24/04/2018

Toa “Bạch Hổ đầu thang”!



Tô Văn Trường


Để Chính phủ điều hành kinh tế xã hội có hiệu quả, hoạt động của Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng có vai trò rất quan trọng trong việc phân tích đánh giá khoa học khách quan hiện trạng và đưa ra các giải pháp khắc phục những bất cập trong phát triển của nền kinh tế, như bài học thầy thuốc giỏi dám đưa ra “toa Bạch Hổ đầu thang” với những ca bệnh nghiêm trọng.


Cách đây khoảng chục năm, có chuyên gia quốc tế nhận xét: “Kinh tế Việt Nam dưới thời quản lý điều hành của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yếu kém vì gặp cả hai vấn đề. Thứ nhất là vấn đề cơ cấu: luật pháp nhà nước bị lạm dụng, nhà nước thay vì làm quản lý và thực thi pháp luật lại tham gia trực tiếp vào làm kinh tế với chiến lược ưu tiên phát triển tập đoàn kinh tế quốc doanh nhà nước nên đã bị các nhóm lợi ích chung quanh lạm dụng. Vấn đề thứ hai là chính sách chạy đuổi theo tốc độ tăng GDP quá đáng, bằng vay mượn và đầu tư không thích đáng đã đẩy nền kinh tế đến khủng hoảng mạnh, liên tiếp năm 2008, rồi 2010-2011, nền kinh tế vượt quá xa khả năng phát triển tiềm năng của nó” v.v…

Các câu khẩu hiệu “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” với mục tiêu xây dựng “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” nghe rất hay, nhưng trong thực tế, được người dân minh họa bằng mấy vần thơ:

Nói vậy, không làm vậy
Càng làm lại càng sai
Lầm đường sao tới được
Rối tinh, lại dối hoài”.

Từ khi nhận chức, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng rất đôn đáo khắc phục những bất cập trong điều hành nền kinh tế ví dụ như gỡ bỏ các rào cản, quy định bất hợp lý, giấy phép trong tất cả các ngành kinh tế, khởi động phong trào khởi nghiệp trong giới trẻ, tổ chức gặp mặt doanh nghiệp, ghi nhận phản hồi của họ, dự tính cắt giảm biên chế một số cơ quan “thừa” và nhũng nhiễu v.v…

Tuy nhiên, nhiều vấn nạn như liên quan đến đất đai vẫn chưa dẹp được vì đây là vấn đề sở hữu thuộc phạm trù thể chế. Hậu quả cho đến hiện nay, tham nhũng, lãng phí sờ đâu cũng thấy, thu vẫn không đủ chi, nợ công, nợ xấu đại vấn đề. Người dân càng quan tâm, mong chờ các ý kiến đề xuất mới của tổ chuyên gia tư vấn về kinh tế của Thủ tướng. Câu hỏi đươc đặt ra làm thế nào để đánh giá đúng hiện trạng tình hình kinh tế, cảnh báo các nguy cơ và đưa ra các giải pháp hiệu quả trước mắt và lâu dài? Muốn thế, những người làm tư vấn phải thoát được thói quen “nghe nhạc hiệu đoán chương trình”, tức là góp ý, tư vấn phải dựa trên các phân tích đánh giá khoa học khách quan trên cơ sở dữ liệu thực tế tin cậy, tránh tình trạng vẫn còn phải nói lựa theo ý của lãnh đạo.



Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc làm việc với Tổ tư vấn về kinh tế (Ảnh trên mạng)

Viết đến đây, tôi chợt nhớ tới câu chuyện do người bạn kể lại, đại ý có ông thầy thuốc giỏi nổi tiếng, tất nhiên cũng có nhiều học trò giỏi. Hôm mẹ ông bị bệnh nặng, biết bệnh nhưng không dám bốc thuốc, vì bệnh độc phải trị bằng “độc dược” nên ông bảo người học trò giỏi nhất xem mạch, bốc thuốc. Người học trò e ngại, thầy van nài và như ra lịnh, người học trò lặng lẽ làm theo. Trước khi học trò ra toa, thầy hỏi nhỏ: “Mày trị toa thuốc nào cho mẹ tao?”. Thưa: “Toa Bạch Hổ đầu thang!”. Ông không tỏ ra hốt hoảng mà nhẹ nhàng: “Tao biết thế, nhưng vì là mẹ tao nên tao không dám cho toa “nhất sống nhì chết” này, nên mới nhờ mày!”

Câu chuyện nói trên ứng với câu nhận xét của người đời “không thể sửa sai từ tư duy sai” hay như không thể thay tên cái bánh mà nguyên liệu làm bánh vẫn giữ y nguyên, cho dù có thay cái khuôn đi nữa! Đó cũng chính là sự hy vọng vào ý kiến “đột phá” của các chuyên gia tư vấn sẽ giúp ích hiệu quả cho việc giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội còn nhiều bất cập và nóng bỏng của đất nước.

Cần xem lại cách tính tốc độ tăng trưởng GDP

Đánh giá về nền kinh tế quốc gia, nhìn chung người ta vẫn nhìn vào tốc độ phát triển GDP. Tôi đã đọc bài viết phân tích về tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam của TS Vũ Quang Việt đăng trên báo Kinh tế Sài Gòn số 16-2018 thấy tác giả đặt vấn đề rất đáng suy ngẫm đó là tốc độ phát triển rất cao của việc chi tiêu cho hoạt động dịch vụ nhà nước (hành chính, Đảng, an ninh quốc phòng), giáo dục và y tế, trong khi lao động trong các hoạt động này (trừ y tế) giảm. Cần lý giải vấn đề này vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng GDP.

Tốc độ tăng trưởng GDP mà Tổng cục Thống kê tính là cao hơn sự thật bởi vì cách đưa các hoạt động phi thị trường về giá cố định mà lại dùng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hoặc chỉ đại diện một phần rất nhỏ và mức tăng thấp hơn mức tăng của chi phí đã đưa đến GVA của khu vực nay tăng cao hơn sự thật. Điều này cũng giống như cách làm của Trung Quốc khi họ dùng chỉ số giá tiêu dùng CPI để tính tốc độ tăng của khu vực nhà nước, kể cả giáo dục. Thí dụ như năm 2015 lương công chức tăng 60%, cho nên tốc độ tăng GDP thực tế của Trung Quốc trong năm này thấp hơn tốc độ tăng được báo cáo là 1 đến 2%.

Ở Việt Nam chính vì tính không đúng GDP theo giá so sánh từ khu vực dịch vụ hành chính và an ninh nhà nước, cũng như giáo dục mà năng suất lao động hai khu vực này tăng cao hơn cả năng suất của cả nước và của công nghiệp, là điều phi lý.

Không phải lo bệnh thành tích

Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam, không cần “nhào nặn” số liệu vẫn luôn tăng cao ở khoảng 6% bởi vì VN nằm trong vùng đang phát triển khá mạnh. Năm 2017 các nước tăng GDP như sau:

Philippines: 6,7%
Ấn Độ: 6,7%
Campuchia: 6,9%
Malaysia: 5,8%
Indonesia: 5,1%

Chỉ có Thái Lan là thấp 3,5% vì bất ổn chính trị.

Và Singapore: 3,6% vì là nước phát triển cao.

Nếu Việt Nam có chính sách phát triển kinh tế đúng đắn, chắc chắn tốc độ tăng trưởng GDP thuộc hạng cao nhất ở Đông Nam Á.

Cảnh báo những bất cập về thu chi ngân sách và bất ổn về kinh tế xã hội

Hiện nay, người dân vẫn chưa thấy có chuyển đổi mạnh mẽ trong chính sách kinh tế và đầu tư như mong muốn. Dẫn chứng:

- Nền kinh tế ở Việt Nam, quốc doanh và FDI vẫn là chủ đạo. Quản lý doanh nghiệp quốc doanh sơ hở, tập quyền dễ dẫn đến kém hiệu quả, lãng phí và tham nhũng. Quá trình cổ phần hóa đang có 2 nguy cơ: (i) Cổ phần hóa cả những doanh nghiệp đang làm ăn có lãi và có thương hiệu/tài sản vô hình cao (như Vinamilk); (ii) Thất thoát do đánh giá sai tài sản, nhất là tài sản vô hình.

- Tham nhũng vẫn còn như rươi, sờ đâu cũng thấy, vấn đề mấu chốt là phải thay đổi thể chế vẫn chưa dám đụng đến.

- Quan trọng nhất là nhà nước không sản xuất mà cần nghiên cứu, có chính sách, và thực hiện đẩy mạnh việc chuyển công nghệ tiên tiến từ nước ngoài vào VN. Nhìn giáo dục mà chỉ thấy cần bao nhiêu tiến sĩ rồi định bỏ ra cả 500 triệu US để đầu tư thì đúng là hỏng. Nhật Bản trước đây và Trung Quốc hiện nay xây dựng các đại học nghiên cứu hàng đầu, lôi kéo các giáo sư kiều dân và nước ngoài sang dạy học với lương còn cao hơn ở Mỹ. Và tất nhiên họ tập trung vào các ngành để Trung Quốc có thể tiến lên hàng đầu. Họ nắm được công nghệ xe hỏa cao tốc, điện mặt trời, công nghệ mạng (buôn bán, sử lý thông tin như alibaba)… còn VN lâu nay vẫn còn nặng về phát triển nhiệt điện than, sắt thép, khai thác tài nguyên, các khu đánh bạc v.v…

- Nhìn vào thống kê về giá trị tăng thêm (GVA) trên một lao động từ công nghiệp của VN thì thấy là thấp so với dịch vụ (dù còn nhiều vấn đề về thống kê về dịch vụ) và chỉ cao hơn GVA trên một lao động nói chung của nền kinh tế. Như vậy, công nghiệp của VN rõ ràng là công nghiệp gia công, có tăng lên cũng chưa chắc đã đẩy mạnh được phát triển.

Vậy thì câu hỏi khi đặt ra về tăng khu vực công nghiệp trong nền kinh tế nhằm thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp có nội dụng là gì? Lao động cơ bắp? Lao động có tay nghề và tri thức? Những điều này có khi còn quan trọng hơn câu hỏi cần công nghiệp gì?. Người dân mong muốn các chuyên gia tư vấn đi vào nghiên cứu, phân tích những thông tin đang có trong tay chứ không thể nói chung chung.

