cậu con trai học trường Sân khấu Điện ảnh, đám này tối tối hay tụ tập cờ bạc, khoảng hai tuần trước bị công an ập vào, nhưng chỉ bắt mỗi con trai Quỳnh, giam tận trên Diễn. Người công an đến là để báo sáng nay họ sẽ thả cậu ấy, yêu cầu Quỳnh lên Diễn nhận con về… Thế là đi đến đâu cũng chẳng được gì, ba chúng tôi đành giải tán…

Trận Phước Long 1975: qua Hồi ký…

Nguyễn Quang Duy

Sau cả tháng chiến đấu, đêm 6/1/1975, binh sỹ Việt Nam Cộng hòa rút khỏi Phước Long và núi Bà Đen, Tây Ninh. Vài tháng sau VNCH hoàn toàn sụp đổ.

Cuộc chiến đã chấm dứt 44 năm nhưng còn quá nhiều điều đến nay vẫn chưa hiểu được và có thể không bao giờ hiểu được.

Hồi ký của những người trong cuộc cho thấy phần nào sự đẫm máu của trận chiến này.

Người ở lại Phước Long…

Đại tá Nguyễn Thống Thành Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Long là người trực tiếp chỉ huy mặt trận Phước Long.

Ông Thành từng tử thủ An Lộc, được vinh thăng Đại tá tại mặt trận, ngày 26/8/1972 được thăng chức Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Long.

Năm 1974 ông được chuyển về Phước Long, giáp ranh biên giới Campuchia, bao quanh là các mật khu cộng sản.

Ông là người Bến Tre và là bạn học của Tổng biên tập báo Lao Động Tống Văn Công. Trong Hồi ký ông Công bày tỏ lòng thương tiếc người bạn như sau:

Hơn 30 năm sau, tôi mới biết Nguyễn Thống Thành Đại tá Tỉnh trưởng Phước Long, bạn tôi, đứng bên kia chiến tuyến, là Đại tá Tỉnh trưởng đã tử thủ ở thị xã! Nhiều năm sau, trong cuộc họp cựu chiến binh, tôi được nghe một thiếu tá dự trận này kể, anh ta kêu gọi đầu hàng, nhưng Nguyễn Thống Thành đã bắn trả”.

Theo Hồi ký của Charlie Nguyễn Hoàng Oanh, sỹ quan tình báo, vào sáng ngày 5/1/1975, Đại tá Thành chạy xuống triền dốc sau tư dinh để nhảy xuống chiến hào thì bị súng cối 57 ly bắn chết tại chỗ.

Charlie cho biết đã bảo vệ Thiếu úy Sự cận vệ của Đại tá Thành, chôn ông tại gốc cây trong dinh Tỉnh trưởng.

Trận Bà Đen, Tây Ninh

Ngày 6/12/1974, Liên đội 7 và Tiểu đoàn Trinh sát 47 CS nổ súng tấn công Căn cứ Bà Đen.

Một Đại đội địa phương VNCH sau 31 ngày tử chiến bảo vệ Căn cứ đã âm thầm rút đi trong đêm 6/1/1975.

Trận Bà Đen ít được nhắc đến, nhưng Tướng CS Trần Văn Danh người trực tiếp chỉ huy trận này cho biết tầm quan trọng như sau:

“…một trung tâm viễn thông chiến lược quốc tế, thu tin mã thám và là điểm chỉ đường cho B-52 cùng các loại máy bay hiện đại của địch oanh kích vùng giải phóng.

Đồng thời Lực lượng do tôi chỉ huy còn thu hút hỏa lực đối phương là Lữ đoàn 81 biệt kích dù, và hai phần ba phi cơ chiến đấu F5E vùng III chiến thuật, kiềm chế Sư đoàn 25 bộ binh, phối hợp cùng cánh quân của Năm Ngà đang đánh Tánh Linh, Võ Đắc với Sư đoàn 18 của địch.

Ngăn Chặn không cho các Lực lượng đối phương yểm trợ Phước Long trận địa của Quân đoàn 4 do anh Hoàng Cầm chỉ huy”.

