16/12/2018

Boristo Nguyễn đã bé cái nhầm

Nguyễn Huệ Chi

Chúng tôi xin đăng bài dưới đây của  GS Nguyễn Huệ Chi để chấm dứt một cuộc tranh luận đã dài trên chủ đề này; thông tin và luận cứ của hai bên đã đầy đủ và công khai trên mạng. Mặt khác chúng tôi hy vọng ông Boristo Nguyễn và báo VN TP HCM đủ tự trọng để không còn làm những việc như lợi dụng sự kiện thiền sư Thích Nhất Hạnh vừa trở về chùa cũ tĩnh dưỡng, để tuyên truyền cho những ý đồ phi học thuật đã cũ của mình.

Diễn Đàn

I

Bài “Có phải GS Nguyễn Huệ Chi tìm ra tên của Tuệ Trung Thượng sĩ là Trần Tung” của Boristo Nguyen công bố trên Văn nghệ TP HCM ngày 1-12-2018 trước sau chỉ nhằm mục đích tố cáo tôi lấy cắp công lao của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong việc phát hiện ra người mang pháp danh Tuệ Trung Thượng sĩ đời Trần chính là Trần Quốc Tung, không phải Trần Quốc Tảng như ý kiến của Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt văn tuyển. Nhưng muốn làm được điều đó thì không thể đi lại con đường Nguyễn Hòa đã đi, vốn đã bị Đặng Văn Sinh bác bỏ một cách thuyết phục (xem đây). Lần này phải làm sao “nói có sách mách có chứng”, chỉ một cú nhấp chuột “xong” ngay! Vốn học về khoa học tự nhiên (như ông từng cho biết), Boristo Nguyen bèn sử dụng tay nghề có sẵn, đưa ra một bài toán thống kê và loại trừ, bày trước mắt người đọc 4 văn bản, hoặc dịch hoặc phỏng dịch toàn văn hoặc một phần bài Thượng sĩ hành trạng mà cả Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tôi đều nhất thiết phải dùng đến. 4 văn bản đó là: 1. Bản dịch đầy đủ của Thiền sư Thích Thanh Từ, 1996; 2. Bản dịch đầy đủ của Đỗ Văn Hỷ và Nguyễn Huệ Chi trong Thơ văn Lý-Trần Tập II thượng, 1989; 3. Những đoạn trích dịch và phỏng dịch của Thích Nhất Hạnh (Nguyễn Lang) trong Việt Nam Phật giáo sử luận I, 1973; 4. Những đoạn trích dịch và phỏng dịch của Nguyễn Huệ Chi trong bài Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ thiền thời Lý-Trần in trong Văn học Việt Nam Cổ cận đại - Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, 2013. Hai văn bản trên được xem như “bàng chứng” soi tỏ hai văn bản dưới, để từ đó có cơ sở so sánh và nhận định. Quả hết sức chỉn chu. Cuối cùng, sau khi đối chiếu, sàng lọc kỹ lưỡng, ông chọn được một đoạn theo ông có ba câu “giống nhau như đúc” (chúng tôi tô đậm ở dưới) giữa bản của Thích Nhất Hạnh và bản của tôi:

Thích Nhất Hạnh (Nguyễn Lang): “Hồi em gái Tuệ Trung Hoàng hậu Thiên Cảm còn sống, một hôm ông được bà mời vào cung ăn tiệc. Trên bàn có những món mặn và món chay, ông đã gắp thức ăn một cách không phân biệt. Hoàng hậu hỏi: “Anh tu thiền mà ăn thịt ăn cá thì làm sao mà thành Phật được?”. Ông cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh; anh không cần thành Phật. Phật không cần thành anh. Em chẳng nghe cổ đức nói ‘Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát’ đó sao?” [tr. 276]

Nguyễn Huệ Chi: “Một lần, Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, vợ Trần Thánh Tông, mời ông anh Tuệ Trung vào cung ăn tiệc. Trên bàn tiệc có cả cỗ mặn lẫn cỗ chay. Thấy anh mình trong bữa ăn quên cả kiêng khem mà nhúng đũa cả vào cỗ mặn một cách phóng túng, Hoàng hậu khẽ nhắc ông: “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được?”. Tuệ Trung Thượng sĩ cả cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh; anh không hề muốn làm Phật, Phật cũng không hề muốn làm anh. Em chẳng nghe cổ đức có nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát, đó sao?” [tr. 375]

Thế là ông reo lên: Eureka, bắt tận tay day tận trán đây rồi. Sau khi đưa ra ba nhận xét: 1. Trường hợp dùng tên Nguyên Thánh Thiên Cảm giống nhau ở câu mở đầu (trong khi nguyên văn là Thái hậu) “có thể gây nghi vấn là Nguyễn Huệ Chi chịu ảnh hưởng của Nguyễn Lang” nhưng “chỉ là nghi vấn chứ chưa đủ để chứng minh”; 2. Câu “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao mà thành Phật được?” “giống nhau gần như đến từng chữ, từng từ”  và câu chữ trong đó lại khác với 2 bản bàng chứng; 3. Hai câu nữa: “Phật là Phật, anh là anh; anh không hề muốn làm Phật, Phật cũng không hề muốn làm anh.Em chẳng nghe cổ đức có nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát, đó sao?” “gần như giống nhau hoàn toàn”, riêng câu cuối thì 2 bản bàng chứng cũng dịch y như vậy. Kết luận:

Cả 3 loại nhận xét này đều nói lên việc người đi sau đạo của người đi trước, tức là Nguyễn Huệ Chi [1977] đạo của Nguyễn Lang [1973]. Tình cờ trùng nhau 1 câu, 1 chỗ xác suất đã nhỏ; “ý tưởng lớn” gặp nhau nhiều lần thì xác suất vô cùng nhỏ, hầu như là không thể!

Mà việc đạo văn của Nguyễn Huệ Chi cũng đồng nghĩa với việc ông ăn cắp kết quả của Nguyễn Lang và gán cho mình!

Sau những phân tích ở trên, liệu các bạn đọc có còn tin là Nguyễn Huệ Chi đã tự mình phát hiện Tuệ Trung thượng sĩ là Trần Tung nữa không? Còn tôi, tôi không tin!” (tôi bôi đậm để bạn đọc đọc cho rõ - NHC).

Thật là chặt chẽ. Bản án khép lại, bị cáo chẳng còn tài nào xoay trở. Cứ để cho ông Boristo Nguyen mừng.

Ta hãy trở lại từ đầu cho mạch lạc. Trước hết, ở đầu bài viết, Boristo Nguyen có một nhận định cần được cải chính. Ông viết: “Năm 1977, tức 4 năm sau [Nguyễn Lang], trong Thơ văn Lý-Trần (quyển I, trang 113-115, Phần khảo luận) và trong bài viết Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý-Trần Nguyễn Huệ Chi công bố mình đã độc lập tìm ra Trần Tung (bớt một chữ Quốc) chính là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Nếu đúng Nguyễn Huệ Chi tự mình tìm ra Trần Tung thì việc này xảy ra sau 4 năm”. Với người bình thường, xét trên hình thức, ông nói thế không sai. Sách Thơ văn Lý-Trần Tập I đúng là in xong năm 1977, và bài viết của tôi trên Tạp chí Văn học cũng ra đời cuối tháng Tám năm đó. Nhưng đừng cố ý đánh đồng hai chuyện lại. Đối thoại với nhau trên tinh thần cốt tìm ra chân lý thì không ai phớt lờ một sự thực mà Đặng Văn Sinh đã tìm hiểu nghiêm túc và chỉ dẫn đến nơi đến chốn: tuy sách Thơ văn Lý-Trần Tập I in xong năm 1977 nhưng thực tế nó đã hoàn thành nhiều năm trước, bởi bản thảo phải trải qua nhiều khâu duyệt, khoảng cuối năm 1973 được Viện Văn học đưa sang NXB KHXH, NXB này lại đưa cho Viện Sử học đọc, đến giữa 1974 mới chuyển tới Nhà in Thống nhất. Tiếp đó đến khâu xin chữ Hán và xếp chữ Hán cực kỳ vất vả của Nhóm soạn giả cùng với công nhân xếp chữ tiếng Việt, ròng rã gần 4 năm. Phần viết 2 trang rưỡi về Trần Tung và Thượng sĩ ngữ lục trong Khảo luận của tôi cũng in đầy chữ Hán giản thể, chứng tỏ nó đã xong cùng toàn bộ bản thảo một lần. Không thể giả thiết 2 trang rưỡi này “chèn thêm vào sau” vì: 1. Chữ Hán giản thể là xin của báo Tân Việt Hoa thuộc ĐSQ Trung Quốc giữa 1974. Sau 1975, khi Khmer Đỏ trở về Campuchia và gây rối biên giới Việt Nam kể từ ngày 2, nhất là ngày 4-5-1975 đánh chiếm ngay đảo Phú Quốc, thì quan hệ với ĐSQ Trung Quốc trở nên căng thẳng, cán bộ bình thường đến đó giao thiệp không được nữa nếu không có lệnh từ cấp cao. Muốn xin chữ Hán tất nhiên cũng bó tay. 2. Sách in hiện đang còn, cứ nhìn chữ in không xộc xệch, không hàng nào xô lệch đến mất cân đối thì biết, khó có một người nào đủ khả năng phù phép để nhét thêm 2 trang rưỡi vào cho 632 khuôn chì đã xếp chữ gần như trọn vẹn, chuẩn bị đưa lên máy in, trừ phi tháo dỡ hết cả ra (phần Khảo luận của tôi lại nằm ở ngay đầu). Hãy thanh thỏa với nhau chuyện ấy cho gọn đi.

Chớ nghĩ tôi đánh trống lảng. Tôi nói thế là nói một sự thực để cho phân minh: có hai mốc khác nhau trong việc tôi chứng minh Tuệ Trung Thượng sĩ chính là Trần Tung. Mốc trước khi đưa NXB gồm 2 trang rưỡi trong Khảo luận Thơ văn Lý-Trần Tập I (TVLT I) là bước một, tôi khảo sát những nguồn tài liệu có khác với Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận Tập I (VNPGSL I): hai bản in của sách Thượng sĩ ngữ lục vào hai thời điểm 1683 “do Tuệ Nguyên đề tựa” (ký hiệu A.1932), và 1903 “do Thanh Cừ cho khắc” (A. 2048), cùng với 4 sách Hoàng Việt văn tuyển, Đại việt sử ký toàn thư, An Nam chí lược, Nguyên sử. Trong khi đó Nguyễn Lang khảo sát bản in Thượng sĩ ngữ lục năm 1943 “của [Tổng] hội Phật giáo Bắc Kỳ, căn cứ trên một bản in cũ năm 1903 do sa môn Thanh Cừ chùa Pháp Vũ thực hiện” (VNPGSL I, 1973, tr. 280), cùng với nó là Hoàng Việt văn tuyểnĐại Việt sử ký toàn thư.

Từ 3 nguồn tài liệu mà Nguyễn Lang khảo sát, ông đi đến cái tên Trần Quốc Tung, một dự đoán tài tình, hiếm người có được, nhưng tên Trần Quốc Tung thì tìm khắp trong 3 tài liệu ấy đều không có, chỉ có độc một chữ Tung đứng sau tước Hưng Ninh vương trong Đại Việt sử ký toàn thư. Về phía tôi, thông qua 6 nguồn tài liệu đã dẫn, tôi tìm ra đích xác tên Trần Tung gắn với mấy chữ Hưng Ninh vương in rõ rệt trong 1 tài liệu. Tuy vậy, ở kết luận, thái độ của tôi tỏ ra có chút dè dặt, vì một vài vướng mắc bấy giờ chưa thể giải quyết: Trần Tung có phải thực là con cả Trần Liễu hay không và Trần Tung tham gia việc nước đến thời gian nào thì chuyển hẳn sang tu Thiền?

Tóm lại, mặc dầu còn phải tìm hiểu thêm điểm này điểm kia, ta vẫn có thể chính thức gạt bỏ một nhầm lẫn đã tồn tại từ lâu đến nay là đem Thượng sĩ ngữ lục gán cho Trần Quốc Tảng. Mặt khác, ta cũng có nhiệm vụ phải khôi phục dần tên tuổi, sự nghiệp cho chính tác giả thực của tác phẩm đó. Đó là Trần Tung 陈嵩 (1230-1291) bác ruột Trần Quốc Tảng” (TVLT I, tr. 115).

Nguyễn Lang không như tôi, khẳng định rất chắc chắn, có lẽ dựa trên sự linh cảm khác thường: “Sách Hoàng Việt Văn Tuyển nói Tuệ Trung Thượng Sĩ là Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tảng, con lớn của Trần Hưng Đạo. Sự thực thì tuy Tuệ Trung Thượng Sĩ có tước hiệu là Hưng Ninh Vương nhưng ông không phải tên là Trần Quốc Tảng, cũng không phải là con Trần Hưng Đạo. Ông là anh cả của Trần Hưng Đạo và tên ông là Trần Quốc Tung” (VNPGSLI, 1973, tr.273). Ở dưới chú thích, ông dẫn câu trong Đại Việt sử ký toàn thư nói về Hưng Ninh vương Tung và sự phân tích chủ yếu của ông hầu như cô lại trong chừng ấy.

Vậy là đối tượng khảo sát khác nhau (bản 1683 đối chiếu với bản 1903 / và bản 1943), cách tiếp cận vấn đề khác nhau (một bên là văn bản học / một bên có khảo chứng sơ sơ nhưng sử Phật giáo mới là chính yếu), số lượng nguồn tài liệu soi sáng khác nhau (một bên 6 / một bên 3), và trình tự luận giải cũng khác nhau, kết quả của tôi ngay trong bước một đã không đồng nhất với Nguyễn Lang (NHC: Trần Tung / NL: Trần Quốc Tung). Không thể phủ nhận sự thực đó theo kiểu viết đánh lừa độc giả rất khôn của Boristo Nguyen mà tôi thừa biết.