- Ngân sách trung ương và địa phương vẫn dựa vào chuyển nhượng quyền sử dụng đất là chính. Việc lấy đất của dân trao cho doanh nghiệp, ăn chênh lệch giá gây bất ổn trong xã hội, lòng dân bất bình. Trong khi chưa sửa Hiến pháp “đất đai là sở hữu toàn dân” thì phải sửa Luật Đất đai vì mục tiêu phát triển bền vững và phù hợp với lòng dân. Điều 62 luật này cho phép chính quyền thu hồi đất của dân để giao cho doanh nghiệp làm dự án với danh nghĩa phát triển kinh tế - xã hội nhưng thực chất lâu nay là sự cấu kết của mafia về đất đai với nhóm lợi ích có thẩm quyền, đẩy người dân thấp cổ bé họng vào con đường bần cùng. Vừa qua, người dân hưởng ứng, đánh giá cao “lò nóng” của Tổng Bí thư không còn vùng cấm, chắc chắn cảnh báo đến cả những người “ăn đất” đã hạ cánh, tưởng mình an toàn.

- Về kinh tế học thì thuế chính là hàm nghịch biến với tăng trưởng cho nên trách nhiệm của những người làm chính sách phải biết điều hòa làm sao không thất thu thuế (thu đúng, thu đủ), đảm bảo an sinh xã hội nhưng phải biết khoan sức dân. Thực tế người dân chia sẻ, đồng cam, cộng khổ với nhà nước, đóng thuế từ khi lọt lòng (mua bỉm cũng thuế VAT) đến khi chết (quan tài cũng thuế VAT) chưa kể hàng loạt các thứ thuế chồng lên thuế. Ngay gần đây. Bộ Tài Chính có tư tưởng tận thu, lại đề xuất nhà trên 700 triệu đồng cũng bị đánh thuế (bóc lột đến thế là cùng) nên bị công luận phản ứng dữ dội.

- Chính sách vẫn là khuyến khích tập trung vào đầu tư địa ốc và đánh bạc, như các khu kinh tế Vân Đồn, Đà Nẵng, Phú Quốc. Chủ trương cần phải rõ: Nhà nước lập ra các đặc khu kinh tế để thí điểm chính sách phát triển hay chỉ giới hạn chính sách mới ở những đặc khu đó?

- Ngoài ra, phải tính tới các yếu tố ngoại sinh, không hề nhỏ có ảnh hưởng lên chính sách kinh tế của Chính phủ. Ví dụ như Trung Quốc muốn dùng Việt Nam làm bàn đạp xuất hàng đi Âu-Mỹ (thép, nhôm....) khiến mô hình tăng trưởng của Việt Nam bị méo mó bởi các nhóm lợi ích bên trong “ tiền hô hậu ủng “ đối tác với Trung Quốc.

- Vậy thì có gì mới? Chính sách tăng năng suất lao động/phát triển kinh tế dựa vào tri thức đang ở đâu?

Lời kết

Để Chính phủ điều hành kinh tế xã hội có hiệu quả, hoạt động của Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng có vai trò rất quan trọng trong việc phân tích đánh giá khoa học khách quan hiện trạng và đưa ra các giải pháp khắc phục những bất cập trong phát triển của nền kinh tế, như bài học thầy thuốc giỏi dám đưa ra “toa Bạch Hổ đầu thang” với những ca bệnh nghiêm trọng.

Để nhìn nhận, đánh giá nỗ lực cũng như kết quả công việc của Chính phủ cần phân biệt rạch ròi cái gì thuộc về cải cách thể chế và cái gì thuộc về điều hành tác nghiệp mang tính nghề nghiệp. Tổ Tư vấn Kinh tế cũng cần giúp Thủ tướng theo hướng mạch lạc như vậy.

Không ai cổ xúy cho việc sao chép mô hình kinh tế này nọ để ấn vào Việt Nam thời nay. Nhưng nếu không học hỏi, đúc rút kinh nghiệm thực sự quý giá của những nền kinh tế phải trả giá để thành công thì thật là uổng phí thời gian và cả lòng tin. Vì thế, những người đang đứng đợi ở sân ga cuối vẫn hoài mong có một ekip đẹp, đưa con tàu kinh tế Việt Nam đến đích. Liệu đó có phải là Chính phủ kiến tạo và phát triển của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với tổ tư vấn có mặt các chuyên gia kinh tế từ nhiều nền kinh tế phát triển?

Ngoài tổ tư vấn về kinh tế, Chính phủ cần thiết lập các kênh giao lưu khách quan với dân, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp, các nhà khoa học và nhà quản lý cả ở trong và ngoài nước. Bộ máy xử lý thông tin phải được một đặc quyền là không bị chi phối bởi các cấm kỵ nào, tức là được nói thật, nói thẳng mà không sợ bị “chụp mũ”, trù dập.

T.V.T.
Tác giả gửi BVN.

Đồng Tâm: yêu thương và cảm phục



Nguyễn Nguyên Bình


Nhờ có việc công an địa phương toa rập gây sự bằng cái trò rạch mặt ăn vạ vụng về thô thiển như trên mà chúng tôi được thêm một trải nghiệm sâu sắc trong đời, để thêm yêu thương và cảm phục NGƯỜI ĐỒNG TÂM.






Giữ đất ba trăm ngày
Có đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử Đồng Tâm sáng rực…”

Nhại mấy câu thơ Tố Hữu xưa để tả cảm xúc của bản thân mình hôm qua, khi từ chỗ Ủy ban xã Phúc Lâm huyện Mỹ Đức trở về làng Hoành. Đêm muộn rồi, mà trước cổng làng và trước cửa mấy nhà gần chỗ cụ Kình, rất đông bà con trong làng vẫn đứng đợi để đón xe của chúng tôi cùng một bộ phận khác của dân làng (mà phần lớn là các bà các cô trong ‘đội quân tóc dài’) đã sát cánh với chúng tôi suốt 6,7 tiếng đồng hồ, từ Ủy ban xã Phúc Lâm trở về. Quang cảnh đèn đóm sang choang, tiếng người xôn xao, tưng bừng, vui quá, giống như đêm giao thừa. Chúng tôi ôm nhau thắm thiết, có người rơi nước mắt, như đón người thân lâu ngày mới gặp lại, (mà thực ra chuyện mới xảy ra từ đầu giờ chiều chứ lâu la gì).
Từ chiều, ngay khi biết tin công an kết hợp côn đồ dàn cảnh để chặn xe không cho chúng tôi yên ổn ra về, thì bà con đã túa ra đông lắm. Cứ như từ trên trời hiện xuống vậy. Rồi suốt cả tiếng đồng hồ khi chúng tôi ngồi chờ dài cổ (để các loại công an, áo xanh, áo vàng, áo thường dân, và cả cái loại dân phòng áo luôm nhuôm mang mặt tới “giải quyết sự vụ” nhưng lại chả ai chịu giải quyết cái việc cỏn con, là có một cái xe máy vứt chềnh ềnh cách đầu xe chúng tôi cả sải chân, chẳng có tí va chạm nào) thì các bà các chị lại luôn chăm lo kiếm nước mát cho chúng tôi uống, kiếm nón che cho người phải ra giữa nắng đối thoại với nhân viên công quyền, kiếm quạt cho chúng tôi đỡ bức sốt, lại còn an ủi động viên chúng tôi nữa… Nhưng không chỉ có những chăm sóc chí tình như vậy. Bà con còn âm thầm làm những việc mà chúng tôi còn khờ khạo chưa biết cách làm để đối phó, vì chưa va chạm nhiều với các ‘thể loại’ cùn lầy như các vị công quyền vẫn thường dùng đối phó với dân Đồng Tâm. (sẽ kể ở đoạn sau)

Chờ mãi, rồi cũng xuất hiện một ‘đồng chí’ có vẻ nhiều quyền hạn, cho mang chiếc xe máy ngang ngược kia đi, chúng tôi đã tưởng mình sẽ được giải thoát ngay. Nhưng không, bà con Đồng Tâm đã nhạy bén phát hiện ra một chiếc xe cẩu mới xuất hiện cách độ trăm mét, liền kêu to báo động cho chúng tôi: “Các bác lên xe ngồi đi, họ định cẩu xe mình đi đấy”. Theo mệnh lệnh, chúng tôi lên xe ngay, khiến họ không thể cẩu xe được. Thất bại thêm một thủ đoạn gây khó dễ, ‘nhà chức trách’ xoay ra cách bảo chúng tôi đến trụ sở Ủy ban xã Phúc Lâm ngay gần đấy khám nghiệm xe, để kết luận sự việc cho xong. Bà con lại kêu lên nhắc nhở chúng tôi cẩn thận, luôn bám sát xe, chụp ảnh trước khi xe bị khám đề phòng nhân việc khám xe, có thể họ tìm cách bỏ vật gì nguy hiểm vào. Xe nổ máy đi theo hướng của một công an áo xanh chỉ, nhưng đi được một quãng ngắn thì nghe tiếng đồng bào la ó: “Sai đường rồi, không phải Ủy ban xã Phúc Lâm đi đằng ấy” (thực ra công an định lừa chúng tôi về chỗ công an ở huyện, cách xa địa bàn Đồng Tâm và tách khỏi bà con đang theo bảo vệ chúng tôi). Lại phải đấu tranh rất găng, cánh công an mới chịu để xe chúng tôi quay lại, thực sự đi về hướng UB xã Phúc Lâm (chúng tôi không muốn đi xa khỏi sự yểm trợ của nhân dân Đồng Tâm, vì còn xa lạ với địa bàn và tình hình ở đây). Đến cổng UB Phúc Lâm, chúng tôi yêu cầu phía công an phải đề đồng bào cùng vào làm việc, vì từ trưa đến giờ các vị lừa chúng tôi nhiều rồi, chúng tôi không thể tin thiện chí của các vị, nếu các vị không tiếp tục làm những việc khuất tất thì tại sao không để nhân dân vào chứng kiến… Họ vạch trời chỉ đất, thề thốt rất ghê nhưng cả chúng tôi và đồng bào đều không tin. Họ nói, xe cứ vào đã, rồi sẽ cho một số người dân vào. Y như rằng, xe vừa chuyển bánh lọt qua cổng là họ liền sập cổng, khóa nghiến lại. Hàng mấy trăm đồng bào chỉ còn biết đứng bám cổng nhìn vào theo dõi và lo lắng cho chúng tôi. Các bà, các chị gọi với vào dặn chúng tôi đừng cho họ đến gần người mình, trông chừng túi xách, điện thoại v.v.. Họ bắt người trong đoàn vào lấy lời khai với tư cách nhân chứng, bà con lại dặn chúng tôi khi khai đừng đi vào chi tiết, đừng trả lời theo các câu hỏi lan man của họ… Chỉ 3 người vào ‘làm việc’ mà họ cũng câu giờ rất lâu khiến bà con sốt ruột, sợ chúng tôi đói (lúc đó khoảng bảy giờ rưỡi tối), lại bảo nhau đi mua bánh mỳ, bánh bao và nước tiếp tế cho chúng tôi. Bà con còn mang mấy chiếc chiếu đến và tuyên bố rằng nếu công an cố tình giữ chúng tôi hết đêm thì bà con cũng trải chiếu ngủ ngay bên ngoài cổng Ủy ban để canh chừng, bảo vệ chúng tôi.

