Hiển thị các bài đăng có nhãn Năng lượng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Năng lượng. Hiển thị tất cả bài đăng

Kỷ luật hay trả giá: Bài học từ đầu tư đến điện mặt trời nổi

Tô Văn Trường

Câu nói nổi tiếng của Charlie Munger, chuyên gia hàng đầu về đầu tư tài chính, chứng khoán: “Smart men go broke three ways: Liquor, Ladies and Leverage” – Ông nhấn mạnh rằng ngay cả người thông minh cũng có thể thất bại nếu thiếu kỷ luật. Rượu chè và cảm xúc dễ làm suy giảm lý trí, nhưng nguy hiểm nhất là đòn bẩy tài chính vì nó khuếch đại sai lầm. Thành công bền vững phụ thuộc vào khả năng kiểm soát bản thân và quản trị rủi ro.

Kế hoạch cắt giảm trợ cấp điện tái tạo của Việt Nam có thể ảnh hưởng 13 tỷ USD đầu tư

VOA 

Các nhà phát triển năng lượng tái tạo quốc tế được cho là đã bày tỏ lo ngại về kế hoạch của chính phủ Việt Nam nhằm thay đổi các quy định về giá trợ cấp cho năng lượng gió và mặt trời cũng như báo động về khả năng ảnh hưởng đến hơn 13 tỷ USD đầu tư.

Một trại điện gió, điện mặt trời ở Việt Nam. Các nhà đầu tư lo ngại về một sự thay đổi trong chính sách mà họ cho là có thể làm suy yếu niềm tin vào lĩnh vực năng lượng tái tạo của Việt Nam. (Ảnh chụp màn hình Tuổi Trẻ)

Đằng sau sự việc Bình Thuận chấp thuận Dự án kho cảng khí hoá lỏng của Mỹ trị giá 1,3 tỷ USD là gì?

Lưu Trọng Văn

Tập đoàn AES của Mỹ cho biết Dự án kho cảng này nằm trong chuỗi dự án LNG tại Bình Thuận, dự kiến vận hành thương mại năm 2027.

Mục tiêu của Dự án giai đoạn 1 sẽ cung cấp từ 3,6 triệu tấn khí LNG một năm, giai đoạn 2 tăng lên 6 triệu tấn khí một năm cho các nhà máy điện khí ở Bình Thuận biến Bình Thuận thành một trong những trung tâm năng lượng quốc gia.

Việt Nam và thông tin 'mù mờ' về gói chuyển đổi năng lượng sạch 15 tỷ USD

BBC tiếng Việt

15 tháng 3 2023

Thủ tướng VN Phạm Minh Chính tại Hội nghị Biến đổi Khí hậu của LHQ COP26 tháng11 /2021 tại Glasgow, Scotland. Chính phủ VN đã cam kết đại phát thải bầng 0 vào năm 2050 tại hội nghị này

ẢNH: POOL/GETTTY IMAGES. Thủ tướng VN Phạm Minh Chính tại COP26 năm 2021 tại Glasgow, Scotland. Chính phủ VN đã cam kết đại phát thải bằng 0 vào năm 2050 tại hội nghị này

Thông tin về gói hỗ trợ trị giá hơn 15,5 tỷ đô la từ các nước giàu cho Việt Nam để chuyển đổi từ điện than sang năng lượng sạch, tới nay vẫn rất mù mờ, ngay cả với chính phủ VN.

Một đối tác của chính phủ Việt Nam đã gọi gói hỗ trợ này là 'hộp đen' vì sự mù mờ nói trên.

"Các điều khoản và điều kiện để… tài trợ hiện chưa rõ ràng đối với cộng đồng phát triển nói chung, bao gồm cả chính phủ [Việt Nam]. Chúng tôi đã hỏi [các quốc gia] G7. Tôi tin rằng ngay cả Việt Nam cũng đã hỏi G7," bà Sunita Dubey nói với trang tin ClimateHome, trong khi than phiền về sự thiếu minh bạch trong các thỏa thuận tài chính của các quốc gia giàu.Cuối năm 20222, Việt Nam ký thỏa thuận Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) với một nhóm các nước giàu và các ngân hàng phát triển, trị giá 15,5 tỷ đô la, để đạt mục tiêu phát thải bằng không vào 2050.

Hydro xanh đang thay đổi cán cân quyền lực trên thị trường năng lượng toàn cầu như thế nào

Tác giả: Gerald Traufetter, Spiegel 16-2-2023

Người dịch: Daniel Trần

Nền công nghiệp trong tương lai sẽ sản xuất với ít than, dầu và khí đốt hơn và cũng sẽ thay đổi cán cân quyền lực trên thị trường năng lượng. Theo một nghiên cứu, các khoản đầu tư có trị giá mười nghìn tỷ đô la.

clip_image002

Nó có nghĩa là một cuộc cách mạng cho nền kinh tế: Cho đến giữa thế kỷ này, kinh tế nên đi với sự sản xuất dựa theo sự trung hòa khí thải như có thể. Sự chuyển đổi to lớn này không chỉ sử dụng điện từ năng lượng gió và năng lượng mặt trời. Nhiều quy trình công nghiệp cần hydro, ví dụ như trong sản xuất thép và hóa chất. Vận tải hạng nặng và máy bay được cho là phụ thuộc vào các phân tử dễ bay hơi, chúng được tạo ra bằng phương pháp điện phân từ năng lượng tái tạo.

Khi năng lượng hợp hạch ra đời, Việt Nam có chào đón?

  Lưu Trọng Văn

clip_image002

Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên và Chủ tịch Tập đoàn Điện lực Việt Nam Dương Quang Thành vừa đưa ra quy hoạch điện cho Việt đến năm 2030 và vươn tới tầm nhìn 2045 với góc nhìn quẩn quanh nhiệt điện, thuỷ điện, điện gió, điện mặt trời.

Liệu ông Diên, ông Thành có theo dõi những đột phá công nghệ năng lượng đang diễn ra từng ngày trên thế giới, và có những nghiên cứu các nguồn năng lượng khác có thể làm thay đổi toàn diện điện năng toàn cầu?

Nếu có, thì các tính toán về các nguồn năng lượng điện Việt Nam sẽ ra sao? Đồng thời, thông tin mới nhất thế giới sẽ cấp cho VN 15 tỷ đô la để thay thế nguồn điện than chống ô nhiễm môi trường có vai trò gì trong quy hoạch năng lượng tương lai của Việt Nam?

Cánh điện gió bất động, chục nghìn tỷ phơi nắng mưa chờ cơ chế

H.Duy

Đến nay, nhiều dự án điện gió dở dang vẫn ngóng chờ cơ chế của Chính phủ, Bộ Công Thương. Do lỡ hẹn vận hành thương mại khi giá FIT hết hiệu lực vào 31/10/2021, hàng chục nghìn tỷ đồng nằm phơi nắng mưa.

Nghìn tỷ chờ cơ chế

Hai bên đường Quốc lộ 1 đoạn qua tỉnh Ninh Thuận là hàng dài những cột điện gió. Trên cung đường ấy, cũng có hàng trăm cột điện gió “đứng yên”, cánh quạt ngừng quay. Đó là những cột điện gió của Dự án điện gió Hanbaram (Ninh Thuận). khởi công từ tháng 10/2020, đến ngày 31/10/2021 đã lắp đặt và kết nối 29/29 trụ Tuabin; hoàn thành toàn bộ đường dây và trạm biến áp đấu nối lên hệ thống lưới điện quốc gia.

Những hiểm họa và sự suy tàn không tránh khỏi của điện hạt nhân trước năng lượng tái tạo

“Sẽ có ngày con cháu ngạc nhiên trước việc chúng ta đã không biết những điều rõ ràng như vậy”

Nguyễn Khắc Nhẫn

Vào tháng 11 năm 2016, Chính phủ Việt Nam đã sáng suốt từ bỏ chương trình điện hạt nhân. Tôi rất vui mừng khi nghe tin, bởi trong suốt 15 năm, tôi đã phản đối cuộc phiêu lưu nguy hiểm này thông qua những bài báo và phỏng vấn trên các đài BBC Londres, RFA Washington và RFI Paris (nguyenkhacnhan.blogspot.fr).

Nhưng niềm vui của tôi không kéo dài lâu, bởi thay vì đầu tư mạnh mẽ vào năng lượng tái tạo, Việt Nam lại tăng cường xây dựng nhiều nhà máy điện than.

Gần đây, dưới sức ép của các nhóm lobby, đã có tiếng nói trong nước kêu gọi khởi động lại chương trình điện hạt nhân! Điều này làm tôi hết sức lo lắng.

Bài trình bày này nhằm mang đến một cái nhìn mới về những hiểm họa và sự suy tàn của điện hạt nhân, về vai trò vô cùng to lớn của các nhà máy điện than đối với biến đổi khí hậu, và về sự phát triển mạnh mẽ của năng lượng tái tạo trên thế giới.

1. Điện hạt nhân trên thế giới

Các quốc gia có công suất đặt điện hạt nhân lớn là: Hoa Kì, Pháp, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Canada, Ucraina, Đức, Anh. Năm trong số này sản xuất 70% điện hạt nhân. Hoa Kì và Pháp chiếm 50% sản lượng.

Tính đến đầu năm 2019, điện hạt nhân dân sự bao gồm 450 lò phản ứng trên toàn thế giới, được phân bổ ở 31 quốc gia, với tổng công suất đặt là 397 GW.

Hiện nay, điện hạt nhân chiếm khoảng 11% trong tổng lượng điện sản xuất toàn cầu.

Năng lượng hóa thạch chiếm khoảng hai phần ba: than 41%, khí 22%, dầu mỏ 5%; các nguồn năng lượng ít carbon (hạt nhân, thủy điện, mặt trời, gió…) 32%.

- Hoa Kì:

Hiện nay Hoa Kì là nước có hệ thống sản xuất điện hạt nhân lớn nhất thế giới, với 97 lò phản ứng đang hoạt động, tập trung ở 58 nhà máy, và công suất đặt tổng cộng là 98,4 GW. Năm 2018, điện hạt nhân chiếm 19,3% trong tổng sản lượng điện của Hoa Kì.

- Pháp:

Năm 2018, tổng sản lượng điện của Pháp lên đến 550 TWh, với phân bổ như sau: hạt nhân (71,7%), thủy điện (12,5%), khí (5,7%), gió (5,1%), mặt trời (1,9%), năng lượng sinh học (1,8%), than (1,1%), fioul (0,4%). Pháp có tỉ lệ điện hạt nhân cao nhất thế giới. Hệ thống sản xuất điện hạt nhân bao gồm 58 lò phản ứng PWR (Pressurized Water Reactor).

Trong cùng năm này, Pháp xuất khẩu 86,3 TWh, nhập khẩu 26,1 TWh và tổng tiêu thụ điện của Pháp là 478 TWh.

2. Lò phản ứng thế hệ 3 - Sự thất bại của EPR (Evolutionary Power Reactor) ở Flamanville:

Được thiết kế trong những năm 90, lò phản ứng thế hệ 3 này (1650 MW) là một ác mộng của EDF và báo hiệu thời kì suy tàn của mô hình điện hạt nhân Pháp.

Thực tế, đã có hàng trăm chỉnh sửa trong quá trình thực hiện nhà máy này, vốn được bắt đầu vào năm 2007 và dự kiến hoạt động vào năm 2012.

Ngay từ đầu, việc xử lý các kết cấu bê tông (đáy, vách, hồ chứa nhiên liệu) đã gặp nhiều thách thức. Năm 2009, Cơ quan an toàn hạt nhân (ASN) của Pháp, Phần Lan, và Anh yêu cầu hiệu chỉnh hệ thống giám sát-điều khiển. Cuối năm 2011, EDF bắt buộc phải làm lại toàn bộ hệ thống dầm của trục chống đỡ (trục nằm dưới mái vòm của nhà chứa lò phản ứng). Rồi đến những tai tiếng về thép và đáy vòm của thùng lò 425 tấn. Năm 2007, EDF đã biết về mật độ carbon quá cao trên nắp đậy và đáy thùng (có thể làm tăng nguy cơ vỡ đột ngột). Bất chấp việc không tuân thủ các yêu cầu kĩ thuật của Creusot Forge, EDF vẫn lắp đặt lò vào năm 2014, xem như là việc đã rồi. Theo yêu cầu của EDF, ASN đã bật đèn xanh cho phép đưa vào sử dụng thùng lò của EPR Flamanville, với điều kiện là phải thực hiện chương trình giám sát sự suy giảm đặc tính do nhiệt độ. Nhưng điều này khó khả khi. Một sự cố nghiêm trọng khác: EDF đã lắp đặt những ống dẫn hơi đến turbine có hàng chục mối hàn không chuẩn. Đến nay, phần lớn các mối hàn này đã được sửa, nhưng vẫn còn tám mối hàn rất khó can thiệp. Gần đây, ASN yêu cầu EDF phải nhanh chóng sửa chữa.

Công trình đầy tai tiếng EPR Flamanville, với một loạt các sai sót, thực sự là một thảm họa về khía cạnh con người, tài chính và kĩ thuật. Người ta đã lên tiếng về một số người chết và nhiều người bị thương trong số hàng trăm công nhân nước ngoài. Chi phí tăng mạnh. Ban đầu dự trù là 3,3 tỷ euros, nay đã là 11 tỷ. Và con số này sẽ còn tăng!

Và thêm một lần trễ hạn nữa: EDF vừa thông báo việc đưa vào hoạt động của lò phản ứng thế hệ 3 này, được cho là biểu tượng của ngành công nghiệp hạt nhân Pháp, sẽ không diễn ra trước cuối năm 2022 (tức trễ 10 năm).

Công trình Flamanville đã khởi động trong khi thiết kế chưa hoàn thiện. Do đó, phải làm đi làm lại nhiều lần. EDF đã phạm một sai lầm chiến lược nghiêm trọng.

Nguyên nhân của việc chậm trễ và tăng chi phí chỉ một phần liên quan đến sự thiếu hụt về công nghệ của ngành hạt nhân Pháp. Phần lớn là do chi phí an toàn, sau những tai biến Tchernobyl và Fukushima. EPR có thiết bị đặc biệt để xử lý trường hợp chảy tâm lò và tường chắn bên ngoài để chịu đựng được một vụ rơi máy bay.

Sự khốn khó của Flamanville đã được dự báo từ nhiều năm. Và không ai chắc rằng có thể sửa được tám mối hàn mà không ảnh hưởng đến độ an toàn tổng thể.

Theo một nghiên cứu gần đây của ADEME (Cơ quan về môi trường và kiểm soát năng lượng), việc phát triển EPR sẽ không cạnh tranh được nếu ta lấy giá là 70 euros/MWh do EDF ước tính. Và sự tối ưu về kinh tế cho hệ thống điện của Pháp vào năm 2050 sẽ dựa trên 85% từ năng lượng tái tạo. Để bù vào việc giảm điện hạt nhân, Ademe ưu tiên sự linh hoạt các nguồn sản xuất điện (chuyển đổi điện thành khí, pin).

Theo PPE (Hoạch định nhiều năm về năng lượng), Pháp sẽ giảm tỉ lệ điện hạt nhân từ 72% xuống còn 50% vào năm 2035 (ban đầu dự kiến là 2025). Để đạt mục tiêu này, Chính phủ xem xét đóng cửa 14 lò PWR 900 MW, bắt đầu với nhà máy Fessenheim vào năm 2020.

Ta tự hỏi không biết tại sao Chính phủ Pháp vẫn tiếp tục ủng hộ lĩnh vực điện hạt nhân đang trên đường suy tàn?

- Hai lò EPR Trung Quốc:

Tháng 12 năm 2018, EDF và đối tác Trung Quốc, China General Nuclear Power Group (CGN) thông báo đưa vào khai thác thương mại EPR Taishan 1. Đây là EPR đầu tiên hoạt động trên thế giới, dù công trình bắt đầu vào năm 2009 (trễ 5 năm so với kế hoạch), và hai năm sau Flamanville. EPR Taishan số 2 được đưa vào khai thác thương mại vào tháng 9 năm 2019.

- EPR Phần Lan:

Năm 2005, EPR đầu tiên được bắt đầu xây dựng tại Olkiluoto, Phần Lan, do Areva và Siemens làm chủ thầu.

Cũng như ở Pháp, việc hòa lưới bị chậm trễ đáng kể - ít nhất 10 năm - do các vấn đề về công nghệ, bất thường, ngân sách. Chi phí cuối cùng cũng tăng rất cao.

- Hai lò EPR của Anh:

Sau những vấn đề lớn về chi phí và chậm trễ không dứt, ngày 29/9/2016, tại Luân Đôn, EDF cùng với đối tác Trung Quốc CGN đã kí hợp đồng xây dựng hai lò EPR ở Hinkley Point, phía Tây của Anh. Do những nhà máy hạt nhân đang hoạt động sẽ đóng cửa vào khoảng giữa năm 2023 và 2030, Chính phủ Anh muốn giữ tỉ lệ điện hạt nhân ở mức 20%.

Tổng đầu tư dự kiến là 22,7 tỷ euro (EDF vừa thông báo tăng thêm 3,3 tỷ). Lò EPR đầu tiên dự kiến hoạt động vào cuối năm 2025, với thời gian chậm trễ khoảng 15 tháng. EDF và CGN phải đảm bảo tài chính cho việc chậm trễ hay tăng chi phí.

- Dự án ở Ấn Độ:

EDF đã kí với đối tác Ấn Độ một thỏa thuận, nhưng chưa phê duyệt chính thức, về một siêu dự án với 6 EPR tại Jaitapur.

- AP1000:

Lò AP1000 của công ty Hoa Kì Westinghouse Electric Corporation là lò phản ứng nước áp suất thế hệ 3. Nó được thiết kế nhằm chống lại sự mất mát nhiệt độ lạnh tại tâm hoặc hồ lưu trữ nhiên liệu, trong trường hợp bị mất nguồn điện hay vỡ ống.

Lò AP1000 đầu tiên hòa lưới vào tháng 6/2018 là Sanmen 1 của Trung Quốc. Hai lò khác Sanmen 2 và Haiyang 1 đã đưa vào hoạt động vào tháng 8/2018.

Năm 2013, Hoa Kì khởi công xây dựng ba lò AP1000 (1 lò ở Vogtle và 2 lò ở Virgil Summer).

- Atméa 1:

Lò phản ứng thế hệ 3 Atméa 1 công suất 1100 MW, được Areva và Mitsubishi Heavy Industries (MHI), phát triển chung, chưa được xây dựng. Về lý thuyết, lò này có cùng độ an toàn với EPR (công suất lớn hơn nhiều: 1650 MW).

Hai nước quan tâm nhiều nhất đến Atméa 1 là Thổ Nhĩ Kì và Jordan.

Năng lượng tái tạo thay vì điện than

Nguyễn Khắc Nhẫn

Sau COP 21 tại Paris, phần lớn các nước trên thế giới từ bỏ dần việc xây dựng các nhà máy điện than, thay vào đó là phát triển năng lượng tái tạo. Việt Nam chọn con đường ngược lại, với lý do kinh tế. (Dư luận lên tiếng chỉ trích Trung Quốc đã xuất khẩu máy móc cũ và than xấu trong lúc họ tiến hành việc đóng cửa hàng loạt nhà máy điện ô nhiễm).

Ưu tiên ngắn hạn mà không nghĩ đến tương lai có nguy cơ khiến đất nước phải trả giá đắt. Đó là chiến lược hết sức nguy hiểm đối với môi trường và sức khỏe người dân.

Nguyễn Khắc Nhẫn

 

Bài báo tôi viết về sự phát triển năng lượng và điện năng của Việt Nam (giai đoạn 2011-2020 hướng đến 2030) công bố tháng 10/2014, ở trang encyclopédie-energie.org, liên quan đến kế hoạch 7, được Thủ tướng Việt Nam phê duyệt ngày 21/07/2011.

Sau đây là những nét chính của kế hoạch 7 sửa đổi (N°428/QD-Ttg Hanoi 18/3/2016) cùng với những bình luận và đề xuất của tác giả.

1- Nguyên tắc phát triển chung:

Sản xuất năng lượng tái tạo là ưu tiên.

Thiết bị ở nguồn năng lượng phải đồng bộ với lưới điện.

Phát triển mạng lưới 220 kV và 500 kV phải đảm bảo việc cung cấp của hệ thống điện với điều kiện kinh tế tối ưu.

2- Những mục tiêu chính:

Huy động nguồn lực quốc gia và quốc tế để đảm bảo cung cấp điện chất lượng, tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và xã hội của đất nước. Đầu tư cho Năng lượng tái tạo và lưới điện thông minh trong khuôn khổ phát triển bền vững và bảo vệ môi trường trước biến đổi khí hậu, sẽ cho phép giảm sự phụ thuộc vào các nhà máy nhiệt điện với than nhập khẩu.

Với mục tiêu tăng trưởng PIB liên tục 7% mỗi năm, sản lượng của các nhà máy điện trên cả nước được dự đoán như sau: năm 2020: 235 – 245 TWh, năm 2025: 352- 379 TWh, năm 2030: 506 - 559 TWh.

Nếu tính cả lượng điện nhập khẩu, con số sẽ là: năm 2020: 265- 278 TWh, năm 2025: 400- 431 TWh, năm 2030: 572- 632 TWh.

Phần năng lượng tái tạo, được ưu tiên, sẽ chiếm khoảng 7% vào năm 2020 và khoảng 10% vào năm 2030.

Lưới điện sẽ tự động hóa cao.

Việc đưa điện đến những vùng nông thôn và miền núi sẽ được tăng tốc độ để đảm bảo tất cả các hộ gia đình đều có điện.

3A- Nhà máy điện: Công suất đặt (%)

clip_image002

clip_image004

3B – Nhà máy điện: Sản xuất (%)

clip_image006

clip_image008clip_image010

4 - Mạng truyền tải: (Công suất trạm và số km đường dây)

clip_image012

5 - Kết nối với các quốc gia lân cận:

Cần tiếp tục nghiên cứu để thực hiện kết nối hệ thống điện với các quốc gia láng giềng. Kết nối với Lào được thực hiện với đường dây 220 kV để nhập thủy điện từ miền Nam và miền Trung của Lào.

Cần duy trì kết nối với Campuchia thông qua mạng 220 kV.

Với Trung Quốc, tiếp tục kết nối với đường dây 220 kV và 110 kV đồng thời nghiên cứu khả năng sử dụng đường dây 500 kV.