Lực lượng VNCH

Phước Long là một tỉnh nhỏ, dân chúng đa số là đồng bào sắc tộc Stieng và Mnong.

Phước Long có 5 tiểu đoàn địa phương quân, 1 tiểu đoàn pháo binh, cảnh sát và nhân dân tự vệ, tất cả ước chừng 2.000 người và đa số là người sắc tộc.

Lực lượng tăng cường gồm 2 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 5, ba Đại đội trinh sát, các Sư đoàn 5, 18 và 25, 2 Biệt đội biệt kích 81 dù và Đơn vị tình báo 101 thuộc Phòng 2 Bộ Tổng Tham mưu. Tổng số binh sỹ tham dự trận đánh chưa tới 4.000 người.

Không lực yểm trợ bị giới hạn vì cùng lúc phải bảo vệ 2 tỉnh Tây Ninh và Phước Long. Còn vũ khí đạn dược phụ thuộc vào không vận và chỉ đủ chiến đấu 1 tuần.

Lực lượng CS

Theo Lịch sử Quân đoàn 4 có 14.500 bộ đội tham dự trận đánh, gồm 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 302, 3 trung đoàn thuộc Sư đoàn 7, 3 trung đoàn thuộc Sư đoàn 9, 2 trung đoàn pháo binh và phòng không, 1 trung đoàn đặc công, 1 trung đoàn công binh, 1 trung đoàn hậu cần, 2 tiểu đoàn xe tăng, chưa kể đến số du kích trong tỉnh.

Cứ 1 tiểu đoàn VNCH đóng trong các Căn cứ phải chịu hỏa lực của ít nhất 1 trung đoàn CS.

Bắt đầu…

Cuối tháng 10/1974, VNCH được tin mật báo CS sẽ mở các trận đánh vào hai tỉnh Tây Ninh và Phước Long.

Ngày 6/12/1974, CS mở một số trận đánh trong tỉnh Tây Ninh.

Ngày 12/12, một đồn lính Chi khu Phước Bình (Bù Đốp) bị 1 tiểu đoàn CS tấn công và bị chiếm.

Ngày 13/12, CS tấn công Chi khu Đôn Luân (Đồng Xoài) nhưng bị tiểu đoàn địa phương quân đánh trả phải rút lui.

Ngày 13/12, Đại tá Nguyễn Thống Thành xuống Chi khu Đức Phong (Bù Đăng) kiểm tra hệ thống phòng thủ.

Ngày 14/12, Chi khu Đức Phong bị 1 trung đoàn tấn công, quân VNCH chống trả ác liệt nhưng yếu thế nên phải rút quân. Phía CS thiệt hại nặng, Đại đội 12 chỉ còn 11 người sau trận đánh.

Ngày 15/12, hai tiểu đoàn đặc công tấn công Chi khu Bố Đức (Bù Na) do một Đại đội địa phương quân và một trung đội pháo binh đóng.

Theo Charlie, pháo binh sử dụng 2 đại bác bắn trực xạ vào bộ đội CS nên trận đánh phơi đầy xác người. 2 đại bác bị tịch thu. Trung úy Thoại bị bắt và bị chặt đầu.

Chi khu Bố Đức được 1 tiểu đoàn Sư đoàn 5 tăng cường và máy bay ném hàng ngàn bom xăng, CS thiệt hại nặng phải rút quân.

Ngày 17/12, không vận chở tiếp liệu đổ xuống Phước Long và di tản dân chúng ra khỏi vùng giao tranh.

Ngày 22/12, 1 trung đoàn CS lại mở cuộc tấn công vào Chi khu Bố Đức (Bù Na) hôm sau 23/12 thì chiếm đựơc.

Ngày 26/12, 1 trung đoàn với pháo binh và phòng không tấn công Chi khu Đôn Luân (Đồng Xoài). Trước hỏa lực quá mạnh Sư đoàn 5 không thể đổ quân tiếp viện, Đồng Xoài thất thủ.