Lúc đó tuy bực bội về các trò vô lối của công an, nhưng cũng phải bật cười vì thấy một chú ra vẻ cẩn thận săm soi rất kĩ chỗ đầu xe chúng tôi, rồi săm soi rất kĩ chiếc xe máy ‘bị nạn’, chú tỏ vẻ vui mừng thấy chỗ cái ốp che bên ngoài ống bô có vài vết xước rất mờ, chú rút tuốc nơ vít trong túi ra tháo cái ốp đó, gói vào trong bọc giấy cát tông, băng dính niêm phong cẩn thận. Lúc thấy chú dở tuốc nơ vít ra, tôi e nếu chú rạch thêm mấy nhát thì hỏng việc nên rút máy ảnh ra chụp ngay và cảnh báo là tôi đã chụp đấy nhé. Càng buồn cười hơn nữa là sau đấy, khi xem lại các ảnh của mọi người (bác Nguyễn Đăng Quang, bác Quang A, cô Hoàng Hà, chú Thanh lái xe và ảnh của bà con Đồng Tâm) thì té ra đó là các động tác hoàn toàn thừa (cả tôi lẫn chú công an). Các tấm ảnh kia cho thấy, chiếc xe đánh võng ban đầu để cản trở chúng tôi là xe màu xanh đen, còn xe được gọi là bị nạn thì lại… biến thành một chiếc màu trắng; và khi được vất ra đường để ăn vạ thì bên có ống bô xe lại nằm phía trên của xe, làm sao mà nó quệt xuống đất để trầy xước được cơ chứ! Còn một việc tức cười cho sự sơ hở của công an nữa, đó là xem lại tấm ảnh mà mọi người chụp được ngoài hiện trường thì hóa ra… chính chiếc ô tô 4 chỗ tạt qua đầu xe chúng tôi, khiến chúng tôi phải dừng ở giữa đường, tạo điều kiện cho hai tên đánh võng vứt xe máy ra trước đầu xe chúng tôi để ăn vạ, thì lại là xe của nhân viên công quyền (trong công an hay Ủy ban chi đó), vì lúc đó nó đang chễm chệ đỗ trong sân này. Số xe mồn một là 30 E/ 856 26. Đúng là giấu đầu hở đuôi. Đến thế mà công an vẫn chưa chịu buông tha chúng tôi, vẫn nói cần tìm được ‘nạn nhân’ để hai bên gặp nhau mới giải quyết được. Lúc đó chúng tôi thấy quá vô vọng và tiếc hùi hụi vì đã ngu dốt không kịp thời chụp được ảnh cái thằng tóc tai cạo trắng hai bên, để dài sau gay, xăm trổ xanh lè đã gây sự với chúng tôi rồi chuồn đi mất hút. (Lúc đó chúng tôi đều nhìn thấy rõ đồng bọn lấy xe máy chở nó đi nhưng lại chỉ mải vỗ tay cười giễu cái trò vờ vịt trẻ con của nó). Ấy thế mà, kỳ diệu thay, bà con Đồng Tâm mới giỏi làm sao, đã tìm ngay ra tên đó, đã ghi được hình và tiếng hắn thừa nhận là không hề bị xe chúng tôi va quệt, người không có thương tích gì, xe tự ngã vì có hơi rượu… Bằng chứng thép đó đã khiến công an phải chấp nhận, không còn tìm được cớ gì giữ được người và xe chúng tôi. Buộc phải để chúng tôi cùng bà con ra về.

Về đến làng, bày ra một bữa ăn ngon lành nữa bắt chúng tôi ăn ‘cho lại sức’. Rồi, bà con nhất quyết không cho chúng tôi về thẳng Hà Nội vì sợ bọn kia đã thua, mất mặt, cay cú, sẽ gây thêm sự cố gì nguy hiểm hơn chăng. Chúng tôi, nhất là chú Thanh, ‘cán bộ đường lối’ thì rất muốn về ngay trong đêm để trả xe theo đúng hẹn; còn bà con thì không chịu như vậy. Có người nói dỗi: “Các bác mà về bây giờ thì suốt đêm nay cả làng sẽ không ngủ được vì lo lắng đấy, các bác tính sao thì tính!”. Thế là đành phải theo mệnh lệnh của trái tim thôi. Ngủ lại Đồng Tâm một đêm…

Người ta hay dùng câu chuyện ‘Tái ông thất mã’ để nói về những điều hay dở rủi may bất ngờ luân chuyển với nhau. Nay so ra thì, chuyện chúng tôi về thăm cụ Kình và dân làng Hoành Đồng Tâm cũng chẳng mấy sai. Nhờ có việc công an địa phương toa rập gây sự bằng cái trò rạch mặt ăn vạ vụng về thô thiển như trên mà chúng tôi được thêm một trải nghiệm sâu sắc trong đời, để thêm yêu thương và cảm phục NGƯỜI ĐỒNG TÂM.

Khuya 22 - 4 - 2018.
N.N.B.

Đồng Tâm 2: Thắng lợi ‘đổi người’ của nhân dân Mỹ Thọ - Mỹ An!



Phạm Chí Dũng



Ảnh: RFA

Việt Nam - Cali Today News - Một sự trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử vừa diễn ra: tháng Tư năm 2018, tròn một năm ngày nổ ra vụ Đồng Tâm ở Hà Nội và trùng với thời điểm người dân Đồng Tâm hân hoan tổ chức kỷ niệm cái ngày mà Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung phải ký sống và lăn tay vào bản cam kết không “hồi tố” dân Đồng Tâm, người dân ở hai xã Mỹ Thọ và Mỹ An, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã tái hiện thắng lợi “đổi người” mà Đồng Tâm đã giành được một năm trước.

Vào ngày 18/4/2018, khoảng một chục người dân xã Mỹ Thọ và Mỹ An tập trung phản đối Tổng công ty cổ phần thương mại và xây dựng (Viettracimex) lắp đặt cột quan trắc gió phục vụ dự án điện gió vì nghi ngờ chính quyền lấy đây là cớ để cho công ty bên ngoài khai thác quặng titan, chặt phá rừng dương, gây ô nhiễm môi trường.

Người dân địa phương cho biết chính quyền địa phương cho công ty đưa xe vào thi công, lắp đặt cột quan trắc gió mà không báo cho người dân biết. Người dân muốn bảo vệ nguồn nước đầu nguồn và bảo vệ rừng dương. Người này cũng cho biết đã có nhiều doanh nghiệp trước kia vào rừng dương khảo sát rồi chặt dương trơ gốc. Người dân lo ngại rừng dương bị đốn ngã sẽ không có gì để chắn cát, gió, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân khi trời có bão và gió.

Ngay cả báo Công an TP.HCM ngày 19/4 cũng thừa nhận rằng phóng viên của tờ báo này đã chứng kiến nhiều diện tích rừng dương tại hai xã đã bị chặt phá, bị đốt để tạo thành đường đi và mặt bằng. Các phóng viên báo này cho biết khu rừng bị chặt nằm sâu bên trong và rất khó tiếp cận nếu không có người dân dẫn đường vì bất cứ ai lạ vào khu vực này đều bị cấm.

Nhưng bất chấp báo chí đã lên tiếng cảnh báo về nạn khai thác tràn lan titan ở Bình Định khiến môi trường bị tàn phá, nguồn nước ngầm cạn kiệt, bệnh tật do ô nhiễm gieo rắc chết chóc khắp các làng quê ven biển, hàng trăm hecta rừng dương phòng hộ ven biển có tuổi đời từ 50 đến 60 năm đã bị triệt hạ hoàn toàn…, giới quan chức địa phương lại tỏ ra cực kỳ vô trách nhiệm cùng biểu hiện mờ ám mang tính cấu kết với nhóm lợi ích của các doanh nghiệp khai thác.
Trước con sóng biểu tình phản đối Viettracimex của người dân hai xã Mỹ Thọ và Mỹ An, ông Nguyễn Văn Dũng - Chủ tịch huyện Phù Mỹ - lại nói với báo Công an TP.HCM rằng “chưa có thông tin về dự án nào làm tại rừng dương” và ông ta “sẽ kiểm tra lại thông tin”.

Kiểm tra lại” như thế nào?

Không những không có biện pháp nào chế tài Viettracimex, chính quyền Phù Mỹ và Bình Định mà còn điều hàng trăm cảnh sát cơ động với súng ống và dùi cui đến hiện trường biểu tình để đàn áp dân theo truyền thống độc trị và lấy đông hiếp yếu. Công an đã thẳng tay bắt giữ đến 18 người bị vu là quá khích, chống người thi hành công vụ.

Nhưng trong hai ngày 19 và 20/4, hàng trăm người dân xã Mỹ An và Mỹ Thọ tiếp tục đổ ra đường phản đối, kéo đến Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thọ đòi người.
Cùng lúc, người dân bắt giữ 4 cán bộ địa phương gồm Bí thư, Chủ tịch xã Mỹ Thọ cùng hai cán bộ công an đang làm con tin trong trụ sở xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định để đòi thả 18 người dân bị bắt trước đó.

Trước áp lực liên tục và gia tăng của người dân, đến tối 21/4, chính quyền Bình Đĩnh đã phải thả những người dân bị họ xem là “quá khích” để đổi lấy việc người dân hai xã Mỹ Thọ và Mỹ An thả 4 cán bộ.

Đồng Tâm 2 đã hiện ra như thế!

Một năm trước vào ngày 22 tháng Tư năm 2017, 6 ngàn người dân Đồng Tâm thượng tôn tinh thần đồng tâm cùng kỷ luật tổ chức cao đến mức kinh ngạc trong đấu tranh phản kháng đã giành được thắng lợi lớn chưa từng có trong lịch sử tranh đấu của dân oan Việt Nam: để đổi lấy việc người dân thả toàn bộ 37 cảnh sát cơ động bị bắt giữ, chính quyền phải cam kết sẽ không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn thể nhân dân xã Đồng Tâm vì tội “bắt giữ người trái pháp luật”.