6 - Đầu tư:

Tổng đầu tư trong lĩnh vực điện (gồm nhà máy và mạng lưới) là 148 tỉ đô la Mỹ cho giai đoạn 2016-2030, phân bổ như sau:

Giai đoạn 2016-2020: 40 tỉ đô la Mỹ, (7,9 tỉ mỗi năm: 75% cho nhà máy và 25% cho mạng lưới).

Giai đoạn 2021-2030: 108 tỉ đô la Mỹ (10,8 tỉ mỗi năm: 74% cho nhà máy và 26% cho mạng lưới).

7 - Bình luận:

Kế hoạch 7 sửa đổi về phát triển điện năng của Việt Nam tăng cường xây dựng các nhà máy điện chạy than. Dù giảm 5,3% vào năm 2020, sản lượng điện từ than vẫn chiếm tỉ lệ quá lớn (49,3% vào năm 2020, 55% vào năm 2025, và 53,2% năm 2030).

Mục tiêu của chính phủ về Năng lượng tái tạo vẫn quá khiêm tốn, nếu xét đến tiềm năng to lớn của đất nước về tài nguyên thiên nhiên.

Không kể thủy điện, tổng sản lượng gió, mặt trời và sinh khối chỉ chiếm 6,5% vào năm 2020, 6,9% năm 2025 và 10,7% năm 2030.

Trên các lưới truyền tải và phân phối, sự tổn hao còn lớn.

Hệ số đàn hồi (tiỷ lệ giữa tăng trưởng của sự tiêu thụ điện và tăng trưởng PIB) giảm không đáng kể. Tiết kiệm năng lượng không vượt quá 10% tổng tiêu thụ và tỉ lệ tăng trưởng hằng năm về tiêu thụ điện còn quá cao (13% từ 2006 đến 2010 và 10% từ 2010 đến 2015). Tính trung bình, tỉ lệ này sẽ khoảng 8,2% trong suốt 20 năm tới.

Tổng công suất đặt năm 2016 xấp xỉ 40.000 MW (thủy điện: 17.022 MW, nhiệt than: 12.705 MW, khí: 7.684 MW, dầu: 1.154 MW, gió: 140 MW)

Từ 2016 đến 2030, công suất đặt cần thiết của Việt Nam sẽ vào khoảng 90.000 MW, tức là hơn gấp đôi con số hiện nay.

8 - Đề xuất:

Sau COP 21 tại Paris, phần lớn các nước trên thế giới từ bỏ dần việc xây dựng các nhà máy điện than, thay vào đó là phát triển năng lượng tái tạo. Việt Nam chọn con đường ngược lại, với lý do kinh tế. (Dư luận lên tiếng chỉ trích Trung Quốc đã xuất khẩu máy móc cũ và than xấu trong lúc họ tiến hành việc đóng cửa hàng loạt nhà máy điện ô nhiễm).

Ưu tiên ngắn hạn mà không nghĩ đến tương lai có nguy cơ khiến đất nước phải trả giá đắt. Đó là chiến lược hết sức nguy hiểm đối với môi trường và sức khỏe người dân.

Lượng khí thải CO2 hiện nay của lĩnh vực điện đã chiếm một nửa lượng khí thải quốc gia. Nó sẽ còn tăng 3 đến 4 lần vào năm 2030. Trong giai đoạn quá độ chờ đợi năng lượng tái tạo, chính quyền nên khuyến khích xây dựng nhà máy điện chạy bằng khí đốt, ít ô nhiễm hơn nhiều so với nhà máy điện than (350 g C02/kWh đối với khí, trong khi 950 g CO2/ kWh đối với than). Điều này thật đáng tiếc vì Điện lực Việt Nam có nhiều kinh nghiệm với tua-bin khí, vốn được thiết kế nhanh hơn.

Việt Nam cần theo đuổi gấp một chiến lược mới về năng lượng, dựa trên ba trụ cột chính: Năng lượng tái tạo, Tiết kiệm năng lượng, và Hiệu quả năng lượng.

A- Năng lượng tái tạo:

Ngay trước COP21, ngày 25/11/2015, Thủ tướng Việt Nam công bố một văn bản luật rất quan trọng, nêu rõ chiến lược phát triển Năng lượng tái tạo đến năm 2030, với tầm nhìn 2050. Tất cả mọi chủ đề đều được đề cập cụ thể (các mục tiêu được lượng hóa, công việc bắt buộc với các bộ, cơ quan hành chính, đại học, cao đẳng...).

Đầu tư lớn vào năng lượng tái tạo, trong khuôn khổ của phát triển bền vững trước biến đổi khí hậu, sẽ cho phép đáp ứng nhiều mục tiêu dài hạn: đảm bảo an ninh năng lượng, giảm mạnh khí thải gây hiệu ứng nhà kính, giảm ô nhiễm không khí, giảm tỷ lệ thất nghiệp, và cũng không quên mục tiêu chính bảo vệ sức khỏe người dân.

Có thể khai thác với số lượng nhỏ, ở mức độ hộ gia đình, hay địa phương với các dự án của người dân, các nguồn thông lượng phù hợp với hệ thống phân tán, mà ở đó người tiêu thụ cũng là người sản xuất. Mỗi vùng, mỗi thành phố, mỗi địa phương có trách nhiệm tìm mọi cách để đạt được tự chủ năng lượng.

Sự giảm ấn tượng về chi phí sản xuất năng lượng tái tạo đến từ hiệu ứng số lượng lớn và đột phá về công nghệ (từ nghiên cứu – đổi mới).

Những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhanh chóng và liên tục trong các phương pháp mới về lưu trữ năng lượng, cho phép giải quyết vấn đề gián đoạn, đồng thời đẩy mạnh công suất và vai trò quan trọng của năng lượng tái tạo.

Từ nay trở đi, cách thức sản xuất và tiêu thụ năng lượng phải được chuyển đổi.

Tất nhiên, đưa Năng lượng tái tạo vào hệ thống điện sẽ làm cho việc quản lý mạng lưới thêm phức tạp, do đặc tính gián đoạn của nó. Nhờ công nghệ thông tin và truyền thông, lưới điện thông minh sẽ cho phép tối ưu toàn bộ các nút trong hệ thống điện, đồng thời cải thiện hiệu suất của các nhà máy điện và giảm tổn hao đường dây.

Ngày nay, giá thành mỗi kWh điện gió đất liền và pin mặt trời đã cạnh tranh được với các nhà máy điện chạy dầu, than, khí và ngay cả với nhà máy điện hạt nhân. (Điện gió ngoài khơi vẫn còn đắt nhưng tiềm năng ở Việt Nam đầy hứa hẹn).

Giá năng lượng tái tạo tiếp tục hạ thấp trong khi đó giá của các nguồn năng lượng khác tăng nhanh vì tài nguyên thiên nhiên khô cạn hoặc vì phải tăng cường mức an toàn ở các nhà máy điện hạt nhân.

B- Tiết kiệm năng lượng:

Sử dụng năng lượng một cách điều độ liên quan đến việc loại bỏ lãng phí ở tất cả các khâu trong hệ thống tổ chức của xã hội và trong hành vi của mỗi cá nhân. Điều độ không phải là hạn chế quá mức hay dè xẻn. Nó đơn giản là bắt buộc xây dựng tương lai của chúng ta trên nền tảng nhu cầu năng lượng không quá mức độ, kiểm soát tốt hơn, và cân bằng hơn.

Việt Nam còn có thể tiết kiệm nhiều hơn nữa. Chúng ta phải tiết kiệm điện mọi nơi (cơ quan hành chính, hộ gia đình, trung tâm thương mại, công nghiệp, giao thông, chung cư...)

Tùy theo quốc gia, có thể giảm tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu từ 2 đến 3 lần nhờ vào các kỹ thuật đã được chứng minh cụ thể.

Những kWh không tiêu thụ là tốt nhất.

C- Hiệu quả năng lượng:

Hiệu quả năng lượng liên quan đến việc làm giảm nhiều nhất có thể sự tổn hao so với tài nguyên sử dụng. Tiềm năng cải thiện trong công nghiệp, đời sống, giao thông và thiết bị là rất lớn.

Nâng cao hiệu suất của thiết bị và máy móc cho phép giảm mạnh tổn hao.

Cần khuyến khích cải thiện hiệu suất năng lượng trong tất cả các lĩnh vực công nghiệp, kinh tế, và hành chính.

Trong bài báo của tôi được công bố trên trang web của Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF) và Forum Diễn Đàn: Việt Nam có thể đạt 100% Năng lượng

tái tạo năm 2050, tôi đã liệt kê một số đề xuất phần lớn được ghi trong danh sách sau đây:

D- Điều kiện thành công:

Sự thành công phụ thuộc phần lớn vào quyết tâm chính trị của Chính phủ.

- Thành lập Bộ Năng lượng tái tạo

- Cần có sự quan tâm đặc biệt của chính phủ, các cơ quan hành chính, doanh nghiệp và người dân.