Chỉ đến mốc 1977 là bước hai, tôi mới tiếp tục khai triển đầy đủ và đẩy đến tận cùng những luận điểm đã đạt được ở Khảo luận, do đó không còn giữ thái độ dè dặt như trước mà có kết luận rõ ràng; nhưng cơ bản vẫn thống nhất với phương hướng tìm tòi của Khảo luận, vận dụng ba sự so sánh chéo nhằm tìm đến một kết quả duy nhất và cũng thống nhất với Khảo luận là Trần Tung, không hề có Trần Quốc Tung.

Từ hai bước hiển nhiên trong tiến trình phát hiện Trần Tung của tôi, được thể hiện ở hai văn bản khác nhau như đã thấy, nay muốn so sánh Nguyễn Lang với tôi để mong tìm ra những đoạn văn “giống nhau như đúc”, xin hỏi Boristo Nguyen: ông phải lựa chọn văn bản nào thì mới có kết luận đúng? Một kết luận quan hệ đến đạo đức khoa học của tôi như lời phán quyết của ông là chuyện cực kỳ nghiêm trọng, sao ông lại đập nhập hai giai đoạn nghiên cứu của tôi làm một, coi nhẹ kết quả khác nhau giữa tôi và Nguyễn Lang ngay trong chặng đầu tiên, và cũng chỉ so sánh với “một hiện vật” độc nhất là bài viết giai đoạn sau, tự tiện bỏ qua đoạn văn tôi trình bày hẳn hoi ở giai đoạn đầu? Ông có hiểu như thế là sai thủ tục và cả trình tự bắt buộc trong thao tác “điều tra”, để dựng lên một “bản án” có lợi cho mình? Tôi không vội đánh giá ông, chỉ đề nghị ông hãy làm lại, hãy thống kê và đối chiếu lại văn bản của Nguyễn Lang với hai văn bản của tôi ở cả hai bước tôi đã nêu: bước một rồi mới đến bước hai, vội vàng đốt cháy giai đoạn là không được.

Ta cùng mở văn bản của tôi ra để cả bên nguyên bên bị đều nhìn tận mắt. Dưới đây là văn bản bước một: xin đưa ảnh chụp 2 trang rưỡi viết về Trần Tung và Thượng sĩ ngữ lục trong Khảo luận TVLT I lên bài. Ông cứ việc so sánh kỹ với Nguyễn Lang đi:

clip_image002

Khảo luận, tr. 113

image

Khảo luận, tr. 114

clip_image006

Khảo luận, tr. 115

Thế nào? Ông Boristo Nguyen có thấy gì không? Phần tôi chẳng hề tìm ra một chỗ nào tôi giống với Nguyễn Lang như ông vạch vòi cả. Cả đoạn văn phỏng dịch có 3 câu ông chọn ra để bắt bẻ tôi “gần như giống Nguyễn Lang từng chữ từng từ” ở đây hoàn toàn không có. Bỏ qua đoạn ấy thì những đoạn khác cũng chẳng hề có một chữ nào trùng với Nguyễn Lang. Không chỉ về câu chữ, mà như trên đã phân tích, về đối tượng, nguồn tài liệu soi vào luận chứng, lập luận và kết quả, giữa tôi và Nguyễn Lang đều khác nhau. Vậy kết luận tôi ăn cắp Nguyễn Lang trong văn bản bước một này là phạm luật. Ông có đồng ý không?

Tôi thừa biết nếu chỉ dừng ở đây thôi thì ông quật lại liền. So sánh là so sánh VNPGSL I của Nguyễn Lang với Trần Tung – một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền thời Lý-Trần viết năm 1977 chứ đâu có so sánh với Khảo luận viết 4 năm về trước. 4 năm trước tôi chưa đọc được VNPGSL I thì sao? Đúng là vậy. Tôi chỉ muốn cho ông thấy tận mắt 2 trang rưỡi Khảo luận là một luận văn liền mạch, viết xong vào năm sách được chuyển sang NXB, chứ không phải “mới sửa chữa lại sau” như ông hay ai đó cố tình gán ghép bừa. Hãy cần thế đã. Tiếp theo, ta sẽ so sánh VNPGSL I với văn bản bước hai. Nhưng thưa ông, vì văn bản bước hai hoàn thành vào cuối năm 1977, nên để cho đích xác, lại phải so sánh với đúng văn bản ra đời năm 1977, nghĩa là văn bản đăng trên Tạp chí Văn học số 4-1977. Nếu quả tôi có ý đồ ăn cắp thì chính ở đấy “tang vật” mới lòi ra đầy đủ, chứ đi so sánh với văn bản in trong cuốn Văn học Cổ cận đại Việt Nam – từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật in năm 2013 thì thực vô nghĩa. Chẳng lẽ một kẻ thạo ngón nghề “đạo chích” mà lại không tìm cách xóa dấu vết đi, nhất là sau đến hơn 40 năm, cứ để lại sờ sờ trên giấy trắng mực đen cho những người như ông dễ dàng vào lục lọi thì có mà ngu ngốc ư? Trong tuyển tập in 2013 ông chỉ tìm được một đoạn phỏng dịch có 3 câu “gần như giống từng chữ từng từ” với Nguyễn Lang, chắc tên kẻ cắp sơ ý chưa xóa hết, thì trong văn bản 1977 tất ông phải tìm được nhiều hơn nhiều.

Tôi lại xin giúp ông chụp lại bài viết in trên Tạp chí Văn học số 4-1977 đem lên. Nhưng bài viết quá dài, đến 20 trang, đưa hết e không tiện, tôi tính thế này: bài có hai phần, Phần 1 gồm 3 tiểu mục, tập trung chứng minh Trần Tung chính là Tuệ Trung Thượng sĩ, gồm 11 trang rưỡi, và Phần 2 phân tích đặc điểm thơ Thiền Trần Tung, gồm 8 trang rưỡi, tôi sẽ bỏ phần sau lại vì chẳng còn dính dáng gì đến việc ta đang bàn, chỉ chụp và đưa lên 12 trang đầu, nếu còn nghi ngờ ông cứ chịu khó tìm đọc vào bản gốc vậy. Đây, 12 trang đầu của bài viết năm 1977 của tôi đây, chụp rất rõ, Boristo Nguyen cứ soi thật kỹ, không để sót chỗ nào không soi.

clip_image008

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 116

clip_image010

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 117

clip_image012

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 118

clip_image014

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 119

clip_image016

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 120

clip_image018

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 121

clip_image020

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 122

clip_image022

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 123

clip_image024

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 124

clip_image028

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 125

clip_image026

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 126

clip_image030

Trần Tung một gương mặt lạ… tr. 127

Toàn bộ 12 trang đầu bài viết năm 1977 của tôi đã lên xong, tôi phải xin lỗi làm phiền bạn đọc, nhưng trước một bản cáo trạng nghiêm khắc như của Boristo Nguyen thì chứng cứ trình ra để cùng “ba mặt một lời” phải thật đầy đủ, chẳng phải chuyện có thể đùa. Xin Boristo Nguyen chỉ rõ những câu tôi “đạo” của Nguyễn Lang ở đâu trong bài viết này? Thì ra hoàn toàn không có. Không có 3 câu ông dẫn chứng và cũng chẳng có cả những đoạn khác diễn giải bài Thượng sĩ hành trạng mà trước đây Nguyễn Hòa gán cho tôi mô phỏng lại Nguyễn Lang. Vì sao vậy nhỉ? Ô hay! Có phải tôi đã dùng cây đũa thần bắt chúng biến đi? Thật là khó hiểu. Thôi thì bật mí để ông và bạn đọc khỏi sửng sốt: những đoạn văn ông và Nguyễn Hòa chộp được và lấy làm đắc ý vốn chưa hề xuất hiện trong bài báo in năm 1977 của tôi. Nhiều năm về sau, khi bài viết in lại trong một vài tuyển tập, tôi mới viết bổ sung để thêm vào. Lý do vì sao sẽ giải thích ở cuối, nhưng văn bản then chốt trình bày toàn bộ luận cứ tìm tòi của tôi về Trần Tung thì đã nằm hết ở đây rồi, mở rộng hơn và hoàn chỉnh hơn chứ không hề có gì trái ngược so với văn bản bước một, cũng chẳng giống chút gì với lập luận của Nguyễn Lang.

Tôi nhắc lại: 2 đoạn văn phỏng dịch Thượng sĩ hành trạng của tôi và Nguyễn Lang mà Boristo Nguyen đưa ra làm bằng về sự “giống nhau như đúc” là chỉ để quy kết cho tôi ăn cắp “phát hiện Trần Quốc Tung” của Nguyễn Lang, dựa trên suy luận logic: tôi viết sau Nguyễn Lang 4 năm -> giống nhau lời văn ở một đoạn chứng tỏ tôi “đạo” Nguyễn Lang vì tôi công bố sau -> cái này đã “đạo” thì nghiễm nhiên cái kia, cái quan trọng nhất cũng phải “đạo” của Nguyễn Lang. Vậy nay tìm cả bài không thấy bất kỳ đoạn nào giống nhau thì Boristo Nguyen còn định làm gì? Logic của ông tự nhiên đổ nhào, tôi chẳng cần biện bác gì nữa. Chưa nói hệ luận logic kiểu đó ngay từ đầu đã hỏng, đơn giản đích đến của Nguyễn Lang là giả định Trần Quốc Tung thì tôi đâu có đi đến đấy. Tôi không vượt ra ngoài sử sách mà sử sách thì không hề có Trần Quốc Tung. Ông cứ cố gán cái “không có” cho tôi mới lạ. Lại cố tình phân biệt giữa “tìm ra” và “chứng minh”, làm như người “chứng minh” thì không thể “tìm ra”, sao mà kỳ cục quá! Từ đó, bằng mọi cách ông hạ thấp và đánh lộn sòng những chứng minh xác thực của tôi với giả thuyết của Nguyễn Lang: “Tìm ra Trần Tung (Trần Quốc Tung) sau hàng trăm năm nhầm lẫn là một đóng góp có giá trị lớn và khó hơn nhiều so với việc sau khi đã biết thân nhân ông là ai, chứng minh để khẳng định điều đó. Việc chứng minh có lẽ không phải là khó khăn lắm đối với người nghiên cứu lịch sử và văn học cổ trung đại Việt Nam”. Viết “Tìm ra Trần Tung” rồi mở ngoặc (Trần Quốc Tung) mà không viết “Tìm ra Trần Quốc Tung” rồi mở ngoặc (Trần Tung) là có đầy chủ ý, để bạn đọc yên chí người gợi ý cái tên Trần Quốc Tung cũng đã tìm được tên Trần Tung từ trước, nghĩa là hai sự kiện khác hẳn nhau xuất hiện tại hai vùng đất xa cách nhau bỗng… biến thành một. Quá ranh mãnh, nhưng lại rất nực cười.

Cho nên không phải không có lý do ngay đầu đề bài viết tôi đã nói “Boristo Nguyen đã bé cái nhầm”. Ông cố tạo bằng được một bản án gà mờ mà không có tinh thần thực sự cầu thị, không tìm hiểu rõ sự khu biệt trên đủ mọi khâu dẫn đến kết quả tìm tòi khác biệt giữa đôi bên, chỉ lo kiếm cho ra chứng cứ, bất chấp cả quy định phải điều tra “vụ án” với đầy đủ hiện vật, hiện vật lại phải xuất hiện đúng vào thời điểm sự kiện xảy ra. Ông chưa đủ nghiệp vụ để vu oan giá họa cho tôi. Hồi ông Nguyễn Hòa lên tiếng chất vấn tôi, trong khi ông Đặng Văn Sinh đưa ra những luận chứng rất khoa học thì tôi chỉ bấm bụng cười thầm, biết ông Hòa đã rơi vào bẫy, đem cái không hề có trong văn bản của tôi ra mà chất vấn, cũng hệt như ông bây giờ. Nhưng tôi không trả lời ông Hòa. Người bạn trung hậu của tôi đã thừa sức bẻ gãy ông ta thì tôi còn lên tiếng làm gì nữa. Huống chi trong cuộc đời nghiên cứu của mình, tôi chỉ trả lời những ai mà tôi thấy đáng phải trả lời. Đó là nguyên tắc không thay đổi, trừ một vài ngoại lệ.

II

Nói thêm cho Boristo Nguyen rõ: trong bài viết đăng trên Tạp chí Văn học năm 1977 tôi đã đọc Nguyễn Lang. Tôi đọc cả bản dịch Thượng sĩ ngữ lục của Trúc Thiên do Lá Bối, Sài Gòn, in năm 1969. Ông hãy đi lục tìm hồ sơ ở Vụ Tổ chức UBKHXH thì may ra tìm được: đầu tháng Tám năm 1977 người bố của tôi được điều động từ Sài Gòn ra công tác ở Ban Hán Nôm. Ông ra, mang cả sách ra cho tôi. Tuy mới đọc vội, tôi đã chú thích Nguyễn Lang ngay trên trang đầu bài viết, cốt thông báo với toàn giới nghiên cứu Cổ cận đại tin tức nóng hổi này, nhưng cũng vì vội nên chú dẫn có sai năm xuất bản cuốn VNPGSL I (nhầm 1973 ra 1974), còn Trúc Thiên thì trích vài bài, những chỗ trích đều có chú. Tôi viết: “Cũng xin nói thêm là trong quá trình biên soạn bộ sách Thơ văn Lý-Trần chúng tôi đã phát hiện ra vấn đề này tương đối sớm, và đã có dịp trình bày sơ lược trong phần Khảo luận đầu sách. Gần đây, có đồng chí mách cho biết: trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (Lá Bối; Sài Gòn; 1974) Nguyễn Lang cũng có ý kiến giống chúng tôi về tác giả đích thực của Thượng sĩ ngữ lục. Tuy nhiên, tìm đọc kỹ những điều ông Nguyễn Lang đã viết, chúng tôi thấy vẫn cần có một bài báo nói kỹ hơn về những tìm tòi của mình để bạn đọc tham khảo. Vì không những tài liệu và lập luận của chúng tôi có khác, mà cách đánh giá của chúng tôi đối với thơ văn Trần Tung cũng không giống Nguyễn Lang. Vả chăng cho đến nay, mặc dầu đã có ý kiến sơ bộ của Nguyễn Lang, dư luận chung vẫn coi Trần Quốc Tảng là tác giả Thượng sĩ ngữ lục” (Tạp chí Văn học 4-1977; tr. 116).

Boristo Nguyên ngẫm nghĩ thử, tôi có cố ý giấu giếm Nguyễn Lang để mình trở thành “độc đắc” đâu. Không hề. Trái lại, tôi cần công bố Nguyễn Lang để thấy tìm tòi của mình không đơn độc. Tôi cũng cần công bố tiếp kiến giải của mình vì đọc vào Nguyễn Lang tôi nhận ra ngay sự khác nhau trong mục tiêu của hai người. Nguyễn Lang, do tư cách một người viết sử và một nhà tư tưởng Phật giáo thâm hậu, không hề coi việc tìm kiếm chi ly ai là tác giả Thượng sĩ ngữ lục là chuyện chính yếu. Nhiều chỗ ông chỉ mặc nhận bằng sự mẫn cảm, hoặc bằng tín niệm (như cái tên Trần Quốc Tung). Việc chính của ông là thông qua Thượng sĩ hành trạng Thượng sĩ ngữ lục để đưa con người đang “xa lạ” này vào trang sử Phật, làm hiện lên một cốt cách trác việt cũng như một tư tưởng độc sáng mà chỉ với một người trong giới có tầm mới thấu hiểu và đúc kết thành những mệnh đề có ý nghĩa khái quát chắc và sâu. Đó là chỗ đáng phục của ông. Còn tôi, một người làm văn bản học thơ văn Lý-Trần, tôi buộc phải giải đáp tận gốc ai là tác giả Thượng sĩ ngữ lục bằng luận cứ chắc chắn (cũng giống nhiều tác giả tác phẩm Lý-Trần khác mà tôi đã tiến hành tìm tòi và có những phát hiện trong toàn bộ phần Khảo luận, không riêng một tác giả này). Bởi thế, câu nào tôi trích dịch ở sách nào đều rất chọn lọc và cố dịch từ văn bản cổ nhất, lại phải là câu có chứa đựng “mã khóa” giúp mình gỡ ra từng mắt của một cái lưới khó gỡ. Tôi chỉ nêu một dẫn chứng có liên quan đến Nguyễn Lang: một đoạn duy nhất chọn dịch ở Thượng sĩ hành trạng, có tham khảo cả Trúc Thiên và Nguyễn Lang, nhưng tôi buộc phải dịch bám sát cấu trúc từng cụm từ trong nguyên văn chữ Hán nên có khác hai ông: 上士欽明慈善太王之弟一子。元聖天感皇太后之長兄。初太王薨。太宗皇帝義之封興 寧王也 (Thượng sĩ, Khâm minh từ Thiện Thái vương chi đệ nhất tử, Nguyên thánh Thiên cảm Hoàng thái hậu chi trưởng huynh. Sơ, Thái vương hoăng, Thái Tông Hoàng đế nghĩa chi phong Hưng Ninh vương dã). Tôi dịch: “Tuệ Trung Thượng sĩ là con thứ nhất [Trúc Thiên và Nguyễn Lang đều dịch con đầu] của Khâm minh Từ thiện Đại vương [Trúc Thiên dịch Thái vương, tôi không tán thành vì đời Trần không phong anh em tôn thất là Thái vương, chỉ đến đời Mạc mới phong; sách Thượng sĩ ngữ lục in 1683 chắc còn vương dấu vết của thời Mạc], và là anh cả của Nguyên thánh Thiên cảm Hoàng thái hậu [Nguyễn Lang dịch Hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm]. Xưa, lúc [Nguyễn Lang dịch Khi và không có chữ lúc] Đại vương mất, Thái Tông Hoàng đế [Nguyễn Lang dịch Hoàng đế Trần Thái Tông] vì cảm nghĩa mà phong cho ông là [Nguyễn Lang thêm Thượng sĩ tước] Hưng Ninh vương” (Tạp chí Văn học, 4-1977; tr.123 / VNPGSL I, tr. 274). Bỏ qua những sai biệt khác lúc cần tôi sẽ nói, chỉ những người đang phải giải quyết một vấn đề văn bản học hắc búa mới biết mấy chữ “đệ nhất tử” (弟一子) tôi tìm ra ở đây là chìa khóa hết sức hệ trọng để giải đáp một mâu thuẫn về vị thứ của Tuệ Trung Thượng sĩ trong gia đình Trần Liễu mà hồi viết Khảo luận tôi sơ ý bỏ qua nên vẫn chưa tìm ra lời giải. Hóa ra người chép “đệ nhất tử” rất có ý thức phân biệt với “trưởng tử” (長子 / con đầu). Nếu Tuệ Trung Thượng sĩ là “trưởng tử” thì mâu thuẫn với Đại Việt sử ký toàn thưĐại Việt sử ký toàn thư đã ghi rõ Võ Thành vương Doãn là con đẻ của Trần Liễu và Thuận Thiên [Hoàng hậu], lại hơn Tuệ Trung nhiều chục tuổi. Thế là bài toán thành ra vô nghiệm, đâm rắc rối to. Nhưng chép Tuệ Trung là “con thứ nhất” thì vấn đề trở nên thanh thỏa, bởi sau khi Võ Thành vương Doãn chống lại Trần Thái Tông năm 1237 do vua cướp mẹ ruột mình làm vợ (lúc Tuệ Trung mới 7 tuổi), rồi phải chạy sang phương Bắc sau ngày Trần Liễu và Thuận Thiên đều mất, kế đó bị bắt và bị giết, thì nghiễm nhiên Tuệ Trung trở thành “con thứ nhất” không sai. Chỗ khéo léo đó trong ghi chép của Trần Nhân Tông đến bấy giờ tôi mới nhận ra.

Cũng phải nói, rất may cho tôi nữa trong vấn đề Trần Tung để tôi tiến dược đến đúng đích mà không phải phỏng đoán là Trần Quốc Tung như Nguyễn Lang, vì tôi đã dựa được vào một tài liệu quý của hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm là cuốn Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông thế kỷ XIII do NXB Khoa học xã hội in năm 1968, trong đó có dẫn hai nguồn sử liệu là An Nam chí lượcNguyên sử nói rõ cả họ tên và tước hiệu Hưng Ninh vương Trần Tung, là “tòng huynh” tức anh con bác ruột vua Trần Thánh Tông. Đối chiếu với ghi chép của Thượng sĩ hành trạng thì câu hỏi khó bậc nhất: tên thực Hưng Ninh vương là gì và quan hệ với Trần Quốc Tuấn như thế nào đã gần như nằm sẵn trong sách của nhóm Hà Văn Tấn. Mặc dù cả trong Khảo luận và trong bài viết của mình, đề cập những dẫn liệu này tôi đều có ghi rõ xuất xứ, nhưng sau này in lại vào tuyển tập, tôi đã viết thêm một dòng tri ân: “Phát hiện của chúng tôi một phần được gợi ý từ công trình Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông thế kỷ XIII của Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm, NXB Khoa học xã hội, H., 1968. Ở trang 238 và trang 267 hai tác giả đã dựa vào An Nam chí lược, Q. IV và Nguyên sử, “Truyện A-lại-bát-xích”, tờ 2a, đề cập đến Hưng Ninh vương Trần Tung là anh con bác của Trần Thánh Tông. Đây là một manh mối khơi nguồn cho những phán đoán hệ thống của chúng tôi”. Trừ phi là bịt mắt lại, ông Boristo Nguyen không thể nào không nhận ra tôi có những lợi thế mà Nguyễn Lang không thể có để tìm ra Trần Tung, và là lợi thế có ngay từ buổi đầu công việc khảo sát của mình, thế thì tôi còn phải cóp của Nguyễn Lang để làm gì?

Cái tính muốn đổ riệt cho người bằng bất cứ giá nào khiến Boristo còn có những phát biểu kỳ quặc. Ông dẫn một câu rất thành thực của tôi “Tuy vậy, cho đến nay, dư luận bạn đọc vẫn phân vân nửa tin nửa ngờ. Có người còn cho là quá táo bạo và lạ lẫm. Chúng tôi rất hiểu tình thế khó khăn là phải làm sao chiến thắng được một tâm lý quen thuộc vốn đã gắn quá chặt bộ Thượng sĩ ngữ lục cũng như những sợi dây tinh thần giữa Thiền phái Trúc Lâm với cái tên Trần Quốc Tảng”, để hạ luôn một lời ác ý: “Việc dư luận dễ có những ngờ vực cũng là điều dễ hiểu. Một mặt, chưa biết thực hư thế nào nhưng Nguyễn Huệ Chi là người dính líu đến nhiều vụ lình xình và bị không ít người chất vấn về đạo đức khoa học”. Khi viết bài lên tạp chí tôi không hề muốn khoe danh mà chỉ muốn giúp học giới thanh toán một ngộ nhận từ lâu để lại, chắc chắn chưa rứt đi được và có thể còn kéo dài, đó là lời nói thật tình xét từ tâm lý tiếp nhận, cái động hình (stéréotype dynamique) đã in vào tâm trí thì khó mà gỡ ra. Kết quả của việc tôi làm trông thấy nhãn tiền, không cần chờ đợi. Một nhà văn chuyên viết về thời đại Lý-Trần là Hà Ân, sau khi đọc được bài tôi đã tìm đến Viện Văn học gặp tôi và Ban văn học Cổ cận đại than thở, rằng vì bài tôi công bố quá chậm mà anh phải vứt bỏ mất cả một tập II cuốn tiểu thuyết Người Thăng Long lấy Trần Quốc Tảng làm nhân vật chính. Anh còn gặp tôi nhiều lần, một lần nhân làm cuốn phim tài liệu về anh, anh cho biết đã phải cặm cụi viết lại Tập II trong vòng 10 năm mới tạm ưng ý, nói xong anh rơm rớm nước mắt. Một nhà phê bình – cũng là người đạo diễn bộ phim tài liệu về Hà Ân – sau này có viết: “phải nhìn thấy những giọt lệ lăn dài trên gò má nhăn nheo của nhà văn già khi ông gặp lại nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi, người đã công bố bài khảo cứu "định mệnh" về văn bản Phóng cuồng ca trên Tạp chí Văn học năm nào – tôi đã cố tình sắp đặt ra cái "xen" gặp gỡ này, nhưng không yêu cầu ông phải khóc, tất nhiên – tôi mới cảm thấu được sự tâm huyết mà ông đã dồn trút vào tác phẩm của mình” (Hoài Nam – Nhà văn Hà Ân: Người kể chuyện xưa). Đủ thấy việc viết bài Trần Tung của tôi không phải vì tôi mà trước hết là vì đòi hỏi khách quan của văn học sử. Cũng như năm 1992 tôi đã gắng tổ chức một Hội đồng thẩm định để Nhà nước cho phép in và phổ biến Việt Nam Phật giáo sử luận 3 tập của Nguyễn Lang trên khắp nước, đánh bạt đi cái định kiến Thích Nhất Hạnh là “tên biệt kích văn hóa thực dân mới” đến những năm này rồi vẫn cứ còn lởn vởn trong nhiều đầu óc, không phải là vì cá nhân Thiền sư Thích Nhất Hạnh, ông Boristo Nguyen nhớ chưa?

KHỔ THÂN ÔNG NGUYỄN HUỆ CHI

Chu Mộng Long

Thật ngạc nhiên là một sản phẩm ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ, việc biên soạn Thơ văn Lý-TrầnNhật ký trong tù của Viện Văn học, lại bị một số người xới lại gây ra thị phi cho học giả Nguyễn Huệ Chi.

GS. Nguyễn Huệ Chi không là thầy của tôi, tôi cũng chẳng quen thân hay nằm trong hội nhóm gì của ông. Nếu xét về quan hệ thì trên FB, tôi đã từng tranh luận nảy lửa với ông về ngôn ngữ, về một quan điểm chính trị nào đó. Những lúc đó, tôi có ghét ông ở sự lịch lãm đến ba phải, nhưng rồi tôi vẫn kính phục ông, một trí thức có trình độ và tâm huyết đối với quốc gia, dân tộc.

Với tôi, việc nào ra việc đó. Người ta có xem Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh là bọn trí thức bồi bút cho Tây, các văn gia của Tự lực văn đoàn là bọn Quốc dân đảng phản động, những Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt và nhóm Nhân văn giai phẩm là quân chống đảng, hay những Chu Hảo, Nguyên Ngọc là thành phần suy thoái, tự diễn biến thì là việc của đấu đá chính trị. Năng lực và nhân cách cùng với những gì người ta đóng góp cho dân trí đều phải được ghi nhận trân trọng.

Trước khi đọc loạt bài trả lời của GS. Nguyễn Huệ Chi, thú thật tôi cũng hoang mang khi nghe chính bạn bè tôi xì xào bàn tán về sự gian lận trong quá trình làm bộ sách Thơ văn Lý-Trần. Trong khoảng thời gian dài ấy, không thấy ông Nguyễn Huệ Chi lên tiếng, tôi càng hoang mang. Tất nhiên, tôi vẫn nghĩ, việc lên tiếng thanh minh cho một việc làm cách đây hơn nửa thế kỷ là bất khả: chứng cứ, tài liệu có thể không còn, nhân chứng thì già nua hoặc đã chết. Vả lại, có luật nào bắt người ta phải tự chứng minh mình vô tội hay trong sạch nếu những người tố cáo ông Huệ Chi cố tình ngụy tạo để vu khống, bôi nhọ?

Từ đó, tôi vẫn luôn đặt câu hỏi, vì sao trong thời điểm đó và suốt thời gian quyển Thơ văn Lý-Trần xuất bản và lưu hành, những ngài khoa bảng danh giá kia lại không có một lời nào tố giác hay phản biện công khai mà lại chờ khi sắp xuống lỗ mới cung cấp thông tin, tài liệu cho đám học trò hay nhà báo đánh ông Nguyễn Huệ Chi? Ông Nguyễn Huệ Chi từng là quan to với quyền sinh quyền sát lớn đến mức làm cho mấy ngài khoa bảng kia khiếp sợ vậy sao?

Tôi chịu khó đọc hết loạt bài trả lời của GS. Nguyễn Huệ Chi mà lòng đau nhói. Dài nhưng khúc chiết, rõ ràng, không né tránh bất cứ điều gì. Thật thuyết phục. Nó giải tỏa những hoang mang, nghi vấn của tôi. Nhưng đau nhói vì tôi hình dung ông phải bỏ ra rất nhiều thời gian để truy lại ngọn nguồn sự việc và tư liệu đã chìm lấp sau hơn nửa thế kỷ. Thế mới thấy danh dự, tự trọng của một nhân sĩ trí thức cao hơn núi. 
Khổ thân ông. Lẽ ra ông phải dành thời gian và tâm huyết cho những việc lớn hơn. Tôi nghĩ đây là bài trả lời cuối cùng, ông không cần phải trao đổi thêm gì nữa.

Bây giờ thì tôi đặt câu hỏi ngược lại cho những người đánh ông Nguyễn Huệ Chi, mà lại đánh trên trang Văn nghệ TP Hồ Chí Minh với danh nghĩa văn nghệ nhưng khét tiếng nhân danh chính trị. Rằng sự cố tình tấn công uy tín Nguyễn Huệ Chi chỉ vì đám giặc già khoa bảng trước khi xuống lỗ không ai nhớ mặt đặt tên hay vì bảo vệ đám quan tham đang ngứa ngáy khó chịu bởi trang Bauxite Việt Nam phản biện xã hội do ông Nguyễn Huệ Chi chủ trương?

FB Chu Mộng Long

Trích vài ba bình luận trên Facebook về

bài viết này

Bất lợi của GS Nguyễn Huệ Chi là không có diễn đàn chính thống để đối thoại lại với những người tham gia đánh ông. Tờ VN TPHCM lâu nay là nơi để đám hồng vệ binh sử dụng làm công cụ để công kích không chỉ GS Nguyễn Huệ Chi mà còn nhiều trí thức chân chính khác. Thầy CML lên tiếng như vầy chắc chắn sẽ là lời động viên tinh thần rất lớn với GS NHC.

Quách Hạo Nhiên

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi cùng với nhà văn Phạm Toàn và Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, khởi xướng trang mạng Bauxite Việt Nam (https://boxitvn.blogspot.com), tiếng nói phản biện nhiều mặt của người trí thức. Đây chính là nguyên nhân khiến lũ bồi bút (con hoang) tìm mọi cách hạ thấp uy tín của ông.

Phạm Quang Hòa

Tôi phục nhân cách khoa học của GS Nguyễn Huệ Chi. Trước là lần ông viết bài thuật lại cho mọi người biết "nỗi lòng" của cụ thân sinh trong một bài viết "đánh" Phan Khôi hồi nhân văn - giai phẩm. Lần khác là lần ông viết sai một chữ Hán trong một bài tứ tuyệt của Phan Khôi. Khi tôi nhắc ông, ông đã không giận, nhận ngay, sau đó còn vài lần giúp tôi nữa.

Phan Nam Sinh

Từ những bài thơ phiên âm có lời dịch mà tái lập chữ Hán đã cực khó. Nếu lại không có lời dịch mà chuyển sang chữ Hán là vô cùng khó bạn Phan Nam Sinh ơi. Làm xong chỉ lo ngay ngáy. Được ai chỉ ra cho chữ nào chuyển sai thì mừng chứ ai mà giận được. Tâm lý người làm việc ấy là thế đấy. Mà xưa nay cũng rất ít người dám làm cái việc chuyển ngược như vậy. Cách đây 2 năm nể người bạn thơ cũng là dịch giả cừ khôi bên Mỹ nhờ chuyển 36 bài, tôi phải hỳ hục làm nhưng sau 2 tuần được 16 bài thì kiệt lực, đành phải ngừng. Chắc anh ấy có giận, nhưng anh ấy không thể biết đó là việc bắc thang lên trời. Bài thơ cụ Phan chỉ là một bài tứ tuyệt nên dễ hơn rất nhiều. Sai là do tôi.

Nguyễn Huệ Chi

Tôi kính trọng cái tầm và cái tâm nghề của GS. Huệ Chi. Ông vừa là người trí lực thực sự lại vừa là người thẳng thắn và trung thực, luôn mang trong mình tinh thần ái quốc, dấn thân và tận hiến những điều mình có mình biết về khoa học. Tiếc thay, cả cuộc đời lam lũ cày xới trên cánh đồng khoa học của ông cứ hết kẻ này đến kẻ khác, thế lực này đến thế lực khác đã cản trở thậm chí như ngăn chặn con đường khao khát đóng góp sức mình để cho những kho báu kiến thức Việt Nam ngày càng hoàn mỹ. Song trâu buộc thì ghét trâu ăn... Trong những kẻ nhiễu nhương ấy không hiếm những kẻ bồi bút, đê tiện đã tìm mọi cách để làm hại ông nhằm làm giảm uy tín của ông trên con đường học thuật. Nhưng cây ngay không sợ chết đứng. Tấm lòng trung thực của ông, trí tuệ uyên bác của ông đã chạm động đến được trái tim của nhiều người. Họ đã đọc, cảm nhận và công tâm trong đánh giá. Những công việc ông làm, sức ông đóng góp, tiếng giãi bày trung thực,... của ông đã lay động lòng người. Khg những nhà ng/cứu Chu Mộng Long, giảng viên Đại học Đặng Tiến, TS. Đặng Hảo, TS. Hoàng Dũng, nhà Hán học Nguyễn Xuân Diện và hàng trăm độc giả khác trong nước và ở nước ngoài rất ái mộ và kính trọng. Giá như khg có sự hùa bè ganh ghét, đố kị trong học thuật thì chắc chắn khg có chuyện rêu rao bôi xấu mặt nhau mà làm ảnh hưởng đến thanh danh các nhà khoa học như thế này. Tiếc thay, thương thay.

Mỹ Thuận Diễn Nghĩa

Đại án Thủ Thiêm: Đề nghị tân Chủ tịch nước vào cuộc!

Nguyễn Đăng Quang

Tuy chưa có quyết định khởi tố, nhưng tội ác đã phơi bày, cho dù ai đó đang tìm cách lập lờ và phủ nhận nó. Nay đã có đủ chứng cứ và cơ sở pháp lý khởi tố hình sự đại án quốc gia này! Người dân Thủ Thiêm đã nêu đích danh những kẻ chủ mưu và thủ ác là các quan chức lãnh đạo Đảng bộ và UBND Tp. HCM qua các thời kỳ từ 2001 đến nay! Bọn này đâu chỉ mắc sai phạm mà chúng còn là các tội phạm hàng đầu trong đại án Thủ Thiêm! Người dân Thủ Thiêm không chỉ khẳng định suông, mà họ đã thống kê, lên danh sách, tên tuổi, giới tính, chức vụ cụ thể của bọn chúng, và công khai đòi truy tố hình sự bọn tội phạm mang danh cộng sản này!

Để yên lòng dân, việc cần làm lúc này là phải KHỞI TỐ HÌNH SỰ vụ án này! Sau đó là khởi tố các bị can và thực hiện lệnh bắt tạm giam (hoặc lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú), tiến hành điều tra rồi đưa ra xét xử công khai những kẻ đã và đang gây tội ác đối với người dân Thủ Thiêm, cho dù chúng là ai, ở cấp bậc, chức vụ nào, đang tại chức hay đã nghỉ hưu, kể cả những kẻ mới đây được trao tặng danh hiệu cao quý 50 hay 60 năm tuổi Đảng!

Mấy tháng nay, người dân Thủ Thiêm đã biến các buổi đối thoại trực tiếp giữa họ với Lãnh đạo UBND Tp. HCM cũng như các buổi tiếp xúc cử tri của Đoàn ĐBQH và HĐND Tp. HCM với người dân nơi đây thành các buổi lên án và tố cáo tội ác cướp đất, bức hại dân lành, chà đạp quyền sống, cướp đoạt quyền con người, dồn người dân đến bước đường cùng bởi các phe nhóm mafia lợi ích trong Đảng bộ và Chính quyền Tp. HCM suốt 17 năm qua! Trong các buổi tiếp xúc cử tri và đối thoại trực tiếp này, người dân đã công khai tố cáo và đòi phải truy tố hình sự đích danh những kẻ chủ mưu và thủ ác trong đại án này!

Một câu hỏi quan trọng cần làm rõ: Vậy việc này Trung ương Đảng có biết không?

Người viết bài này khẳng định: Chắc chắn là biết! Không những biết mà còn biết rất rõ! Tội ác này diễn ra không phải trong 1 hay 2 tháng, mà là trong gần 20 năm liên tục! Đã có nạn nhân phải tự vẫn do quá uất ức! Một số khác thì do căng thẳng cao độ, bế tắc cùng cực mà hóa dại hóa điên suốt đời! Có không ít gia đình đất thì bị cướp trắng, nhà thì bị chính quyền đập bỏ, khiến họ trở thành những kẻ vô gia cư giữa thành phố lớn nhất nước! Liệu thảm cảnh này sẽ không lặp lại trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta? Ai có thể dám cam đoan việc này?

Tội ác chúng gây ra thì rất nhiều. Tôi chỉ xin liệt kê 3 tội danh nổi cộm dưới đây:

1/ Phi tang bản đồ gốc quy hoạch Khu ĐTM Thủ Thiêm tỷ lệ 1/5000 được lập trên cơ sở QĐ số 367/TTg do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ban hành ngày 4/6/1996. Đây quả là tội ác tập thể có chủ đích từ Tp. HCM ra tận Trung ương! Mục đích phi tang bản đồ gốc là để bọn tham nhũng dễ điều chỉnh, thay đổi mốc giới, chỉ giới (người dân gọi là ranh) nhằm tăng diện tích đất thu hồi của dân, với giá đền bù rẻ mạt như ăn cướp, rồi giao diện tích này cho doanh nghiệp sân sau để bọn chúng ăn chia trắng trợn, hưởng lợi bất chính cùng nhau! Theo ước tính sơ bộ của một chuyên gia kinh tế, trong 150 ha đất bị “giải tỏa lố” tức “giải tỏa ăn cướp”, các nhóm mafia lợi ích Lê Thanh Hải-Tất Thành Cang-Nguyễn Văn Đua đã thu lời bất chính tiền chênh lệch giá đất là 140 ngàn tỷ VNĐ, tương đương hơn 6 ngàn tỷ USD theo thời giá hiện hành!

2/ Tội tự ý huỷ bỏ quyết định của Thủ tướng chính phủ. Tội danh này là tội cấp dưới ra văn bản để bác bỏ, thay thế văn bản của cấp trên đã có trước đấy nhằm mở đường cho tham nhũng tập thể. Cụ thể là ngày 27/12/2005, Phó Chủ tịch UBND Tp. HCM Nguyễn Văn Đua, theo chỉ đạo của cấp trên trực tiếp là Lê Thanh Hải, Chủ tịch UBND Thành phố, đã ký ban hành Quyết định số 6565/QĐ-UBND điều chỉnh lại quy hoạch Khu ĐTM Thủ Thiêm theo hướng mở rộng diện tích đất thu hồi lên thêm 150-160 ha nhằm cùng nhau trục lợi! Đáng chú ý và rất hỗn xược, Điều 2 của QĐ 6565 này, Nguyễn Văn Đua ngang ngược và hỗn hào ghi: “Quyết định này thay thế Quyết định 367/TTg ngày 4/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ”. Khi Nguyễn Văn Đua ký ban hành Quyết định trên, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nghỉ hưu. Nhưng từ đó đến nay đã có 3 đời Thủ tướng kế vị, song cả 3 vị đều dung dưỡng, không nghiêm trị hiện tượng lộng quyền này! Nay mới chỉ có 1 Nguyễn Văn Đua, nhưng nếu có tới 63 Nguyễn Văn Đua thì Việt Nam sẽ trở thành một nhà nước vô chính phủ! Dựa vào QĐ 6565 này mà Tp. HCM dưới thời Lê Thanh Hải điều chỉnh lại quy hoạch, băm nát Khu ĐTM Thủ Thiêm để các nhóm mafia lợi ích cướp đất của dân, ức hiếp dân lành, gây thảm cảnh dân oan suốt hơn 2 chục năm từ Nam ra Bắc! Hậu quả đã nhỡn tiền, nếu không nghiêm trị bọn tội phạm này, ắt thể chế đất nước sẽ lâm nguy!

clip_image002

Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải và Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Đua

3/ Như trên đã nói, diện tích đất bị “giải tỏa lố” là từ 150 đến 160 ha, song Thanh tra Chính phủ “mới” chỉ xác định có 4,3 ha ở Khu phố 1 phường Bình An, quận 2 là nằm ngoài ranh quy hoạch! Toàn bộ 321 hộ dân từng định cư, sinh sống trên 4,3 ha đất trên đều bị đập nhà, cướp đất! Có 166/321 hộ dân bị dồn vào thế cùng, buộc phải nhận tiền đền bù rẻ mạt và nhận nhà tạm cư để sống cho qua ngày, số còn lại kiên quyết chối từ! Đã hàng chục năm, tất cả 321 hộ dân nói trên đều kiên trì phản đối, nhiều hộ có đơn khiếu nại hoặc khởi kiện UBND Quận 2 ra Tòa, đơn từ chất thành đống, kêu oan thấu trời mà chẳng có cấp nào đứng ra giải quyết!