Vụ nông dân Đồng Tâm đặt dấu ấn trong lịch sử phản kháng chế độ bằng hành động bắt giữ cả một trung đội cảnh sát cơ động cùng một số quan chức vừa công an vừa chính quyền đã chính thức chấm dứt thời hoàng kim công an trị. Khác hẳn với cảnh trước đây công an gần như muốn bắt ai thì bắt và không hề nương tay với dân oan đất đai, vài giai đoạn này hầu như toàn miền Bắc, một phần miền Trung và có thể cả một số địa phương ở miền Nam, đều tràn ngập “điểm nóng đất đai” mà có thể phát sinh việc bắt giữ cá nhân công an hay đơn vị công an vào bất kỳ lúc nào nếu bị đàn áp.

Không hề dễ dàng để một cộng đồng nông dân đưa chính quyền vào thế buộc phải đàm phán và phải cam kết sẽ không truy tố họ. Sau chuỗi tranh đấu gian khổ của nhiều cộng đồng dân oan đất đai trước đây mà nhiều người trong số họ đã bị công an tống vào nhà giam từ năm này sang năm khác, khủng hoảng xã hội Việt Nam đã tiệm cận giới hạn bùng nổ và người dân, điển hình là ngư dân Hà Tĩnh, nông dân Đồng Tâm và người dân Mỹ Thọ - Mỹ An đã vượt qua ranh giới sợ hãi trong lòng.

Tính chính nghĩa đương nhiên của họ trong việc bảo vệ môi trường sống và quyền được sống, tính hợp pháp của họ trong hành động phòng vệ chính đáng trước các lực lượng đàn áp của chính quyền càng vươn lên bao nhiêu, nỗi sợ hãi của giới quan chức chính quyền, công an cùng công cụ cảnh sát, an ninh càng run rẩy bấy nhiêu.

Nhưng phía trước người dân Mỹ Thọ - Mỹ An vẫn còn nhiều việc phải làm và phải kiên tâm tranh đấu.

Hãy đừng bao giờ quên những bài học đau đớn trong lịch sử. Thọ Ngọc, Thanh Hóa năm 1989 và Quỳnh Phụ, Thái Bình năm 1997 - những cuộc “khởi nghĩa” của người nông dân cũng bước đầu giành thắng lợi, nhưng sau đó không lâu đã bị những đòn chơi bẩn của chính quyền và công an nhấn chìm trong lao tù.
Thông thường, công an sẽ chờ vài ba tháng sau vụ việc để xoa dịu sự phẫn nộ dân chúng và khiến bầu không khí lắng lại, rồi tổ chức khởi tố vụ án, khởi tố bị can, kể cả “bắt nguội”. Kinh nghiệm xương máu đã là quá nhiều ở Dương Nội, Văn Giang, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Tĩnh, Bình Thuận… và nhiều tỉnh miền Tây Nam Bộ. Gần đây nhất là Đồng Tâm.

Nhưng sau một năm bền bỉ và quật cường tranh đấu, người dân Đồng Tâm vừa giành được thắng lợi thứ hai: đầu tháng Tư năm 2018, Tiểu đoàn 31 - một đơn vị quân đội được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ quản lý đất quốc phòng ở khu vực Đồng Sênh, đã triển khai lực lượng đào hào xây tường rào dọc theo mốc giới cũ phân chia đất quốc phòng (sân bay Miếu Môn) và đất nông nghiệp của Đồng Tâm (đồng Sênh) - theo đúng nguyện vọng và cũng là một yêu sách của người dân Đồng Tâm.

Động tác “đào hào xây tường” trên - dù mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ yêu sách của phong trào Đồng Tâm - nhưng mang một ý nghĩa rất quan trọng: sau một thời gian dài tổ chức chiến dịch tấn công phong trào Đồng Tâm trên nhiều mặt cùng nhiều thủ đoạn nhưng không những không mang lại kết quả khả dĩ nào mà còn bị thất bại cùng quá nhiều tai tiếng, thậm chí một số quan chức quân đội và công an còn phải chịu nguy cơ bị tống vào “lò” của Nguyễn Phú Trọng trong bối cảnh dầu sôi lửa bỏng trong nội bộ đảng năm 2018, giới quan chức Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra hình sự thuộc bộ này và Viettel (Tập đoàn Viễn thông quân đội, doanh nghiệp hưởng lợi trực tiếp nếu “đánh chiếm” thành công 59 ha đất Đồng Sênh của xã Đồng Tâm) đã phải “buông” một phần mục tiêu “chiếm đất”, phải thừa nhận phần đất “tranh chấp” là của người dân Đồng Tâm chứ không phải của phía quân đội như đã từng nhận vơ.

Động tác “đào hào xây tường” trên cũng là một bằng chứng trực tiếp phủ nhận hoàn toàn quan điểm “toàn bộ là đất quốc phòng, không có đất nông nghiệp” của Thanh tra Hà Nội - được chỉ đạo bởi Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch thành phố Hà Nội và cũng là “chính khách cộng sản” đã trở mặt với nhân dân Đồng Tâm dù đã phải ký sống và lăn tay vào bản cam kết với Đồng Tâm vào tháng Tư năm 2017.

P.C.D.
Bài đã đăng trên Cali Today News.
Tác giả gửi BVN


Những mảnh đời qua bút kí của Đinh Quang Anh Thái

Nguyễn Văn Tuấn






Có những bài tuỳ bút và bút kí mà khi đọc xong chúng ta tự hỏi sao tác giả ‘hay chữ’ thế, sao mình không nghĩ ra được những chữ đẹp lộng lẫy như tác giả. Nhưng cũng có những bài bút kí làm chúng ta trầm trồ khen tác giả về những câu chuyện độc đáo, những vốn sống, về sự phong phú trong trải nghiệm xã hội, và những mối giao hảo đúng người, đúng địa chỉ. Tôi gọi hai loại bút kí là kí của nhà văn và kí của nhà báo. Trong những bài kí của nhà văn, ý tưởng có thể lan man, chuyện nọ xọ chuyện kia, nhưng văn chương và chữ nghĩa lại là cả một sáng tác. Nhưng kí của nhà báo có cái khó vì tác giả phải sắp xếp và lồng những trải nghiệm của mình trong câu chuyện về một nhân vật sao cho độc giả thẩm thấu câu chuyện và ý nghĩa của nó; đó là loại bút kí biến dữ liệu thành thông tin.

Đinh Quang Anh Thái là một tác giả của loại kí thuộc nhóm hai. Qua 12 bài kí sự trong cuốn sách, tác giả đã kể lại những cuộc tiếp kiến với những văn nghệ sĩ và nhà hoạt động nổi tiếng như Bùi Bảo Trúc, Đỗ Ngọc Yến, Đoàn Kế Tường, Hồ Hữu Tường, Hoàng Cơ Trường, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Tất Nhiên, Lê Văn Tiến, Nguyễn Chí Thiện, Trần Văn Bá. Tất cả những nhân vật vừa kể đều đã ra người thiên cổ, sau một lần ở trọ trần gian. Thời gian ‘ở trọ’ của họ đã để cho thế hệ sau những bài học nhân thế, tình yêu quê hương, và niềm hi vọng về một ngày quê hương sẽ sáng chói. Quyển kí này là một lời giới thiệu tổng quan về những nhân vật trên mà thế hệ sau có thể tìm hiểu sâu hơn.

Chiến tranh và hệ quả của nó trong thời hậu chiến là môi trường cho những chất liệu phong phú cho bút kí. Có biết bao câu chuyện bi hùng cần được kể lại. Thế nhưng trong thực tế có rất ít bút kí trong văn học Việt Nam, có lẽ người Việt chúng ta không quen với kí và hồi kí. Cũng có những cuốn kí từ một phía của cuộc chiến, nhưng hình như đó là những tập kí có mục tiêu tuyên truyền kèm theo những thậm xưng mang tính thần thánh là chính. Còn ở đây bạn đọc sẽ gặp những con người thật, những sự việc thật, và cái chất thật được thể hiện qua những thành bại, hỉ nộ ái ố của các nhân vật. Không có thần thánh. Chẳng có tuyên truyền. Tất cả là sự thật.

Tôi gọi tập bút kí này là những mảnh đời. Đó là mảnh đời lưu vong của những văn nghệ sĩ như Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Tất Nhiên, và những đồng hương ở Nga và Tiệp. Họ là những người trong giới tinh hoa (elite) của miền Nam, của dân tộc như Nguyễn Ngọc Bích, Bùi Bảo Trúc, Hồ Hữu Tường, Lê Văn Tiến. Họ là những nhà hoạt động nổi danh một thời như Trần Văn Bá, Đoàn Kế Tường và Hoàng Cơ Trường. Họ là những du học sinh và những người lao động chân tay ở xứ người. Như DNA của 6 tỉ người trên hành tinh này chẳng ai giống ai, nhưng ai cũng có 23 nhiễm sắc thể, mười hai nhân vật trong quyển kí này có những chất liệu hoàn toàn khác nhau, nhưng có cùng chung thân phận: long đong. Tuy long đong ở nước ngoài nhưng tất cả đều có một mẫu số chung về lí tưởng: mong cho quê hương sáng chói.

Người đọc kí thường trông chờ những thông tin “độc” từ những nhân vật và sự kiện sẽ không thất vọng với tập kí này. Ví dụ như những câu chuyện độc đáo đằng sau một cây bỉnh bút nổi tiếng Bùi Bảo Trúc. Những ai từng yêu mến kiến văn uyên bác và cách viết dí dỏm của Bùi Bảo Trúc sẽ thấy thích thú khi biết rằng ông từng là một phát ngôn viên của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ông Bùi Bảo Trúc là người mà trình độ tiếng Anh có thể ngang hàng trình độ tiếng mẹ đẻ, người mà “giá nhắm mắt thì có thể nhầm là một người Anh chính cống đang phát biểu”, và người đã “dùng ngoại ngữ đối đáp và tạo được sự nể trọng của giới kí giả nước ngoài”. Một người giỏi tiếng Anh khác là Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích (từng là giám đốc chương trình Việt ngữ của Đài Á Châu Tự Do), người mà tác giả mô tả rằng “[...] mỗi khi chú chấp bút viết một bản văn bằng Anh ngữ, Phó tổng giám đốc đài là nhà báo Dan Southerland phải thốt lên rằng, không thể sửa, dù một dấu phẩy bài chú viết”. Đọc đoạn này chúng ta có thể so sánh với những phát ngôn viên ngày nay của Việt Nam Xã hội chủ nghĩa thì chỉ biết ngậm ngùi.

Hay những câu chuyện làm chúng ta phải chạnh lòng về cuộc đời của các nghệ sĩ. Ai yêu nhạc đều biết đến cái tên Nguyễn Tất Nhiên, nhưng có lẽ ít ai biết đằng sau những vần thơ tình tươi tắn và nghịch ngợm đó lại là một cuộc đời bị ám ảnh bởi cái chết và... muốn chết. Nguyễn Tất Nhiên thường hay tâm sự với người bạn mình là Đinh Quang Anh Thái rằng “chắc có ngày tui tự tử quá ông ơi”, và quả thật ngày đó đã đến vào năm 1992 khi Nguyễn Tất Nhiên tự kết liễu đời mình trong một chiếc xe cũ kĩ đậu trong sân một ngôi chùa ở Little Sài Gòn. Trước ngày chết một tuần, khi được mời đi ăn trưa, Nguyễn Tất Nhiên thản nhiên nói ”thằng sắp chết không ăn, không hút thuốc”. Có ai nghĩ tác giả của Thà như giọt mưa, Trúc đào, Cô Bắc kì nho nhỏ lại từ giã cõi đời trong hoàn cảnh như thế.

Tác giả còn kể lại hai chuyến đi sang Tiệp và Nga, với những câu chuyện hết sức thú vị về du học sinh và những người đi lao động bên đó. Những câu chuyện về sự bưng bít thông tin ở trong nước, những khát vọng của các sinh viên và người lao động về một nước Việt Nam mới được Đinh Quang Anh Thái viết ra rất thật và chân tình. Câu chuyện đi Nga với hãng hàng không Aeroflot có thể làm cho những người sống ở phương Tây như chúng ta phải mở mắt kinh ngạc. Tác giả kể “Thảm lót sàn rách nát, có chỗ cộm lên từng cục, nhất là ngay cửa vào, chỗ để mấy xe thức ăn, thảm rách được lấp liếm qua loa như một đống giẻ dơ bẩn khiến tôi suýt vấp ngã. Chưa hết, chỗ để hành lý trên đầu hành khách không có nắp đậy an toàn, nó chỉ là một loại kệ chạy dài gắn vào thân phi cơ”. Nhưng câu chuyện trên máy bay thì có thể làm cho chúng ta đắng lòng. Khi tác giả hỏi một cô người Nga ngồi cạnh trong chuyến bay “có bao giờ cô gặp người Việt Nam ở Nga chưa”, cô nói “Có chứ, chẳng có gì tốt đẹp về họ cả, buôn chui bán lận, gấu ó lẫn nhau là tất cả chuyện về họ”. Đến ngay rời Nga cũng có một câu chuyện giống với trải nghiệm của hầu hết người Việt ở các phi trường lớn của Việt Nam: Sáu ngày với cái lạnh và đói ở Mockba rồi cũng đến lúc chia tay. [...] Qua cổng hải quan, kỷ niệm chót của chúng tôi tại xứ này là mỗi đứa phải ‘thông cảm’ 20 dollars cho nhân viên di trú kiểm soát thông hành. Nếu không, người ‘anh em’ gây khó dễ thì ‘làm gì nhau’”.

Và, còn nhiều câu chuyện hay như thế, nhưng tôi để cho bạn đọc từ tìm đọc và suy nghiệm. Những câu chuyện về Đỗ Ngọc Yến, người sáng lập nhật báo Người Việt, tờ báo lớn nhất của người Việt ở nước ngoài; về Nguyễn Ngọc Bích, từng là Giám Ðốc Ban Việt Ngữ Ðài Á Châu Tự Do; về Như Phong Lê Văn Tiến, một nhà báo lừng danh mà tác giả gọi một cách thân thương là “Cậu Tiến”. Tất cả đều được Đinh Quang Anh Thái phác họa bằng một văn chương dễ đi vào lòng người: đó là văn chương mang tính hình tượng.

Tôi biết Đinh Quang Anh Thái khá lâu. Những năm trong thập niên 1990s tôi hay đóng góp bài vở cho Tạp chí Thế Kỷ 21, một tạp chí của Người Việt, nơi anh làm việc. Biết qua những bài viết, chứ ít khi nào gặp và nói chuyện. Lần đầu tiên tôi có dịp gặp và nói chuyện với anh là qua một anh bạn khác, và anh để lại trong tôi ấn tượng của một người thẳng thắn, cương trực, nhưng hài hước - một tố chất rất cần thiết trong những buổi đàm đạo trên bàn cà phê. Nhìn bề ngoài anh trông giống một gã giang hồ hơn là một kí giả, nhưng khi anh nói chuyện thì mới thấy cái duyên chất của một kí giả. Sau 1975 anh từng ở tù ở Việt Nam (tôi không hỏi vì lí do gì) nhưng anh kể chuyện trong tù hết sức dí dỏm, có khi cười ra nước mắt, y như một cuộc du ngoạn, chứ không phải đi tù. Bùi Ngọc Tấn đi tù và ‘chưng cất’ những nỗi đau khổ thành chữ, nhưng đối với Đinh Quang Anh Thái nhà tù có vẻ như là nơi anh chắt chiu những câu chuyện hài đen về xã hội chủ nghĩa. Những gì anh trải nghiệm ở Nga mang đậm chất hài đó, và chắc chắn sẽ đem đến cho bạn đọc nhiều nụ cười mỉm.

Đinh Quang Anh Thái là một kí giả, nên anh có một vốn sống rất phong phú. Những bài bút kí này chưa phản ảnh hết những gì anh biết về nhiều nhân vật khác. Phải nghe anh nói về những lần tiếp kiến với văn thi nhạc sĩ lừng danh, những chính khách lừng danh lẫn chính khách nửa mùa mới thấy anh có cái tài kể chuyện. Đó là những thông tin “độc” - theo cách nói thời nay ở trong nước. Lúc nào cũng bằng một lối nói sôi nổi và hào hứng. Lúc nào anh cũng kết thúc câu chuyện bằng một câu kết như là một bài học ở đời. Câu kết thường là trắng đen, dứt khoát, không có vùng màu xám. Nhưng trong loạt bài bút kí này, những câu kết của anh thường là những câu buồn và vương vấn. Viết về Hồ Hữu Tường, tác giả kết thúc bằng câu “[...] thương bác những ngày nghiệt ngã trong trại giam, bưng chén canh chung lên môi, nuốt cùng bao nỗi cay đắng khổ cực của một phận người suốt đời mưu cầu cái chung cho dân tộc”, hay viết về Như Phong Lê Văn Tiến, tác giả nhận xét “Bây giờ thì cậu không còn nữa, nhưng đó chỉ là phần xác thôi, chứ tinh anh của cậu vẫn còn và sẽ còn mãi trong lòng nhiều người, nhiều thế hệ”.

Nói như Nhạc sĩ Tuấn Khanh, Việt Nam là một “phác đồ của nghịch cảnh, phác đồ của mỗi cá nhân bị buộc phải chịu trách nhiệm thay cho các nền chính trị đã điều khiển dân tộc này, chưa thấy yêu thương đã ngập hận thù. Tất cả chúng ta đã hoặc đang là nạn nhân của chính trị”. Mười hai bài bút kí trong tập sách này nói lên thân phận của những nạn nhân đó. Đáng lí ra tôi sẽ ‘bật mí’ cho bạn đọc những câu chuyện hay khác về học giả Hồ Hữu Tường và thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, nhưng tôi nghĩ các bạn không muốn tôi làm như thế vì cần phải để dành một số ngạc nhiên. Những câu chuyện trong tập sách, nói theo khoa học, chỉ là dữ liệu; cái quan trọng hơn là thông tin. Người viết bút kí hay là người biết chuyển hóa dữ liệu thành thông tin. Qua tập bút kí này các bạn sẽ thưởng thức những thông tin để đời mà các nhân vật và sự kiện đã đóng góp qua tài chuyển hóa của tác giả Đinh Quang Anh Thái.
NVT


Phụ chú:

MỘT SỐ Ý KIẾN KHÁC CỦA BẠN BÈ

(đã được đăng từ trang 11 đến 14 của quyển )



Nếu họa sĩ vẽ chân dung bằng cọ thì với tác phẩm này Đinh Quang Anh Thái đã hoàn tất được những bức chân dung bằng ngòi viết của mình qua nhiều nhân vật danh tiếng thuộc các lãnh vực chính trị, xã hội cũng như văn hóa. Để làm được công việc này, hẳn không phải dễ. Bởi điều trước hết là người viết phải thật trung thực khi cầm bút, nếu không, tác phẩm sẽ dễ rơi vào tình trạng viết ra để thù tạc. Rồi thứ đến, tác giả phải có liên hệ mật thiết với những nhân vật mình viết để mang lại cho chân dung những đường nét hiếm hoi, bất ngờ, khám phá. Và sau cùng, viết ra không phải chỉ là để đọc qua rồi bỏ mà còn là một sự gửi gấm những tâm tình, ghi gói những niềm ước mơ về tương lai còn ấp ủ của những nhân vật được khắc họa và gửi lại cho thế hệ sau những mảnh gương sáng ngời của thế hệ đi trước. Tất cả những điều kể trên, Đinh Quang Anh Thái đã thực hiện được trong tác phẩm này.
~ Nhật Tiến

Ngoài đời Đinh Quang Anh Thái có dáng vẻ của một tay giang hồ, nhưng cũng rất kỷ luật và nguyên tắc. Bấy lâu, thính giả đã quen thuộc với một Đinh Quang Anh Thái có giọng nói nội lực, khúc triết qua các bản tin, phóng sự, phỏng vấn nhân vật bên trong và ngoài nước, cả với vai trò của một MC điều hợp chương trình trong các buổi lễ hội. Nay qua tập , là hợp tuyển những bài viết mới được xuất bản, độc giả sẽ khá ngạc nhiên khi tiếp cận với một Đinh Quang Anh Thái khác. Ký vốn là một thể văn rộng rãi, nhưng với Đinh Quang Anh Thái chủ yếu là những ghi chép về nhân vật và sự kiện, qua những hoàn cảnh và các giai đoạn mà Đinh Quang Anh Thái có dịp tiếp xúc, trải qua và sống với. Chân dung các nhân vật được lột tả sống động, các sự kiện phong phú được ghi lại với một trí nhớ dễ nể và được viết với một văn phong bộc trực thô nhám nhưng không thiếu phần tinh tế.
~ Ngô Thế Vinh

Đây là một cuốn sách với nhiều mẩu chuyện thú vị, bao gồm nhiều chủ đề vì tác giả là người đi nhiều, quen biết nhiều, và sống rất nhiều. Đọc để trải nghiệm về một nước Nga kinh hoàng trong thời kỳ Cộng Sản tan rã; để thương cảm cho những thân phận tù; để biết lòng vị tha của Nguyễn Chí Thiện, đa tài của Đỗ Ngọc Yến, tâm bất an của Nguyễn Tất Nhiên, v.v. Và cuối cùng, đọc để nhận ra tấm lòng đối với quê hương, đất nước và con người Việt Nam của Đinh Quang Anh Thái.
~ Nam Phương


Tôi đã sống với những giấc mơ nhỏ bé bên người yêu như “ta muốn cùng em say…”, cho đến những ước vọng ngoài tầm tay cho quê hương như “có bao giờ máu xương tàn, núi rừng ươm nắng…”. Những ước vọng cho quê hương đó tôi đã nhiều lần tiếc nuối vì không có cơ hội đóng góp tích cực hơn. Nay đọc tập này của Đinh Quang Anh Thái, anh đã cho tôi cùng anh bước lại các đoạn đời đấu tranh của chính anh trải dài theo lịch sử đất nước từ khi anh 20 tuổi và vẫn tiếp tục trong những năm tháng xa xứ. Qua các sinh hoạt đấu tranh của anh và các bạn đồng chí hướng được ghi lại trong cuốn , tôi đã được “gặp và sinh hoạt” với một Trần Văn Bá của Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Paris mà tôi rất ngưỡng mộ; gặp Đỗ Ngọc, Hoài Hương, Hồ Huy và các sinh viên, công nhân Đông Âu tranh đấu cho một Việt Nam dân chủ, tự do. Tôi còn được biết một Đoàn Kế Tường, một Bùi Bảo Trúc, một Đỗ Ngọc Yến, một Nguyễn Ngọc Bích và rất nhiều sĩ phu Việt Nam khác đã hết lòng với quê hương dân tộc mà lòng tôi luôn luôn kính phục. Riêng cá nhân tôi, với ước vọng được nhìn thấy một quê hương Việt Nam an bình, người người hạnh phúc, tôi trân trọng cám ơn Đinh Quang Anh Thái đã cho tôi được chia sẻ những kinh nghiệm dấn thân của anh trong hơn 40 năm qua cho quê hương thân yêu của chúng ta.
~ Đăng Khánh

Hầu hết các bài trong tập sách được viết khi nhân vật vừa qua đời. Thấy nước mắt, nghe lời ai điếu, đôi khi cả lời xin lỗi kín đáo và muộn màng từ tác giả gởi người vừa nằm xuống. Tập sách như nén hương lòng thắp tạ những nhân vật của một thời!
~ Phạm Phú Thiện Giao

Những câu chuyện thật, những con người thật, những nơi chốn thật, nhưng trên hết là tình người và những tấm lòng chân thật đã ở lại cùng tác giả xuyên suốt những cuộc hành trình, trở thành những mảng lịch sử sống được ghi vào trang giấy. Mai này, nếu có ai muốn tìm lại hình ảnh những nhân vật, những cộng đồng, những câu chuyện tranh đấu Việt cùng khắp năm châu, cuốn này có lẽ là một trong những cuốn sách gối đầu. Hiện tại, theo lời tác giả, có được là nhờ những đêm tỉnh giấc chơi vơi...
~ Hòa Bình

Hồi làm ở nhật báo Người Việt, tôi thường bị anh rầy, thậm chí kỷ luật. Nhưng làm sao khi anh kỷ luật ai đó, lại mang đến cho họ cảm nhận của sự quan tâm ân cần. Những bài ký của anh cũng vậy, khi kể về mỗi sự kiện-nhân vật, đã thực tả không nhân nhượng ngay khi phải đề cập đến những “tính hư, tật xấu”, nhưng qua đó người đọc dễ nhận ra sự tinh tế trong bất kỳ mối giao hảo nào của anh trong đời sống lịch nghiệm, đầy tính nhân văn. Anh viết với tất cả sự ân cần không chỉ đối với những nhân vật được nhắc trong tập , mà còn đối với tất cả độc giả đang cầm quyển sách trên tay.
~ Uyên Nguyên

Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ/Cầu cao nghiêng dốc bên giòng sông sâu…” Biết Đinh Quang Anh Thái, nên khi đọc xong tập bút “của anh, tôi hình dung ra chàng tuổi trẻ một thoáng dừng bước giang hồ, ghi vội những điều mình đã trải nghiệm, những con người có lần gặp gỡ từ những cơ duyên bất chợt trong suốt cuộc ruổi rong. Thái bắt đầu cuộc phiêu lưu từ thuở chưa đến tuổi hai mươi, mỗi bước đi anh mang theo ngọn lửa của lý tưởng của thương yêu. Ngọn lửa đã theo Thái đi bốn phương tám hướng, từ Việt Nam qua Mỹ, rồi sang Âu sang Á, đi vòng hết tinh cầu, đi từ những vùng sáng tự do đến những góc tối đen tù ngục. Chính ngọn lửa đó đã khơi lên tình bằng hữu giữa những người khác chủng tộc, hoặc không cùng thế hệ, giữa những người đã có lần thuộc về hai bờ bến khác nhau của dòng Bến Hải; ngọn lửa nóng đủ để làm tan chảy giá băng cách biệt và nối kết những tâm tư có cùng chung mẫu số. Và tôi cũng biết Đinh Quang Anh Thái, để hình dung ra gã trung niên giang hồ phiêu lãng sẽ vẫn còn tiếp tục cuộc viễn du, vang vang lời hát: Nhưng đường quá xa vời/Hương trời vẫn mê mài/Đời tôi sao vẫn còn biên giới… (Bên cầu biên giới - Phạm Duy)

~ Nguyễn Hoàng Duyên



Tác giả gửi BVN.

Hải sản bị nhiễm kim loại nặng: nguyên nhân từ đâu?



Đăng Nguyễn




(TBKTSG) - Theo thông tin trên Lao Động Online, ngày 5-4-2018, tại “Hội nghị bàn giải pháp khai thác, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm hải sản khai thác”, ông Ngô Hồng Phong - Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông lâm - thủy sản (Nafiqad, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), cho biết: “Trong năm 2017, số lô hàng thủy sản Việt Nam bị cơ quan thẩm quyền nước nhập khẩu cảnh báo, phát hiện chất ô nhiễm (kim loại nặng như thủy ngân, cadmium) vượt mức giới hạn tối đa cho phép đã gia tăng đột biến, đặc biệt là Liên hiệp châu Âu (EU) tăng gấp 2 lần so với năm 2016, tăng gấp 6 lần so với năm 2015”. Và, kết quả điều tra của các doanh nghiệp cho thấy nguyên nhân chủ yếu là do cá thể hải sản khai thác có kích cỡ lớn bị nhiễm kim loại nặng.

Trước đó, ngày 24-5-2016, EU ban hành văn bản cảnh báo số 16-814 yêu cầu cơ quan thẩm quyền các nước thành viên tăng cường kiểm tra kim loại nặng đối với thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào EU. Từ khi có văn bản này, số lô hàng thủy sản nhập vào thị trường EU bị cảnh báo kim loại nặng bắt đầu tăng mạnh. Cụ thể, chỉ trong chín tháng đầu năm 2016, đã có 11 lô hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào EU bị cảnh báo dư lượng kim loại nặng là thủy ngân và cadmium vượt giới hạn tối đa cho phép, tăng gấp 2,2 lần so với cả năm 2015 (theo Tiền Phong Online, ngày 7-10-2016).

Ngày 23-4-2018: Ngày phán xét

Ngày 23-10-2017, Tổng vụ các vấn đề về biển và thủy sản (DG MARE) thuộc Ủy ban châu Âu (EC) đã rút thẻ vàng đối với ngành đánh bắt hải sản Việt Nam. Đã sắp hết thời hạn sáu tháng, đến ngày 23-4-2018 tới đây, nếu cảnh báo của EC không được nước ta khắc phục hoặc triển khai không hiệu quả, EC sẽ ban hành biện pháp thẻ đỏ, khi đó lệnh cấm xuất khẩu hải sản khai thác từ Việt Nam vào thị trường EU sẽ được áp dụng.

Nếu bị thị trường EU từ chối, tâm lý e ngại sản phẩm thủy sản của nước ta sẽ lây lan sang các thị trường nhập khẩu khác. Như vậy, chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu hải sản khai thác 3,3 tỉ đô la Mỹ trong tổng số 10 tỉ đô la Mỹ kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản theo kế hoạch năm 2018 đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Có những khả năng nào làm gia tăng hàm lượng kim loại nặng trong nước biển, để từ đó kim loại nặng xâm nhập vào hải sản khai thác, mà hậu quả là dư lượng kim loại nặng trong sản phẩm thủy sản xuất khẩu vượt giới hạn tối đa cho phép một cách đột biến?

Trước 2015: nước biển chưa bị ô nhiễm kim loại nặng


Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011-2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT), kết quả quan trắc chất lượng nước biển ven bờ cho thấy chất lượng nước còn khá tốt với hầu hết giá trị các thông số đặc trưng nằm trong giới hạn cho phép (so với QCVN 10-MT:2015/BTNMT). Tuy nhiên, ô nhiễm do chất rắn lơ lửng (TSS), chất hữu cơ và dầu mỡ đang gia tăng tại các vùng biển ven bờ. Trong khi đó, báo cáo cũng khẳng định rằng nước biển xa bờ trong giai đoạn 2011-2015 có chất lượng tốt. Với những đánh giá trên, báo cáo này không ghi nhận tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trong nước biển và có thể hiểu nước biển từ năm 2015 trở về trước chưa có hiện tượng ô nhiễm kim loại nặng. Điều này hoàn toàn tương đồng với thực tế số lượng hàng thủy sản xuất khẩu vào EU từ năm 2015 trở về trước bị cảnh báo nhiễm kim loại nặng không đáng kể.

Điều chỉnh quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển

Cách đây đúng hai năm nhiều người vẫn chưa quên về thảm họa môi trường biển xảy ra ở miền Trung do Formosa Hà Tĩnh xả nước thải gây ra. Một năm sau, tháng 5-2017, Bộ TN-MT công bố báo cáo chất lượng môi trường biển miền Trung, cho biết nước biển và trầm tích biển đã ổn định, đảm bảo mục đích nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh... nhưng là đối chiếu với quy chuẩn mới, thay vì các quy chuẩn đã áp dụng trước năm 2015.

Cụ thể là từ ngày 1-3-2016, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển QCVN 10-MT:2015/BTNMT đã được áp dụng thay thế cho QCVN 10:2008/BTNMT với những chỉ tiêu quan trọng và có liên quan đến ngành luyện gang thép đã được nâng giới hạn cao đột biến (đối với những vùng nước biển ven bờ không dùng cho mục đích nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh, bãi tắm, thể thao dưới nước như vùng vịnh Sơn Dương), gồm tổng phenol tăng từ 0,002 mg/l lên 0,03 mg/l (tăng 15 lần!), tổng dầu mỡ khoáng tăng từ 0,2 mg/l lên 0,5 mg/l (tăng 2,5 lần) và kim loại nặng cadmi tăng từ 0,005 mg/l lên 0,01 mg/l (tăng 2 lần).

Vậy, sự phát sinh nguồn thải chứa tải lượng lớn các chất ô nhiễm kim loại nặng từ Formosa Hà Tĩnh (xem bảng), trong đó gồm thủy ngân và cadmium, cùng với sự “thoáng” hơn của Bộ TN-MT trong việc điều chỉnh quy chuẩn chất lượng nước biển (QCVN 10-MT:2015/BTNMT), có liên quan gì đến kim loại nặng là thủy ngân và cadmium vượt quá tiêu chuẩn trong sản phẩm thủy sản mà EU trả về?

Câu hỏi này chỉ có thể được trả lời bằng những kết quả quan trắc kim loại nặng trong nước biển từ năm 2016 đến nay mà Bộ TN-MT cần công bố.

Không phải ngẫu nhiên mà từ tháng 10-2016, Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (Nafiqad) đã yêu cầu các trung tâm vùng của đơn vị này triển khai chặt chẽ hoạt động kiểm tra, chứng nhận lô hàng thủy sản xuất khẩu, trong đó lưu ý ưu tiên lấy mẫu thẩm tra chỉ tiêu kim loại nặng đối với các lô hàng có thành phần nguyên liệu hải sản được nuôi trồng, khai thác, đánh bắt tại vùng biển các tỉnh miền Trung. Tuy vậy, dường như việc kiểm tra này là chưa đủ chặt chẽ khi số lô hàng sản phẩm chế biến từ hải sản khai thác bị nhiễm kim loại nặng đang tiếp tục gia tăng.

Việc Trung Quốc tăng cường xây dựng phi pháp ở Biển Đông có ảnh hưởng đến môi trường biển?

Một báo cáo của Lầu Năm góc (Mỹ) tháng 5-2016 được The Guardian dẫn lại ước tính rằng Trung Quốc đã đào đắp, cải tạo và xây dựng phi pháp khoảng gần 13 triệu mét vuông chỉ riêng khu vực quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Báo cáo của Sáng kiến Minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) được CNBC trích dẫn cho biết chỉ trong năm 2017, Trung Quốc tiếp tục bồi đắp phi pháp với diện tích 290.000 mét vuông tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.

Trong phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế năm 2016 về vụ Philippines kiện Trung Quốc liên quan đến yêu sách “Đường lưỡi bò” phi lý ở Biển Đông nêu rõ, tòa cũng cho rằng Trung Quốc đã “gây hại nghiêm trọng với môi trường của các rặng san hô và vi phạm nghĩa vụ bảo tồn và bảo vệ các hệ sinh thái dễ bị tổn thương và môi trường sống của các loài đang suy yếu, bị đe dọa và bị hủy diệt” do các dự án tôn tạo và các công trình xây dựng (phi pháp) các đảo nhân tạo tại bảy thực thể ở quần đảo Trường Sa.

Tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng ngày 11-10-2016 cho biết Trung Quốc hiện đang chế tạo một nhà máy điện hạt nhân quy mô 10 MW, đủ để cung cấp năng lượng cho 50.000 hộ gia đình. Nhà máy điện hạt nhân này có thể hoàn thành trong vòng năm năm, và dự kiến đặt trong một container kích thước 6,1 mét x 2,6 mét để lắp trong một đảo mà Trung Quốc chiếm đóng ở Biển Đông. Tháng 11-2017, trong một dự án khác, lò phản ứng hạt nhân di động đầu tiên của Trung Quốc đã hoàn tất khâu thử nghiệm cuối cùng để đưa xuống Biển Đông. Báo Thanh Niên ngày 29-12-2017 tổng hợp nhiều nguồn tin cho biết Trung Quốc đã công bố kế hoạch sản xuất 20 nhà máy điện hạt nhân nổi phục vụ mưu đồ của Bắc Kinh ở Biển Đông, trong đó một nhà máy điện hạt nhân nổi sẽ đi vào hoạt động trước năm 2020.

Như vậy, những “siêu tàu nạo vét”, những máy móc thiết bị công trình hạng nặng đang đào đắp, xây đảo nhân tạo, và cả những lò phản ứng hạt nhân đang xây dựng phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông, ngoài việc phá hủy các rạn san hô, liệu rằng có phải đó cũng có thể là nguồn làm gia tăng ô nhiễm kim loại nặng trong nước biển tại các ngư trường truyền thống mà ngư dân Việt Nam đã đánh bắt từ hàng ngàn năm qua?

Dù với nguyên nhân nào, nguy cơ đe dọa sinh kế ngư dân khai thác hải sản trong vùng biển Việt Nam cũng như cơ nghiệp của các nhà chế biến, xuất khẩu thủy sản cả trong ngắn hạn và dài hạn đang hiện hữu một cách khắc nghiệt vì “lời nguyền” kim loại nặng không dễ gì hóa giải.

Đ.N.

Đại án Công an, Quân đội: cơn địa chấn chính trị Việt Nam bắt đầu



Thiên Điểu (VNTB)



Điều chắc chắn là chính trường Việt Nam cuối năm 2018 và trong vài năm tới sẽ bước vào giai đoạn dữ dội nhất.

Sau một số vụ đại án liên quan lĩnh vực kinh tế, bắt đầu từ giới ngân hàng, doanh nghiệp sân sau.. giờ đây các đại án đang bùng lên ở cả 2 lực lượng vũ trang của chế độ là công an và quân đội với hàng loạt tướng tá bị bắt giữ với nhiều loại tội danh khác nhau. Điểm đáng chú ý không phải ở chức vụ cấp hàm của các bị can sa lưới mà vụ đại án liên quan Vũ “nhôm” bất ngờ lọt ra thông tin có người “bán thông tin cho Trung quốc” để lấy tiền đánh bạc. Loại tội danh này xưa nay luôn thuộc loại “bí mật quốc gia” và chưa có tiền lệ ở cấp cao trong cả 2 lực lượng công an và quân đội. 



Đại án Công an, Quân đội: Cơn địa chấn chính trị Việt Nam bắt đầu

Nói về loại tội danh này, nhân vật bị đưa ra xét xử cao nhất vào năm 1980 là vụ xử ông Nguyễn Thúc Tuận - Nguyên đại biểu Quốc hội, Trưởng ty Thể dục Thể thao tỉnh Bình Trị Thiên. “can tội gián điệp, đã bị tòa án nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên kết án 18 năm tù xét xử ngày 11/12/1980 - nhưng vụ này bị cho là một vụ án oan do bị cáo luôn kêu oan tới nay vẫn không được xem xét lại. Các vụ án liên quan hoạt động tình báo dạng “tiết lộ thông tin” thì nhiều nhưng bị can đều nằm ngoài ngành hoặc nắm vị trí rất nhỏ. Các chứng cớ là “tài liệu bí mật” thường bị cho là không đủ cơ sở buộc tội.

Như vậy, việc một loạt các tướng tá cao cấp, thậm chí có người đứng đầu cơ quan an ninh, tình báo… phạm tội liên quan lĩnh vực này cho thấy độ mục nát ở thượng tầng chế độ đến đâu. Đồng thời cũng vì thế sẽ chỉ ra cuộc chiến “chống tham nhũng” mà ông Trọng đang dẫn dắt có thể nói đã bắt đầu chạm đến vùng cấm cuối cùng của quyền lực. Đầu dây, mối nhợ phía sau những bị can này gắn liền với nhóm quyền lực cao nhất là nhân sự cấp Bộ Chính trị. Đồng nghĩa không chỉ riêng cựu Ủy viên Đinh La Thăng, chắc chắn không lâu nữa sẽ xuất hiện thêm các gương mặt lớn hơn nữa cũng sẽ bị đưa ra trước vành móng ngựa.

Việc bóc gỡ mảng ung nhọt với loại tội danh từ tham nhũng quyền lực như vậy rất có thể sẽ mở ra cơ hội cho các đại án chính trị từng làm khuynh đảo chính trường Việt Nam trước đây như vụ “Tổng cục II”; vụ gián điệp trong Bộ Tổng Tham mưu tiết lộ tin tức cho Trung Quốc trong cuộc chiến phía Bắc… nhưng bị chìm xuồng được lật lại. Dấu vết liên quan rất rõ bởi không ai khác là chính các “ông trùm” ngay trong các cơ quan đầu não ngành an ninh, quân đội từ các đại án trong quá khứ đều ít nhiều là thế lực tạo dựng nên bộ máy tội phạm dạng này. 

Cũng không ai khác, các bàn tay quyền lực phủ bóng lên chính trường Việt Nam là tác giả của thủ đoạn sử dụng nghiệp vụ nhằm triệt hạ đối thủ, thâu tóm quyền lực trước đây hiện đứng sau điều hành mạng lưới tội phạm bị phanh phui hiện nay. Nói một cách khác, sẽ không chỉ là kẻ đang nắm giữ quyền lực, nhóm đối tượng quyền lực trùm mền kiểu như “thái thượng hoàng” mà các quan chức phe Đảng và truyền thông nói là “không hạ cánh an toàn” sẽ cùng nhau vào cái “lò đang cháy” trong cuộc chiến bước vào thời điểm dữ dội nhất.

Từ chiếc xe biển xanh trái qui định của Trịnh Xuân Thanh đã kéo toàn bộ cựu lãnh đạo PVN và Đinh La Thăng lãnh án. Từ hợp đồng mua bán đất công sản trái luật dẫn đến băng nhóm của Vũ “nhôm”, Út “trọc”, sắp tới là một số quan chức thành phố Hồ Chí Minh; Từ B.O.T sẽ lòi ra phe nhóm ngành vận tải; Các “sự cố cháy nổ” sẽ kéo phe nhóm địa ốc tới ghế bị cáo; từ thất thoát tiền trong ngân hàng và vụ đánh bạc của tướng Vĩnh sẽ lộ ra đường dây rửa tiền của bất cứ ai.v.v.
Cuộc tấn công vào nhóm lãnh đạo cao cấp Bộ công an cho thấy ông Trọng đã nắm trong tay lực lượng an ninh ở cả Bộ công an và Bộ quốc phòng. Vấn đề còn lại là lực lượng này có đủ sức đối đầu khi các ông trùm sẽ phải chọn cách liên minh với nhau để chống lại hay không thì khó nói trước. Điều chắc chắn là chính trường Việt Nam cuối năm 2018 và trong vài năm tới sẽ bước vào giai đoạn dữ dội nhất.

T.Đ.
VNTB gửi BVN.

Vì sao CSVN cấp tập xử án nhân quyền đầu 2018?


Phạm Chí Dũng
Người Việt 22/4/2018




Các nhà hoạt động xuống đường đòi công lý cho Hội Anh Em Dân Chủ hôm 5 Tháng Tư, trước phiên tòa xử Luật Sư Nguyễn Văn Đài và các thành viên Hội Anh Em Dân Chủ. (Hình: Getty Images)

Vì sao nhà cầm quyền CSVN lại cấp tập tổ chức các vụ xử án người hoạt động nhân quyền trong hai Tháng Ba và Tư, 2018? Phải chăng là “xử nhanh để bắt tiếp” như nhận định của một số người đấu tranh nhân quyền? Hay “xử nặng để mặc cả Hiệp định thương mại với Châu Âu” như nhận định của một số người đấu tranh nhân quyền khác?

Danh sách bắt tiếp 48 người?’

Sau Tết Nguyên Đán 2018, hàng loạt vụ án Hội Anh Em Dân Chủ (6 người) và những vụ xử cá nhân đối với những nhà hoạt động nhân quyền như Nguyễn Viết Dũng, Nguyễn Văn Túc, Trần Thị Xuân, Vũ Văn Hùng đã diễn ra gần như đồng loạt ở Hà Nội, Hà Tĩnh, Nghệ An, với thời gian xử án ngắn gọn, kể cả xử lén lút mà không cho luật sư bảo vệ và gia đình tham dự, với nhiều mức án rất nặng nề…, cho thấy đây là một chủ trương của đảng cầm quyền và ngành tư pháp, nhưng không hẳn mang tính ngắn hạn mang tính chắp vá như những vụ xử án nhân quyền trước đây, mà còn có thể phục vụ cho một “tầm nhìn trung hạn” (cụm từ của Đảng) nào đó.

Trừ trường hợp Luật Sư Nguyễn Văn Đài và cộng sự của anh là cô Lê Thu Hà bị bắt vào cuối năm 2015, đa số những nhà đấu tranh nhân quyền bị đưa ra xử án trên đều bị công an bắt và tống giam trong năm 2017 - năm mà nhà cầm quyền đã bắt đến gần ba chục người bất đồng chính kiến và đạt “thành tích” cao nhất về bắt bớ người hoạt động nhân quyền trong những năm gần đây.

Cho tới nay, ngoài một vài trường hợp như nhà hoạt động nhân quyền Nguyễn Trung Trực ở Quảng Bình chưa đưa ra xử, hầu hết những thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ đều đã ra tòa. Chính quyền cũng coi như đã “tất toán” xong vụ án Hội Anh Em Dân Chủ, còn cái kho tạm giam người bất đồng bị bắt của công an đã vơi đi đáng kể.

Vậy bước tiếp theo của nhà cầm quyền sẽ là gì? Bắt tiếp nhân quyền chăng?
Cùng và ngay sau thời gian diễn ra vụ xử Hội Anh Em Dân Chủ và một số nhà bất đồng khác, trong dư luận và trên mạng xã hội đã lan truyền thông tin về “công an có một danh sách 48 người của Hội Anh Em Dân Chủ và sẽ bắt tiếp”. Nhưng thông tin này là không thể kiểm chứng vì không được dẫn nguồn tin và cũng chẳng có một tài liệu nào nhằm chứng minh.

Trong thực tế nhiều năm qua, đã có những bản “danh sách sắp bắt” hoặc “danh sách bắt tiếp” được một bàn tay bí ẩn nào đó tung ra dư luận và mạng xã hội ngay sau những vụ bắt bớ và xử án người bất đồng - một động tác bị dư luận rất nghi ngờ là do chính công an tung ra để khủng bố tinh thần giới đấu tranh nhân quyền.

Nhưng nếu “danh sách bắt tiếp 48 người” vừa được tung ra là bắt thật, dấu hỏi đặt ra là vì sao nhà cầm quyền lại không bắt ai trong giới bất đồng chính kiến từ đầu năm 2018 đến nay như một chiến thuật “bắt và xử cuốn chiếu?”

Hạn chế bắt phản động’

Nếu so sánh, có thể nhận ra một độ vênh khá rõ về tình trạng bắt bớ bất đồng giữa năm 2018 và năm 2017. Vào năm 2017, nhà cầm quyền đã tiến hành chiến dịch bắt bất đồng ngay từ giữa Tháng Ba, để chiến dịch này kéo dài trong 8 tháng liên tục cho đến Tháng Mười cùng năm.

Tuy nhiên từ Tháng Mười Một, 2017 đến nay - tức đã qua 6 tháng, nhà cầm quyền đã chỉ bắt thêm một vụ là nhà hoạt động nhân quyền Vũ Văn Hùng - thuộc tổ chức xã hội dân sự Hội Giáo Chức Chu Văn An, nhưng không dám quy vào tội chính trị mà chụp cho cái mũ “cố ý gây thương tích” rồi đem ra xử án, cho dù đến giờ cả công an lẫn hội đồng xét xử vẫn không hề công bố được “nạn nhân bị gây thương tích” là ai.

Chủ trương của đảng cầm quyền về “hạn chế bắt phản động” ngày càng lộ rõ. Giờ đây, có vẻ kịch bản “vào trước, bắt sau” lại trở về những năm 2007 và năm 2013.

Vào năm 2007, nhà cầm quyền đã rất hạn chế bắt bất đồng để Việt Nam được Mỹ chấp nhận cho tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Còn vào nửa đầu năm 2013, nhà cầm quyền cũng hạn chế bắt bất đồng trong bối cảnh Trương Tấn Sang (Chủ tịch nước) đến Mỹ gặp Tổng thống Obama để bàn thảo về khả năng Việt Nam được tham gia vào Hiệp định TPP.

Vào năm 2018, tình hình kinh tế và ngân sách của Việt Nam còn tồi tệ hơn cả năm 2017 và tồi tệ hơn hẳn những năm 2013 và 2007. Đó chính là nguồn cơn khiến giới chóp bu Việt Nam phải chìm đắm hy vọng vào Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Châu Âu (EVFTA).

Một chiến dịch “quốc tế vận” của chính thể Việt Nam đối với châu Âu đã được tái khởi động từ tháng Mười Một năm 2017, với mục tiêu hồ sơ EVFTA được Ủy ban Châu Âu trình lên Hội đồng Châu Âu và Nghị viện Châu Âu để chính thức được phê chuẩn trong năm 2018.

Ráo riết ‘vận động EVFTA’

Hiện tượng nhà cầm quyền Việt Nam cấp tập đưa ra xét xử án những nhà hoạt động nhân quyền cùng mức án nặng vào đầu năm 2018 lại từng có tiền lệ: Vào cuối năm 2012 và đầu năm 2013, chính quyền cũng cấp tập lôi vụ án Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do và Hội Đồng Công Luật Công Án Bia Sơn với vài chục người ra xét xử với mức án rất nặng nề và có cả án chung thân, để sau đó bất chợt diễn ra tình trạng “hạn chế bắt và xử án,” hoặc có xử cũng “nhẹ” hơn nhiều.

Sự lặp lại của hiện tượng trên vào đầu năm 2018, cùng một ít dấu hiệu “hạn chế bắt phản động” từ cuối năm 2017 đến nay, cho thấy nhiều khả năng bước đi của nhà cầm quyền không phải “xử nhanh để bắt tiếp,” mà sau những vụ xử này sẽ là sự tiếp nối chiến dịch “vận động EVFTA” trong năm 2018 và sang cả năm 2019. Đó cũng là bối cảnh “đặc biệt tế nhị” mà họ sẽ hạn chế bắt người hoạt động nhân quyền và bất đồng chính kiến.

Sau khi TPP đổ vỡ lần đầu vào đầu năm 2017 do Mỹ chính thức rút khỏi Hiệp định này, Việt Nam chỉ còn EVFTA là Hiệp định thương mại mang lại lợi lộc nhiều nhất ứng với đà xuất siêu của Việt Nam sang Châu Âu lên đến $25 tỷ mỗi năm - gần bằng giá trị nhập siêu lên đến $30 tỷ hàng năm (chỉ tính theo đường chính ngạch, chưa kể khoảng $20 tỷ nhập siêu theo đường tiểu ngạch) của Việt Nam từ Trung Quốc.

Muốn EVFTA được thông qua, Việt Nam cần có toàn bộ đồng thuận của 28 quốc hội ở 28 nước Châu Âu, mà nếu chỉ một nước không đồng ý thì Hà Nội coi như trắng tay.

Đối với chính thể độc đảng ở Việt Nam, EVFTA quan trọng đến mức mà vào Tháng Ba, 2018, người đứng đầu Đảng là Nguyễn Phú Trọng đã phải tự thân đến Pháp để vận động nghị viện Pháp cho EVFTA được Hội đồng Châu Âu và Nghị viện Châu Âu “linh hoạt sớm thông qua”.

Thế còn giả thiết về “xử nặng để mặc cả Hiệp định thương mại với Châu Âu” như nhận định của một số người đấu tranh nhân quyền khác thì sao?

Hết thời ‘đổi nhân quyền lấy thương mại’

Sau nhiều năm quần quật nếm trải với Việt Nam về nhân quyền, rốt cuộc người Mỹ và đến nay là EU đã rút ra một bài học đắt giá: đặc tính của nhà cầm quyền Việt Nam là luôn dùng tù nhân lương tâm để mặc cả về các Hiệp định kinh tế, thương mại và viện trợ. Nhưng khi đạt được mục đích của mình lại ngay lập tức trở mặt và bắt bớ người hoạt động nhân quyền.

Nhưng từ nghị quyết về vấn đề nhân quyền Việt Nam - mang số hiệu 2016/2755 (RSP) mà Nghị viện Châu Âu tung ra vào Tháng Sáu, 2016 với lời lẽ cứng rắn chưa từng có cho đến gần đây, đã có dấu hiệu rõ ràng EU không còn dễ thỏa hiệp với cơ chế “đổi nhân quyền lấy thương mại”. Trong thời gian gần đây, cũng như Mỹ, EU đòi hỏi nhà cầm quyền Việt Nam phải cải thiện nhân quyền cả gói (ban hành Luật Lập Hội, tự do tôn giáo, tự do báo chí, công đoàn độc lập…) chứ không chỉ đơn giản là thả một ít tù nhân lương tâm như những năm trước. Vì thế, có thể một cơ chế “trao đổi” những thành viên Hội Anh Em Dân Chủ và những người bất đồng bị bắt đã không thể tiến hành do phía EU không chấp nhận cơ chế này. Và càng không chấp nhận khi nhiều nhà đấu tranh nhân quyền bị xử án nặng đến thế trong thời gian qua.

P.C.D.
Tác giả gửi BVN.