21/10/2018

Bước nhảy lùi vĩ đại của Trung Quốc

Jonathan Tepperman (*)

Huỳnh Hoa dịch

Trong nhiều thập niên, quốc gia này đã xoay xở tránh được phần lớn những vấn đề mà các chế độ độc tài phải chịu đựng. Giờ đây, trò chơi quyền lực cá nhân của Tập Cận Bình có nguy cơ phá hủy mọi thứ đã làm cho Trung Quốc trở nên khác biệt.

Trong bốn mươi năm qua, Trung Quốc đã tích cóp được một danh sách dài những thành tựu nổi bật. Từ năm 1978 đến 2013, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng bình quân 10 phần trăm mỗi năm, làm gia tăng mười lần mức thu nhập trung bình của người lao động trưởng thành. Tất cả sự tăng trưởng đó đã giúp khoảng 800 triệu người thoát ra khỏi đói nghèo; trong quá trình này Trung Quốc cũng giảm được 85 phần trăm mức tử vong của trẻ sơ sinh và nâng tuổi thọ bình quân thêm 11 năm.

Đáng kinh ngạc là Trung Quốc đã đạt được những thành tựu như vậy trong khi chính phủ nước này vẫn rất hà khắc về chính trị – chuyện chưa hề có tiền lệ trong lịch sử và rất, rất khó thực hiện, theo lý thuyết chính trị. Vậy nên, không có gì lạ khi nhà nghiên cứu Trung Quốc Orville Schell miêu tả thành tích này như là “một trong những phép lạ gây sửng sốt nhất về phát triển kinh tế trong lịch sử thế giới”.

Phẩm chất kỳ diệu của những thành tựu của Trung Quốc làm cho những gì đang xảy ra ở đất nước này ngày hôm nay trở nên hết sức bi thảm – và gây hoang mang. Dưới vỏ bọc chống tham nhũng, Chủ tịch Tập Cận Bình đang từng bước xóa bỏ hầu như mọi cuộc cải cách đã làm cho Trung Quốc đạt được sự tăng trưởng ngoạn mục trong bốn thập kỷ qua. Thay cho một hệ thống dù khiếm khuyết nhưng cực kỳ thành công, ông ta đã dựng lên một sự sùng bái cá nhân to lớn chỉ tập trung vào cá nhân ông ta, ông ta thâu tóm mọi quyền hành vào tay mình hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào kể từ thời Mao Trạch Đông.

Trong ngắn hạn, những nỗ lực của Tập có thể làm cho Trung Quốc bớt tham nhũng và ổn định hơn. Nhưng bằng việc hủy diệt nhiều cơ chế đã giúp cho phép lạ Trung Quốc có thể xảy ra, có nguy cơ Tập sẽ đảo ngược những kết quả ấy và biến Trung Quốc thành một nhà nước cảnh sát khác nữa (hãy nghĩ tới một phiên bản Bắc Triều Tiên khổng lồ và cởi mở hơn): không có hiệu quả, vô tích sự, dễ đổ vỡ và hiếu chiến. Và đó là điều đáng lo không chỉ cho 1,4 tỉ người Trung Quốc mà cho tất cả chúng ta.

Để hiểu điều gì đang làm cho chiến dịch xây dựng đế quốc cá nhân của Tập trở nên nguy hiểm như thế, trước hết cần hiểu những gì đã làm cho Trung Quốc trở nên phi thường trong thời gian dài như vậy. Xuyên suốt lịch sử hiện đại, đa số các nhà độc tài và các nhà nước độc đảng đều có chung một số đặc điểm căn bản. Quyền lực nằm trong tay của một nhóm nhỏ các cá nhân. Để giữ quyền lực, các cá nhân này đàn áp những người bất đồng và cai trị bằng sự đe dọa. Bởi vì đám công chức quan liêu và dân chúng sống trong sợ hãi, họ cạnh tranh nhau để bợ đỡ các ông chủ. Không ai nói lên sự thật, nhất là khi sự thật ấy làm cho họ và các lãnh đạo của họ trông xấu xí đi. Kết quả là, các bạo chúa tự cô lập – mà cái tôi của họ được thổi phồng lên bằng những lời xu nịnh thường xuyên và khúm núm – tự thấy mình ngày càng xa rời thực tế, xa rời phần còn lại của thế giới (hãy nghĩ tới Kim Jong Un, Bashar al-Assad hoặc Robert Mugabe) và rốt cuộc họ cai trị một cách tùy hứng, cai trị theo bản năng với rất ít ý thức về những gì đang thật sự xảy ra ở đất nước họ. Tác động của sự ngu muội này đối với chính sách đối nội và đối ngoại thật là thảm họa.

Trong khoảng 35 năm – tính từ khi Mao chết và Đặng Tiểu Bình phát động các cuộc cải cách của ông ta vào cuối thập niên 1970 cho đến khi Tập lên nắm quyền năm 2012 – Trung Quốc đã tránh được nhiều cạm bẫy kiểu này và đi ngược lại quy luật về các chuẩn mực chính trị bằng cách xây dựng cái mà các học giả gọi là chế độ “độc tài thích nghi” (adaptive authoritarian). Trong khi vẫn duy trì chủ nghĩa cộng sản trên danh nghĩa, Trung Quốc đã tiếp thu nhiều hình thức của chủ nghĩa tư bản thị trường và một số cuộc cải cách tự do khác. Tất nhiên, hệ thống cũ vẫn có tính đàn áp cao độ (hãy nhớ vụ thảm sát Thiên An Môn) và còn xa mới hoàn hảo xét về nhiều phương diện. Tuy vậy, nó cho phép Chính phủ Trung Quốc thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả phi thường và tránh được nhiều chứng bệnh mà các chế độ độc tài khác mắc phải. Chế độ kiểm duyệt chẳng hạn, chưa bao giờ biến mất, nhưng các đảng viên Cộng sản có thể không tán thành và tranh luận các ý tưởng, còn các báo cáo nội bộ đôi khi tỏ ra thẳng thắn một cách đáng ngạc nhiên.

Không còn như vậy nữa. Ngày nay, Tập đang hủy hoại một cách có hệ thống hầu như mọi phương diện từng làm cho Trung Quốc trở nên khác biệt, từng giúp Trung Quốc hoạt động tốt như thế trong quá khứ. Những nỗ lực của ông ta có thể làm gia tăng quyền lực và uy tín của ông ta trong ngắn hạn, làm suy giảm một số hình thức tham nhũng. Tuy nhiên, cân nhắc kỹ, chiến dịch của Tập sẽ có những hệ quả thảm khốc trong dài hạn cho đất nước ông ta và cho cả thế giới.

Có lẽ đặc trưng bất thường nhất của hệ thống mà Đặng tạo ra là cách phân bổ quyền lực cho nhiều nhà lãnh đạo. Thay vì để một người thực hành uy quyền tối cao, như phần lớn các chế độ độc tài, Đặng phân chia quyền lực cho Tổng bí thư đảng (người cũng thường nắm vị trí chủ tịch đảng), Thủ tướng chính phủ và Bộ chính trị.

Đặng hy vọng một hệ thống như vậy sẽ bảo đảm không một cá nhân nào có thể tái thâu tóm kiểu quyền lực mà Mao từng có – bởi vì quyền lực không kiểm soát của Mao đã dẫn tới những sai lầm và lạm dụng khủng khiếp, chẳng hạn như các công cuộc Đại Nhảy vọt (trong đó ước tính khoảng 45 triệu người đã chết) và Cách mạng Văn hóa (trong đó bản thân Đặng đã bị thanh trừng và con trai của ông ta bị tra tấn tàn khốc tới mức anh ta trở thành bại liệt). Như ông Bùi Mẫn Hân (Minxin Pei), chuyên gia về Trung Quốc tại Đại học Claremont McKenna College, giải thích, mô hình lãnh đạo tập thể mà Đặng thiết kế đã giúp loại bỏ những ý tưởng xấu và thúc đẩy những ý tưởng tốt bằng cách đề cao sự cân nhắc cẩn thận mà không khuyến khích việc mạo hiểm.

Từ khi lên nắm quyền năm 2012, Tập đã ra sức dỡ bỏ hệ thống lãnh đạo tập thể ở một số phương diện. Trước hết, nhân danh đấu tranh với tham nhũng – một mục tiêu quan trọng mà Trung Quốc đang rất cần – ông ta đã thanh trừng một số lượng lớn quan chức mà tội lỗi thật sự của họ, dưới cái nhìn của Tập, là không thể hiện đầy đủ lòng trung thành với nhà lãnh đạo tối cao. Mạnh Hoành Vĩ (Meng Hongwei), Chủ tịch Interpol (Cảnh sát quốc tế), người bị Trung Quốc đột ngột bắt giam hai tuần trước, chỉ là một trường hợp nổi bật nhất và mới nhất; câu chuyện của ông ta là hết sức bất thường.

Trong vòng 6 năm qua, có 1,34 triệu quan chức bị biến thành mục tiêu – một con số gây sửng sốt, và hơn 170 nhân vật lãnh đạo ở cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng bị bãi nhiệm (đa số bị cầm tù). Cảnh ngộ của Mạnh, cũng giống cảnh ngộ của Bạc Hy Lai (Bo Xilai) – Bí thư thành ủy đầy quyền lực của thành phố Trùng Khánh, bị hạ bệ năm 2012 – chứng tỏ rằng không ai được miễn nhiễm với sự trừng trị của Tập. Thật vậy, từ năm 2012 đến nay số ủy viên ban chấp hành trung ương đầy quyền lực của đảng Cộng sản bị thi hành kỷ luật còn nhiều hơn cả thời kỳ dài từ cuộc Cách mạng Cộng sản tới năm ấy.

Không hài lòng với việc chỉ xóa bỏ mọi sự cạnh tranh, Tập còn củng cố quyền lực bằng việc bãi bỏ giới hạn nhiệm kỳ đối với chức vụ của ông ta và từ chối đề cử một người kế vị, như những người tiền nhiệm của ông ta vẫn làm vào giữa thời gian cầm quyền của họ. Ông cũng đưa “Tư tưởng Tập Cận Bình” vào vị thế trang trọng trong Hiến pháp Trung Quốc (một vinh dự mà chỉ Mao và Đặng có được); thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp các lực lượng vũ trang, tự biến mình thành “chủ tịch của mọi thứ” bằng cách tạo ra một số lượng lớn các nhóm hoạt động về chính sách, trải rộng từ tài chính đến vấn đề Đài Loan và an ninh mạng – tất cả đều báo cáo trực tiếp cho ông ta.

Một phương diện quan trọng thứ hai của hệ thống cũ là quan chức các cấp đều có thể kỳ vọng được thăng thưởng nếu có thành tích tốt. Đây không hoàn toàn là chế độ nhân tài, và hệ thống vẫn đầy sự tham nhũng và sự bảo trợ đỡ đầu. Nhưng cả hai khía cạnh này thực sự đã phục vụ một sự nghiệp chung ở một điểm chủ yếu: nếu một công chức làm tốt công việc của mình, anh ta hoặc chị ta có thể hy vọng có được một phần thành quả và được thăng tiến đều đặn. Ông Tập trái lại, đã “thay thế hệ thống dựa trên sự khích lệ bằng hệ thống dựa trên sự sợ hãi” như nhận định của ông Bùi. Và sự chuyển dịch này kéo theo hai vấn đề lớn. Trước hết, nó làm méo mó những ưu tiên của quan chức, từ ưu tiên cho kết quả làm việc sang ưu tiên cho việc thể hiện lòng trung thành. Vấn đề thứ hai, theo Alexander Gabuev, chuyên gia về Trung Quốc tại Trung tâm Carnegie Moscow, là “khi nỗi sợ hãi là tất cả những gì bạn có, công chức trở nên sợ hãi tới mức họ không dám làm gì mà không có mệnh lệnh rõ ràng từ cấp trên. Thế là toàn bộ guồng máy quan chức trở nên thụ động. Không việc gì được hoàn thành cả”.

Một tài sản có liên quan của hệ thống cũ là cách thức mà nó khuyến khích chính quyền các địa phương – ở cấp làng xã, quận hạt và tỉnh thành – thử nghiệm các sáng kiến mới, từ công cuộc xây dựng thị trường tự do bốn mươi năm về trước đến cho phép sở hữu tư nhân về đất đai trong thời gian gần đây. Những cuộc thử nghiệm như vậy đã biến Trung Quốc thành một đất nước có hàng trăm phòng thí nghiệm chính sách, cho phép nó thử nghiệm những giải pháp khác nhau cho nhiều vấn đề theo những cách thức an toàn, lặng lẽ và ít rủi ro trước khi quyết định có nên áp dụng đại trà hay không. Hệ thống này đã giúp Bắc Kinh tránh được những quyết định phi lý và những sai lầm thảm họa mà nó đã từng có dưới thời Mao – chẳng hạn như trong thời kỳ Đại Nhảy vọt những năm 1958–1962, các quan chức kế hoạch ở trung ương nhấn mạnh rằng nông dân Tây Tạng phải trồng lúa mì bất chấp thực tế khu vực núi cao đất đai cằn cỗi hoàn toàn không phù hợp với loại cây trồng đó.

Tất nhiên, Bắc Kinh đã chấp nhận một mức độ tự trị nào đó để cho phép các quan chức địa phương được thử nghiệm những điều mới mẻ. Ông Tập, trái lại, có vẻ như nhìn những lối suy nghĩ độc lập ấy như là những mối đe dọa không tha thứ được. Theo mệnh lệnh của ông, chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu ngăn chặn những chương trình thử nghiệm quy mô nhỏ. Sebastian Heilmann của trường đại học Trier của Đức dự tính số lượng các cuộc thử nghiệm ở cấp tỉnh đã giảm từ mức 500 cuộc năm 2010 xuống còn khoảng 70 cuộc năm 2016 và có lẽ đã giảm nhiều hơn nữa kể từ lúc ấy. Thay vào đó, một lần nữa các chính sách lại được ban bố từ trên đỉnh, với rất ít sự quan tâm tới các điều kiện của địa phương.

Một ví dụ mới nhất: Cũng như ngành công nghiệp công nghệ Trung Quốc khét tiếng về ăn cắp và áp dụng các sáng tạo của nước ngoài, các quan chức Trung Quốc từ lâu đã làm điều tương tự trong lĩnh vực chính sách; họ nghiên cứu cẩn thận những gì được thực thi ở các nước khác rồi áp dụng những bài học ấy vào trong nước (Ví dụ tốt nhất cho sự bắt chước này tất nhiên chính là công cuộc xây dựng xây dựng thị trường tự do ở Trung Quốc, theo các mô hình của Nhật Bản, Đài Loan và Hoa Kỳ). Giống như đối với những sáng kiến khác của ông Đặng, ông Tập cũng đã cắt xén thực tế này bằng cách làm cho các quan chức cấp tỉnh thành khó tương tác với người nước ngoài hơn. Năm 2014, chính quyền bắt đầu tịch thu hộ chiếu của công chức. Cũng như nhiều hạn chế khác được chính phủ thực thi gần đây, động thái này được biện minh nhân danh cuộc đấu tranh chống tham nhũng – nhìn bề ngoài, ý tưởng tịch thu hộ chiếu là để ngăn chặn các quan chức ăn bẩn chạy ra khỏi nước. Nhưng thực tế là chính sách này gần đây đã được mở rộng xuống cả các giáo viên tiểu học, và được tăng cường bằng những sự hạn chế liên quan khác – giờ đây các quan chức phải xin phép mới được tham dự các cuộc họp và hội nghị với nước ngoài và phải báo cáo về thời gian ở nước ngoài theo từng tiếng đồng hồ một – cho thấy rằng ưu tiên thật sự là giới hạn sự tiếp xúc với người nước ngoài và các ý tưởng của họ.

Cuộc đàn áp của Tập có ý nghĩa gì cho tương lai của Trung Quốc và cho chúng ta? Trong khi cần luôn luôn cẩn trọng khi dự đoán sự thất bại của Trung Quốc – như lịch sử tóm tắt ở trên cho thấy quốc gia này rất giỏi trong việc tìm đường đi tránh những vấn đề mà về lý thuyết sẽ kìm hãm nó – thật khó để tránh cái kết luận u ám rằng nước Trung Quốc của Tập đang nhanh chóng trở nên ít khác thường hơn và giống một nhà nước cảnh sát điển hình hơn.

Trên bình diện nội trị, việc hoạch định chính sách của Bắc Kinh đã trở nên ít linh hoạt và nhanh chóng. Không khó tìm những ví dụ cho lối tiếp cận cứng nhắc hơn, cũng như những mặt tiêu cực của nó. Cứ xem trong mùa đông vừa qua, khi Chính phủ bắt buộc các hệ thống cung cấp hơi sưởi ấm trên toàn quốc phải chuyển đổi ngay lập tức từ chạy bằng than sang chạy bằng khí đốt. Điều này nghe có vẻ khôn ngoan ở một đất nước bị ô nhiễm như Trung Quốc. Nhưng mệnh lệnh được thi hành một cách bất ngờ trên khắp nước, không có ngoại lệ. Thế là ở miền Bắc lạnh giá của Trung Quốc, nhiều lò đốt bằng than bị dỡ bỏ trước khi các lò đốt bằng khí gas được lắp đặt – khiến cho nhiều thị trấn hoàn toàn không có hơi ấm để sưởi, dân chúng bị buộc phải đốt cùi bắp để sinh tồn.

Nếu Trung Quốc tiếp tục đi theo con đường hiện hành thì sẽ có thêm rất nhiều trường hợp mà những chính sách với ý định tốt được thực hiện một cách vội vã và vụng về, dẫn tới nhiều hậu quả tai hại hơn rất nhiều. Bởi vì các chế độ độc tài cá nhân rất kém cỏi trong việc thừa nhận lỗi lầm – không được phép làm gì, nói gì có hại cho huyền thoại về lãnh đạo toàn năng – Trung Quốc sẽ có khả năng trở nên kém linh hoạt trong việc sửa chữa những sai lầm một khi nó đã gây ra. Hoặc trong việc đối mặt với những vấn đề tiềm ẩn đang kéo nền kinh tế xuống, chẳng hạn như sự phụ thuộc nặng nề vào các doanh nghiệp nhà nước kềnh càng và không hiệu quả – bộ phận doanh nghiệp đã trở nên to lớn hơn, nhiều quyền lực hơn kể từ khi Tập lên cầm quyền; mức nợ công cao một cách nguy hiểm, đặc biệt là nợ của các chính quyền địa phương; và một xu hướng ứng phó với mỗi vụ suy giảm kinh tế bằng cách bơm thêm tiền vào hệ thống, nhất là cho các dự án hạ tầng cơ sở không cần thiết. Trong thực tế, Trung Quốc không chỉ không có khả năng xử lý bất kỳ khuyết điểm nào trong các khuyết điểm này, mà nó còn có vẻ làm cho tình hình tệ hại thêm. Đó chính là điều mà Trung Quốc đã làm vào ngày 7 tháng 10, khi ngân hàng trung ương Trung Quốc công bố thêm một chương trình kích thích tốn kém khác nữa: kế hoạch chi ra 175 tỉ đô la nhằm vực dậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Với mỗi động thái phá vỡ ngân sách mới, và trong hoàn cảnh không có sự cải cách, khả năng Trung Quốc phải trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế gây bất ổn nghiêm trọng – mà những nhà đầu tư có cái nhìn bi quan về Trung Quốc như Ruchir Sharma, phụ trách khối các thị trường đang nổi lên của Morgan Stanley từng cảnh báo nhiều năm trước – sẽ tiếp tục tăng lên. “Vấn đề lớn là liệu có thể một trong những quả bom hẹn giờ – nợ xấu, thị trường bất động sản quá nóng, doanh nghiệp nhà nước phình to lên – sẽ bùng nổ hay không”, Gabuev nói. “Do sự tập trung quyền lực của ông Tập nên không có ai nói cho ông ta những lời cảnh báo trước nếu một trong những quả bom này sắp nổ. Và bởi vì ông ta không thật sự hiểu biết rõ về kinh tế vĩ mô, còn mọi người thì ngại không dám nói ngược với hoàng đế cho nên có một rủi ro rất lớn là ông ta sẽ quản trị sai lầm khi nó xảy ra”. Thật vậy, sự ứng phó của Chính phủ Trung Quốc trước bất kỳ sự bất ổn nào đều có vẻ thật ngu ngốc. Như Schell giải thích: “Tập đã thực sự đưa Trung Quốc vào rủi ro rất lớn. Và bởi vì công cụ duy nhất của ông ta là đàn áp, nếu sự việc diễn biến theo chiều hướng xấu, rất có thể chúng ta sẽ thấy thêm nhiều cuộc trấn áp nữa”.

Con số đáng phẫn nộ

Lưu Trọng Văn

Bộ Tư pháp vừa thông báo phát hiện trên toàn quốc trong năm 2017 các bộ, ngành, địa phương đã đưa ra 5.639 quyết định trái pháp luật.

Tức là cứ mỗi ngày làm việc trên cả nước xuất hiện hơn 23 quyết định trái pháp luật.

Một con số đáng nguyền rủa.

Một con số đáng phẫn nộ.

Con số khổng lồ các văn bản nhà nước chà đạp pháp luật ấy nói lên điều gì?

- Kỷ cương phép nước không được một tầng lớp quan lại của nhà nước coi trọng.

- Cuộc sống, sự bình yên làm ăn, tồn tại của nhân dân bị một tầng lớp quan lại coi thường.

- Trình độ hành chính quản trị của một tầng lớp quan lại quá dốt nát (mặc dù để làm cán bộ quản lý đều đúng quy trình tốt nghiệp các trường đào tạo).

Hãy hình dung nhân dân, doanh nghiệp phải khốn nạn thế nào khi các văn bản, quyết định sai pháp luật kia được thi hành?

Donald Trump và 5 cuộc chiến định vị lại nước Mỹ và thế giới

Hoàng Anh Tuấn

Khi nói đến tình hình thế giới hiện nay, câu chuyện cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung và xa hơn một chút là nguy cơ đối đầu toàn diện về kinh tế, chính trị, chiến lược, khoa học kỹ thuật giữa cường quốc số một và số hai trong việc tranh ngôi bá chủ toàn cầu cùng các tác động của cuộc đối đầu này dường như đang chi phối mối quan tâm của thế giới.

Cuộc đối đầu này sẽ kéo dài bao lâu? Sau nhiệm kỳ của Tổng thống Trump hay sẽ kéo dài tới 45 năm như Chiến tranh lạnh Mỹ – Xô trước đây? Khó ai có thể dự báo chính xác, nhưng chắc chắn sẽ không kết thúc nhanh chóng.

Tỷ phú giàu nhất Trung Quốc Jack Ma đã “chuẩn bị tinh thần” cho giới lãnh đạo chính trị và kinh doanh Trung Quốc rằng Trung Quốc và thế giới cần phải chuẩn bị cho một cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ có thể kéo dài đến 20 năm, tức sẽ kéo dài nhiều năm sau khi Trump không còn là Tổng thống Mỹ nữa.

Ở một góc độ nào đó, việc dư luận quan tâm đến khía cạnh thương mại và đối đầu chiến lược giữa hai cường quốc này là đúng nhưng chưa đủ vì nó mới chỉ phản ánh được một phần những chuyển động lớn đang chi phối cục diện thế giới hết sức phức tạp hiện nay.

Tạm thời chưa bàn đến chiến lược mới của Trung Quốc nhằm định vị lại vị thế quốc tế mới của mình và nỗ lực xây dựng một trật tự và hệ thống quan hệ quốc tế mới trong bài viết này, mà chỉ tập trung vào những chuyển động lớn từ Mỹ bắt đầu từ dưới thời Tổng thống Donald Trump.

Rất khó để hiểu chính xác Trump, ông ta muốn gì, sẽ làm gì, làm như thế nào và làm được đến đâu. Việc lãnh đạo Trung Quốc không hiểu rõ, phán đoán sai, rồi có những bước đi khiến “cuộc chiến thương mại” lúc đầu tưởng như chỉ bắt đầu từ những “xích mích” nhỏ, rồi lan ra thành cuộc đối đầu kinh tế, thương mại toàn diện… cần xem là chuyện “bình thường”.

Ngay chính trong lòng nước Mỹ, dù thích hay không thích nhưng có một thực tế là không chỉ các đối thủ, mà ngay các đồng minh chính trị cũng không hiểu Tổng thống muốn gì, còn người dân và giới doanh nghiệp thì “thấp thỏm” chờ đợi các dòng “tweets” hàng ngày của Tổng thống để phán đoán hành động tiếp theo. Chưa kể sự thể còn bị “rối bung” khi hàng ngàn tờ báo từ cánh tả tới cánh hữu lao vào bình luận, mổ xẻ, phân tích, rồi bút chiến nhằm dẫn dắt dư luận theo nhiều chiều hướng khác nhau khiến thông tin trở nên “nhiễu loạn”.

Tất cả những cái đó rất dễ dẫn dắt người đọc, dư luận đi vào các tiểu tiết, hoặc bỏ qua và không thể nhìn thấy các chiều hướng chính sách, các chuyển động lớn sẽ chi phối nước Mỹ và nền chính trị thế giới trong nhiều thập niên tới, được khái quát thành “5 cuộc đại chiến” của Trump.

Ở đây chưa bàn đến cái hay, cái dở, cái đúng, cái sai của các cuộc chiến này. Nhưng đây là thực tế những gì Trump đang làm và dù thích hay không thì nước Mỹ và thế giới cũng phải sống chung và thích ứng với thực tế này chừng nào mà Donald Trump vẫn còn là Tổng thống Mỹ.

Tìm đọc nhiều tư liệu, nhưng tôi cũng kinh ngạc khi phát hiện dường như trong lịch sử thế giới cận đại gần 500 năm qua, THẾ GIỚI CHƯA TỪNG CHỨNG KIẾN một nhân vật lãnh đạo nào của một quốc gia hùng mạnh nhất thế giới như Donald Trump lại cùng lúc phát động 5 “cuộc chiến sống mái” trên 5 mặt trận khác nhau.

Cần nhớ, trong các bài học lịch sử kinh điển, chỉ cần thắng hay thua trong một cuộc chiến, chỉ một cuộc chiến thôi, đã đủ để lưu danh muôn thuở hay chôn vùi vĩnh viễn danh tiếng bất kì một tổng thống nào của nước Mỹ.

Vậy 5 cuộc chiến đó là gì?

  1. Cuộc chiến thứ nhất: Xác lập “giá trị bảo thủ” và tìm cách đẩy lui các “giá trị tự do”

Cuộc chiến này thể hiện qua cuộc đấu quyết liệt giữa hai phe Cộng hòa và Dân chủ qua việc đề cử Thẩm phán Brett Kavanaugh vào vị trí thẩm phán suốt đời tại Tòa án tối cao (Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ) gồm 9 người thay cho Thẩm phán Anthony Kennedy. Thẩm phán Kennedy được Tổng thống (TT) Reagan bổ nhiệm năm 1987 và về hưu năm 2018 sau 31 năm ở cương vị này.

Việc đề cử vị trí thẩm phán thứ 9 Tòa án tối cao diễn ra ngay trong nhiệm kỳ đầu của TT Cộng hòa Trump và trùng hợp với thời điểm đảng Cộng hòa đang kiểm soát đa số (dù mỏng manh) tại Thượng viện, đang giúp TT Trump lựa chọn người cùng quan điểm qua đó ghi dấu ấn, tạo ảnh hưởng bảo thủ và góp phần định vị bản sắc của nước Mỹ trong nhiều thập niên sau này. Tất nhiên, cần hiểu rõ đây không phải là những quan niệm bảo thủ hay tự do mà ta và nhiều nước khác quan niệm, mà chủ yếu liên quan đến các vấn đề xã hội, tôn giáo, thuế, tự do cá nhân và đạo đức của người Mỹ.

Vị trí Thẩm phán Tối cao Pháp viện là vị trí đầy quyền lực trong hệ thống chính trị tam quyền phân lập tại Mỹ, có quyền giải thích hiến pháp, các đạo luật của Quốc hội, sắc lệnh của Tổng thống xem có vi hiến hay không, cho ý kiến về các vụ xét xử gây tranh cãi, dư luận quan tâm thông qua hình thức bỏ phiếu.

Lấy ví dụ về sắc lệnh cấm người Hồi giáo từ 6 quốc gia Hồi giáo nhập cư vào Mỹ khi Tổng thống Trump mới lên cầm quyền. Khi đó Tối cao Pháp viện phải ra phán quyết đây là sắc lệnh không vi hiến thì Sắc lệnh này của Tổng thống mới được thực thi.

Chỉ đơn cử một việc như vậy đã giải thích tại sao cả hai phe Dân chủ và Cộng hòa một bên thì kịch liệt phản đối, còn bên kia thì ủng hộ bằng mọi giá ứng cử viên Thẩm phán Tối cao Pháp viện thông qua cuộc Điều trần đang diễn ra và tiếp theo là màn bỏ phiếu hết sức gay cấn ngay trước thềm bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11/2018.

Và cũng cần nhắc lại là các Tổng thống Mỹ như Ronald Reagan, Bill Clinton, George Bush từng không thành công lần đầu khi các ứng viên cho vị trí Thẩm phán Tối cao Pháp viện của mình không vượt qua được vòng điều trần hoặc bỏ phiếu tại Quốc hội.

  1. Cuộc chiến thứ hai: Chống lại ngay chính đảng đề cử mình để bảo vệ những giá trị bảo thủ cốt lõi của những người Cộng hòa theo quan điểm của Trump

Đây là điều tưởng chừng là nghịch lý, nhưng lại là thực tế. Lần ngược lại thời gian trước cuộc bỏ phiếu Tổng thống Mỹ tháng 11/2016, Trump khi đó bị những lãnh đạo chủ chốt của Đảng Cộng hòa xem là “đứa con hoang” (pariah), đi ngược dòng chủ lưu.

Nhưng trái với hầu hết các dự báo, Trump – một người chưa hề có kinh nghiệm chính trường – lần lượt đánh bại từng đối thủ một vốn là các nhân vật lãnh đạo gạo cội và “ngôi sao” trong đảng Cộng hòa như Rand Paul, Mitch Romney, McGovern…

Thông thường trong chính trị Mỹ “cuộc chiến nội bộ” thường kết thúc khi đã có phân định thắng thua. Tuy nhiên, với Trump thì ngược lại. Với tỷ lệ ủng hộ lên tới 85% các cử tri Cộng hòa, Trump gần như không có các đối thủ nặng ký trong đảng Cộng hòa nên mạnh tay tấn công các “cây đa, cây đề”, các thiết chế mà Trump xem là “trì trệ” trong đảng Cộng hòa để xây dựng liên minh mới, thúc đẩy các ý tưởng bảo thủ và cải cách.

Còn các lãnh đạo Cộng hòa trong khi tiếp tục tận dụng ảnh hưởng của Trump để mở rộng uy tín của Đảng, thì cũng đấu quyết liệt không kém với Trump trong nội bộ đảng để chống lại một số cải cách mà họ xem là “nguy hại” cho nước Mỹ, tìm cách duy trì các thiết chế cũ cũng như dòng tư tưởng chủ lưu. Tuy nhiên, đối với nhiều nghị sĩ thì việc duy trì trật tự cũ còn là cách để họ tiếp tục duy trì ảnh hưởng và tiếp tục được hưởng các “đặc quyền, đặc lợi”.

  1. Cuộc chiến thứ ba: Chống lại các thiết chế đã định hình và sự “trì trệ” của nước Mỹ

Nếu chỉ đọc qua về sự “trì trệ” của nước Mỹ, người đọc dễ liên tưởng đây là câu chuyện hoang tưởng, nhưng đó lại phản ánh một phần sự thật. Nước Mỹ từ lâu vốn được xem là quốc gia năng động bậc nhất, là nơi tập trung các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới, là nơi có nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel nhất thế giới, nơi luôn khuyến khích sự sáng tạo, các ý tưởng lạ. Tóm lại, nước Mỹ được nhìn nhận là quốc gia luôn thay đổi và biết cách “tự làm mới” mình liên tục.

Còn nhớ câu chuyện giữa những năm 1980, cách đây quãng ba chục năm, khi đó Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Mikhail Gorbachev đưa ra ý tưởng “cải tổ” và “công khai hóa” (“perestroika” and “glasnost”) đã làm thế giới phát sốt, còn nước Mỹ thì bị lo qua mặt. Khi đó có nhà báo hỏi Tổng thống Ronald Reagan là nước Mỹ có ý định thực thi “cải tổ” và “công khai hóa” như Gorbachev đang theo đuổi hay không thì câu trả lời của Reagan, đại ý là: Gorbachev đang làm cái việc mà đáng ra các nhà lãnh đạo Liên Xô phải làm từ lâu, nhưng họ đã không làm và để vấn đề tích tụ lại. Mỹ không cần “cải tổ” hay “công khai hóa” vì đây là việc Mỹ làm thường xuyên.

Kết quả là “cải tổ” và “công khai hóa” của Gorbachev thiếu một tầm nhìn và cách làm bài bản đã đưa Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa Đông Âu đến chỗ sụp đổ, còn khẩu hiệu “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” (Make America Great Again) của Reagan cùng chính sách kinh tế Reaganomics và “làm mới lại nước Mỹ ngay trên đất Mỹ” đã giúp nước Mỹ hùng mạnh trở lại trên mọi phương diện vào đầu những năm 1990.

Quay trở lại nước Mỹ trước khi Trump lên cầm quyền. Từ góc độ của một nhà kinh doanh thành đạt trên đỉnh cao sự nghiệp và góc nhìn mới của một chính trị gia Trump cảm thấy hết sức “thất vọng” vì nước Mỹ đang trở nên già nua, xơ cứng, có quá nhiều “trì trệ”, sức ỳ, quá nhiều rào cản. Bên cạnh đó, quá nhiều thế lực hùng mạnh trong giới chính trị, kinh doanh, truyền thông… sẵn sàng liên kết, ra tay bóp nghẹt các ý tưởng mới để bảo vệ đặc quyền của mình, mà như từ ngữ ta hay dùng là lợi ích nhóm.

Lợi ích nhóm ở nước Mỹ hiện quá hùng mạnh, bám rễ quá sâu nên các nhóm này sẵn sàng liên kết, tiến hành “chiến tranh tổng lực” chống lại Trump và toàn bộ chính quyền của ông ta đến cùng. Ngược lại, để thực hiện cam kết tranh cử đưa nước Mỹ “vĩ đại trở lại”, Trump, với tác phong và cách làm “phi truyền thống”, cũng lao vào ăn thua đến cùng với nhóm lợi ích.

Đỉnh điểm là ngày 16/8/2018 vừa qua, cùng lúc 350 tờ báo trên khắp nước Mỹ, trong đó có những tờ lâu đời và nổi tiếng như Boston Globe, The New York Times, Washington Post, Philadelphia Inquirer… đồng loạt đăng xã luận, công kích chính quyền Trump, coi cá nhân và Chính quyền Trump là mối đe dọa lớn nhất đối với tự do báo chí – vốn từng được coi là một trụ cột quan trọng trong xã hội Mỹ cùng với tam quyền phân lập.

Đây là điều chưa từng xảy ra trong lịch sử và xã hội Mỹ từ xưa đến nay. Nói đến đặc quyền của báo chí Mỹ thì phải kể đến câu chuyện cách đây 36 năm, chỉ với tờ Washington Post đi tiên phong, cùng các phóng sự của hai nhà báo điều tra gạo cội là Carl Bernstein và Bob Woodward đã góp phần “hạ bệ” Tổng thống đương nhiệm Richard Nixon trong vụ Watergate. Với sức mạnh của báo chí tới mức có thể “làm nên” hay “làm tiêu tùng” (make or break) sự nghiệp của một Tổng thống như vậy nên các chính trị gia thường chọn cách “dĩ hòa vi quý” thay vì làm “mếch lòng” báo chí.

Tuy nhiên, Trump thì khác hẳn, chọn ngay cách đối đầu với báo chí “không cùng phe” điển hình là CNN, Washington Post, The New York Times. Trump sử dụng con bài nhất quán ngay từ đầu là coi ba tập đoàn truyền thông lớn này cùng các bài báo chỉ trích cá nhân và chính quyền của mình là “báo chí của phe Dân chủ” và chuyên đăng “tin giả” (fake news)! Nói cách khác, Trump đánh trực tiếp vào tính chính danh và sự khách quan của báo chí “không cùng phe”.

Nhìn một cách công bằng, sự ra đời của Internet, và cùng với nó là các mạng xã hội như Facebook, Twitter, Snapchat, YouTube… trong những năm qua đã làm giảm đáng kể quyền lực của các “ông lớn” truyền thông trong khi các ông lớn này vẫn ngủ quên trên đỉnh cao quyền lực thời hoàng kim. Mặt khác, sự phân hóa Xã hội Mỹ về mọi mặt, từ câu chuyện ranh giới giàu nghèo, thu nhập, đẳng cấp, sự hình thành giới chính trị gia “xa lông” ngày càng tách rời tầng lớp “thấp cổ bé họng”… dưới tác động đa chiều của Cách mạng công nghiệp 4.0, toàn cầu hóa đã tác động mạnh, làm báo chí mất đi sự trung lập vốn có và khiến báo chí cũng phân làn rõ rệt. Trước đây thì rất khó phát hiện, nhưng nay chỉ cần cầm một tờ báo bất kì, đọc qua vài bản tin hoặc bật xem TV vài phút là có thể nói tương đối chính xác thiên kiến chính trị của tờ báo hoặc một hãng truyền thông nào đó.

Do đó, khá dễ hiểu là 350 tờ báo cùng lúc đả kích Trump nhưng lại ít nhiều đều chia sẻ các quan điểm chính trị như nhau. Và như thường lệ, chỉ vài dòng “Tweets” với 50 triệu người theo dõi mỗi ngày, Trump dễ dàng “vô hiệu hóa” các xã luận trên. Trước đây khi mạng xã hội chưa phát triển, các Tổng thống, chính trị gia thường đứng im chịu trận. Nhưng nay, Trump cũng lên tiếng “đòi” được đối xử công bằng, không bị báo chí tấn công một chiều!

Tuy nhiên, chủ đích cuối cùng của Trump là “vô hiệu hóa” sự chỉ trích của đối thủ, khiến ông ta có vị thế áp đảo trong giới truyền thông, từ đó gây ảnh hưởng, truyền tải các thông điệp chính trị.

Trong lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, quản trị đất nước…. Trump cũng có những cách làm “lạ đời”, giúp tiết kiệm hàng chục triệu giờ công lao động hoặc hàng tỷ USD tiền đóng thuế của người dân, doanh nghiệp, cụ thể là:

– Trump ngay khi nhậm chức đã yêu cầu Boeing phải xem xét và đàm phán lại Hợp đồng mà Chính quyền Tổng thống Obama đã ký trước đó để mua hai máy bay “Không lực số một” (Air Force One) giao hàng vào năm 2024 vì giá quá cao. Boeing đứng trước tình thế phải đàm phán lại nếu không có nguy cơ bị hủy hợp đồng. Kết quả là cặp máy bay nay chỉ còn giá 3,9 tỷ USD, từ giá “trên trời” là 5,3 tỷ USD, tức giảm khoảng 25% giá ban đầu.

– Tương tự như vậy, Trump và Lầu Năm Góc cũng buộc hãng Lockheed Martin, nhà cung cấp máy bay chiến đấu F-35 thế hệ thứ năm phải đàm phán lại và giảm giá từ 95 triệu USD/1 chiếc F-35 mà Lầu Năm Góc trả năm 2017, xuống còn 89 triệu USD/1 chiếc cho lô hàng giao trong năm 2018 và 80 triệu USD/1 chiếc năm 2020.

Chỉ qua hai vụ đàm phán đình đám, thông điệp của Trump đối với giới doanh nghiệp rất đơn giản: Ngay cả những hàng hóa mang tính biểu tượng của Tổng thống, đến bảo vệ an ninh quốc gia chính quyền cũng sẵn sàng xem xét, thậm chí hủy đơn hàng nếu cần. Dó đó, các hãng lớn nếu muốn làm ăn với chính phủ, muốn có tương lai phải cải tiến, nâng cao chất lượng và giảm giá thành.

– Ngoài việc đơn giản hóa sắc luật thuế liên bang, ngày 30/1/2017 Trump còn ký một sắc lệnh của Tổng thống quy định, từ nay trở đi bất cứ một quy định, hay điều lệ mới nào của liên bang ra đời thì cơ quan đệ trình buộc phải vô hiệu hóa quy định hay điều lệ cũ. Mục đích của việc này là tránh biến các cơ quan công quyền thành bộ máy quan liêu, ra các “quy định trên trời”, tạo thuận lợi tối đa cho cuộc sống, sinh hoạt của người dân, cũng như hoạt động của doanh nghiệp.

Trên đây chỉ là một ít ví dụ, nhưng nó cho thấy cuộc chiến chống lại thiết chế đã định hình và gắn với nó là lợi ích nhóm với đủ loại biến tướng là hết sức khó khăn, phức tạp. Hơn nữa, đây lại là cuộc chiến nội bộ nơi các đồng minh lẫn đối thủ đều minh tường các điểm mạnh, yếu của nhau và sẵn sàng ra đòn dứt điểm đối phương bất cứ khi nào có thời cơ.

  1. Cuộc chiến thứ tư: Duy trì địa vị siêu cường số một thế giới của Mỹ

Theo tư duy và cách làm thông thường, một quốc gia duy trì ngôi vị hàng đầu của mình bằng cách thực hiện hai bước song song: Củng cố sức mạnh quốc gia tổng hợp của mình, đồng thời chặn bước tiến và tạo khoảng cách xa nhất có thể với địch thủ bám ngay sát. Và nước Mỹ không phải là ngoại lệ.

Lịch sử của Mỹ từ khi lập quốc ngày 4/7/1776 đến nay là lịch sử bành trướng, và vươn lên không ngừng, từ một liên bang lỏng lẻo gồm 13 bang ban đầu vốn dĩ là thuộc địa của Anh Quốc thành một nhà nước liên bang hợp chúng quốc hùng mạnh nhất thế giới với 50 bang như hiện nay. Lịch sử Mỹ cũng là lịch sử đấu tranh và triệt hạ không khoan nhượng bất kỳ địch thủ thủ nào tìm cách thách thức vị trí số một của Mỹ.

Chỉ sau khoảng 100 năm lập quốc, đến đầu những năm 1870, sau khi kết thúc nội chiến Bắc Nam (1861-1865) Mỹ đã thay Anh trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, rồi trở thành siêu cường số một thế giới khoảng 70 năm sau đó sau khi kết thúc Thế chiến II năm 1945. Trong khi hầu hết các cường quốc khác bị suy yếu và tàn phá nghiêm trọng bởi chiến tranh thì Mỹ ra khỏi Thế chiến II với vị thế đặc biệt của người chiến thắng, với sức mạnh vượt trội so với bất kỳ cường quốc nào khác.

Trong khoảng thời gian 5 năm hậu chiến, GDP của Mỹ luôn chiếm tới 1/2 GDP của cả thế giới, Mỹ cũng là quốc gia duy nhất sở hữu vũ khí nguyên tử, còn đồng USD thì “hất cẳng” đồng bảng Anh, trở thành đồng tiền thanh toán, lưu trữ chủ chốt của thế giới. Với vị thế áp đảo như vậy, Mỹ dễ dàng “vẽ” trật tự của Phương Tây và phần nào đó là trật tự thế giới hòng thao túng theo ý đồ của mình: Về quân sự, Mỹ lập ra khối quân sự Bắc Đại Tây Dương; về thương mại Mỹ sử dụng ảnh hưởng để lập Hiệp định Thuế quan và Thương mại (GATT), tổ chức tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO sau này; còn về tài chính, Mỹ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lập ra các thiết chế tài chính có ảnh hưởng đến tận bây giờ như: Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD), Công ty Tài chính Quốc tế (IFC)… Mục đích tối thượng là duy trì địa vị cường quốc số một thế giới và thiết lập một trật tự toàn cầu bao trùm hầu khắp các lĩnh vực theo luật chơi do Mỹ đặt ra.

Trong 45 năm sau Thế chiến II, hệ thống quốc tế do Mỹ “cầm trịch” đã vận hành tương đối hiệu quả, giúp Mỹ “đánh bại” – dù hết sức khó khăn – được địch thủ cạnh tranh về quân sự, chiến lược và ý thức hệ là Liên Xô, khiến không chỉ Liên Xô mà cả hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu cùng lúc bị tan rã.

Về mặt kinh tế, với Thỏa ước Plaza (Plaza Accord) ký ngày 22/9/1985 tại New York để giải quyết “chiến tranh tiền tệ” giữa năm cường quốc Phương Tây, mà thực chất là nhằm vào Nhật Bản, buộc nước này phải tăng giá đồng Yên so với đồng USD và các ngoại tệ chủ chốt khác. Thỏa ước Plaza là đòn độc, đòn “tước vũ khí” quyết định khiến Nhật không thể dùng chiến thuật dumping (giảm giá), cạnh tranh không lành mạnh nhờ hỗ trợ của chính phủ để đánh bại các công ty Mỹ. Và cũng từ đây bong bóng bất động sản Nhật bị bể, kinh tế rơi vào trạng thái trì trệ suốt từ đầu những năm 1990 đến nay và từ đó trở đi Nhật không bao giờ trở thành mối đe dọa về kinh tế với Mỹ nữa.

Tuy nhiên, từ đầu những năm 1990 sau khi Liên Xô tan rã thì nước Mỹ bước vào tình trạng “phởn chí” khi không còn đối thủ ngang tầm. Học giá Mỹ nổi tiếng Francis Fukayama thậm chí còn xuất bản cuốn sách “Sự cáo chung của Lịch sử” (The End of History and the Last Man), với tuyên bố ngạo mạn về “Chiến thắng của nền dân chủ tự do” đứng đầu là Mỹ trước các “chính thể chuyên quyền”. Tiếp đó là các sai lầm chiến lược nối tiếp sai lầm khi Mỹ sử dụng lực lượng quân sự quy mô lớn tiến hành cùng lúc cuộc chiến chống khủng bố hao người tốn của và không lối thoát sau vụ khủng bố 11/09/2001 – với phí tổn khoảng 4000 tỷ USD và hàng chục ngàn sinh mạng – trên hai mặt trận là Iraq và Afghanistan.

Trong khi đó, trên một mặt trận khác, Trung Quốc thực hiện một chiến lược âm thầm, nhưng hết sức quyết liệt là thực thi cải cách mở cửa về kinh tế, xây dựng nội lực bên trong, cố gắng tránh, tìm cách không gây bất hòa hoặc đối đầu với Mỹ khi không cần thiết. Nhờ chiến lược “Thao quang dưỡng hối”, hiện đại hoá đúng đắn, cách làm bài bản, có sự chỉ huy, thống nhất và tập trung cao độ, lại tận dụng được lợi thế của người đi sau trong việc áp dụng cách mạng khoa học công nghệ nên Trung Quốc đã lớn mạnh vượt bậc chỉ trong thời gian rất ngắn. Trong giai đoạn kéo dài 25 năm từ 1990-2014, Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 10% năm, vượt Nhật Bản và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới từ 2010. Trong giai đoạn 2004-2016 GDP của Trung Quốc tăng trưởng tới 4 lần từ 2.500 lên 10.000 tỷ USD và đuổi sát Mỹ. Đến trước giai đoạn Tổng thống Donald Trump lên nắm quyền 01/01/2017, nếu như tốc độ phát triển kinh tế của Mỹ và Trung Quốc vẫn duy trì như thời gian trước đó thì theo dự báo của WB và IMF, chỉ đến năm 2025 hoặc cùng lắm là 2030 Trung Quốc sẽ vươn lên thay thế Mỹ để trở thành cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới.

Không chỉ phát triển về lượng, mà Trung Quốc còn phát triển về chất, hướng đến các tiêu chí quản trị doanh nghiệp, quản trị quốc gia thông minh, xây dựng lối sống, cách hành xử văn minh của người dân theo những tiêu chuẩn cao nhất của thế giới.

Nhờ sự lớn mạnh về kinh tế, sự phát triển về khoa học kỹ thuật vượt bậc, Trung Quốc cũng mạnh dạn, tự tin và quyết đoán trong chi tiêu quốc phòng, trong hành xử với láng giềng và trong quan hệ quốc tế cho phù hợp với vị thế mới của mình. Đáng chú ý là Trung Quốc thực hiện cùng lúc hai chiến lược lớn, đầy tham vọng là trở thành cường quốc số một thế giới về công nghệ vào năm 2025 và chiến lược Vành đai, Con đường (BRI) nhằm tạo ra một hệ thống riêng, trong đó Trung Quốc có vai trò chi phối. Chiến lược Vành đai, Con đường nếu được thực thi đầy đủ sẽ giúp thúc đẩy 6 kết nối chặt chẽ về đường không, đường biển, đường bộ, đường sắt, kết nối về mạng lưới viễn thông, kết nối về dịch vụ tài chính giữa Trung Quốc và khoảng 80 quốc gia trên thế giới, kéo dài từ Bắc Á qua Đông Nam Á, Nam Á, Trung Đông, châu Phi, một phần Tây và Đông Âu, Nga và Trung Á, những nước chiếm khoảng 1/2 dân số, 1/3 tổng GDP và 1/4 tổng thương mại thế giới. Cùng với BRI, Trung Quốc liên tiếp cho ra đời Ngân hàng Phát triển Cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB) củng cố và mở rộng vai trò của Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), Nhóm BRICS gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi…

Dưới góc nhìn của Trump và Chính quyền mới ở Mỹ, sự vươn lên của Trung Quốc và cách thức Trung Quốc thiết lập một hệ thống riêng không khác gì cách thức Mỹ từng làm trước đây khi Thế chiến II kết thúc để xác lập và củng cố vị trí siêu cường lâu dài sau đó. Và đây là điều không thể chấp nhận được với Trump cũng như bất kỳ chính quyền nào của Mỹ trước đó.

Tuy nhiên, trong khi các vị Tổng thống tiền nhiệm hoặc né tránh, hoặc không có một chiến lược rõ ràng rồi sau đó đối phó với Trung Quốc một cách nửa vời thì chiến lược của Trump lại hết sức rõ ràng với hai bước song song: (i) Đối đầu trực diện, tìm cách làm suy yếu đối phương về mọi mặt; và (ii) “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” (Make America Great Again) thông qua việc kiên trì thực hiện khẩu hiệu tranh cử “Nước Mỹ trên hết” (America First).

Thực chất của chiến lược này là tạo khoảng cách “an toàn” giữa Mỹ và đối thủ tiềm tàng đang bám ngay sát nách, khiến đối thủ không đủ sức mạnh và khả năng để tranh chấp hay thách thức vị trí số một của Mỹ một cách hiệu quả.

Làm suy yếu đối thủ tiềm tàng về mọi mặt

Đối với Chính quyền Trump, “mối đe dọa” lớn nhất, trực tiếp nhất và “nguy hiểm” nhất hiện nay đối với vị trí siêu cường và hệ thống quốc tế do Mỹ đóng vai trò chủ đạo không còn là chủ nghĩa khủng bố hay mối đe doạ từ Nga mà là từ Trung Quốc và điều này được nêu rõ trong Chiến lược an ninh quốc gia mới công bố đầu năm 2018. Thách thức này lớn hơn hẳn so với tất cả các thách thức mà Mỹ từng phải đương đầu từ sau Thế chiến II đến nay.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, mối đe dọa của Liên Xô chủ yếu từ góc độ an ninh và quân sự chứ chưa bao giờ là thách thức kinh tế. Còn Nhật, thì chỉ tạo ra thách thức kinh tế, thương mại đối với Mỹ trong một thời gian ngắn chứ còn xét về các khía cạnh khác như dân số, chiến lược hay ý thức hệ thì Nhật lại không hề có tham vọng thách thức hay soán ngôi Mỹ.

Trái lại, trong các cường quốc lớn trên thế giới hiện nay, chỉ duy nhất Trung Quốc vừa có sức mạnh kinh tế, lẫn sức mạnh quân sự với kho vũ khí hạt nhân hùng hậu, có dân số đông nhất thế giới, có lãnh thổ đủ rộng, có ý thức hệ khác biệt, hơn nữa Trung Quốc là cường quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ và có lẽ hiện là cường quốc duy nhất, ngoài Mỹ, có tham vọng trở thành cường quốc số một thế giới.

Trong 500 năm qua, lịch sử thể giới đã chứng kiến 16 cuộc đối đầu giữa một cường quốc đã được thiết lập và một cường quốc đang trỗi dậy và tìm cách soán ngôi, trong đó 12 cuộc đối đầu kết thúc bằng chiến tranh. Thực ra, ngay từ cách đây ba năm, tác giả của bài viết này cũng đã từng đưa ra cảnh báo về “bẫy Thucydides” và cuộc xung đột “định mệnh”, “không lối thoát” giữa Mỹ và Trung Quốc.

Đặt cạnh tranh Trung – Mỹ trong bối cảnh đó thì xung đột thương mại chỉ là “câu chuyện nhỏ”, còn câu chuyện lớn hơn là sự cạnh tranh chiến lược, đối đầu trực diện về mọi mặt, trong đó Mỹ là bên đóng vai trò chủ động.

Vậy tại sao Trump lại chọn cuộc chiến thương mại (trade war) và tại sao lại vào lúc này? Trước hết đây là thời điểm kinh tế Mỹ đang ở giai đoạn tốt nhất trong hai thập niên qua, tính từ các góc độ: niềm tin của người tiêu dùng, giới doanh nghiệp; sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán cao nhất mọi thời đại; tốc độ tăng trưởng kinh tế cao; tỷ lệ thất nghiệp thấp kỷ lục (3,7%)… Điều này có được một mặt là do cố gắng của chính quyền Trump, nhưng cũng có yếu tố may mắn khác là kinh tế Mỹ đang ở đỉnh cao của chu kỳ tăng trưởng. Trong khi đó , kinh tế Trung Quốc đang trong giai đoạn điều chỉnh, phát triển chậm lại sau giai đoạn phát triển quá nóng theo chiều rộng. Điều này có nghĩa Trump đang ở thế thượng phong để tung các “đòn độc” mà không sợ bị ảnh hưởng nhiều đến kinh tế Mỹ.

Còn chọn lĩnh vực thương mại thì theo tính toán của chính quyền Trump, đây là lĩnh vực Trung Quốc dễ tổn thương nhất do cán cân thương mại hai bên quá chênh lệch: Năm 2017, Mỹ xuất khẩu sang Trung Quốc 130 tỷ USD, còn nhập khẩu khoảng 506 tỷ USD, tức thâm hụt thương mại tới 376 tỷ USD. Trump cho rằng: (i) Là nước chịu thâm hụt thương mại lớn, Mỹ trong vai người mua mới ở vị trí thượng phong; (ii) Những hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc có thể dễ dàng thay thế bằng hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác; (iii) Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng hoá lớn nhất của Trung Quốc, và thương mại đóng góp tới 1/3 tăng trưởng kinh tế Trung Quốc.

Tuy nhiên, đích cuối cùng của Trump là đánh vào chuỗi sản xuất, cung ứng hàng hoá của Trung Quốc, chặn việc tiếp cận công nghệ cao để đi tắt đón đầu, và buộc Trung Quốc phải mở cửa thị trường, thay đổi cơ cấu kinh tế theo ý đồ của Mỹ. Nếu chấp nhận, nhiều khả năng kinh tế Trung Quốc sẽ bị kéo lùi, rơi vào tình trạnh, suy thoái, trì trệ như của Nhật Bản 30 năm trước. Đây là lý do mà Trung Quốc không thể chấp nhận và các cuộc đàm phán Mỹ-Trung về giải tỏa chiến tranh thương mại Mỹ-Trung cho đến nay không đạt kết quả.

Có thể dễ dàng nhận thấy, nếu kinh tế Trung Quốc bị kéo lùi lại do hệ quả của chiến tranh thương mại thì có thể dẫn đến những hệ quả ghê gớm: thất nghiệp tăng, nguy cơ bất ổn xã hội tăng cao, thị trường chứng khoán giảm tốc, đồng tiền mất giá, dự trữ ngoại hối sụt giảm, nguồn tiền đố vào chi tiêu quốc phòng cũng như đầu tư cho chiến lược “vành đai, con đường” sẽ không còn được dồi dào như trước.

Điều đáng chú ý là ngược lại với dự báo của hầu hết các nhà kinh tế, Trump càng siết chặt thuế quan đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc vào Mỹ thì kinh tế Mỹ lại càng nhận được tín hiệu tốt chứ không phải theo chiều ngược lại.

Một tín hiệu nữa không tốt cho Trung Quốc là Bộ trưởng thương mại Mỹ Wilbur Ross vừa “khoe” đã tìm ra “viên thuốc độc” (poison pill) để “trị” Trung Quốc, đó là “cấy” vào Hiệp định thương mại USMCA vừa ký giữa Mỹ, Mexico và Canada (thay cho Hiệp định NAFTA) một điều khoản cho phép hai nước còn lại có thể huỷ hiệp định 3 bên và ký hiệp định thương mại tự do song phương nếu một trong ba thành viên USMCA ký hiệp định thương mại tự do với nước có nền kinh tế “phi thị trường”, hàm ý chỉ Trung Quốc. Bộ trưởng Ross còn tiết lộ, Mỹ sẽ đưa điều khoản này vào các hiệp định thương mại tự do đang đàm phán với Nhật Bản và EU, nhằm mục đích gây sức ép tối đa lên Trung Quốc.

“Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”

Về cách tiếp cận, chính sách kinh tế của Trump sau khi nhậm chức không khác mấy so với người tiền nhiệm Ronald Reagan cách gần 40 năm trước với chính sách kinh tế Reaganomics, đó là: Ở trong nước, Reagan cắt giảm chi tiêu của chính phủ nhằm giảm thâm hụt ngân sách, trong khi giảm mạnh thuế doanh nghiệp từ 48% xuống còn 34% nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, sản xuất. Còn người dân, thuộc tất cả các giới được miễn giảm mạnh thuế cá nhân, trong đó giới giàu có, trung lưu, được hưởng lợi nhất, nhằm khuyến khích tiêu dùng trong nước. Ngoài ra Reagan còn tìm cách tăng lãi suất đồng USD trong nước rất cao, có lúc lên tới 21,5% nhằm thu hút tiền từ trong nước Mỹ và từ khắp thế giới với hai mục tiêu: (i) Tái cấu trúc và hiện đại nước Mỹ; (ii) Đổ tiền vào cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô.

Trong thời kỳ Reagan, ngoài chuyện củng cố sức mạnh kinh tế, Mỹ còn “đánh gục” Liên Xô bằng các đòn “hội đồng” như cùng OPEC phối hợp hạ giá dầu để triệt hạ nền kinh tế Liên Xô vốn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu dầu, đồng thời buộc Liên Xô phải tham gia vào cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ và cả khối NATO, cũng như gài bẫy để Liên Xô dính vào “cú lừa thế kỷ” về sáng kiến “Chiến tranh các vì sao” của Mỹ. Điều này đã buộc Gorbachev phải đi vào hòa dịu, giải trừ quân bị với Mỹ, rồi tiến tới “tự giải thể” khối quân sự Warsaw Pact, khối kinh tế Comecon giữa Liên Xô và các nước Đông Âu, cũng như Liên Bang Xô viết trong giai đoạn cuối những năm 1980, đầu những năm 1990.

Về cơ bản, Trump cũng có cách tiếp cận về kinh tế và quân sự tương tự Reagan, nhưng có một số điều chỉnh do bối cảnh quốc tế hiện nay, cũng như tương quan, so sánh sức mạnh tổng thế giữa Mỹ với các đồng minh, địch thủ cũng có những thay đổi căn bản.

Về kinh tế, với khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết” (America First) và cách làm quyết liệt đi đôi giữa nói và làm, Trump đang tìm cách lấy lại sức mạnh kinh tế cho nước Mỹ thông qua một loạt biện pháp chính như: (i) Giảm mạnh thuế doanh nghiệp từ 35% xuống còn 21%; (ii) Giảm đồng loạt thuế thu nhập cá nhân, với tổng số thuế cắt giảm lên tới 1.500 tỷ USD trong thời gian tám năm từ 2018-2025: (iii) gỡ bỏ đáng kể các luật lệ, rào cản đối với doanh nghiệp; (iv) rút khỏi hoặc bỏ qua các hiệp định thương mại đa phương, đàm phán lại các hiệp định tự do thương mại song phương, nhấn mạnh đến yếu tố “công bằng”, đảm bảo quyền tiếp cận thị trường nước ngoài tốt hơn cho hàng hóa Mỹ; (v) Gây sức ép bằng hình thức thuế quan để ép các công ty Mỹ và công ty nước ngoài chuyển dây chuyền sản xuất, công nghệ hoặc mở nhà máy trên đất Mỹ.

Với hàng loạt biện pháp mang tính quyết liệt, và phần nào đó khá cực đoan, Trump đã ghi được bảng thành tích kinh tế khá tốt dẫu mới cầm quyền chưa được hai năm. Cụ thể là:

– Tỷ lệ thất nghiệp tính đến đầu tháng 10/2018 giảm xuống còn 3,7%, mức thấp nhất trong 50 năm qua.

– Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2017, năm đầu tiên Trump nắm quyền, là 2,3%, cao hơn rất nhiều so với tốc độ 1,5% năm 2016 trước đó. Con Quý II, tốc độ tăng trưởng đạt 4,2%, mức cao nhất kể từ năm 2014.

– Lòng tin của người tiêu dùng và doanh nghiệp hiện ở mức cao nhất tính từ thời điểm năm 2000.

– Chỉ số công nghiệp Dow Jones của thị trường chứng khoán Mỹ hiện vào khoảng 26.500 điểm, tức cao khoảng 33% so với đỉnh cao 20.000 điểm dưới thời Obama.

Thành tích kinh tế này trái ngược với đà đi xuống của kinh tế Trung Quốc, cũng như thực trạng tương đối ảm đạm của hầu hết các nền kinh tế lớn khác.

Trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng, Trump không chỉ mạnh tay chi tiêu cho quốc phòng với ngân sách quốc phòng năm 2018 và 2019 lần lượt là 640 tỷ và 716 tỷ USD, tức gấp khoảng 5 lần so với ngân sách quốc phòng lớn thứ hai thế giới của Trung Quốc. Không chỉ một mình tăng ngân sách quốc phòng, Trump còn bằng mọi cách gây sức ép buộc các đồng minh chủ chốt như Hàn Quốc, Nhật, và các nước đồng minh trong NATO tăng ngân sách quốc phòng để tạo sức mạnh cộng hưởng và đã thành công ở mức độ nhất định khi một số nước châu Âu thành viên NATO đẩy nhanh mức chi ngân sách quốc phòng từ mức trên dưới 1% hiện nay lên mức 2% tổng GDP trước năm 2024. Cách lập luận của Trump rất đơn giản, nhưng hiệu quả: Nếu muốn dựa vào ô an ninh của Mỹ thì trước hết các đồng minh phải thực sự quan tâm đến củng cố quốc phòng của mình thông qua việc tăng ngân sách cho lĩnh vực này. Nếu như đến an ninh của mình mà họ cũng không quan tâm thì cũng chẳng có lý do để Mỹ phải bận tâm.

Đáng chú ý là cách tiếp cận và tìm cách xích lại gần Nga của chính quyền Trump. Trong nội bộ Mỹ, không khí và quan hệ thù địch với Nga hiện khá cao do những cáo buộc Nga can thiệp cuộc bầu cử 2016 để Trump lên nắm quyền vẫn chưa được giải tỏa. Tuy nhiên, Trump vẫn nhắm đến Nga với nhiều mục tiêu khác nhau:

Thứ nhất, Trump cho rằng Nga tuy bị suy yếu nhiều, nhưng xét từ góc độ quân sự, Nga vẫn là cường quốc quân sự duy nhất có thể đưa nước Mỹ “trở về thời kỳ đồ đá” nếu xảy ra xung đột quân sự. Do đó, để quan hệ Mỹ-Nga ở tình trạng đối đầu lâu dài sẽ không có lợi.

Thứ hai, việc xích lại gần Nga sẽ làm cho các nước châu Âu thành viên NATO lo ngại và do vậy không cần gây thêm sức ép cũng buộc họ tự tăng ngân sách quốc phòng.

Thứ ba, việc đi với Nga còn là cách để Mỹ tạo sức ép tối đa lên Trung Quốc – quốc gia được xem như địch thủ chiến lược lớn nhất của Mỹ vào lúc này. Nhìn cách Trump đi với Nga để tạo sức ép lên Trung Quốc lúc này thấy không khác mấy so với cách mà Mỹ dưới thời Nixon và Kisinger tìm cách khai thông quan hệ với Trung Quốc trong những năm 1970 để cô lập và tạo sức ép tối đa lên Liên Xô, để rồi nước này đi vào con đường thỏa hiệp với Mỹ và tự tan rã vào năm 1991.

Hiện còn quá sớm để đánh giá hết những tác động từ các bước đi của Trump trong việc củng cố sức mạnh Mỹ. Ngay cả thời Reagan, dù ra khỏi Chiến tranh Lạnh với tư cách người chiến thắng, nhưng nước Mỹ cũng “thương tích đầy mình”, chẳng hạn như nợ công cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế suy giảm… Còn Trung Quốc là cường quốc thứ hai, có nhiều sức mạnh vượt trội chứ không phải là cường quốc chỉ dựa vào sức mạnh quân sự và lệ thuộc và dầu khí như Liên Xô trước kia. Tuy nhiên, các tác động của cuộc chiến thương mại này với cả hai, đặc biệt là với Trung Quốc, với nền kinh tế thế giới và các cấu trúc khu vực và toàn cầu thì ngày càng rõ nét.

  1. Cuộc chiến thứ năm: Xây dựng một trật tự quốc tế mới

Hoàn toàn không quá lời khi nói rằng trật tự thế giới hình thành từ thời hậu Thế chiến II đến nay với các thiết chế trụ cột như Liên Hợp Quốc, NATO, WTO, IMF, WB, cùng nhiều thoả thuận quốc tế khác… là trật tự trong đó Mỹ đóng vai trò “Kiến trúc sư trưởng”, là “người khởi xướng”, và cũng là người được hưởng lợi chính từ trật tự này. Chắc chắn Mỹ sẽ không có bất cứ vấn đề gì với hệ thống và các thiết chế này chừng nào mà vai trò và địa vị số 1 thế giới của Mỹ vẫn được duy trì và đảm bảo.

Tuy nhiên, từ đầu những năm 2000 khi Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ đe dọa vị thế siêu cường số 1 thế giới của Mỹ và đồng thời sức mạnh của Mỹ suy giảm tương đối so với Trung Quốc và các cường quốc khác thì Trump và ê-kíp của mình, ngay từ khi bắt đầu tham gia tranh cử Tổng thống, lại đổ lỗi cho chính hệ thống quốc tế mà Mỹ đã góp tay xây dựng nên là “tội đồ” của những yếu kém của nước Mỹ. Họ cho rằng đã đến lúc cần phải đặt lại vấn đề, xem xét lại một cách căn bản toàn bộ hệ thống quốc tế và các thiết chế cũ xem các thiết chế này có còn phù hợp với lợi ích của Mỹ nữa hay không, tức còn có giá trị trong việc giúp Mỹ duy trì ngôi vị bá chủ thế giới của mình. Theo quan điểm của chính quyền Trump, các thiết chế do chính Mỹ lập ra trước kia chỉ phù hợp với bối cảnh cũ, nhưng nay các thiết chế này đã đóng xong vai trò lịch sử, không còn phù hợp, thậm chí đi ngược lại với lợi ích của Mỹ thì Mỹ cần đặt lợi ích quốc gia của mình lên trên (America First) và mạnh tay “vứt bỏ” các cam kết không cần thiết.

Ngay từ năm 1987 học giả Mỹ Paul Kennedy đã viết cuốn sách “Sự thăng trầm của các cường quốc” (The Rise and Fall of the Great Powers) trong đó cho rằng một trong những nguyên nhân khiến các cường quốc suy vong là do đế quốc trải rộng và các cường quốc này thực thi các cam kết quốc tế vượt quá khả năng của mình. Tác giả cũng đưa ra lời cảnh báo để Mỹ không đi vào con đường tương tự. Cảnh báo này cũng trùng hợp với tư duy của Trump khi cho rằng các nước khác được hưởng lợi bởi hệ thống quốc tế hiện nay phải có nghĩa vụ đóng góp nhiều hơn và không có lý gì để Mỹ phải sử dụng tiền đóng thuế của người dân bảo vệ cho những quốc gia có mức thu nhập đầu người thậm chí còn cao hơn của nước Mỹ.

Như vậy, có thể thấy Trump thực hiện một chính sách tương đối nhất quán cả về đối nội, lẫn đối ngoại: Đó là tìm cách làm nước Mỹ mạnh lên từ bên trong và đặt lợi ích quốc gia lên trên các cam kết quốc tế. Đáng chú ý là trong quá trình xem xét lại các cam kết quốc tế của Mỹ, Trump nhận thấy nước Mỹ có quá nhiều cam kết quốc tế “vô bổ”, gây tốn kém không ít cho ngân sách liên bang.

Việc tấn công tổng lực vào một loạt các thiết chế quốc tế lớn như Liên hợp quốc, UNESCO; vào các hiệp ước, các thiết chế lâu đời với đồng minh, láng giềng như NATO, nhóm G-7, NAFTA; vào các thỏa thuận với đối tác, bạn bè như TPP (chuẩn bị bước vào giai đoạn ký kết)… ngay từ ngày đầu tiên bước chân vào Nhà Trắng đã biến Trump thành nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa quốc gia nhiệt thành, “kẻ” chủ trương ủng hộ nghĩa biệt lập, và là một trong những nhà lãnh đạo Mỹ “đáng ghét” nhất trên thế giới. Tháng 1/2018, Viện thăm dò dư luận Gallup tiến hành khảo sát ý kiến của người dân 134 nước trên thế giới và kết quả là tỷ lệ trung bình ủng hộ lãnh đạo Mỹ giảm mạnh từ 48% năm 2016 xuống còn 30% vào 1/2018.

Tuy nhiên, Trump dường như có một mục tiêu và lộ trình được lập trình từ trước nên tỏ ra không mấy bận tâm vào việc lãnh đạo hay người dân các nước nghĩ về mình hay nước Mỹ, miễn là việc mình làm phục vụ lợi ích của nước Mỹ, đặt nước Mỹ lên trên hết (America First). Dù chưa định hình rõ nét, nhưng có thể thấy sơ bộ một số bước đi chính của Trump trong việc “xoá bàn cờ làm lại”, đặt ra luật chơi mới với 5 bước đi sau:

Một là, rút nước Mỹ ra khỏi các thiết chế/cam kết quốc tế không phù hợp với lợi ích của nước Mỹ

Rõ nhất trong hai năm đầu tiên cầm quyền là Trump rút khỏi các thoả thuận “đình đám” như Hiệp định thương mại Xuyên Thái Bình Dương TPP đã được hoàn tất vào phút chót chỉ chờ được phê chuẩn; cắt đóng góp của Mỹ và rút khỏi Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học của Liên hợp Quốc UNESCO; Hiệp định chống biến đổi khí hậu; rút khỏi Thoả thuận hạt nhân P5+1 ký năm 2015 với Iran; Hội đồng nhân quyền… Chính từ các hành động này nên Trump bị xem là người theo đuổi chủ nghĩa đơn phương, làm cho Mỹ bị cô lập trên quốc tế, trái với cách tiếp cận đa phương, can dự tích cực của người tiền nhiệm.

Trong quyết định rút khỏi TPP, chính quyền Trump cho rằng ngành công nghiệp chế tạo của Mỹ sẽ bị ảnh hưởng và Mỹ sẽ bị mất nhiều việc làm phổ thông do doanh nghiệp sẽ tìm cách chuyển sản xuất sang những nước thành viên có lương thấp trong TPP. Còn với Hiệp định chống biến đổi khí hậu, Trump ngay từ đầu đã cho rằng các bằng chứng khoa học về biến đổi khí hậu là lòe bịp (a hoax) và không đáng tin cậy, và việc thực hiện các cam của Thỏa thuận chống biến đổi khí hậu vừa gây tốn kém cho doanh nghiệp, vừa làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế Mỹ. Với Iran, Mỹ cho rằng thỏa thuận P5+1 chỉ giúp làm chậm lại chứ không thể giúp cản bước Iran nghiên cứu, sản xuất vũ khí hạt nhân. Đáng chú ý, việc áp đặt cấm vận xuất khẩu dầu của Iran còn nhằm vào Trung Quốc nước đầu tư tới 106 tỷ USD vào ngành dầu khí Iran, cũng như giúp ngành xuất khẩu dầu và khí hoá lỏng của Mỹ “cất cánh” sau khi Mỹ có đột biến về tăng sản lượng dầu đá phiến và hoàn tất việc lắp đặt đường ống dẫn dầu Keystone nối từ Alberta (Canada) tới tận Cảng Arthur (Texas) miền Nam nước Mỹ.

Hai là, gây sức ép, đàm phán lại các hiệp định/thoả thuận/định chế cũ

Đáng chú ý nhất là thành công của Trump trong việc đàm phán lại Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ NAFTA với tên gọi mới là Hiệp định USMCA giữa Mỹ, Mexico và Canada ký ngày 30/9/2018 vừa qua. Các cuộc đàm phán để đi đến Hiệp định mới USMCA này cho thấy Trump quả là một cao thủ về đàm phán quốc tế. Trước hết Trump không tìm cách đàm phán ba bên đồng thời, mà tiến hành hai cuộc đàm phán riêng rẽ với Mexico và Canada, trong đó nhằm vào Mexico là mắt xích yếu nhất. Đồng thời trong suốt quá trình đàm phán Mỹ không ngừng gây sức ép, công kích công khai lãnh đạo Canada. Việc đạt được thỏa thuận trước với Mexico đã gây sức ép rất lớn và đặt Canada vào thế phải kết thúc đàm phán với điều kiện của Trump nếu không sẽ bị gạt ra rìa.

Với lợi thế có được trong tay USMCA, các bước tiếp theo của Mỹ có thể nhìn thấy trước là Mỹ sẽ tiến hành hai cuộc đám phán song phương đồng thời với Nhật và EU, trong đó Mỹ sẽ tìm cách cài tiếp “viên thuốc độc”, tức tìm cách ngăn không để cho hai nền kinh tế lớn này ký thỏa thuận thương mại tự do với Trung Quốc. Sau khi có được thoả thuận thương mại với Nhật Bản và EU, bước tiếp theo là Mỹ, lúc này đã ở thế thượng phong, gây tiếp sức ép lên Trung Quốc, buộc nước này phải mở cửa và cải cách theo các điều kiện do Mỹ đặt ra. Đối với WTO, nếu không đáp ứng các điều kiện do Mỹ đặt ra, thậm chí không loại trừ khả năng Mỹ sẽ vận động Nhật, EU và các nước khác lập ra chế định mới thay thế cho tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này.

Trong các vấn đề quân sự hay quan hệ với đồng minh trong NATO, G-7 Trump cũng tỏ ra “thờ ơ” bề ngoài, nói lấp lửng hay nước đôi vê các cam kết bảo vệ đồng minh của Mỹ. Mục đích của Trump là gây sức ép buộc đồng minh tăng ngân sách quốc phòng, chia sẻ nhiều hơn gánh nặng và trách nhiệm an ninh quốc tế với Mỹ, song song với việc ép các đồng” tự nguyện” mở cửa thị trường, thực thi các biện pháp nhằm giúp Mỹ giảm thâm hụt thương mại.

Ba là, cắt giảm cam kết tài chính, gây sức ép cải tổ các định chế quan trọng

Một trong những tổ chức quốc tế lớn nhưng nhận nhiều chỉ trích nhất của chính quyền Trump về sự quan liêu, quản lý yếu kém… là Liên Hợp Quốc (LHQ). Mỹ sở dĩ có tiếng nói quan trọng ở LHQ vì Mỹ là quốc gia đóng góp ngân sách lớn nhất, lên tới 22% tổng ngân sách hàng năm cho tổ chức này (5,6 tỷ USD năm 2017) và là thành viên của Hội đồng Bảo an.

Sự bất bình của Mỹ cũng có lý do riêng. Tuy đóng góp nhiều cho ngân sách của LHQ song ảnh hưởng của Mỹ tại đây lại không như Mỹ mong muốn, đặc biệt trong các cuộc bỏ phiếu liên quan đến tranh chấp Israel-Palestine. Ngoài ra, Mỹ thấy nhiều nước không có sự đóng góp tương xứng vào ngân sách LHQ so với tỷ lệ GDP của họ trong tổng GDP toàn cầu. Song song với sức ép về chính sách kêu gọi LHQ cải tổ trong 3 lĩnh vực là Quản lý, An ninh và Phát triển Mỹ cũng đồng thời tuyên bố cắt giảm đóng góp lên tới 5% tổng ngân sách của LHQ (285 triệu USD), chủ yếu dành cho lĩnh vực gìn giữ hòa bình bắt đầu từ năm 2018.

Sống như con vật hay chết như con người?

FB Chau Doan

Bài này dài lắm, nhưng tôi xin các bạn đọc hết, suy ngẫm và nếu có thể hãy chia sẻ giúp tôi. Xin cảm ơn các bạn.

Bạn bè hối thúc tôi viết về Luật An ninh mạng (ANM), có người còn cho rằng tôi sợ nên đã chùn tay không dám viết về luật này. Tôi không viết không phải vì tôi sợ mà bởi có việc đi dịch cabin một tuần qua, một công việc mà tôi rất thích bởi vừa có thu nhập tốt lại vừa khiến kiến thức được mở rộng và để dịch song song thao thao bất tuyệt cùng với người nói luôn là một thử thách thú vị. Sự rèn luyện não luôn là một điều tôi thích làm.

Hơn nữa, sợ vốn là từ tôi ghét nhất trên đời. Tôi thích câu nói của một người bạn, nhà thơ Vũ Thi: Sống là không sợ mà đã sợ thì đừng sống.

Tôi đã đọc nhiều và thấy mình có thể đóng góp ở khía cạnh là Luật An ninh mạng sẽ có nguy cơ xâm hại tới quyền riêng tư của công dân. Vậy tại sao quyền riêng tư lại quan trọng và cần thiết với mỗi chúng ta?

Khi một xã hội dân trí chưa phát triển thì người dân ít nhận ra cái quyền này và không biết cách bảo vệ quyền này của mình, dễ thoả hiệp với những kẻ xâm phạm quyền này. Có một số điểm cần nhớ về quyền riêng tư.

1. Giới hạn về quyền lực

Khi Luật ANM được ra đời, Cục ANM sẽ có một quyền hạn vô cùng lớn với mỗi cá nhân trong xã hội và từ quyền hạn này sẽ sinh ra quyền lực khi mà quyền hạn bị lạm quyền. Chắc hẳn các bạn đã nghe việc những người đi biểu tình, thậm chí chỉ ngồi ở quán cà phê gần nơi có biểu tình bị bắt vào đồn, bị đánh đập khi không cung cấp mật khẩu điện thoại cho công an để họ có thể mở ra xem các tin nhắn.

Đấy là một sự lạm quyền rất đáng ghê tởm, là sự xâm hại nhân quyền, quyền riêng tư của một người còn đang có đầy đủ quyền công dân trong xã hội. Vậy với cái đà lạm quyền này, khi Luật ANM mang ra đời, thì điều gì sẽ xảy ra? Đấy sẽ là một thảm hoạ với mỗi người trong chúng ta. Chúng ta sống mà nơm nớp lo sợ khi có kẻ biết hết mọi thông tin về mình. Ai đấy sẽ nói rằng nếu không làm điều gì xấu thì sợ gì?

Nói vậy là ngây thơ tới mức ngu dại. Vấn đề là ở đây là xấu hay tốt với ai. Với bạn là tốt nhưng lại là xấu với những người cầm quyền không có lương tâm. Chẳng phải những con người lên tiếng vì môi trường, phản đối những bất công trong xã hội thường bị chụp mũ là “phản động” đấy sao? Mỗi cơ quan thực thi pháp luật cần có một giới hạn về quyền hạn của mình. Rồi đây ai sẽ kiểm soát quyền hạn của Cục ANM và rồi ai sẽ bảo vệ người dân khỏi sự lạm quyền?

Chẳng phải ở Việt Nam, những người thực thi pháp luật lại là những người vi phạm luật pháp nhiều nhất đấy sao? Những cơ quan tố tụng lại là những cơ quan thường xuyên vi phạm luật pháp trong nghiệp vụ đấy sao?

Nếu chúng ta im lặng, ấy là chúng ta trao cho công quyền một công cụ để đàn áp tiếng nói lương tri, là tiếp tay cho một thứ làm chậm sự phát triển của xã hội.

Trong xã hội, một kẻ nào đấy càng biết về chúng ta, hắn càng có quyền lực với chúng ta. Những dữ liệu riêng tư giúp chúng ta tạo ra những quyết định quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Dữ liệu này sẽ tác động tới thanh danh của chúng ta, nó được dùng để tác động tới quyết định và định hình hành vi của chúng ta. Nó có thể được dùng như là một công cụ để kiểm soát chúng ta. Và khi dữ liệu đấy vào những kẻ xấu, nó có thể gây ra những sự tổn hại ghê gớm với cuộc sống của chúng ta.

2. Sự tôn trọng cá nhân

Sự riêng tư chính là điểm mấu chốt tác động tới những cá nhân. Nếu một người muốn giữ một số điều cho riêng mình, đấy là quyền của họ và nếu họ bị chối bỏ hay xâm phạm, ấy là một sự thiếu tôn trọng. Tất nhiên, ở đây cần phân biệt rạch ròi giữa điều riêng tư và những “bí mật” có thể gây hại cho xã hội.

Qua những gì xảy ra ở tôi thấy công an thường không có khái niệm về việc tôn trọng cá nhân. Việc họ tự cho mình cái quyền được tước điện thoại, ép người dân cho mật khẩu để vào đọc tin nhắn của người vẫn còn đầy đủ quyền công dân cho thấy điều ấy.

3. Hình ảnh cá nhân

Những điều riêng tư chính là điều một người cần và có quyền làm chủ để bảo vệ danh tiếng, hình ảnh của họ. Việc mọi người đánh giá như thế nào về một người sẽ tác động tới cơ hội công việc, đời sống tình cảm và nói chung là cuộc sống của họ. Khi những điều riêng tư bị phơi bày có chủ đích sẽ ảnh hưởng xấu và tác động một cách không công bằng tới một người. Xã hội và nhất là những kẻ xấu sẽ lợi dụng những chi tiết này để phán xét, bôi nhọ ai đấy khi những thông tin này bị lộ ra.

Chính vì vậy mà tại sao mỗi người cần có một giới hạn với xã hội. Tại sao chúng ta cần ngôi nhà của mình, khi ta có thể ăn mặc tuỳ ý, nói những điều ta thích. Khi những thông tin cá nhân bị dòm ngó, thì cuộc sống của chúng ta sẽ không có nơi nào được gọi là “nhà”, không có mối quan hệ nào được gọi là riêng tư và ta sẽ có cảm giác không phải là người mà là một loại động vật bị quản lý bằng công nghệ.

Ta là con người, ta có quyền làm chủ đời ta, ta có những điều thầm kín chỉ mình ta được biết và mang theo ta xuống mồ. Nếu ta mất cái quyền ấy ta sẽ cảm thấy bị hạ nhục, bị đày đoạ trong kiếp sống được gọi là kiếp người này.

4. Sự tin tưởng

Trong quan hệ nào cũng có những điều riêng tư cần bảo vệ. Thậm chí trong quan hệ công việc giữa luật sư với khách hàng, bác sỹ với bệnh nhân, chuyên gia tư vấn tâm lý và người bệnh... đều có quy định không được tiết lộ bí mật. Vậy tại sao một thằng bỏ mẹ nào đấy ngồi ở cái cục được gọi là Cục ANM lại có quyền biết những điều riêng tư của chúng ta? Hắn ta có phải là chúa trời không? Khi ta đi xưng tội với cha xứ, mà ngài là đại diện của Chúa, ngài còn phải giữ bí mật của ta cơ mà.

5. Quyền suy nghĩ và phát ngôn

Xã hội loài người chỉ có thể phát triển được, mỗi cá nhân chỉ có thể phát triển được khi có quyền tìm tòi, suy ngẫm, trao đổi thông tin, đặt câu hỏi, kết luận và phát ngôn. Giờ với Luật ANM, mọi trao đổi giữa chúng ta trên mạng xã hội có thể được dùng là bằng chứng một cách khiên cưỡng để quy kết tội cho mỗi người. Con người sẽ lo sợ, đề phòng và đóng kín bản thân lại. Đến chế độ phát xít cũng không trừng phạt con người dựa trên tư tưởng và suy nghĩ của họ. Có bạn sẽ bảo rằng có thể tôi suy diễn nhưng nếu bạn đã được chứng kiến sự lạm quyền của cơ quan công an ở Việt Nam, bạn sẽ hiểu điều tôi nói là không quá xa xôi.

Dáng hình phụ nữ (cho ngày 20-10)

FB Khanh Nguyen

Hồi đầu năm, trong một cuộc trò chuyện với bà Hoàng Thị Bình Minh, thân mẫu của tù nhân lương tâm Lê Thu Hà, tôi có hỏi bà rằng điều gì khiến một người phụ nữ yếu ớt, kín tiếng như bà lại đột nhiên trở thành một người viết đơn gửi cho Liên Hợp Quốc, xuất hiện trên video để kêu gọi công lý cho con mình? Nói bằng giọng run rẩy, và đôi lúc như muốn chực khóc, bà Bình Minh nói rằng trong sự tuyệt vọng, sức mạnh kỳ lạ nào đó đã bừng lên trong người, khiến bà phải hành động.

Chi tiết ít được kể lại, là trong một chuyến thăm nuôi Lê Thu Hà, bà sững sờ khi nghe Hà hỏi “sao mẹ không đấu tranh cho con?”. Trên đường về bà Bình Minh khóc và nhận ra rằng bấy lâu nay, bà vẫn ở trong vai của một người mẹ cam chịu, đau đớn im lặng nhìn con mình bị tù đày, chịu bất công mà không biết phải làm gì.

Như hàng triệu bà mẹ khác ở bên kia vĩ tuyến 17, bị truyền đời cuộc sống sợ hãi nhà cầm quyền, luôn thủ phận trong cuộc sống vốn đã quá đỗi khó khăn của mình, bà Bình Minh cũng chỉ biết gói ghém những phần thức ăn hàng tháng cho Hà, gói nỗi niềm của mình và quay về với nước mắt câm lặng.

Nhưng chuyến đi đó là một bước ngoặc. Bà Binh Minh quay về và viết xuống lá đơn kêu cứu gửi đi ra bên ngoài Việt Nam. Bà xuất hiện trên một video và nói rành mạch “con tôi vô tội. Hãy cứu lấy con tôi”. Rồi từ ngày hôm đó, bà ngẩng đầu nhìn sự nghi ngại của hàng xóm, nhìn nhân viên an ninh lạnh lùng đến nhà bằng niềm kiêu hãnh và an nhiên. Tình mẫu tử đã biến bà thành một người mẹ tranh đấu.

Vào ngày Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tự do, rời Việt Nam, tôi chú ý nhìn vào nhiều hình ảnh và tin tức mô tả, gương mặt bà Tuyết Lan, thân mẫu của Như Quỳnh như biểu lộ sự lùi lại, chọn im lặng: Bà đã nói đủ trong giai đoạn của mình. Suốt từ lúc Như Quỳnh bị bắt cho đến khi ở tù, bà là tiếng nói của Quỳnh đến với mọi người, là tiếng gõ cửa mọi trái tim con người. Trên các đài phát thanh, các hình ảnh và kể cả trong bộ phim “Mẹ vắng nhà”, không biết bao nhiêu nước mắt của bà đã rơi xuống với câu hỏi, vang như tiếng chuông báo tử của kẻ ác “con tôi đã làm gì sai?” Chỉ có tình mẫu tử vĩ đại mới có thể khiến người mẹ dấn bước vào chỗ gian truân, xướng tên con mình cho đến khi hoàn thành, người mẹ im lặng lùi về chỗ của mình. Người mẹ như biển lớn, mẹ của mọi con thuyền.

Làm sao có thể đếm hay kể hết được về những bà mẹ như vậy, trên đất nước này, vào những ngày tháng hôm nay chập chùng khổ nạn và công lý bị chà đạp. Chỉ nhắc tên họ thôi, chúng ta - nhân dân - cũng đủ quặn đau và hiểu rõ đất nước này đang ở đâu.

Một trong những người phụ nữ mà tôi sợ phải nói chuyện lại với bà, là mẹ của tử tù Hồ Duy Hải. Bởi câu chuyện, tiếng khóc và lòng kiên nhẫn cuồn cuộn bầm đau của bà khiến người đối diện cảm thấy mình tệ mạt vô cùng, vì đã không đủ sức như Thor, một búa đập nát mọi cái ác và xây dựng lại từ đầu. Hơn 10 năm đứng ở đầu ngõ, ngủ lề đường, bán cả gia sản để đi kêu oan cho con mình, bà Nguyễn Thị Loan đã phải kiên nhẫn từng câu chữ trong cả núi đơn từ của mình. Thậm chí bà phải kiên nhẫn với cả những gương mặt công an nhiều lần đến nhà tra hỏi “ai xúi giục bà đi kiện, ai xúi bà đi kêu oan?”. Trong những lần nói chuyện, bà luôn nấc nghẹn lên với hai chữ “trời ơi”. Tôi cũng thường im lặng - bất lực vào lúc đó. Vì tôi không biết nói sao cho bà hiểu rằng ở đất nước này không còn bầu trời. Đất nước này chỉ có Đảng Cộng sản. Nhưng có gọi Đảng Cộng sản thay “trời” khi đau thương thì như chỉ tạo thêm dòng năng lượng hãnh tiến, tiếp sức cho sự thống trị mà thôi.

Làm sao có thể kể hết những câu chuyện như vậy, những con người như vậy mà nỗi đau vẫn chồng chất, như oằn mình theo dáng hình của đất nước này. Có soạn văn tế cho những người còn đang sống, có lẽ chúng ta cũng không đủ thời gian để đọc hết được những cái tên.

Vụ tống xuất Mẹ Nấm có liên quan EVFTA?

Phạm Chí Dũng

clip_image002

Mẹ Nấm và gia đình được chào đón tại phi trường quốc tế IAH, Houston.

Đã có một sự trùng hợp kỳ lạ giữa vụ chính quyền độc đảng ở Việt Nam tống xuất tù nhân lương tâm Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh sang Mỹ và việc Ủy ban châu Âu thông qua hai thỏa thuận về thương mại và đầu tư EU - Việt Nam tại Bỉ: cả hai sự kiện này đều xảy ra vào buổi trưa ngày 17 tháng Mười năm 2018. Trùng hợp ngẫu nhiên hay lại đổi chác?

Đúng giữa trưa.

Trùng hợp ngẫu nhiên chăng?

Có thể xem là ngẫu nhiên, nếu đã chưa từng tồn tại, chính sách bất thành văn ‘đổi nhân quyền lấy thương mại’ của chính quyền Việt Nam. Thậm chí, chính sách này đã tồn tại một cách dày đặc và có hệ thống từ những năm 2000 sau khi bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Hoa Kỳ và bắt đầu ký Hiệp định song phương thương mại Việt - Mỹ, cho đến năm 2006 khi Việt Nam được Mỹ chấp thuận cho tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), sau đó là giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016 khi Việt Nam kỳ vọng được Mỹ cho tham gia vào hiệp định TPP…

Trong suốt thời gian trên, ‘bản lĩnh và trí tuệ của Đảng’ đã tiến hóa đến mức luôn chọn cách thả tù nhân lương tâm - những người bất đồng chính kiến - để đổi lấy những lợi ích thương mại mà cộng đồng quốc tế dành cho chế độ này. Đặc biệt vào năm 2014, đã có đến 12 tù nhân chính trị được trả tự do để mưu tính đổi chác TPP.

Còn bây giờ, khi TPP đã trở nên nỗi thất vọng không sao hiểu nổi, chỉ còn lại EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - châu Âu), mà khoảng thời gian tháng Mười và Mười Một năm 2018 sẽ quyết định số phận được ký hay không đối với nó, và nếu được ký thì khoảng thời gian trước tháng Năm năm 2019 sẽ quyết định số phận EVFTA có được Nghị viện châu Âu phê chuẩn hay không.

Không khí điều trần ngày 10/10 ra sao?

Từ giữa năm 2018, trùng với hoạt động của một nhóm chuyên gia của Liên minh châu Âu (EU) đến Việt Nam để kiểm tra lại tiến trình Việt Nam thực hiện những yêu cầu của EU về ‘thẻ vàng hải sản’ của EU, Ủy ban Thương mại quốc tế châu Âu đã bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc họp quan trọng về điều trần EVFTA - nhân quyền tại Brussels, Bỉ sẽ diễn ra vào tháng Mười năm 2018. Cũng từ thời điểm đó, chính quyền Việt Nam đã khởi động một chiến dịch vận động vừa công khai vừa ngầm kín để EVFTA được Ủy ban Thương mại quốc tế châu Âu ký chính thức và đệ trình hiệp định này lên Nghị viện châu Âu để phê chuẩn cuối cùng.

Đó cũng là lúc bắt đầu có tin Như Quỳnh có thể được tự do.

Ngay sau khi Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được tự do, một bản tường trình của Mạng lưới blogger Việt Nam - tổ chức xã hội dân sự độc lập mà Như Quỳnh đã tham gia ngay từ ngày đầu - cho biết chính quyền Việt Nam đã thông báo với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ từ tháng Bảy năm 2018 về việc sẽ trả tự do cho Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, nhưng chưa biết vào thời điểm nào.

Cũng theo bản tường trình trên, từ tháng Bảy đến tháng Mười năm 2018, có ít nhất vài lần phía chính quyền Việt Nam thông báo cho Mỹ là ‘sẽ thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh’ vào một ngày xác định, nhưng ngay sau đó đã thất hứa.

Lời hứa có giá trị duy nhất của phía Việt Nam là lần hứa cuối cùng được đưa ra vào ngày 11/10/2018: sẽ thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh vào ngày 17/10/2018.

Vì sao lại có thái độ ‘thiện tâm’ đến thế từ phía nhà cầm quyền Việt Nam?

Nếu biết rõ rằng từ trước tới nay chưa từng có một trường hợp tù chính trị - bất đồng chính kiến nào được chính quyền Việt Nam giang tay phóng thích mà không có lý do đủ sâu xa; và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh - một người hoạt động nhân quyền quá nhiệt thành và bằng nhiều bài viết phản biện lẫn tố cáo của mình đã giúp cho người dân miền Trung để phản đối thảm họa xả thải của nhà máy Formosa, người mà vào đầu năm 2017 đã được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh tặng danh hiệu ‘Người phụ nữ can đảm thế giới’, cũng là người mà đã bị chính quyền Việt Nam thâm thù sâu sắc đến độ giáng cho cô cái án tù giam đến 10 năm trời, thì càng không thể xảy ra chuyện tự nhiên nà cầm quyền trả tự do cho cô.

Không biết vô tình hay hữu ý, ngay trước ngày 11/10 trên là ngày 10/10 - thời điểm mà Ủy ban Thương mại quốc tế châu Âu tổ chức phiên điều trần EVFTA - nhân quyền, với sự tham gia của Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam là Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh. Trong buổi điều trần này, đoàn đàm phán Việt Nam đã hoàn toàn thất bại khi không thể chứng minh được là Việt Nam đã ‘cải thiện nhân quyền’ như thế nào, càng cho thấy Việt Nam đã chẳng thèm quan tâm đến các yêu cầu về cải thiện nhân quyền do EU đòi hỏi như Việt Nam phải ký 3 công ước quốc tế về lao động liên quan đến các quy định của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), vấn đề nhân quyền và vấn đề môi trường.

Trong cuộc họp trên, điều mà những người tham gia đặt câu hỏi muốn biết là Việt Nam sẽ làm gì để cải thiện nhân quyền; kế hoạch cụ thể để cải thiện nhân quyền là gì; Việt Nam cần thể hiện bằng hành động để chứng minh sẽ và có thể thực hiện các cam kết. Ngoài ra cũng yêu cầu rằng 3 công ước còn lại của ILO cần phải được Việt Nam ký chính thức trước khi EU bỏ phiếu chấp thuận EVFTA.

Một người tham dự cuộc họp là bà Granwander Hainz đã chỉ thẳng ra rằng những lời hứa về ILO của Việt Nam chỉ là lời hứa suông từ trước giờ vì chưa có gì được thực hiện, cũng như các cam kết về nhân quyền chỉ toàn có tiêu đề mà không có nội dung cụ thể.

Thậm chí bà Maria Arena thuộc Đảng Xã hội của Vương quốc Bỉ, là thành viên của Nghị Viện Liên Âu còn nói thẳng: “Năm nay là năm 2018, từ năm 2012-2018 chúng tôi nhận thấy các tiêu chí về quyền Nghiệp đoàn và nhân Quyền của Việt Nam vẫn chưa tiến bộ một cách đầy đủ. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể chờ thêm 6 tháng nữa để Việt Nam thực hiện lời hứa. Nhưng không chỉ là lời hứa mà là sự đảm bảo, ngay cả trước khi Nghị Viện Liên Âu phê chuẩn hiệp định này. Nghị viện Liên Âu cần Việt Nam có những chỉ dấu tích cực chứ không chỉ là lời hứa. Chúng tôi có thể cho thêm thời gian, nhưng thời gian đó phải được Việt Nam sử dụng để có những hành động cho thấy được sự nỗ lực của họ”.

Vụ tống xuất Mẹ Nấm có liên quan EVFTA?

Sau ngày 10/10, một sự kiện ‘ngoài lề’ khác đã diễn ra chuyến công du của thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đến hai nước thuộc EU là Áo và Bỉ.

EVFTA là lợi ích kinh tế quá thiết thân đối với sự tồn tại của ngân sách và cũng là của chế độ độc đảng ở Việt Nam. Trên danh nghĩa là dự Hội nghi cấp cao ASEM lần thứ 12 và Hội nghị P4G, nhưng rất có thể Nguyễn Xuân Phúc nhắm đến mục tiêu lớn nhất trong chuyến đi châu Âu lần này là thuyết phục bằng được - nếu không phải là Ủy ban Thương mại quốc tế châu Âu thì cũng là một số nước trong EU - để ‘sớm ký kết và triển khai EVFTA’.

Hai sự trùng khớp về thời điểm ‘sẽ thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh’ và ‘Nguyễn Ngọc Như Quỳnh lên máy bay’ với sự khởi đầu và sự kết thúc của cuộc họp Ủy ban Thương mại quốc tế châu Âu vào ngày 17/10 có thể hé lộ một bí mật: sau khi không đáp ứng được bất kỳ yêu cầu nào của EU về cải thiện nhân quyền và nhận thấy rõ là chính vì nguồn cơn đó mà sẽ khiến EVFTA không thể được ký kết lẫn thông qua, chính quyền Việt Nam đã giở ra con bài dự trữ tiềm năng là ‘thả Mẹ Nấm’ - mặc dù trường hợp của Quỳnh được xem là một ‘ca’ của người Mỹ, do chính phủ Mỹ đòi hỏi chứ không phải do yêu cầu của EU.

Câu trả lời từ Việt Nam cho EU!

Không chỉ thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh để lấy lòng Mỹ và EU, đặc biệt nhằm thuyết phục Ủy ban châu Âu làm tờ trình cho Hội đồng châu Âu về hai thỏa thuận trong EVFTA, rất có thể chính quyền Việt Nam đã phải giở thêm một con át chủ bài mà trước đó chẳng bao giờ họ muốn đặt lên bàn: hứa hẹn ký 3 công ước quốc tế về quyền lao động mà EU đòi hỏi.

Hẳn đó là cơ sở để “Chúng tôi đang bàn về chuyện này một công khai với những người tương nhiệm của phía Việt Nam và thỏa thuận thương mại sẽ không làm cho Việt Nam bỗng chốc trở thành một nền dân chủ. Nó là một công cụ trong hộp công cụ mà chúng tôi có trong quan hệ với Việt Nam và các nước khác” - Trưởng đặc trách thương mại EU Cecilia Malmstrom nói trong một cuộc họp báo, được đài VOA đưa tin. Theo đó, “các bên đã nhất trí về một thỏa thuận liên quan để thúc đẩy dân chủ và nhân quyền, bao gồm các cam kết, đối thoại và các chế tài khả dĩ”.

EVFTA và hậu EVFTA?

Ánh Liên

Với việc Ủy ban Châu Âu thống nhất thông qua việc trình lên Hội đồng Châu Âu chấp thuận để ký chính thức, Việt Nam cơ bản đã có những thắng lợi cơ bản và tích cực từ hiệp định này. Không có quá nhiều rắc rối cũng như những tác động khiến cho hiệp định này bị chệch hướng vào cuối năm (thời điểm dự định ký kết).

EVFTA có gì hay?

Trong thông cáo mới nhất của Ủy ban Âu Châu tại website của tổ chức này vào ngày 17.10, cho biết các thông tin bao quát về mặt thương mại và nhân quyền [1]. Có một số điểm đáng chú ý như, về mặt mua sắm công, các công ty thuộc EU có thể đấu thầu công khai các hạng mục với các Bộ và DNNN Việt Nam và thỏa thuận này là cơ sở nâng cao tính minh bạch và công bằng về thương mại ở các nước phát triển.

Nhân quyền nằm ở mục 5 và 6, theo đó, EU và Việt Nam ‘nhất trí toàn diện về một chương trình thương mại với sự cam kết đầy đủ’ bao gồm: thực hiện các tiêu chuẩn lao động cốt lõi và các công ước của ILO; thực hiện Hiệp định Paris về môi trường; ngăn chặn sự phá hoại luật lao động và môi trường trong thu hút thương mại và đầu tư; sự tham gia của xã hội dân sự trong tham vấn về thương mại và phát triển bền vững giữa hai bên.

clip_image002

Ảnh minh họa.

Nhìn chung, tại mục 5 đa phần là những cam kết liên quan đến lao động và môi trường, điều mà EU cho rằng, nó sẽ hỗ trợ hoặc thúc đẩy tính thương mại bền vững, tuy nhiên, không có quá nhiều sự kỳ vọng về mặt chuyển biến tích cực liên quan đến nhân quyền trong xã hội Việt Nam, bởi bấy lâu nay - sự tham gia của XHDS trong tham vấn thương mại và môi trường vẫn mang tính hình thức (tức các góp ý, kiến nghị chỉ nảy sinh ở thời điểm diễn ra hội thảo hơn là sự tác động đối với giới lãnh đạo, hoặc các góp ý sẽ được ghi nhận nếu nằm trong danh sách 'không mang tính nhạy cảm' - được lựa chọn trước đó bởi chính quyền), mặc dù nó diễn ra đều đặn ở các thành phố.

Do vậy, nếu nhà nước Việt Nam đẩy mạnh bình đẳng giới, hoặc thực hiện thỏa ước lao động (liên quan đến sửa Luật lao động) thì nó cũng cơ bản là đáp ứng tốt các yếu tố mà Mục 6 nêu ra. Tức là thúc đẩy dân chủ và tôn trọng nhân quyền ghi nhận, ‘một liên kết thể chế và pháp lý giữa Hiệp định tự do và Hiệp định đối tác và hợp tác EU-Việt Nam. Điều này đồng nghĩa, Việt Nam có thể tránh được tình huống xấu là bị 'đình chỉ Hiệp định Thương mại’.

Vậy Hiệp định đối tác và hợp tác EU-Việt Nam có gì? Đó là chuỗi dài những điều mà hai bên cam kết hợp tác, phạm vi khá rộng, và hầu hết là sự hợp tác về các giá trị pháp lý liên quan đến môi trường, giải quyết hậu quả chiến tranh, quyền động vật, văn hóa, năng lượng, thuế… Trong khi đó, nhân quyền chỉ được đề cập ở Điều 33 và 35, tại Điều 33 là nhân quyền bình phong liên quan đến hợp tác về bình đẳng giới - yếu tố mà Hà Nội làm rất tốt để nâng cao điểm số nhân quyền trong mắt quốc tế (như đề cập ở trên). Điều 35 Hợp tác về nhân quyền chỉ là sự lặp lại những hình thức trình bày nhân quyền mà Việt Nam đã làm nhuần nhuyễn trước đó: thúc đẩy và giáo dục nhân quyền; tăng cường thể chế nhân quyền; đối thoại nhân quyền hiện có; hợp tác thể chế liên quan đến nhân quyền LHQ.

Điều này cho thấy, giá trị nhân quyền thực chất mà người đòi hỏi nhân quyền tại Việt Nam mong muốn được thể hiện khá lỏng lẻo và mơ hồ, và 'trụ cột' thứ 2 được xác định trong EVFTA là 'củng cố sự tham gia của nhà nước và xã hội dân sự vào quá trình hợp tác' không không có quá nhiều chuyển biến tích cực khi hiệp định này đi vào đời sống.

Người viết chỉ kỳ vọng yếu tố liên quan đến cốt lõi ILO (mà chủ yếu là hình thành các tổ chức thương lượng tập thể không thuộc nhà nước quản lý để bảo vệ quyền công dân), cơ sở để đảm bảo lợi quyền cho giới công nhân và người lao động Việt Nam tốt hơn.

Hậu EVFTA Việt Nam có gì?

Việt Nam rõ ràng hưởng lợi nhiều về thương mại và đầu tư liên quan đến Hiệp định lần này. Nếu hỏi đúng thì EU chấp nhận toàn bộ quan điểm mà Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh đưa ra khi trả lời bà Judith Kirton-Darling (thành viên nghị viện EU): Chúng tôi chưa bao giờ (tôi không nhớ) đã ký bất kỳ cam kết nào về nhân quyền, vì WTO không tập trung vào vấn đề nhân quyền.

EVFTA cũng không tập trung quá nhiều nhân quyền như kỳ vọng, hoặc nhân quyền đó là những nhân quyền ‘không nhạy cảm’ mà Hà Nội có thể đáp ứng được.

Vấn đề đặt ra, sau EVFTA, áp lực nào sẽ đến với Việt Nam?

Ngày 17.10, bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một nhà hoạt động nhân quyền bị kết án 10 năm tù được ‘hộ tống’ lên máy bay để sang Mỹ.

Mỹ một lần nữa lại là một nước có thể gây áp lực với Việt Nam hơn cả khối EU. Với cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, Việt Nam nhận được yếu tố thuận lợi, tuy nhiên - sự thuận lợi này có thể bị giảm thiểu khi quan hệ Liên Triều ấm lên, mà trong một động thái gần nhất, tập đoàn Samsung đang úp mở về việc di chuyển nhà máy Samsung từ Việt Nam về ‘người anh em Bắc Triều Tiên’. Cần nhớ, Samsung là một trong hai tập đoàn (cùng với Formosa) có đóng góp lớn cho tăng trưởng GDP năm 2017 và 6 tháng đầu năm 2018. Nói cách khác, tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào các ông lớn FDI như Samsung và Formosa.

clip_image004

Nhân quyền Việt Nam phụ thuộc vào Mỹ hơn là chịu tác động từ EVFTA

Nhưng chưa dừng tại đó, trang tin Bloomberg vừa có bài viết về ‘cây gậy và củ cà rốt’ mà Mỹ thực hiện để lôi kéo đồng minh trong cuộc chiến với thương mại với Trung Quốc. Theo đó, Điều 32.10 của Thỏa thuận Mỹ - Mexico - Canada (USMCA) quy định các nước thành viên phải được hai nước kia nhất trí mới được đàm phán thương mại với một nền kinh tế bị coi là ‘phi thị trường’. Chẳng hạn như nếu Canada muốn ký thỏa thuận thương mại song phương với Trung Quốc, họ sẽ phải đệ trình dự thảo thỏa thuận để cả Mỹ và Mexico xem xét. Nếu hai nước này không hài lòng với các điều khoản trong đó, họ sẽ ‘đá’ Canada ra khỏi USMCA. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross ví điều 32.10 trong USMCA là ‘điều khoản thuốc độc’, còn giới quan sát cho đó là một sự răn đe có tính abor toàn.

Quyết định của Trump về thương mại đã khiến dân chủ ở Việt Nam thụt lùi?

Simon Denyer, David Nakamura (Washington Post)

Mai Hưng dịch

Việt Nam đã hứa hẹn nhiều hơn những quyền cho người lao động. Nhưng với việc TPP tồn tại mà không có Mỹ nữa, VN cộng sản đã tung ra một chiến dịch đàn áp.

Đó là một trong những hành động đầu tiên của Trump (trên cương vị Tổng thống): rút khỏi Hiệp ước Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp ước thương mại bao trùm 12 quốc gia, một hiệp ước mà đã trở thành yếu tố quan trọng nhất trong “tái cân bằng chiến lược” của Tổng thống Barack Obama đối với châu Á.

Trump đã cáo buộc rằng những hiệp ước như vậy đã gây tổn hại cho ngành chế tạo của Mỹ, và ngày 23 tháng 1 năm 2017, tại Văn phòng Bầu dục, Trump đã ký lệnh rút khỏi TPP.

“Điều mà chúng tôi vừa thực hiện là một điều tuyệt vời đối với giới công nhân Mỹ”, Trump đã nói như vậy.

Bằng hành động đó, Trump đã khởi động một cơn bão kinh tế và chính trị mà hiện vẫn còn gây chấn động tại Việt Nam.

clip_image002

Không còn bị trói buộc bởi các điều kiện do chính quyền Obama áp đặt để tham dự vào hiệp ước thương mại này, Chính phủ Cộng sản Việt Nam đã loại bỏ kế hoạch cho phép các tổ chức công đoàn độc lập hoạt động và tung ra một chiến dịch khủng bố gắt gao nhất trong nhiều thập kỷ đối với giới bất đồng chính kiến. Chính phủ Cộng sản Việt Nam đã bắt giữ đến vài chục nhà hoạt động xã hội, các blogger và những người ủng hộ dân chủ, kết án nhiều người với các bản án tù giam nặng nề từ 10 đến 20 năm.

Việt Nam là một ví dụ về sự xao lãng, một sự không mấy quan tâm (đến Việt Nam) của một số những quyết định sớm nhất của Trump (kể từ khi đắc cử Tổng thống). Hiệp ước xuyên Thái Bình Dương (TPP), nhanh chóng trở nên mờ nhạt, biến mất khỏi các tít lớn của báo chí Mỹ khi Trump tung ra các đợt trận chiến thương mại với quy mô và cường độ cao nhắm vào Trung Quốc, Châu Âu, Mexico và Canada. Nhưng các nhà ngoại giao và các nhà hoạt động lại cho rằng sự thay đổi chính sách đột ngột (của Trump) đã có một hiệu ứng làn sóng lan tỏa sâu rộng.

“Ngay sau khi Mỹ vừa mới rút khỏi TPP, quý vị đã có thể nhận thấy một sự thay đổi căn bản trong cung cách mà chính phủ [cộng sảnViệt Nam] đối xử với những công nhân, những nhà hoạt động trong giới lao động và công đoàn”, Đỗ Thị Minh Hạnh, 33 tuổi, một nhà hoạt động trong giới lao động, đã nói như vậy trong một quán cafe tại thành phố Hồ Chí Minh. “Rất nhiều người đã bị quấy rối, tiếp theo đó là bị cầm tù và bị đe dọa”.

Sự thay đổi chính sách của Trump không phải là yếu tố duy nhất trong các hoạt động đàn áp (của Chính phủ Cộng sản) Việt Nam - những người theo đường lối cứng rắn đã chiếm ưu thế trong Đảng Cộng sản (VN) và lo ngại về sự gia tăng các hoạt động xã hội và các cuộc biểu tình chống đối. Trump cũng không phải là người duy nhất chịu trách nhiệm về số phận của TPP.

Obama đã không thuyết phục được một Quốc hội và công chúng (Mỹ) đầy hoài nghi về giá trị của TPP trước khi rời nhiệm sở, với kết quả là sáng kiến chính sách ngoại giao châu Á mang tên ông đã bị dư luận rộng rãi cho là không mấy hiệu lực. Thật vậy, đó là tâm trạng phổ biến của dư luận mà ứng cử viên (Tổng thống) Hillary Clinton đã cho thấy ý định của bà muốn triệt thoái khỏi một thỏa thuận mà bà đã từng ca ngợi là “khuôn vàng thước ngọc” của các hiệp ước thương mại.

Khi được hỏi về quyết định (rút ra khỏi) TPP và tình trạng đàn áp tại Việt Nam, Garrett Marquis, một phát ngôn viên của Hội đồng An ninh Quốc gia, nói rằng các hiệp ước thương mại không nhất thiết là sẽ mang lại hiệu quả cho công cuộc cải cách dân chủ. Ông lấy ví dụ việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, và nói rằng việc đó “chứng tỏ rằng việc tăng cường nền thương mại quốc tế không phải lúc nào cũng dẫn đến tự do hóa các quốc gia độc tài độc đảng. Trong thực tế, nó có thể trì hoãn công cuộc tự do hóa bằng cách làm cho đảng cầm quyền mạnh hơn lên”.

Những điểm cộng và những điểm trừ của TPP là những vấn đề còn phải bàn cãi. Nhưng một số điều đang trở nên rõ ràng hơn.

Quyết định của Hoa Kỳ để thương thảo và sau đó rút lui khỏi TPP đã gây ra một cú sốc lớn đối với sự tin cậy của Mỹ tại châu Á, một điều mà Trung Quốc đã không ngần ngại để khai thác.

Các nhà hoạt động nói rằng quyết định này đã phải trả một cái giá bằng số phận thực tế của các nhà hoạt động dân sự Việt Nam.

clip_image004

Chính phủ Mỹ đã sử dụng các cuộc đàm phán về quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương để đảm bảo những lời hứa từ lãnh đạo Việt Nam rằng Hà Nội sẽ sẽ cho phép nhiều quyền lao động và các cải cách khác. Ảnh: Linh Phạm/Washington Post

Khi TPP còn đang được đàm phán, một phong trào chớm nở của các nhà hoạt động Việt Nam đã sử dụng truyền thông xã hội để truyền bá ý tưởng về các quyền của người lao động, về tính minh bạch, về trách nhiệm giải trình và thậm chí về một nền dân chủ. Chính phủ Hoa Kỳ (lúc đó cũng) đã thiết kế một thỏa ước thương mại sao cho được đảm bảo bởi những hứa hẹn từ giới lãnh đạo (cộng sản) Việt Nam rằng nó sẽ cho phép các công đoàn độc lập hoạt động, cho phép tăng cường kiểm soát môi trường và cho phép một mạng Internet tự do và cởi mở.

Khi TPP bị bỏ rơi, động lực đó bị đảo ngược.

Minh Hạnh đã nhìn thấy việc các nhà hoạt động đồng nghiệp trong giới công nhân bị bắt và bị các án tù dài hạn. Cô đã phải đối mặt với sự quấy rối liên tục, bao gồm cả bị tấn công bởi những người đàn ông đeo mặt nạ ném đá và chất nổ khi cô đang ở nhà của cha cô.

Lê Đình Lượng, một nhà hoạt động khác trong lĩnh vực môi trường, bị buộc tội lật đổ (chế độ nhà nước) và bị kết án 20 năm tù. Ông không được phép liên lạc với người vợ của mình, người mà đang lo sợ về sức khỏe mong manh của ông, nghĩa là ông có thể chết trong tù.

“TPP đã có thể là một luồng gió nào đó tạo sức đẩy cho các cánh buồm của các nhà hoạt động xã hội Việt Nam, các nhà hoạt động công đoàn và các nhà môi trường”, Brad Adams, giám đốc điều hành khu vực châu Á thuộc Tổ chức Nhân quyền (quốc tế) cho biết như vậy. “Việc rút khỏi TPP là một trở ngại lớn”.

“Động lực đối với công cuộc cải tổ 2.0”

Obama đã tính toán, đã thiết kế TPP như một cơ hội để Hoa Kỳ viết ra các quy tắc thương mại trong khu vực phát triển nhanh nhất của thế giới và nâng cao các tiêu chuẩn lao động và môi trường sao cho các công ty Mỹ không bị ảnh hưởng. Nhưng thỏa thuận này cũng là một nỗ lực ngụy trang mỏng manh nhằm ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc, bằng cách hình thành một trật tự khu vực dựa trên luật lệ để loại trừ Bắc Kinh.

Những người có tư tưởng tự do trong Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi TPP là một động lực, một sự tưởng thưởng mà Chính phủ (Cộng sản Việt Nam) cần có để mang lại một sự thay đổi, với việc nó (TPP) đề xuất, tạo ra một sự truy cập, một sự tiếp cận lớn hơn đối với một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam: (đó là) Hoa Kỳ.

“TPP là động lực đối với công cuộc cải cách 2.0, đối với môi trường kinh doanh, đối với công cuộc chống tham nhũng, đối với công cuộc cải cách lao động”, ông Trần Viết Thái, Phó tổng giám đốc Viện Nghiên cứu Chiến lược đối ngoại thuộc Học viện Ngoại giao Việt Nam, một cơ quan nghiên cứu thuộc bộ ngoại giao (VN) cho biết như vậy.

Hiệu ứng lan tỏa

Việt Nam cam kết không chỉ cho phép các tổ chức công đoàn độc lập mà còn loại bỏ lao động trẻ em và cung cấp cho các công ty tư nhân một cơ hội lớn hơn để cạnh tranh với khu vực doanh nghiệp do nhà nước cộng sản điều hành. Các công dân được hứa hẹn một mạng “Internet tự do và cởi mở”.

clip_image006

Việt Nam, một quốc gia có hơn 95 triệu người, có nền kinh tế phát triển nhanh chóng và Hoa Kỳ là một trong những thị trường xuất khẩu hàng đầu của nước này. Ảnh: Linh Phạm/The Washington Post

Vào tháng 2 năm 2016, Hoa Kỳ và 11 quốc gia khác đã ký hiệp ước đó (TPP). Nó còn phải được quốc hội các quốc gia đó phê chuẩn. Nhưng lần đầu tiên kể từ thời chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ đã có được một đòn bẩy thực sự để buộc Đảng Cộng sản (VN) trao cho người dân một sự tự do chính trị lớn hơn.

Nhưng sau đó, chính quyền Trump đã triệt thoái khỏi TPP.

Ted Osius, đại sứ Mỹ tại Việt Nam lúc đó cho biết: “Nó (chính quyền Trump) đã bất thần rút bỏ sự ủng hộ đối với các nhà cải cách (VN)”.

Các vụ bắt giữ nhà hoạt động

Trong quá trình đàm phán TPP, Osius đã liên tục nhấn mạnh sự cần thiết phải có được một hiệp ước thương mại được Quốc hội phê chuẩn, và ông sẽ mang các lá thư của các thành viên của Quốc hội (Mỹ) sang cho Chính phủ Việt Nam để nhấn mạnh sự chú ý của họ (các thành viên của Quốc hội Mỹ) đối với các vấn đề nhân quyền.

“Đó đã là một thông điệp rất mạnh mẽ”, Osius, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp được Tổng thống Obama bổ nhiệm làm đại sứ (Mỹ tại VN) đã nói như vậy. “Nó không hàm ý rằng họ (Chính phủ Cộng sản VN) đã mở toang tất cả cánh cửa các nhà tù, nhưng họ đã phải cân nhắc, phải suy xét về quan điểm của Mỹ trước khi họ đưa ra quyết định. Tôi không nghĩ đó còn là vấn đề được quan tâm kể từ khi chúng ta (Mỹ) rút ra khỏi TPP”.

Nhưng ở Việt Nam, các lực lượng khác vẫn đang hoạt động.

Các cuộc biểu tình đã nổ ra vào mùa xuân năm 2016 sau một vụ xả thải hóa chất độc hại gây ra một thảm họa môi trường tồi tệ nhất của đất nước (VN), với việc môi trường biển tại suốt một dải lớn bờ biển bị bức tử (thảm họa môi trường Formosa - người dịch). Sự cố xảy ra tại một nhà máy do một công ty Đài Loan điều hành, nhưng sự giận dữ đã nhắm vào Chính phủ Việt Nam vì cách thức ứng phó chậm chạp, thiếu minh bạch và tham nhũng.

Đó là cơn giận dữ lớn nhất trong bốn thập kỷ cai trị của Đảng Cộng sản (4 thập kỷ, tức là tính từ sau 1975 - người dịch).

Trong nội bộ Bộ Chính trị (của Đảng) cầm quyền của Việt Nam, những phần tử bảo thủ cứng rắn đã giành được thế thượng phong trong giai đoạn chuyển giao quyền lực chính trị vào tháng 1 năm 2016, trong khi Obama vẫn còn đang ở trong Nhà Trắng. Họ (cộng sản VN) không có ý định dung thứ cho một cuộc nổi dậy.

Dấu hiệu đầu tiên của một chiến dịch đàn áp đã diễn ra thậm chí ngay trước khi Trump thắng cử trong cuộc đua vào Nhà trắng, với sự giam giữ của một blogger được biết đến với cái tên Mẹ Nấm (“Mother Mushroom”) vào tháng 10 năm 2016. Nhưng không cần phải đến mùa hè năm 2017, việc bắt giữ các nhà hoạt động đã bắt đầu trở nên dày đặc và chóng vánh.

Theo Tổ chức Ân xá Quốc tế thì Mẹ Nấm, (“Mother Mushroom”), tên thật là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, trong quá khứ đã từng bị bắt giữ, nhưng lần này thì khác, bà đã phải lãnh một bản án 10 năm được tuyên vào tháng 6 năm 2017 vì “tiến hành tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa”. Bà là một trong số ít nhất 29 nhà hoạt động xã hội Việt Nam đã bị bắt giữ trong năm 2017 vì các bài viết và các hoạt động của họ vì các mục đích nhân quyền, môi trường và dân chủ.

Một tháng sau, vào tối ngày 24 tháng 7 năm 2017, nhà hoạt động môi trường Lê Đình Lượng đang trên đường về nhà thì bị một tá các nhân viên an ninh mặc thường phục ngăn chặn, đánh đập và đưa ông đi mất tích, người vợ của ông cho biết như vậy. Ông Lượng là một doanh nhân thành đạt (nhưng) nay đã trở thành một nhà tổ chức cộng đồng và một blogger.

Bà Nguyễn Thị Quý, 53 tuổi, vợ của ông, trong một cuộc phỏng vấn tại Hà Nội, cho biết rằng “Ông ấy (Lê Đình Lượng) muốn giúp đỡ những người khác, những người yếu thế và nghèo khổ, để chống lại sự bất công. Con trai và con dâu của chúng tôi (của ông bà Lê Đình Lượng) cũng đã bị đánh đập khi họ tìm hỏi cảnh sát về nơi hiện đang giam giữ ông Lê Đình Lượng”.

Ông Lê Đình Lượng, năm nay 52 tuổi và bị bệnh gút, bị kết án 20 năm tù vì “thực hiện các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

Vào năm 2013, Nguyễn Văn Đài, một luật sư, cùng với một số nhà hoạt động khác, đã thành lập Hội anh em dân chủ (“Brotherhood for Democracy”), và đã đi nhiều nơi trên đất nước (VN) để truyền bá những kiến thức cho những người khác về những phương cách để bảo vệ các quyền của họ.

clip_image008

Luật sư Nguyễn Văn Đài.

Vào ngày 5 tháng Tư, sau một phiên tòa, ông Đài, cùng với năm lãnh đạo khác của nhóm, đã bị kết án 15 năm tù. Ông Đài và một trong số những đồng nghiệp của ông đã được nhà cầm quyền trả tự do sang Đức - một phần là trên những lý do về sức khỏe (thật là một sự nhân đạo cộng sản! - người dịch) và một phần là nhờ có áp lực quốc tế, ông Đài nói. (Nhưng nếu không có áp lực quốc tế thì liệu cái “lý do về sức khỏe” kia có đủ để đưa ông Đài sang Đức hay không - người dịch).

Nếu Chính phủ Mỹ (của Trump) không rút ra khỏi TPP, thì “Việt Nam sẽ phải thực hiện nhiều cam kết về cải thiện nhân quyền, cải thiện tình cảnh của những người lao động”, ông Đài nói trong một cuộc phỏng vấn tại căn nhà hai phòng khiêm tốn ngoại ô Frankfurt. “Nó sẽ là một cơ hội để thay đổi đất nước của chúng tôi”.

Việt Nam vẫn có ý định tham gia vào một phiên bản TPP mà sẽ vận hành nhưng không có Hoa Kỳ. Nhưng thỏa thuận đó đã loại trừ nhiều những bước đi khó khăn mà (Chính phủ Cộng sản) Việt Nam đã cam kết, kể cả các quyền của người lao động.

Hai phong cách, hai Tổng thống

Trong khi những phản ứng dội ngược ngày càng gia tăng, Heather Nauert, người phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao (Mỹ) đã nhiều lần nói rằng chính quyền (Trump) “vô cùng quan ngại” về việc cáo buộc và tuyên án đối với các nhà hoạt động xã hội Việt Nam, khi họ kêu gọi Chính phủ (Cộng sản Việt Nam) cho phép các cá nhân “thể hiện quan điểm của họ một cách tự do mà không sợ bị trả thù”.

Chính quyền Trump cũng gây áp lực để Việt Nam phải tôn trọng tự do tôn giáo, một viên chức trợ lý cao cấp của Nhà Trắng nói, với điều kiện giấu tên vì người này không được phép bình luận về hồ sơ này. Nhưng viên chức này thừa nhận rằng Hà Nội đã phần lớn phớt lờ áp lực từ bên ngoài.

“Tình hình là tồi tệ”, viên chức này nói. “Tôi nghĩ đó là một trở ngại đối với mối quan hệ đối tác chặt chẽ hơn với Việt Nam”.

Ông Adams, người của Tổ chức Nhân quyền quốc tế, cho biết Chính quyền Cộng sản (VN) hiện nay phần lớn đã coi thường các khiếu nại của Bộ Ngoại giao (Mỹ).

Ông Adams nói: “Khi họ (Chính quyền Cộng sản VN) nhìn nhận Trump, họ thấy đó là một Tổng thống Hoa Kỳ, người đã cho thấy ngày càng rõ hơn và rõ hơn rằng ông ta (Trump) không quan tâm đến các vấn đề nhân quyền và dường như nhìn nhận ông ta (Trump) như những người hùng”.

clip_image010

Tổng thống Barack Obama gặp Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tại Nhà Trắng vào tháng 7 năm 2015. Ảnh: Saul Loeb/AFP/Getty Images

Câu chuyện đằng sau hai cách hành xử của Hoa Kỳ đối với TPP cũng là một câu chuyện về hai phong cách khác nhau đáng kể của hai Tổng thống.

Mặc dù có những lo ngại lâu dài về thành tích nhân quyền của Việt Nam, nhưng ông Obama quyết định rằng ông muốn đất nước Mỹ phải tham gia vào TPP, để tách biệt TPP (gồm 12 quốc gia) ra khỏi Trung Quốc.

Hồi tháng 7 năm 2015, Obama đã phá vỡ một tiền lệ để gặp Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam tại Washington. Tổng thống Mỹ đã dành bốn giờ để chuẩn bị cho cuộc gặp và có một thông điệp quan trọng để truyền đạt. Ông nói với Nguyễn Phú Trọng rằng Hoa Kỳ “tôn trọng” các hệ thống chính trị khác nhau, ba người có mặt tại cuộc gặp đó đã cho biết như vậy.

Nhân quyền và các quyền tự do dân chủ vẫn là những điều quan trọng, Obama nói, nhưng Washington không tìm cách lật đổ (chính quyền của) Đảng Cộng sản (VN).

Cuộc gặp đó đã mở đường cho một loạt các thỏa thuận song phương mang tính đột phá, theo Evan Medeiros, người mà sau này sẽ là giám đốc cấp cao phụ trách các vấn đề châu Á tại Hội đồng An ninh Quốc gia.

Chúng bao gồm việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí vào năm 2016 và một văn thư (phụ lục) đính kèm (“a side letter”) của thỏa thuận TPP, trong đó Hà Nội hứa sẽ sửa đổi các luật lệ của mình để cho phép các tổ chức công đoàn độc lập hoạt động.

Những tín hiệu từ Trump

Những chống đối ban đầu của Trump đối với TPP là nó (TPP) sẽ là một thỏa thuận tồi tệ đối với giới doanh nghiệp, giới công nhân và người nộp thuế ở Mỹ. Trong một cuộc tranh luận của chiến dịch vận động tranh cử Tổng thống của Đảng Cộng hòa vào tháng 11 năm 2015, ông Trump than phiền rằng TPP đã thất bại trong việc giải quyết các hoạt động thao túng tiền tệ của Trung Quốc - mặc dù Bắc Kinh không phải là một phần của thỏa thuận TPP này. Sau đó, ông Trump đã viết trên tài khoản Tweet rằng ông hàm ý rằng Trung Quốc sẽ “đi vào cửa sau vào một ngày nào đó sau này”.

Vào thời điểm Trump nhậm chức, việc rút ra (khỏi TPP) là một “kết quả biết trước chắc chắn”, Thomas Shannon, một nhà ngoại giao lâu năm, người đã từng là quyền bộ trưởng ngoại giao vào thời điểm đó đã nói như vậy.

Trump “đã lượng định rõ ràng rằng TPP đã chết khi đến được phòng họp của Quốc hội chúng tôi (Mỹ)”, Shannon nói. “Tại sao ông ấy lại cứ phải đi đầu tư vốn liếng chính trị của mình vào một thỏa thuận mà ông ấy không hề thương thảo và đã nhận được rất nhiều lợi ích chính trị từ những cuộc tấn công như vậy như một ví dụ khác về việc giới tinh hoa phụ trách chính sách đối ngoại (của nước Mỹ) đang đàm phán các hiệp định mà phần lớn là theo một cách thức bí mật?”.

Cách tiếp cận của chính quyền Trump đối với Việt Nam tương tự như của chính quyền Obama xét trên hai phương diện: (1) Nó nhấn mạnh một cách đáng kể tới mối quan hệ quân sự và an ninh ngày càng tăng, và (2) nó giúp các nhà lãnh đạo Việt Nam tiếp cận được các nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Chính phủ Hoa Kỳ.

Nhưng trên những phương diện khác, nó rất khác biệt.

clip_image012

Tổng thống Trump với Chủ tịch nước Việt Nam, ông Trần Đại Quang, tại Hà Nội trong chuyến đi 5 nước của nhà lãnh đạo Hoa Kỳ tại châu Á. Ảnh: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images

Hồi tháng Năm năm 2017, Trump đã tiếp Thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Xuân Phúc, tại Nhà Trắng. Osius, người cũng có mặt tại đó, cho biết rằng H.R McMaster - cố vấn an ninh quốc gia lúc đó, chỉ có năm phút để thông báo tóm tắt cho Trump. Một số nội dung của cuộc thông báo đó được Trump trao qua đổi lại với giọng điệu, sắc thái bỡn cợt.

“Rõ ràng là Tổng thống (Trump) không biết là ai sẽ đến gặp ông ta, không biết nội dung cuộc gặp là gì và thậm chí không quan tâm đến những vấn đề sâu xa”, ông Osius nói.

Các quan chức Nhà Trắng thì lại phủ nhận rằng Trump đã không mấy được chuẩn bị. Một trợ lý cao cấp của Nhà Trắng cho biết rằng Tổng thống (Trump) được thông báo về các cuộc gặp sắp tới với các nhà lãnh đạo nước ngoài trong các phiên họp giao ban ngắn gọn về các hoạt động trọng điểm nhiều tuần trước đó. Việc chuẩn bị của McMaster chỉ là một sự đánh giá cuối cùng, quan chức này cho biết như vậy.

Tháng 11 năm 2017, Trump tiếp Chủ tịch Trần Đại Quang tại Hà Nội như là một phần của chuyến thăm đến 5 nước châu Á. Một tuyên bố chung nói rằng “hai nhà lãnh đạo công nhận tầm quan trọng của việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người”.

Nhưng điều rõ ràng là Trump đã tập trung vào những vấn đề khác. Trong khi Obama, trong chuyến thăm Việt Nam vào năm 2016, đã gặp gỡ các nhà hoạt động xã hội dân sự và thanh niên, thì Trump lại nhấn mạnh đến việc cắt giảm thâm hụt thương mại và bán thiết bị quân sự của Mỹ.

“Chúng tôi muốn Việt Nam mua (nhiều hơn) từ phía chúng tôi, và chúng tôi đành phải loại trừ sự mất quân bình trong cán cân thương mại”, Trump nói. “Ngoài ra, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ có một mối quan hệ tuyệt vời”.