Nâng cao dân trí – Giới thiệu tóm tắt sách “Tại sao các quốc gia thất bại” (Đoạn cuối)

Nguyễn Đình Cống

Lý thuyết do hai kinh tế gia hàng đầu Daron Acemoglu và Jemes A. Robinson đề xuất trong cuốn sách nổi tiếng Tại sao các quốc gia thất bại (Why Nations Fail) (hai bản dịch khác nhau của Nguyễn Quang A – trên mạng – và Nguyễn Thị Kim Chi – NXB Trẻ) tưởng chừng như đơn giản so với bộ sách Tư bản của K. Marx giải thích mọi biến động kinh tế trong xã hội bằng đấu tranh giai cấp. Nhưng đó là một lý thuyết cực kỳ thông thái, kết quả của một quá trình nghiên cứu ròng rã trong 15 năm, áp dụng chuẩn xác cho mọi hình thái kinh tế xã hội của loại người từ viễn cổ đến tận ngày nay.
Thoạt đọc vào ta tưởng hai tác giả hình dung sự vận động của nhân loại trên con đường hàng vạn năm là những ván bài súc sắc ở bất kỳ nơi đâu trên địa cầu, trong đó có 4 quân bài chủ yếu: 1. Quân bài thể chế chính trị chiếm đoạt; 2 Quân bài thể chế chính trị dung hợp; 3. Quân bài thể chế kinh tế chiếm đoạt; 4. Quân bài thể chế kinh tế dung hợp. Và các giống người khác nhau được phân bố trên bề mặt trái đất trong trường kỳ lịch sử cứ thế đem cả 4 quân bài đó bỏ vào một cái hộp rồi lắc đi lắc lại nhiều lần. Kết quả, mở hộp ra xem sự kết hợp giữa 4 quân bài là như thế nào. Nếu quân bài 2 kết hợp với quân bài 4 thì giống người ở tại vùng đất đang xóc bài sẽ may mắn hưởng thụ một nền kinh tế cực kỳ phát triển và một thể chế văn minh, nền chính trị pháp quyền sớm ra đời và công nghiệp hóa nhanh chóng phát triển. Còn nếu gặp phải những sự kết hợp khác, các dân tộc chơi bài sẽ chịu đựng một tình trạng kém may mắn. Tuy vậy, trong những kết hợp khác nhau mà các giống người nhận được khi chơi bài, vẫn có những kết hợp kiểu này khả dĩ hơn kết hợp kiểu kia, có chút hứa hẹn cải thiện kinh tế đất nước nhanh hơn hay cải thiện chính trị thông thoáng hơn. Còn như chẳng may rơi vào sự kết hợp giữa quân bài 1 và quân bài 3 thì hoàn toàn kẹt cứng, hoặc giả trong ngắn hạn tưởng như có những thời đoạn có phát triển bùng nổ ghê gớm, nhưng rồi thực tế đều nhanh chóng sụp đổ không cách nào cưỡng nổi. Đó chính là tình trạng của loài người suốt “đêm dài” Trung cổ. Và đó cũng là tình trạng mà các quốc gia trong thế kỷ 20, bị ám vào học thuyết của ông Marx, nổi lên làm cuộc cách mạng vô sản chuyên chính trời long đất lở, xây dựng một thể chế chính trị chiếm đoạt kết hợp chặt chẽ với một thể chế kinh tế tập trung (một cách gọi khác của hai chữ ”chiếm đoạt”), đẩy gần một nửa dân số nhân loại vào những thảm họa khôn lường. Liên Xô là nhà nước đi đầu, cướp chính quyền bằng bạo lực từ năm 1917 nhưng đến 1991 thì… phải giải thể. Các nước CS còn lại nhận ra lập tức nguyên nhân của khủng hoảng là sự kết hợp bất lợi 13 mà họ đã mất nhiều thập niên nhắm mắt theo đuổi, vội vàng tìm cách xóc lại hộp súc sắc để tạo ra một sự kết hợp mới. Lõi đời nhất là tay chơi Đặng Tiểu Bình, đã nhanh chóng chuyển dịch từ kết hợp 13 sang 14 (tất nhiên 4 đây không phải là 4 đúng nghĩa mà cũng chỉ là 3 có cải tiến ít nhiều). Thế là mô hình CS Trung Quốc bỗng nhiên vù vù phất lên. Đến mức kẻ tiếp nối cơ ngơi họ Đặng – Tập Cận Bình – nhảy tót lên ngai, một mặt biết rõ chỗ yếu chết người của cái mô hình cải lương rởm của đất nước y, lo xua đội quân chuyên gia đi sang các nước kinh tế hàng đầu giở trò ăn cắp công nghệ, mặt khác huênh hoang tuyên bố chỉ vài ba mươi năm nữa Trung Quốc sẽ là bá chủ thế giới. Nhưng y là kẻ không biết phận nên đã gặp phải một tay chơi khác của cái xứ sở vốn rất thạo chơi là Huê Kỳ, ngài donald Trump, đã vỗ cho y một cái, vạch vôi vào trán, chỉ ra rằng sự kết hợp 14 (giả tạo) của mô hình đất nước mày trước sau cũng sẽ chết thôi. Ngón giả dối ấy ông còn rành hơn mày nhiều. Hệt như thuở xưa một ông hàng thịt cho anh chàng hám danh một cái tát được kể trong sách Nho lâm ngoại sử, Bình có vẻ choáng váng, có vẻ đã hơi tỉnh ra…
Vậy đấy thưa các bạn. Hai tác giả đã chỉ ra rất xác đáng không phải những phân bố về mặt tài nguyên, sông ngòi, rừng vàng bể bạc, nghĩa là về mặt địa lý dành cho loài người những số phận may mắn hoặc hẩm hiu trên mặt đất khác nhau, cũng không phải quá trình tiến triển về văn hóa của mỗi sắc tộc vốn không đồng nhất, càng không phải sự thông thái hay dốt nát của những chủng người đa dạng sinh ra trên trái đất này, quyết định các quốc gia đã và đang tồn tại là thất bại hay thành công. Trong thực tiễn hoạt động của xã hội con người từ xa xưa cho đến hôm nay trên mọi vùng đất, những nhân tố bề ngoài có vẻ rất quan trọng đó kỳ thực đều vô nghĩa. Trước sau chỉ có sự kết hợp của 4 quân bài mà ta đã nói ở trên là quyết định mà thôi. Nếu sự kết hợp đúng đắn theo dạng thức 2 & 4 thì quốc gia ấy có tương lai, còn nếu kết hợp sai, theo các dạng thức còn lại thì tùy theo dạng thức nào mà quốc gia đó nhất định sẽ đứng ở vạch mốc nào.
Đất nước chúng ta không may chịu số phận làm cái đuôi của một hệ thống ngỡ rằng sẽ cầm cờ đỏ giải phóng nhân loại, sẽ đem hạnh phúc đến cho tất cả mọi giống người, ngờ đâu đó chỉ là ảo tưởng nó đẩy dân tộc lao vào chém giết và cứ ngủ mê trong chém giết đã hơn 70 năm. Nay nếu những kẻ cầm chịch không sớm tỉnh ra để điều chỉnh lại sự kết hợp của “hai quân súc sắc” cho đúng với quy luật kết hợp của một phần nhân loại văn minh đã vượt lên rất xa, thì sẽ cam phận khốn khổ cả một đời hoặc nhiều đời là diều không cần bàn cãi.
Xin giới thiệu tiếp cùng các bạn bản tóm tắt các phần cuốn sách Tại sao các quốc gia thất bại (Why Nations Fail) của GS Nguyễn Đình Cống, một sự tóm tắt công phu, giản dị, dể hiểu, với ước vọng góp phần nâng cao dân trí cho đất nước chúng ta.
Bauxite Việt Nam

Chương 14 - PHÁ VỠ KHUÔN ĐÚC

Ba thủ lĩnh Phi châu

Ngày 6 tháng 9, 1895, ba thủ lĩnh Phi châu, của Ngwato, Ngwaketse và Kwena, đã đến Anh với một nhiệm vụ: cứu các nhà nước của họ và năm nhà nước Tswana khác khỏi Cecil Rhodes. Tám nhà nước Tswana tạo thành xứ Bechuanaland, sẽ trở thành Botswana sau độc lập năm 1966.

Các bộ lạc này đã buôn bán với những người Âu châu trong hầu hết thế kỷ thứ mười chín. Năm 1885 Anh đã tuyên bố Bechuanaland là một xứ bảo hộ. Nhưng đối với những người Tswana tình hình đã thay đổi năm 1889 khi công ty Nam Phi Anh của Cecil Rhodes đã bắt đầu bành trướng lên phía bắc từ Nam Phi, cướp đoạt các dải đất lớn mà cuối cùng trở thành Bắc và Nam Rhodesia, bây giờ là Zambia và Zimbabwe. Vào năm 1895 Rhodes đã để mắt đến các vùng lãnh thổ tây nam của Rhodesia, Bechuanaland. Các thủ lĩnh đã biết rằng chỉ có tai họa và sự bóc lột nằm ở phía trước đối với các vùng lãnh thổ nếu chúng rơi vào sự kiểm soát của Rhodes. Họ đã quyết định chọn cái ít tệ hơn trong hai cái xấu: một sự kiểm soát lớn hơn của người Anh, hơn là sự sáp nhập bởi Rhodes.

Ngày 11 tháng Chín, 1895 Chamberlain đã tuyên bố rằng ông sẽ xem xét việc áp đặt sự kiểm soát Anh để bảo vệ các bộ lạc khỏi Rhodes. Mỗi trong ba thủ lĩnh, sẽ có một nước mà bên trong đó họ sẽ sống như cho đến nay dưới sự che chở của Nữ Hoàng. Các thủ lĩnh sẽ cai trị nhân dân của chính họ như hiện nay.

Các thủ lĩnh thực ra đã có cái gì đó có giá trị mà họ bảo vệ khỏi Rhodes và sau đó sẽ bảo vệ khỏi sự cai trị gián tiếp của Anh. Vào thế kỷ thứ mười chín, các nhà nước Tswana đã phát triển một tập lõi của các thể chế chính trị của sự tập trung hóa và các thủ tục ra quyết định tập thể mà thậm chí có thể coi như một dạng mới sinh, thô sơ của chủ nghĩa đa nguyên.

Tất cả các vấn đề về chính sách bộ lạc được giải quyết cuối cùng trước một đại hội đồng của những người đàn ông trưởng thành trong kgotla (địa điểm hội đồng) của thủ lĩnh. Các cuộc họp như vậy được tổ chức rất thường xuyên. Giữa các đề tài được thảo luận có các tranh chấp bộ lạc, những sự cãi nhau giữa thủ lĩnh và họ hàng của ông, việc đánh các loại thuế mới, tiến hành các công trình công cộng mới, ban hành các sắc lệnh mới bởi thủ lĩnh không phải là lạ đối với hội đồng bộ lạc để bác bỏ các ý muốn của thủ lĩnh. Vì bất cứ ai có thể nói, các cuộc họp này cho phép ông biết chắc các ý kiến của nhân dân nói chung, và tạo cho nhân dân một cơ hội để nói rõ những mối bất bình của họ. Nếu có cơ hội, ông và các cố vấn của ông có thể làm nhiệm vụ này một cách nghiêm túc, vì người dân ít khi sợ để nói công khai và thẳng thắn.

Vượt xa hơn kgotla, chức thủ lĩnh Tswana đã không mang tính cha truyền con nối nghiêm ngặt mà mở ra cho bất cứ người đàn ông nào chứng minh tài năng đáng kể và năng lực. Các thủ lĩnh Tswana đã tiếp tục các nỗ lực để duy trì sự độc lập của họ với Anh và bảo tồn các thể chế bản xứ của họ sau chuyến đi đến London.

Xét cho cùng, các thủ lĩnh, và nhân dân Tswana, đã may mắn. Có lẽ bất chấp mọi khó khăn bất lợi, họ đã thành công ngăn chặn sự thôn tính của Rhodes.

Một bước ngoặt khác vào lúc kết thúc thời kỳ thuộc địa có tính quyết định hơn đối với thành công của Botswana, cho phép nó phát triển các thể chế dung hợp. Vào lúc Bechuanaland trở thành độc lập năm 1966 dưới cái tên Botswana, thành công may mắn của các thủ lĩnh Sebele, Bathoen và Khama đã là lâu trong quá khứ. Trong các năm ở giữa, những người Anh đã đầu tư ít ở Bechuanaland. Vào lúc độc lập, Botswana đã là một trong những nước nghèo nhất thế giới; Thế nhưng trong hai mươi lăm năm tiếp theo, Botswana đã trở thành một trong những nước tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Ngày nay Botswana có thu nhập đầu người cao nhất ở châu Phi hạ-Sahara, và ở cùng mức như các nước Ðông Âu thành công như Estonia và Hungary, và các quốc gia Mỹ Latin thành công nhất, như Costa Rica.

Botswana đã phá vỡ vòng luẩn quẩn như thế nào? Bằng cách phát triển nhanh các thể chế kinh tế và chính trị dung hợp sau độc lập. Kể từ đó, nó đã là dân chủ, tổ chức các cuộc bầu cử đều đặn và cạnh tranh, và đã chẳng bao giờ trải qua nội chiến hay sự can thiệp quân sự. Chính phủ đã dựng lên các thể chế kinh tế thực thi các quyền tài sản, bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, và khuyến khích sự phát triển của một nền kinh tế thị trường. Nhưng tất nhiên, câu hỏi thách thức hơn là, Botswana đã làm thế nào để tìm được cách thiết lập một nền dân chủ ổn định và các thể chế đa nguyên, và chọn được các thể chế kinh tế dung hợp, trong khi hầu hết các nước Phi châu khác đã làm ngược lại? Ðể trả lời câu hỏi này, chúng ta phải hiểu một bước ngoặt, lần này là sự chấm dứt của sự cai trị thực dân, đã tương tác thế nào với các thể chế hiện tồn của Botswana.

Botswana đã có mức độ nào đó của sự tập trung hóa nhà nước và các thể chế bộ lạc đa nguyên một cách tương đối, đã sống sót qua được chủ nghĩa thực dân. Vào lúc độc lập những người Tswana đã nổi lên với một lịch sử của các thể chế coi là linh thiêng chức thủ lĩnh hạn chế và mức độ nào đó của trách nhiệm giải trình của các thủ lĩnh đối với nhân dân. Ðộc lập cũng đã là chuyện tương đối trật tự. Cuộc vận động cho độc lập đã được lãnh đạo bởi Ðảng Dân chủ Botswana (BDP), được thành lập năm 1960 bởi Quett Masire và Seretse Khama. Khama đã là cháu của Vua Khama III; tên của ông, Seretse, có nghĩa “đất sét mà kết dính với nhau.” Nó đã là một cái tên đặc biệt thích hợp. Mặc dù sự tăng trưởng ban đầu ở Botswana đã dựa trên xuất khẩu thịt, tình hình đã thay đổi đột ngột khi kim cương được khai thác.

Ở Sierra Leone và nhiều quốc gia Phi châu hạ-Sahara khác, kim cương đã kích động, đã cấp nhiên liệu cho xung đột giữa các nhóm khác nhau và đã giúp duy trì các cuộc nội chiến, có được nhãn Kim cương Ðẫm Máu vì sự tàn sát do các cuộc chiến tranh để giành quyền kiểm soát kim cương. Ở Botswana, các nguồn thu kim cương đã được quản lý cho lợi ích của quốc gia.

Ngày nay Botswana trông giống một nước thuần nhất, không có sự chắp vá sắc tộc và ngôn ngữ như ở nhiều quốc gia Phi châu khác. Botswana đã đạt tốc độ tăng trưởng xuất sắc sau độc lập bởi vì Seretse Khama, Quett Masire, và Ðảng Dân chủ Botswana đã lãnh đạo Botswana đi lên con đường của các thể chế kinh tế và chính trị dung hợp.

Botswana đã phá vỡ khuôn đúc bởi vì nó đã có khả năng nắm lấy bước ngoặt, sự độc lập hậu thuộc địa, và dựng lên các thể chế dung hợp. Ðảng Dân chủ Botswana và các elite truyền thống, kể cả bản thân Khama, đã không thử tạo ra một chế độ độc tài hay dựng lên các thể chế chiếm đoạt có thể làm giàu cho chính họ với cái giá của toàn xã hội phải trả. Ðấy một lần nữa đã là kết quả của sự tương tác giữa một bước ngoặt và các thể chế hiện tồn.

Kết thúc sự bóc lột ở miền Nam

Ngày 1 tháng Mười Hai, 1955. Thành phố Montgomery, Alabama, miền Nam Hoa kỳ. Lái xe bus đã gặp rắc rối, ông đã gọi cảnh sát. Một phụ nữ da đen, Rosa Parks, ngồi vào ghế dành cho người da trắng, Parks đã bị phạt mười dollar. Rosa Parks là thư ký chi hội Montgomery của Hội Quốc gia cho sự Tiến bộ của những người Da Màu. Việc bắt cô đã kích động một phong trào quần chúng, được đạo diễn bởi Martin Luther King, nhằm tẩy chay xe Bus Montgomery,

Cuộc Tẩy chay xe Bus đã là một thời điểm mấu chốt trong phong trào các quyền dân sự ở miền Nam Hoa Kỳ. Phong trào này đã là phần của một chuỗi các sự kiện và những thay đổi mà cuối cùng đã phá vỡ khuôn đúc ở miền Nam và đã dẫn đến những thay đổi cơ bản của các thể chế.

Bắt đầu trong các năm 1950, các thể chế miền nam đã bắt đầu đưa khu vực này lên một quỹ đạo tăng trưởng nhanh hơn nhiều. Ðồng thời, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ và chính phủ liên bang cuối cùng đã bắt đầu can thiệp một cách có hệ thống để cải cách các thể chế chiếm đoạt ở miền Nam. Như thế một nhân tố chính tạo ra một bước ngoặt cho sự thay đổi ở miền Nam đã là sự trao quyền cho những người Mỹ da đen ở đó và sự kết thúc của sự cai trị không bị thách thức của các elite miền Nam.

Sự thúc đẩy quan trọng nhất cho sự thay đổi đã đến từ phong trào các quyền dân sự. Nó đã trao quyền cho những người da đen tiên phong ở miền Nam, như ở Montgomery, bằng cách thách thức các thể chế chiếm đoạt xung quanh họ, bằng cách đòi các quyền của họ, và bằng cách phản đối và huy động [quần chúng] nhằm đạt được chúng. Nhưng họ đã không đơn độc trong việc này, bởi vì miền Nam Hoa Kỳ đã không là một nước tách biệt và các elite miền Nam đã không có sự kiểm soát tự do, chẳng hạn như các elite Guatemala đã có. Miền Nam đã phải tuân thủ Hiến pháp Hoa Kỳ và luật pháp liên bang. Sự nghiệp cho cải cách cơ bản ở miền Nam cuối cùng đã nhận được sự ủng hộ từ hành pháp, lập pháp và Tòa án Tối cao Hoa Kỳ một phần bởi vì phong trào các quyền dân sự đã có khả năng khiến cho tiếng nói của nó được lắng nghe ở bên ngoài miền Nam. Luật pháp liên bang đã là mấu chốt trong quá trình cải cách thể chế ở miền Nam.

Như ở Botswana, chìa khóa ở miền Nam Hoa Kỳ đã là sự phát triển của các thể chế chính trị và kinh tế dung hợp. Ðiều này đạt được bằng đặt cạnh nhau sự bất mãn ngày càng tăng giữa những người da đen chịu đau khổ dưới các thể chế chiếm đoạt miền nam và sự tan rã của sự cai trị độc đảng của Ðảng Dân chủ ở miền Nam. Lại một lần nữa, các thể chế hiện tồn đã định hình con đường thay đổi. Trong trường hợp này, mấu chốt là các thể chế miền nam ở bên trong các thể chế dung hợp của liên bang của Hoa Kỳ, và điều này cuối cùng đã cho phép những người da đen miền nam huy động chính phủ và các thể chế liên bang cho sự nghiệp của họ. Toàn bộ quá trình cũng được làm cho dễ hơn bởi sự thực rằng, với sự di cư ồ ạt của những người da đen ra khỏi miền Nam và sự cơ giới hóa sản xuất bông, các điều kiện kinh tế đã thay đổi cho nên các elite miền nam đã ít sẵn sàng để chiến đấu nhiều hơn.

Tái sinh ở Trung quốc

Ðảng Cộng sản đã lật đổ các nhà Dân tộc Chủ nghĩa trong năm 1949. Các thể chế chính trị và kinh tế được tạo ra sau 1949 đã hết sức chiếm đoạt. Về mặt chính trị, họ đề cao chế độ chuyên chế của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc. Cho đến khi chết năm 1976, Mao đã hoàn toàn thống trị Ðảng Cộng Sản và chính phủ. Ði cùng đã là các thể chế kinh tế hết sức chiếm đoạt. Kinh tế thị trường đã cơ bản bị xóa bỏ.

Như với tất cả các thể chế chiếm đoạt, chế độ Mao đã cố gắng khai thác nguồn lực từ đất nước khổng lồ mà bây giờ ông kiểm soát., Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã có độc quyền về bán sản phẩm. Những cố gắng công nghiệp hóa đã biến thành Ðại Nhảy Vọt khét tiếng sau 1958.

Một hệ quả của Ðại Nhảy Vọt là thành viên kỳ cựu của Ðảng Cộng sản, Ðặng Tiểu Bình, một tướng rất thành công trong cách mạng, người đã lãnh đạo phong trào “chống hữu” gây ra sự hành quyết của nhiều “kẻ thù của cách mạng,” đã có một sự thay đổi tấm lòng. Tại một hội nghị ở Quảng Châu miền Nam Trung Quốc năm 1961, Ðặng lập luận, “Không quan trọng liệu mèo là đen hay trắng, nếu nó bắt được chuột, nó là con mèo tốt.” Không quan trọng liệu các chính sách có vẻ cộng sản hay không; Trung Quốc đã cần các chính sách khuyến khích sản xuất sao cho nó có thể cho nhân dân của nó ăn.. Thế nhưng không lâu sau Ðặng bị Mao trừng phạt trong Ðại Cách mạng Văn hóa Vô sản

Ðặng đã thấy mình được dán nhãn kẻ số hai đi con đường tư bản chủ nghĩa, và bị tù trong năm 1967. Ông đã được phục hồi năm 1974, và Mao đã được Thủ tướng Chu Ân Lai thuyết phục để bổ nhiệm Ðặng làm phó thủ tướng thứ nhất.

Đã có một bước ngoặt: Mao chết. Với việc này đã có một chân không quyền lực thật sự. Bè Lũ Bốn Tên đã có ý định tiếp tục với các chính sách của Cách mạng Văn hóa. Hoa Quốc Phong đã muốn từ bỏ Cách mạng Văn hóa, nhưng ông đã không thể tách mình quá xa nó, Ðặng Tiểu Bình đã không muốn hủy bỏ chế độ cộng sản và thay thế nó bằng các thị trường dung hợp hơn Ông và những người ủng hộ ông đã nghĩ rằng sự tăng trưởng kinh tế đáng kể có thể đạt được mà không gây nguy hiểm cho sự kiểm soát chính trị của họ. Ðể đạt điều này, họ đã muốn từ chối không chỉ Cách mạng Văn hóa mà cả nhiều trong số di sản thể chế Maoist. Họ đã nhận ra rằng sự tăng trưởng kinh tế sẽ là có thể chỉ với các bước đáng kể theo hướng các thể chế kinh tế dung họp.

Nhóm của Ðặng đã cũng mở cửa cho đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế, và đã muốn theo đuổi một chính sách năng nổ hơn nhiều về hội nhập với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, đã có những giới hạn, và việc xây dựng các thể chế kinh tế dung hợp thật sự và sự làm giảm đi sự kìm kẹp mà Ðảng Cộng Sản đã có lên nền kinh tế đã không thậm chí là các lựa chọn.

Hội nghị toàn thể Thứ Ba của Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa Mười Một đã tạo ra bước đột phá, đã quyết định rằng, từ nay trở đi, tiêu điểm của đảng sẽ không là đấu tranh giai cấp mà là hiện đại hóa kinh tế. Tại Ðại Hội lần thứ Mười Hai của Ðảng năm 1982, và sau đó trong Hội nghị Ðảng Toàn Quốc tháng Chín 1985, ông đã đạt được sự cải tổ lại hoàn toàn ban lãnh đạo đảng và các cán bộ cấp cao. Những người trẻ hơn nhiều, có đầu óc cải cách đã tham gia. Nếu so sánh 1980 với 1985, thì vào năm sau, hai mươi mốt trong số hai mươi sáu ủy viên Bộ Chính trị, tám trong số mười một thành viên Ban Bí Thư Ðảng Cộng Sản, và mười trong số mười tám phó thủ tướng đã được thay.

Bây giờ vì Ðặng và các nhà cải cách đã hoàn thành cuộc cách mạng chính trị của họ và đã kiểm soát nhà nước, họ đã tung ra một loạt những thay đổi thêm về các thể chế kinh tế. Chính nền kinh tế nông thôn đã cất cánh đầu tiên. Việc đưa ra các khuyến khích đã dẫn đến một sự tăng lên đột ngột về năng suất nông nghiệp.

Sự tái sinh của Trung Quốc đến với một sự dịch chuyển quan trọng khỏi một trong những tập chiếm đoạt nhất của các thể chế kinh tế và hướng tới các thể chế dung hợp hơn. Các khuyến khích thị trường trong nông nghiệp và công nghiệp, rồi sau đó tiếp theo bởi đầu tư nước ngoài và công nghệ, đặt Trung Quốc lên một con đường tăng trưởng kinh tế nhanh.

Botswana, Trung quốc và miền Nam Hoa Kỳ, hệt như Cách mạng Vinh quang ở nước Anh, Cách mạng Pháp, và Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản, là những minh họa sống động rằng lịch sử không phải là định mệnh. Bất chấp vòng luẩn quẩn, các thể chế chiếm đoạt có thể được thay thế bởi các thể chế dung hợp. Nhưng nó chẳng tự động, cũng không dễ. Một sự hợp lưu của các nhân tố, đặc biệt một bước ngoặt gắn liền với một liên minh rộng của những người thúc đẩy cho cải cách hay các thể chế hiện tồn thuận lợi khác, thường là cần thiết cho một quốc gia để đi những bước dài hướng tới các thể chế dung hợp hơn. Ngoài ra sự may mắn nào đó là chìa khóa, bởi vì lịch sử luôn luôn diễn ra theo cách tùy thuộc ngẫu nhiên.

Chương 15 - HIỂU SỰ THỊNH VƯỢNG VÀ NGHÈO KHÓ

Các nguồn gốc lịch sử

Có những khác biệt khổng lồ về mức sống quanh thế giới. Sự tương phản của Nam và Bắc Triều Tiên, của hai Nogalese, và Hoa Kỳ với Mexico nhắc nhở chúng ta rằng đấy là các hiện tượng tương đối gần đây. Năm trăm năm trước, Mexico, đã chắc chắn giàu hơn các chính thể ở phía bắc, Khoảng cách giữa hai Nogalese thậm chí còn mới đây hơn. Nam và Bắc Triều Tiên về mặt kinh tế, cũng như về mặt xã hội và văn hóa, đã không thể phân biệt được trước khi nước này bị chia cắt tại vĩ tuyến thứ 38. Tương tự, hầu hết những sự khác biệt kinh tế khổng lồ mà chúng ta quan sát thấy xung quanh chúng ta hôm nay đã nổi lên trong hai trăm năm vừa qua.

Tất cả những thứ này có cần phải như thế? Có phải đã được xác định trước về mặt lịch sử – hay về mặt địa lý hay văn hóa hay sắc tộc – rằng Tây Âu, Hoa Kỳ, và Nhật Bản trở nên giàu hơn nhiều đến thế so với châu Phi hạ-Sahara, Mỹ Latin. Ðã có phải là không thể tránh được rằng Cách mạng Công nghiệp đã tiến triển trong thế kỷ thứ mười tám ở Anh, và sau đó lan sang Tây Âu và các nhánh của châu Âu ở Bắc Mỹ và Australasia? Liệu một thế giới phản thực (counterfactual) nơi Cách mạng Vinh quang và Cách mạng Công nghiệp xảy ra ở Peru, mà sau đó thuộc địa hóa Tây Âu và bắt những người da trắng làm nô lệ, là có thể, hay chỉ là một dạng của khoa học viễn tưởng lịch sử?

Ðể trả lời – thực ra, ngay cả để suy luận về – các câu hỏi này, chúng ta cần một lý thuyết về vì sao một số quốc gia thịnh vượng trong khi các quốc gia khác thất bại và nghèo.

Lý thuyết này cần phác họa cả các nhân tố mà tạo ra và làm chậm sự thịnh vượng và các nguồn gốc lịch sử của chúng. Cuốn sách này đã đề xuất một lý thuyết như vậy. Bất cứ hiện tượng xã hội phức tạp nào, như nguồn gốc của các quỹ đạo kinh tế và chính trị khác nhau của hàng trăm chính thể quanh thế giới, chắc có vô số nguyên nhân, khiến cho hầu hết các nhà khoa học xã hội tránh các lý thuyết một nguyên nhân, đơn giản, và có thể áp dụng một cách rộng rãi, và thay vào đó tìm kiếm những sự giải thích khác nhau cho những kết quả có vẻ tương tự nổi lên trong các thời đại và các vùng khác nhau. Thay vào đó chúng tôi đã đề nghị một lý thuyết đơn giản và đã sử dụng nó để giải thích những đường nét chính của sự phát triển kinh tế và chính trị khắp thế giới từ Cách mạng đồ Ðá Mới. Sự lựa chọn của chúng tôi đã được thúc đẩy không phải bởi một lòng tin ấu trĩ rằng một lý thuyết như vậy có thể giải thích mọi thứ, mà bởi lòng tin rằng một lý thuyết như vậy sẽ cho phép chúng ta tập trung vào những sự tương tự, đôi khi phải trả giá bằng trừu tượng hóa khỏi [tức là phải bỏ qua] nhiều chi tiết lý thú. Một lý thuyết thành công, khi đó, không tái tạo một cách trung thành các chi tiết, nhưng cung cấp một sự giải thích có ích và có cơ sở về mặt kinh nghiệm cho một loạt các quá trình trong khi cũng làm rõ các lực chính đang hoạt động.

Bản thân những khác biệt thể chế hiện tồn giữa các xã hội là kết quả của những sự thay đổi thể chế trong quá khứ. Vì sao con đường thay đổi thể chế là khác nhau từ xã hội này sang xã hội khác? Câu trả lời cho câu hỏi này nằm ở sự trôi dạt thể chế.

Lịch sử là chìa khóa, vì chính là quá trình lịch sử, qua sự trôi dạt thể chế, tạo ra những khác biệt mà có thể trở nên quan trọng trong các bước ngoặt.

Ðể bắt đầu, ngược với các giả thuyết địa lý và văn hóa, Peru không bị buộc phải nghèo bởi vì địa lý hay văn hóa của nó. Trong lý thuyết của chúng ta, ngày nay Peru nghèo hơn Tây Âu hay Hoa Kỳ rất nhiều là bởi vì các thể chế của nó, và để hiểu các lý do của tình trạng này, chúng ta cần hiểu quá trình lịch sử của sự phát triển thể chế ở Peru.

Thứ nhất, những sự khác biệt thể chế bên trong châu Mỹ trong thế kỷ thứ mười lăm đã định hình các vùng này bị thuộc địa hóa thế nào. Bắc Mỹ đã đi theo một quỹ đạo thể chế khác với Peru bởi vì nó được định cư thưa thớt trước thuộc địa hóa và đã thu hút những người định cư Âu châu, những người sau đó đã thành công đứng lên chống lại elite những người mà các thực thể như Công ty Virginia và Quốc vương Anh đã thử tạo ra. Ngược lại, các nhà chinh phục Tây Ban Nha đã tìm thấy một nhà nước tập trung, chiếm đoạt ở Peru mà họ đã có thể tiếp quản và một dân cư đông mà họ đã có thể đưa vào làm việc tại các mỏ và các đồn điền.

Thứ hai, Ðế chế Inca đã có thể chống lại chủ nghĩa thực dân Âu châu, như Nhật Bản đã làm khi các tàu của Commodore Perry đến Vịnh Edo. Mặc dù sự khai thác lớn hơn của Ðế chế Inca ngược lại với Tokugawa, Nhật Bản, chắc đã làm cho một cuộc cách mạng chính trị na ná như Minh trị Canh tân là ít có khả năng ở Peru, đã không có sự tất yếu lịch sử nào rằng những người Inca hoàn toàn chịu thua ưu thế Âu châu. Nếu giả như họ đã có thể kháng cự và thậm chí hiện đại hóa về mặt thể chế trong việc đáp lại các mối đe dọa, thì toàn bộ con đường lịch sử của Thế giới Mới, và toàn bộ lịch sử của thế giới, đã có thể khác đi.

Thứ ba và triệt để nhất, thậm chí đã không được quyết định trước về mặt lịch sử hay địa lý hay văn hóa rằng những người Âu châu là những người thuộc địa hóa thế giới. Ðã có thể là những người Trung Quốc hay thậm chí những người Inca. Tất nhiên, một kết quả như vậy là không thể khi chúng ta nhìn vào thế giới từ vị trí thuận lợi của thế kỷ thứ mười lăm, mà vào thời gian đó Tây Âu đã vượt trước châu Mỹ, và Trung Quốc đã quay sang hướng nội rồi.

Cho dù việc đưa ra các tiên đoán chính xác về các xã hội nào sẽ phát đạt tương đối so với các xã hội khác là khó, chúng ta đã thấy suốt cuốn sách này rằng lý thuyết của chúng ta giải thích khá tốt những sự khác biệt rộng về sự thịnh vượng và nghèo khó của các quốc gia khắp thế giới. Chúng ta sẽ thấy trong phần còn lại của chương này rằng nó cũng cung cấp một số chỉ dẫn về những kiểu nào của các xã hội có nhiều khả năng hơn để đạt sự tăng trưởng kinh tế trong nhiều thập niên tới.

Lý thuyết của chúng ta cũng gợi ý rằng sự tăng trưởng dưới các thể chế chính trị chiếm đoạt như ở Trung Quốc, sẽ không mang lại sự tăng trưởng bền vững, và chắc sẽ hết hơi. Ngoài các trường hợp này, có nhiều sự không chắc chắn. Cuba, chẳng hạn, có thể chuyển tiếp theo hướng đến các thể chế dung hợp và trải qua một sự biến đổi kinh tế lớn, hay nó có thể chần chừ dưới các thể chế chính trị và kinh tế chiếm đoạt. Cũng đúng thế về Bắc Triều Tiên và Burma (Myanmar) ở châu Á. Như thế, trong khi lý thuyết của chúng ta cung cấp các công cụ cho tư duy về các thể chế thay đổi thế nào và các hệ quả của những thay đổi như vậy, bản chất của sự thay đổi này – vai trò của những sự khác biệt nhỏ và của sự tùy thuộc ngẫu nhiên – khiến cho các tiên đoán chính xác hơn là khó.

Tất nhiên, tất cả lý thuyết của chúng ta là về các quốc gia có thể tiến hành các bước thế nào hướng tới sự thịnh vượng – bằng cách biến đổi các thể chế của họ từ chiếm đoạt sang dung họp Nhưng nó cũng nêu rất rõ ngay từ đầu rằng không có các công thức dễ dàng nào cho việc đạt được một sự chuyển tiếp như vậy. Tuy nhiên, lý thuyết của chúng ta vẫn hữu ích cho phân tích chính sách, vì nó cho phép chúng ta nhận ra lời khuyên chính sách tồi, dựa hoặc trên các giả thuyết không đúng hay trên sự hiểu biết không thỏa đáng về các thể chế có thể thay đổi ra sao. Trong việc này, như trong hầu hết sự việc, tránh các sai lầm tồi tệ nhất là quan trọng như – và thực tiễn hơn – việc thử phát triển các giải pháp đơn giản. Có lẽ điểm này có thể thấy được rõ nhất khi chúng ta xem xét các khuyến nghị chính sách hiện thời cổ vũ cho “sự tăng trưởng độc đoán” dựa trên kinh nghiệm tăng trưởng thành công của Trung Quốc trong vài thập niên qua. Tiếp theo chúng ta giải thích vì sao các khuyến nghị chính sách này làm cho lầm đường lạc lối và vì sao tăng trưởng Trung Quốc, như nó đã diễn ra cho đến nay, chỉ là một dạng khác nữa của sự tăng trưởng dưới các thể chế chính trị chiếm đoạt, không chắc để chuyển sang sự phát triển kinh tế bền vững.

Sự quyến rũ không cưỡng lại được của sự tăng truởng độc đoán

Ðới Quốc Phương từ sớm đã nhận ra sự đến của đợt hưng thịnh bột phát đô thị ở Trung Quốc. Suy luận rằng công ty Sắt và Thép Giang Tô của anh có thể chiếm một thị trường lớn với tư cách một nhà sản xuất chi phí thấp. Tuy vậy, vào tháng Ba 2004, dự án bị ngừng lại theo lệnh của Ðảng Cộng sản Trung Quốc ở Bắc Kinh, và Ðới đã bị bắt vì các lý do chẳng bao giờ được nói rõ ràng. Tội thật của anh đã là khởi động một dự án cạnh tranh với các công ty do nhà nước bảo trợ và làm vậy mà không có sự chuẩn y của các quan chức cao hơn trong Ðảng Cộng sản. Ðấy chắc chắn là bài học mà những người khác rút ra từ vụ này.

Phản ứng của Ðảng Cộng sản đối với các doanh nhân như Ðới không phải là một sự ngạc nhiên. Trong khi rất nhiều công ty tư nhân bây giờ hoạt động có lời ở Trung Quốc, nhiều yếu tố của nền kinh tế vẫn dưới sự chỉ huy và bảo hộ của đảng.

Những câu chuyện này không phủ nhận rằng Trung Quốc đã đi những bước dài vĩ đại hướng tới các thể chế kinh tế dung hợp, những bước dài mà làm nòng cốt cho tốc độ tăng trưởng ngoạn mục của nó trong hơn ba mươi năm qua. Hầu hết các doanh nhân có sự an toàn nào đó, nhất là bởi vì họ nuôi dưỡng sự ủng hộ của các cán bộ địa phương và các elite của Ðảng Cộng Sản ở Bắc Kinh. Trung Quốc trước tiên đã có thể tăng trưởng bởi vì dưới thời Ðặng Tiểu Bình đã có những cải cách triệt để khỏi các thể chế kinh tế chiếm đoạt nhất và hướng tới các thể chế kinh tế dung hợp.

Kinh nghiệm Trung Quốc là một thí dụ về sự tăng trưởng dưới các thể chế chính trị chiếm đoạt. Quan hệ giữa doanh nghiệp và đảng là hết sức béo bở cho cả hai. Các doanh nghiệp được đảng ủng hộ nhận được các hợp đồng với các điều kiện thuận lợi, có thể đuổi dân thường để tước đoạt đất của họ, và vi phạm luật pháp và các quy định mà không bị trừng phạt. Những người chặn đường kế hoạch kinh doanh này sẽ bị chà đạp và thậm chí có thể bị tù hay bị sát hại.

Bởi vì sự kiểm soát của đảng lên các thể chế kinh tế, mức độ của sự phá hủy có tính sáng tạo bị cắt bớt nghiêm trọng, và nó vẫn như thế cho đến khi có sự cải cách triệt để về các thể chế chính trị. Hệt như ở Liên Xô, kinh nghiệm Trung Quốc về tăng trưởng dưới các thể chế chính trị chiếm đoạt được tạo thuận lợi rất nhiều bởi vì còn rất nhiều sự đuổi kịp để làm. Thu nhập đầu người ở Trung Quốc vẫn là một phần nhỏ của thu nhập đầu người ở Hoa Kỳ và Tây Âu. Tất nhiên, tăng trưởng của Trung Quốc được đa dạng hóa hơn đáng kể so với tăng trưởng Soviet; nó không chỉ dựa vào vũ khí hay công nghiệp nặng, và các doanh nhân Trung Quốc cho thấy rất nhiều tài khéo léo. Dẫu sao, sự tăng trưởng này sẽ hết hơi trừ phi các thể chế chính trị chiếm đoạt mở đường cho các thể chế dung hợp. Chừng nào các thể chế chính trị còn là chiếm đoạt, sự tăng trưởng sẽ bị hạn chế một cách cố hữu, như đã được thấy trong tất cả các trường hợp tương tự.

Như lý thuyết của chúng ta nêu bật, đặc biệt trong các xã hội mà đã trải qua mức độ nào đó của sự tập trung nhà nước, kiểu tăng trưởng này dưới các thể chế chiếm đoạt là có thể và có thể thậm chí là kịch bản có khả năng nhất cho nhiều quốc gia, trải từ Cambodia và Việt Nam đến Burundi, Ethiopia, và Rwanda. Nhưng nó cũng ngụ ý rằng tất cả các thí dụ về tăng trưởng dưới các thể chế chính trị chiếm đoạt, sẽ không bền vững.

Thái độ của nhiều người về tương lai của xã hội và nền dân chủ Iraq sau hậu quả của sự xâm chiếm do Hoa Kỳ lãnh đạo đã lạc quan một cách tương tự bởi vì lý thuyết hiện đại hóa. Bất chấp thành tích kinh tế tai hại của nó dưới chế độ Saddam Hussein, trong năm 2002 Iraq đã không nghèo như nhiều quốc gia châu Phi hạ-Sahara, và nó đã có dân cư được giáo dục tốt một cách tương đối, vì thế đã tin rằng là chín muồi cho sự phát triển dân chủ và các quyền tự do dân sự, và thậm chí cho cái mà chúng ta mô tả như chủ nghĩa đa nguyên. Những hy vọng đó nhanh chóng bị tan vỡ khi sự hỗn loạn và nội chiến đổ xuống xã hội Iraq.

Lý thuyết hiện đại hóa là sai và và vô ích cho tư duy về làm thế nào để đương đầu với các vấn đề lớn của các thể chế chiếm đoạt trong các quốc gia thất bại. Mẩu bằng chứng mạnh nhất ủng hộ lý thuyết hiện đại hóa là, các quốc gia giàu là các quốc gia có các chế độ dân chủ, tôn trọng các quyền dân sự và các quyền con người, và có được các thị trường hoạt động và các thể chế kinh tế dung hợp nói chung. Tuy thế lại diễn giải sự liên kết này như sự ủng hộ lý thuyết hiện đại hóa bỏ qua ảnh hưởng lớn của các thể chế kinh tế và chính trị dung hợp lên sự tăng trưởng kinh tế.

Hồ sơ lịch sử thậm chí còn ít rộng lượng hơn với lý thuyết hiện đại hóa. Nhiều quốc gia tương đối thịnh vượng đã chịu thua và đã ủng hộ các chế độ độc tài đàn áp và các thể chế chiếm đoạt. Cả Ðức và Nhật Bản đã là giữa các quốc gia giàu nhất và được công nghiệp hóa nhất trên thế giới trong nửa đầu thế kỷ hai mươi, và đã có các công dân được giáo dục tốt một cách tương đối. Ðiều này đã không cản sự nổi lên của Ðảng Xã hội Chủ nghĩa Dân tộc (Quốc xã) ở Ðức và một chế độ quân phiệt có ý định bành trướng lãnh thổ qua chiến tranh ở Nhật Bản – làm cho cả các thể chế chính trị lẫn kinh tế quay đột ngột theo hướng các thể chế chiếm đoạt. Argentina cũng đã là một trong những nước giàu nhất thế giới trong thế kỷ thứ mười chín, nó cũng đã có dân cư được giáo dục nhất ở Mỹ Latin. Nhưng dân chủ và chủ nghĩa đa nguyên đã không thành công hơn. Thậm chí các nhà lãnh đạo được bầu một cách dân chủ cũng vẫn hành động như các nhà độc tài tham lam. Các chính phủ Argentina thế kỷ thứ hai mươi mốt vẫn có thể tước đoạt của cải của các công dân của mình mà không bị trừng phạt.

Tất cả những thứ này làm nổi bật vài ý tưởng quan trọng. Thứ nhất, sự tăng trưởng dưới các thể chế chính trị độc đoán, chiếm đoạt ở Trung Quốc, mặc dù chắc vẫn tiếp tục trong một thời gian, sẽ không chuyển thành sự tăng trưởng bền vững, được ủng hộ bởi các thể chế kinh tế thực sự dung hợp và sự phá hủy có tính sáng tạo. Thứ hai, ngược với các khẳng định của lý thuyết hiện đại hóa, chúng ta không nên tính đến sự tăng trưởng độc đoán sẽ dẫn đến dân chủ hay các thể chế chính trị dung hợp. Trung Quốc, Nga, và nhiều chế độ độc đoán khác hiện nay đang trải qua sự tăng trưởng nào đó chắc sẽ đạt các giới hạn của sự tăng trưởng chiếm đoạt trước khi chúng biến đổi các thể chế chính trị của chúng theo một hướng dung hợp hơn – và thực ra, có lẽ trước khi có bất cứ mong muốn nào giữa các elite đối với những thay đổi như vậy hay bất cứ sự phản đối mạnh nào buộc họ phải làm vậy. Thứ ba, sự tăng trưởng độc đoán không đáng mong mỏi cũng chẳng có thể đứng vững trong dài hạn, và như thế không nên nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế như một mẫu cho các quốc gia ở Mỹ Latin, châu Á, và châu Phi hạ-Sahara, cho dù nó là con đường mà nhiều quốc gia sẽ chọn chính xác bởi vì nó đôi khi phù hợp với các lợi ích của các elite kinh tế và chính trị chi phối chúng.

Không thể sắp đặt sự thịnh vượng

Không giống lý thuyết mà chúng ta đã phát triển trong cuốn sách này, giả thuyết ngu dốt đến dễ dàng với một gợi ý về làm thế nào để “giải” vấn đề nghèo khó: nếu sự thiếu hiểu biết đã đưa chúng ta đến đây, thì sự khai sáng và các nhà cai trị và các nhà hoạch định chính sách có hiểu biết có thể đưa chúng ta ra khỏi đây, và chúng ta phải có khả năng để “sắp đặt-engineer” sự thịnh vượng quanh thế giới bằng cung cấp lời khuyên đúng và bằng cách thuyết phục các chính trị gia về hoạt động kinh tế tốt là gì.

Các nỗ lực sắp đặt này đến với hai hương vị. Thứ nhất, thường được chủ trương bởi các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế, nhận ra rằng sự phát triển nghèo là do các chính sách và các thể chế kinh tế tồi gây ra, và sau đó đề xuất một danh sách những cải thiện mà các tổ chức quốc tế này thử xui các nước nghèo chấp nhận.

Cách tiếp cận thứ hai đến sắp đặt sự thịnh vượng đang là cách được ưa chuộng nhiều ngày nay. Nó nhận ra rằng không có cách sửa chữa dễ dàng để chuyển một quốc gia từ nghèo sang thịnh vượng trong một sớm một chiều hay thậm chí trong tiến trình của vài thập kỷ. Thay vào đó, nó khẳng định, có nhiều “khuyết tật thị trường vi mô” mà có thể được uốn nắn với lời khuyên đúng, và sự thịnh vượng sẽ nảy sinh nếu các nhà hoạch định chính sách tận dụng lợi thế của các cơ hội này

Cái mà tình tiết này minh họa là một phiên bản vi mô của sự khó khăn để thực hiện những sự thay đổi có ý nghĩa khi trước hết các thể chế là nguyên nhân của các vấn đề. Trong trường hợp này, đã không phải là các chính trị gia tham nhũng hay các doanh nghiệp hùng mạnh làm xói mòn cải cách thể chế, mà đúng hơn, cơ quan quản lý địa phương và các nhân viên đã có khả năng phá hoại sơ đồ khuyến khích của các nhà kinh tế học phát triển. Việc này gợi ý rằng nhiều khuyết tật thị trường vi mô mà có vẻ dễ sửa có thể là hão huyền: cấu trúc thể chế tạo ra các khuyết tật thị trường sẽ cũng ngăn cản việc thực hiện những can thiệp để cải thiện các khuyến khích ở mức vi mô. Cố gắng để sắp đặt sự thịnh vượng mà không đối mặt với nguyên nhân gốc rễ của các vấn đề – các thể chế chiếm đoạt

Sự thất bại của viện trợ nước ngoài

Tiếp sau các cuộc tấn công của Al Qaeda ngày 11 tháng Chín, 2001, các lực lượng do Hoa Kỳ lãnh đạo đã nhanh chóng lật đổ chế độ áp bức Taliban ở Afghanistan, Hiệp định Bonn tháng Mười Hai 2001 đã tạo ra một kế hoạch cho việc thiết lập một chế độ dân chủ. Bước đầu tiên là đại hội đồng toàn quốc, đã bầu Karzai lãnh đạo chính phủ lâm thời. Cộng đồng quốc tế đã nghĩ rằng tất cả cái Afghanistan cần bây giờ là một sự bơm mạnh viện trợ nước ngoài vào.

Cái xảy ra sau đó đã không phải là một sự ngạc nhiên, đặc biệt căn cứ vào sự thất bại của viện trợ nước ngoài cho các nước nghèo và các nhà nước thất bại trong năm thập kỷ qua. Hàng tỷ dollar bây giờ đổ vào Afghanistan. Nhưng chỉ ít trong số đó được dùng để xây dựng hạ tầng cơ sở, khoản tiền đầu tiên đã được sử dụng để vận hành một tuyến hàng không hoạt động con thoi quanh các quan chức Liên Hiệp Quốc và quốc tế khác. Việc tiếp theo họ cần là các lái xe và các phiên dịch đi kèm họ đó đây, trả cho họ nhiều lần lương Afghan hiện hành. Các luồng viện trợ, thay cho xây dựng cơ sở hạ tầng ở Afghanistan, lại đã bắt đầu làm xói mòn nhà nước Afghan mà họ được cho là để dựa vào và để củng cố.

Những người dân làng trong một huyện xa trong thung lũng trung tâm của Afghanistan đã nghe một công bố trên radio về một chương trình mới nhiều triệu dollar để phục hồi lại nhà cửa cho vùng của họ. Sau một thời gian dài, một ít xà gỗ, được Ismail Khan, viên cựu tư lệnh nổi tiếng và thành viên của chính phủ Afghan, cho chở đến. Dân làng đưa chúng chỉ sử dụng được chúng để làm củi. Thế điều gì đã xảy ra với hàng triệu dollar được hứa cho các dân làng? Số tiền ít ỏi đến được Afghanistan đã được dùng để mua gỗ từ miền tây Iran, và phần lớn của nó được trả cho Ismail Khan để bù cho giá vận tải đã được thổi phồng lên. Ðã phải có một chút phép mầu rằng các xà gỗ đã đến được làng.

Điều xảy ra ở thung lũng trung tâm của Afghanistan không phải là một sự cố cô lập. Nhiều nghiên cứu ước lượng rằng chỉ khoảng 10 hoặc nhiều nhất 20 phần trăm của viện trợ từng đến được mục tiêu của nó.

Kinh nghiệm Afghan với viện trợ đã thực ra có lẽ được cho là một thành công so với những nơi khác. Suốt năm thập kỷ qua, hàng trăm tỷ dollar đã được trả cho các chính phủ xung quanh thế giới như viện trợ “phát triển”. Phần lớn của số đó đã bị lãng phí về chi phí chung và tham nhũng.

Bất chấp thành tích không tâng bốc này của viện trợ “phát triển”, viện trợ nước ngoài là một trong những chính sách phổ biến nhất mà các chính phủ phương Tây, các tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, và các tổ chức phi chính phủ (NGO) thuộc các hạng khác nhau khuyến nghị như một cách để chiến đấu với nghèo khó quanh thế giới. Và tất nhiên, chu trình thất bại của viện trợ nước ngoài tự lặp lại mình hết lần này đến lần khác.

Một giải pháp – mà gần đây trở nên phổ biến hơn, một phần dựa vào sự nhận ra rằng các thể chế có liên quan gì đó đến sự thịnh vượng và ngay cả đến việc phân phát viện trợ – là để biến viện trợ thành “có điều kiện”. Theo quan điểm này, viện trợ nước ngoài được tiếp tục phải phụ thuộc vào các chính phủ nhận viện trợ thỏa mãn các điều kiện nào đấy – chẳng hạn, tự do hóa các thị trường hay tiến theo hướng dân chủ. Chính quyền George W. Bush đã tiến hành bước lớn nhất theo hướng loại này của viện trợ có điều kiện bằng bắt đầu các Tài Khoản Thách Thức Thiên Niên Kỷ, mà làm cho việc rót tiền viện trợ tương lai phụ thuộc vào những cải thiện chất lượng trong nhiều chiều kích của sự phát triển kinh tế và chính trị. Nhưng tính hiệu quả của viện trợ có điều kiện tỏ ra không tốt hơn loại không có điều kiện.

Nhưng tất cả điều này không ngụ ý rằng nên dừng viện trợ nước ngoài, trừ loại nhân đạo. Chấm dứt viện trợ nước ngoài là không thực tế và sẽ chắc dẫn đến thêm sự đau khổ con người. Nó không thực tiễn bởi vì các công dân của nhiều quốc gia phương Tây cảm thấy tội lỗi và lo lắng về những thảm họa kinh tế và con người quanh thế giới, và viện trợ nước ngoài làm cho họ tin rằng cái gì đó được làm để chiến đấu với các vấn đề. Cho dù cái gì đó này rất không hiệu quả, mong muốn của họ để làm việc đó sẽ tiếp tục, và như thế viện trợ nước ngoài sẽ tiếp tục. Các tổ chức quốc tế hết sức phức tạp và các NGO sẽ cũng không ngừng đòi hỏi và huy động các nguồn lực để bảo đảm sự tiếp tục của hiện trạng. Hơn nữa, sẽ là nhẫn tâm đi cắt viện trợ cho các quốc gia cần đến nhất. Ðúng, phần lớn nó bị lãng phí. Nhưng nếu từ mỗi dollar cho viện trợ, mười cent được đưa cho người nghèo nhất trên thế giới, đó là mười cent nhiều hơn số họ đã có trước đó để xóa sự nghèo khốn nạn nhất, và nó vẫn có thể tốt hơn không có gì.

Có hai bài học quan trọng ở đây. Thứ nhất, viện trợ nước ngoài không phải là một phương tiện rất hiệu quả để giải quyết sự thất bại của các quốc gia quanh thế giới. Còn xa mới thế. Các nước cần các thể chế kinh tế và chính trị dung hợp để phá vỡ vòng nghèo khó. Thứ hai, vì sự phát triển các thể chế kinh tế và chính trị dung hợp là chìa khóa, việc sử dụng các luồng viện trợ nước ngoài hiện tồn chí ít một phần để tạo thuận lợi cho sự phát triển như vậy sẽ là hữu ích. Như chúng ta đã thấy, tính có điều kiện không phải là câu trả lời ở đây, vì nó đòi hỏi các nhà cai trị hiện hành đưa ra những sự nhượng bộ. Thay vào đó, có lẽ cấu trúc viện trợ nước ngoài sao cho việc sử dụng và quản lý của nó đưa các nhóm và các nhà lãnh đạo bị loại trừ khỏi quyền lực vào quá trình ra quyết định và trao quyền cho một mảng rộng của dân cư có thể là một triển vọng tốt hơn.