Như vậy sau 2 tuần VNCH chỉ còn giữ lại núi Bà Rá, thị trấn Phước Bình và thị xã Phước Long.

Lệnh đánh Đồng Xoài

Tháng 7/1974, Quân đoàn 4 được thành lập với 3 Sư đoàn bộ binh, Sư đoàn 7 và 9 từ Bắc đưa vào do Tướng Hoàng Cầm chỉ huy, được lệnh đánh chiếm Chi khu Đôn Luân (Đồng Xoài).

Hồi ký tướng Lê Đức Anh cho biết kế hoạch ban đầu là đánh Đồng Xoài, nhưng khi đánh lại phải rút quân, vì có lệnh từ Hà Nội pháo và tăng không còn nhiều nên không được sử dụng, không được đánh Đồng Xoài.

Hồi ký Tướng Trần Văn Trà cho biết Bộ Tổng Tham mưu ở Hà Nội chỉ thị năm 1975 chưa đánh lớn:

Năm 1975 không đánh lớn chỉ lo phá bình định ở đồng bằng Sông Cửu Long. Ở Miền Đông, chủ lực không đánh lớn. B2 định đánh Đồng Xoài, Phước Long, nhưng Bộ không đồng ý mà chỉ đánh nhỏ, giải quyết một số điểm nhỏ trên đường 14 thôi. Năm nay đánh nhỏ là để tích lũy lực lượng chờ thời cơ. Không sử dụng xe tăng, pháo lớn nếu không được Bộ Tổng Tham mưu duyệt từng trường hợp”.

HỒI KÝ CỦA NGUYỄN TRUNG - “TIẾNG CHIM HÓT TRONG BỤI MẬN GAI”

Tô Văn Trường

Vào lứa tuổi U90 ông Nguyễn Trung vừa mới ra mắt bạn đọc tập Hồi ký tựa đề: Tôi làm “chính trị”: Những kỷ niệm và trăn trở bao gồm 3 phần. Phần một: Vào đời. Phần hai: Kẻ thất bại toàn diện. Phần ba: Suy ngẫm.

Đọc Hồi ký của Nguyễn Trung, tôi có cảm giác giống như khi đọc “Thorn bird - tiếng chim hót trong bụi mận gai”. Con chim đâm mình vào những chiếc gai nhọn trong bụi mận gai và cất lên những tiếng hót cuối cùng, da diết nhất và hay nhất trước khi vĩnh biệt cuộc đời.

Có lẽ Hồi ký của Nguyễn Trung mới ở dạng bản thảo (1st edition), hơi lẫn lộn giữa thể loại “Hồi ký” với thể loại “bài viết chuyên đề” hoặc “giới thiệu tiểu thuyết văn học” và viết khá dài nhưng vẫn cuốn hút được người đọc. Độc giả hoàn toàn cảm nhận được những điều tâm huyết của một bậc trưởng thượng hết lòng với đất nước, dân tộc.

Ý tưởng cốt lõi của Hồi ký Nguyễn Trung là muốn cả nước đứng lên cùng nhau tiến hành cải cách thể chế chính trị để đổi đời chính mình và đổi đời đất nước - nó phải là một cuộc cải cách của học tập, của giác ngộ và trưởng thành trên tinh thần đoàn kết, hòa giải dân tộc.

Những điều Nguyễn Trung viết và làm sẽ còn mãi, sẽ để đời, sẽ là điểu làm cho hậu thế biết ơn ông. Thành công nhất của ông là chỗ đó. Vì thế, chương “Thất bại toàn diện” không hẳn là đúng. Lịch sử và nhân dân rất công bằng. Điều quan trọng là ông đã nêu câu hỏi đúng, còn việc đưa ra câu trả lời đúng lại là “sứ mệnh” không của riêng ông. Giới khoa học thường nói “ đưa ra câu hỏi đúng tức là đã giải quyết được một nửa của vấn đề”.

Xin cám ơn và chúc mừng tác giả Nguyễn Trung về cuốn Hồi ký rất công phu, tâm huyết và rất có giá trị này.

                                                                                                                             T.V.T.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn