30/07/2010

Pháp từng nhiều lần muốn nhập Hoàng Sa vào Đông Dương

clip_image001

Quần đảo Hoàng sa của Việt Nam. Ảnh: Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

André Menras, tác giả cuốn Thoát khỏi ngục tù Sài Gòn, chúng tôi tố cáo vừa được cung cấp một sử liệu mới khẳng định quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.

Đây là một bài viết trên báo công giáo La Croix ngày 15/3/1934, trong đó có cho biết Pháp đã từng nhiều lần muốn nhập Hoàng Sa vào Đông Dương.

"Đã nhiều lần chúng ta bàn cãi về việc nhập các quần đảo Paracels (Hoàng Sa) vào Đông Dương".
Nằm ngay trên con đường nối liền mũi Padaron của Hong Kong, các hòn đảo nhỏ này buộc tất cả các tàu thuyền đi qua lại những vùng này của biển Đông phải đi đến gần sát hoặc về phía Tây - giữa Hoàng Sa và đảo Hải Nam, hoặc về phía Đông, giữa Paracels (Hoàng Sa) và vỉa đá Macclesneid.

Mặt khác, các hòn đảo này lại nằm ở một khoảng cách gần như ngang nhau giữa Hải Nam và Tourane (Đà Nẵng), chúng gần như giữ vai trò chỉ huy cửa ngõ vào Vịnh Tonkin (Vịnh Bắc Bộ). Do vậy, kiểm soát cửa ngõ của một vùng quan trọng về phương diện kinh tế, vì Hải Nam trong tình hình bình thường chỉ là một cửa ngõ không thuận tiện cho việc neo đậu các tàu lớn và có thể là một ngõ cụt, nếu có một sự bất đồng nào đó.

Một Đại úy hải quân Pháp tên là Olivier de Saix, thuộc cơ quan Địa lý, gần đây đã trình bày những lý do vì sao cần phải nhập quần đảo Paracels và xem như nó gắn với đất liền. Vấn đề chủ quyền của nước Pháp đối với Paracels từ lâu đã là một vấn đề tranh cãi.

Cách đây vài năm, sau những cuộc tìm kiếm trong các sử liệu của vương triều An Nam, bản báo cáo này đã đi đến kết luận như sau: quần đảo Paracels hoang vắng và cằn cỗi không khác gì một mê cung của các hòn đảo san hô, đá ngầm và những dải cát mà những người đi biển rất e ngại, hình như là một vùng res nullius (đất hoang, cả về mặt pháp quyền) cho tới đầu thế kỷ vừa rồi.

Đức Giám mục vùng Isauropotis tên là Jean Louis Taberd, đứng đầu giáo phận Trung Kỳ, Cambodge và Champa, trong một công trình nghiên cứu về địa lý về Trung Kỳ, đã có nhắc tới sự chiếm đóng quần đảo Paracels trong năm 1816 của Hoàng đế  Gia Long - người đã  trịnh trọng kéo cao lá cờ của Nam Kỳ trên quần đảo này. Một đơn vị gồm 70 người chọn lọc từ dân làng Vin-an (Vĩnh An ) đã ra đóng giữ tại đây.

Ít lâu sau, nhiều phái đoàn chính thức được cử đến thám hiểm quần đảo. Một trong những đoàn ấy đã phát hiện ra một ngôi chùa cổ xưa có khắc chữ An Nam. Để giữ kỷ niệm về chuyến thám hiểm đó, người ta đã chuyển ra đảo vật liệu và những người thợ để xây dựng một ngôi chùa và một tượng đài. Trong quá trình đào móng để xây chùa, người ta phát hiện thêm 2.000 cân nhiều loại vật dụng bằng đồng lá, sắt, thau... những chứng cứ của một cuộc chiếm đóng từ trước đó ở trên đảo .

Hình như cho đến thời điểm này, nước An Nam không có một liên hệ nào với quần đảo Paracels. Đa số các ngư dân, hoặc chủ thuyền dọc bờ biển sống trong một sự thiếu hiểu biết hoàn toàn về các hòn đảo đó, và không có ai tiếp tục đặt chân tới đó.

Tuy nhiên, Thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề đã khẳng định vào năm 1925: "Những hòn đảo nhỏ đó đã luôn luôn thuộc về nước An Nam và không hề có một ý kiến trái ngược nào về vấn đề này". Trong các yêu sách đưa ra cho Trung Quốc vào năm 1909, nước Pháp lúc đó đã chiếm đóng An Nam, về phương diện đối ngoại, và căn cứ vào các hiệp ước bảo hộ, đã phải khẳng định chủ quyền của quốc gia bảo hộ đối với các hòn đảo này.

Mặt khác, hai quốc gia lớn, do các đặc trưng về chiến lược là chính, có thể mong muốn chiếm đóng quần đảo này nhất là nước Anh và Nhật Bản cũng chưa bao giờ có ý định này. Quần đảo Paracels ở vị trí tiền tiêu của Đông Dương, nên người ta có thể xây dựng ở đây một căn cứ tàu ngầm, hoặc một căn cứ thủy phi cơ.

Nhưng, cho dù chúng ta không sử dụng trực tiếp các đảo thì việc chiếm giữ chúng sẽ ngăn cản bất kỳ một nước nào khác dòm ngó đến Đông Dương, hoặc có ý đến xây dựng những thứ mà chúng ta không tự mình làm cho đến giờ này. Trong trường hợp có những xung đột, việc chiếm đóng các hòn đảo bởi một nước ngoại bang sẽ là một mối đe dọa lớn cho việc bảo vệ và toàn vẹn lãnh thổ của Liên bang Đông Dương.

Thật vậy, quần đảo Paracels tạo thành một sự nối dài của đảo Hải Nam. Một đối thủ có thể tìm thấy ở đó một căn cứ thủy quân mạnh mẽ, bởi lưu lượng nước và nhờ những khu vực có thể thả neo tuyệt vời, cũng như tình trạng tự nhiên của nó, để không ai có thể đuổi ngược ra. Một đội tàu ngầm lấy quần đảo này làm chỗ dựa, không những có thể chốt chặn hoàn toàn cảng Tourane, cảng quan trọng nhất của An Nam, mà còn có thể cô lập cả Bắc Kỳ bằng cách cấm vận đường biển.

Một lý do khác để sát nhập Paracels là việc xây thêm ít nhất một ngọn hải đăng về phía tây của các đảo, nhằm tránh cho các tàu thuyền phải đi vòng như từ trước tới bây giờ để tránh những luồng nước thường xuyên thay đổi mỗi khi tàu đi ngang đảo vào ban đêm, hoặc khi thời tiết xấu.

Việc xây dựng trên một trong các hòn đảo nhỏ ấy một đài khí tượng có kèm theo một cơ sở viễn thông cũng đã được nghiên cứu. Đông Dương đã có một hệ thống khí tượng rất tốt có thể chuyển thông tin quan sát nhiều lần trong ngày tại Thu Lien, từ nơi đó, các thông tin được phân tích và người ta rút ra những dự báo. Nhưng tất cả các đài khí tượng đó tại Đông Dương, hiện vẫn chỉ ở trong đất liền, hoặc tại vùng ven biển.

Về phía Đông của Đông Dương, không có một cơ sở nào khác có liên lạc với trung tâm quan sát của chúng ta ngoài cơ sở Hong Kong, Pratas hoặc Manille (Philippines) - những cơ sở ở cách rất xa chúng ta. Ngay tại đảo Hải Nam là nơi nhiều người Trung Quốc khả nghi sinh sống cũng không hề có một cơ sở nào. Giữa Manille và bờ biển An Nam, có nghĩa là trong một khoảng cách chừng 800 dặm, cũng không có gì ngoài những thông tin thất thường mà các tàu tự chuyển cho nhau. Đài quan sát trên Paracels, ở cách bờ biển An Nam chừng 300 km, sẽ giúp bổ sung những thiếu sót này.

Những quyền lợi về kinh tế mà quần đảo Hoàng Sa có thể mang lại, nhìn bề ngoài dường như không mấy quan trọng. Một nghiên cứu khoa học về vùng đất này đã được tiến hành một cách đầy đủ. Người ta đã thực hiện nhiều cuộc thăm dò, đã xác định tình trạng thiên nhiên và cấu trúc đáy biển, cũng như đã nghiên cứu một cách chính xác về các tầng địa chất của các hòn đảo nhỏ.

Vài năm trước, người ta đã phát hiện nhiều mỏ phốt phát rất đẹp trên nhiều hòn đảo, đặc biệt là trên đảo Boisée và đảo Roberts, nhưng những người Nhật, trong một chuyến thám hiểm, đã dựng trên hòn đảo này một đường tàu sắt và một cầu tàu bằng sắt dài 300m, cũng như đã tiến hành khai thác một cách có hệ thống vùng này. Nếu như họ đã không khai thác hoàn toàn các mỏ phốt phát, thì họ cũng đã làm nó cạn kiệt đến mức là vùng này không còn có thể khai thác được gì hơn.

Hoàng Sa rất giàu về cá, nhưng san hô tràn trên mặt biển đã ngăn cản tất cả các loại thuyền bè. Những chiếc thuyền nhỏ đánh bắt cá ở vùng này thuộc về các ngư dân hàng năm đến đây theo mùa mưa trên đường từ Hải Nam đến Singapore, và trong những thời  gian gió bão không thể đi lại được thì họ lại đi đánh bắt cá ven các hòn đảo xa xôi này.

Hòn đảo lớn Hải Nam, nằm giữa biển Đông và vịnh Tonkin rất ít dân cư. Phía trong của đảo có một vùng đồi núi, nơi có một số ít dân cư gần như độc lập sinh sống, đó là dân tộc LI. Mặc dù Trung Quốc đã thống trị vùng đất này từ nhiều thế kỷ và đã thiết lập tại đây một cơ sở hành chính và thủ phủ của nó, và cả hai đều nằm dưới sự kiểm soát của tỉnh Quảng Đông, nhưng ảnh hưởng của nó thực sự chỉ mạnh ở khu vực duyên hải.

Trong vùng Tây Nam của tỉnh Quảng Đông, tức là vùng giáp ranh với Bắc Kỳ và vùng thuộc địa Pháp Quảng Châu Wan, có một tổ chức được thành lập để khắc phục những thiệt hại bởi nạn đói, và tổ chức này được gọi là Văn phòng Tái  thiết miền Nam. Chính tổ chức này được giao cho thực hiện chương trình gom dân của vùng trung tâm các núi des Cinq Doigts (5 ngón tay). Vùng kiểm soát của tổ chức Tái thiết này rất rộng lớn và nằm dài theo bờ biển.
Việc thông tin liên lạc rất khó khăn kể cả bằng đường bộ lẫn đường biển. Mọi liên hệ giữa Trung Quốc và  đảo phụ thuộc hoàn toàn vào các tàu thủy nước ngoài chạy giữa Hải Phòng và Hong Kong. Nhưng những chuyến đi ấy không được thực hiện theo lịch trình nhất định, và trong trường hợp có gió lớn hoặc có bão, những chuyến tàu ấy thường bị chậm có khi đến hơn 10 ngày.

Với ý định khai thác những nguồn tài nguyên thiên nhiên của đảo Hải Nam, đồng thời xác lập lại quyền đi lại dọc bờ biển, Chủ tịch Tổ chức Tái thiết miền Nam đã đưa ra một chương trình bao gồm việc kêu gọi những người Trung Quốc sống ở nước ngoài quyên tiền đủ để đóng hai chiếc tàu trọng tải ít nhất là 20 ngàn tấn, nhằm giúp cho việc liên lạc giữa đảo Hải Nam và Trung Hoa lục địa được dễ dàng hơn".

(Theo Tuanvietnam)

Nguồn: Beenet