Thực hiện gấp các giải pháp:

- Dừng xây dựng các nhà máy điện than

- Giảm tỉ lệ tăng trưởng hằng năm về tiêu thụ điện (mục tiêu ngắn hạn: dưới 5%)

- Huy động toàn xã hội

- Quảng bá rộng rãi, thông tin và truyền thông

- Giáo dục ở các cấp tiểu học, trung học và đại học

- Thay đổi hành vi, suy nghĩ

- Tinh thần trách nhiệm chung

- Giảm tác động của mỗi cá nhân đến môi trường

- Thay đổi quan điểm tăng trưởng, bỏ những hạn chế của mô hình hiện tại

- Quy hoạch đất đai một cách thông minh

- Phát triển giao thông công cộng và chia sẻ, giao thông sạch, và xe đạp điện

- Ưu tiên thiết bị và sản phẩm địa phương (tránh quãng đường xa)

- Bỏ rào cản hành chính và pháp lý cứng rắn

- Chính sách mua lại giá thấp, hỗ trợ thuế

- Giá carbon

- Ủng hộ đổi mới và sáng kiến ở địa phương

- Triển khai các dự án thăm dò về «năng lượng dương»

- Phát triển thành phố thông minh

- Đầu tư vào các phương pháp lưu trữ năng lượng, đặc biệt là STEP (Trạm chuyển năng lượng bằng bơm)

- Dừng xây dựng các đường dây truyền tải dài 500 kV

- Phân tán, xây cất các nhà máy điện nhỏ, tự chủ năng lượng của các vùng

- Chống lãng phí ở mọi cấp độ

- Đưa ra chính sách, mục tiêu, đầu tư nhằm sử dụng năng lượng điều độ và cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng

- Chương trình kiểm định, chuẩn mới, và luật phù hợp

- Phát triển điều hòa nhiệt độ sinh học (điều hòa nhiệt độ hiện nay tốn quá nhiều điện)

- Tìm cách bổ sung cho khí đốt và điện

- Vai trò lớn của rừng và nông nghiệp (giảm khí thải nhà kính, lưu trữ carbon)

- Kinh tế vòng (tái chế và sản xuất vật dụng và thiết bị bền vững)

- Nếu có thể thì nên sửa chữa, thu hồi, tái sử dụng, tái chế sản phẩm

- Nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu (dầu, khí) chỉ dành cho các mục đích không liên quan đến năng lượng

9- Biến đổi khí hậu:

Việt Nam là một trong những nước dễ bị ảnh hưởng nhất trước biến đổi khí

hậu.

Việt Nam (xếp thứ 26) nằm trong nhóm các nước có rủi ro đặc biệt cao. Cũng như một số nước châu Á khác, các nguy cơ chính là: nắng nóng, mưa lớn, bão mạnh và thường xuyên hơn, ngập nước và lụt, xâm nhập mặn, sạt lở đá, xói bờ biển, sạt lở đất, đất đai khô cạn, cháy và mất rừng, giảm tài nguyên nước và dự trữ nước ngọt, nước biển dâng cao, hiệu suất nông nghiệp giảm, tàn phá hệ động thực vật, đói, di dân, an ninh bị đe dọa, côn trùng di cư, bệnh mới, dị ứng, tỷ lệ chết tăng liên quan đến tiêu chảy, dịch tả lan rộng do nhiệt độ tăng...

Ở những vùng nguy hiểm, cần làm ngay các công việc sau: xem lại kế hoạch đô thị hóa và dự báo, nên xây dựng lại nhà cửa và cầu đường, bảo vệ các cơ sở, làm sạch nguồn nước, bảo vệ hồ, đê, đập (khoảng 1200). Không nên quên rằng nông nghiệp là nguồn sản xuất metan rất lớn (độc hại hơn 40 lần so với CO2). Gia súc ăn cỏ, đồng ruộng, rơm, sự lên men tự nhiên của rau cỏ thừa cũng tạo ra metan.

Với dân số tăng trưởng nhanh, khả năng thích nghi của Việt Nam thấp, do thiếu quyết tâm chính trị và tài chính.

Cần nhắc lại ở đây rằng ngày vượt ngưỡng của năm 2018 đã đến từ ngày 1/8. Đó là ngày nhân loại đã xài hết tổng tài nguyên mà trái đất có thể tạo ra trong một năm. Ngày này đã gióng lên hồi chuông cảnh báo: cách chúng ta sử dụng tài nguyên (nguyên vật liệu, nước, năng lượng) không còn có thể chịu được nữa.

Từ nhiều năm, Việt Nam đã chịu đựng biết bao nhiêu ảnh hưởng tệ hại của biến đổi khí hậu (đường phố thành sông ngòi, hàng trăm tấn cá chết, cháy rừng, bão thường xuyên...).

Những tín hiệu cảnh báo đã xuất hiện khắp nơi, nhưng hành động lại chưa được tương xứng với những thách thức như vậy.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn