20/12/2012

Danh hiệu giải thưởng đối với người tài

Tô Văn Trường

Ban chủ nhiệm chương trình nghiên cứu khoa học KC08/11-15 Bộ KHCN

Đất nước ta đang trải qua giai đoạn cực kỳ khó khăn về kinh tế xã hội, vì thế người ta thường bàn luận đến việc cần dùng đến nhiều người hiền tài ra giúp nước. Với một dân tộc cần cù, thông minh hiếu học như người Việt Nam thì đương nhiên là hiền tài không thể thiếu như các cụ ta đã nói “thời nào cũng có”. Nhưng cũng chính ở thời điểm này, nhiều giá trị bị lẫn lộn cho nên một số người cho rằng hiền tài có nhưng không được đánh giá đúng mức hoặc tôn vinh không đúng chỗ, xảy ra “vàng thau lẫn lộn”!

Công trình "thoát lũ ra biển Tây" của GS Nguyễn Sinh Huy và PGS-TS Hồ Văn Chín (hiện công tác tại Viện Địa lý và Tài nguyên) vừa được Ban Tổ chức Giải thưởng Nhân tài đất Việt 2012 trao giải thưởng khoa học tự nhiên Việt Nam, đã bị Kỹ sư Doãn Mạnh Dũng tố cáo là “đạo” ý tưởng của mình từ tháng 7 năm 1996!? Câu chuyện nghiêm trọng hơn vì liên quan đến những giáo sư, tiến sĩ đầu ngành, nhất là GS Nguyễn Sinh Huy mới mất ngày 22/9/2012. Theo yêu cầu của nhiều người, để khách quan và khoa học, tránh ngộ nhận, tôi cố gắng trình bày một cách hệ thống về quá trình hình thành và thực hiện đề tài thoát lũ ra biển Tây.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) diện tích tự nhiên gần 4 triệu ha gấp 3 lần đồng bằng Bắc Bộ nhưng chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai lũ, hạn, đất mặn, đất chua phèn. Ngay từ thời xưa, người ta đã nhận thức thủy lợi là biện pháp hữu hiệu nhất để cải tạo đồng ruộng và phát triển kinh tế xã hội. Năm 1944, Thống đốc Nam Kỳ chủ trì cho tiến hành đào một số kênh rạch chủ yếu phục vụ cho giao thông thủy. Từ năm 1955-1975 chính quyền Sài gòn tiến hành nghiên cứu về thủy lợi nhưng mới ở dạng sơ lược vì do hoàn cảnh chiến tranh. Ở ngoài Bắc, từ năm 1966-1967 Bộ Thủy lợi dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Hà Kế Tấn đã thành lập phòng B chuyên sưu tầm, nghiên cứu phân tích các tài liệu về thủy lợi ở miền Nam, đặc biệt là ĐBSCL.

Ngay khi thống nhất đất nước 1975, Bộ Thủy lợi đã thành lập 4 đoàn quy hoạch, trong đó có đoàn khảo sát quy hoạch thủy lợi ĐBSCL, đoàn khảo sát quy hoạch thủy lợi Đông Nam Bộ là tiền thân của Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thủy lợi Nam Bộ (Nay là Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam). Với sự cộng tác của Đại học thủy lợi, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam và nhiều ngành ở trung ương và các địa phương, qua khảo sát, đo đạc, phân tích tính toán, sử dụng mô hình toán thủy lực và kinh tế, Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam đã trình Chính phủ một loạt các dự án Quy hoạch thủy lợi vùng, đặc biệt đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án kiểm soát lũ Đồng bằng sông Cửu Long, dự án tiền khả thi kiểm soát lũ tứ giác Long Xuyên, đồng thời Viện tham mưu để Chính phủ ra Quyết định 99/TTg ngày 9/2/1996 về “Định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996-2000 để phát triển thủy lợi, giao thông và xây dựng nông thôn ĐBSCL”. Đấy là cơ sở pháp lý để Chính phủ và các ngành cho tiến hành thiết kế và thi công các công trình thủy lợi góp phần đắc lực vào việc khai hoang, thau chua, rửa phèn, tăng trưởng vượt bực về lương thực.

Nhìn lại quá trình lũ ở ĐBSCL, năm 1978 lũ lớn nhưng thiệt hại không nhiều vì đất đai phần lớn còn hoang hóa, dân cư thưa thớt. Năm 1984 lũ ở trạm Tân Châu đến 4,94 m, Nhà nước phải tổ chức cứu trợ. Lũ năm 1991 còn thấp hơn lũ năm 1984 đến 15 cm nhưng thiệt hại nhiều về cơ sở vật chất, Thủ tướng Võ Văn Kiệt trực tiếp đi khảo sát, và cứu trợ. Lũ năm 1994 chỉ mới ở mức 4,67 m nhưng thiệt hại lớn về người và của, đích thân Thủ tướng Võ Văn Kiệt vừa tổ chức cứu trợ, vừa cho tiến hành thảo luận các biện pháp chống lũ. Hồi ấy, người ta đua nhau hiến kế lập công kể cả người ngoài ngành thủy lợi. Có người đề xuất, được một số nhà khoa học ủng hộ đào con kênh rộng 1000 m từ sông Hậu đổ thẳng lũ ra kênh Rạch Giá và biển Tây. Có ông Tiến sĩ địa chất (Phó viện trưởng) táo bạo hiến kế đào kênh cắt ngang Trường Sơn tại Quảng Trị để thoát 300 tỷ m3 nước sông Mekong giảm ngập lụt cho ĐBSCL. Khi được hỏi ý kiến, từ Bangkok (đang là chuyên gia của Ban thư ký Mekong) tôi đã viết 2 bài báo dựa trên cơ sở phân tích, tính toán thủy văn, thủy lực, địa chất, môi trường để bác bỏ các ý tưởng nói trên.

Ý tưởng thoát lũ ra biển Tây, công tâm mà nói đã được nhiều nhà khoa học quan tâm từ đầu thập niên 80 chứ không phải chờ đến thập niên 90. Cụ thể là đài khí tượng thủy văn An Giang tổ chức đo đạc lưu lượng, mực nước, tiến hành tính toán, nghiên cứu đã tổng kết trong quyển sách "Chế độ thủy văn vùng Tứ giác Long Xuyên " của nhóm tác giả Bùi Đạt Trâm, do Ủy Ban Khoa học kỹ thuật An Giang xuất bản năm 1987. Những điểm chính của nhóm nghiên cứu này cho thấy lũ thoát ra Biển Tây không đáng kể, chỉ khoảng 5%. Lũ tràn vào tứ giác Long Xuyên từ Campuchia chủ yếu qua 7 cầu, chiếm khoảng 60%. Lượng nước tràn từ Campuchia, nhất là vào đầu mùa lũ, chủ yếu là nước phèn, không có phù sa. Khi vào tứ giác Long Xuyên lượng nước này ngăn cản không cho dòng nước giàu phù sa từ sông Hậu tràn vào. Lượng nước tràn vào này chỉ có một phần theo các kênh trục ra biển Tây, còn phần lớn xuống phía Cái Sắn và quay lại sông Hậu. Vì thế giải pháp kiểm soát lũ cho tứ giác Long Xuyên là ngăn dòng lũ (hoặc làm chậm dòng lũ đầu mùa) qua 7 cầu bằng biện pháp công trình, tạo điều kiện cho dòng lũ giàu phù sa từ sông Hậu vào sâu trong tứ giác Hà Tiên để cải tạo đồng ruộng.

Các chuyên gia của ngành thủy lợi cũng tiến hành khảo sát đo đạc bổ sung một cách toàn diện, sử dụng mô hình toán lũ VRSAP của PGS Anh hùng lao động Nguyễn Như Khuê (Phó Phân Viện trưởng Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thủy lợi Nam Bộ) tính toán cho cả ĐBSCL lấy biên trên từ Kratie, đặc biệt tính chi tiết cho vùng tứ giác Long Xuyên rút ra kết luận việc thoát lũ ra biển Tây dù có công trình tối đa cũng không quá 8% tổng lượng lũ của ĐBSCL. Đồng thời, nêu rõ hơn quan điểm là cần nạo vét mở rộng kênh Vĩnh Tế chuyển nước mùa khô tăng cường lượng nước ngọt để khai thác vùng Hà Tiên. Điều đó có nghĩa là không phải mục đích thoát lũ ra biển Tây mà chỉ làm thay đổi cơ chế kiểm soát lũ, lợi dụng mặt lợi của lũ. Hay nói cách khác ở tứ giác Long Xuyên là kiểm soát lũ về chất chứ không phải về lượng vì chủ yếu hơn 90% lượng lũ sông Mekong vẫn phải chảy theo sông chính thoát ra biển Đông.

Ngay sau trận lũ lịch sử năm 2000 ở ĐBSCL, Bộ Nông nghiệp & PTNT tổ chức hội thảo tại trụ sở của Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam dưới sự chủ trì của ông Võ Văn Kiệt, Bộ trưởng Lê Huy Ngọ và GS Nguyễn Văn Hiệu. Tôi đã báo cáo về quá trình hình thành lũ, kiểm soát lũ và các bài học kinh nghiệm, về các công trình kiểm soát lũ ở ĐBSCL, đặc biệt là ở tứ giác Long Xuyên.

Nhóm tác giả của GS Sinh Huy-Hồ Chín nghiên cứu đề tài khoa học độc lập hoàn thành năm 1997 dưới cái tên “Dự án thoát lũ ra biển Tây” cho nhiều kết quả tương tự như đã nói ở trên. Phải nói rằng kết quả nghiên cứu đối chứng này, giúp thêm cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt tin tưởng, quyết tâm chỉ đạo việc thực hiện các công trình kiểm soát lũ ở tứ giác Long Xuyên. Thành quả của nhóm nghiên cứu đứng đầu là GS Sinh Huy rất đáng trân trọng và ghi nhận.

Rất nhiều các chuyên gia, cán bộ trong và ngoài ngành thủy lợi đã đóng góp tích cực vào việc hình thành hệ thống công trình kiểm soát lũ ở ĐBSCL, đặc biệt ở tứ giác Long Xuyên tiêu biểu như các Anh: Phan Sỹ Kỳ, Trần Đức Khâm, Vũ Văn Vĩnh, Nguyễn Như Khuê, Nguyễn Văn Thuế, Hoàng Thọ Điến, Nguyễn Ân Niên, Trịnh Công Vấn, Phan Văn Thuật, Sáu Thượng, Bảy Nhị, Bùi Đạt Trâm v.v.

Ngay cả khi hệ thống công trình kiểm soát lũ đã hoàn thành ở tứ giác Long Xuyên phát huy hiệu quả to lớn về kinh tế xã hội và cải tạo môi trường, ông Võ Văn Kiệt vẫn trăn trở chỉ ra những khiếm khuyết còn tồn tại như khẩu độ cống còn nhỏ so với yêu cầu thực tế. Ý kiến của ông rất xác đáng vì khi xây cống theo tiêu chí tiêu lũ nên chỉ được 30-50% tiết diện sông. Rút kinh nghiệm, đối với ĐBSCL, vấn đề nan giải này đã được GS Trương Đình Dụ (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam) nghiên cứu đề xuất cống đập trụ đỡ không cần bản đáy thì khẩu độ cống làm gần bằng lòng sông mà kinh phí rẻ hơn thì những mâu thuẫn giữa sông và cống không còn là điều đáng lo ngại. GS Dụ sau đó, còn làm cả cống xà lan di động đã áp dụng ở bán đảo Cà Mau nên những vướng mắc trong thực tế sản xuất phần lớn được giải quyết.

Có thể khẳng định nếu không có sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp và vai trò uy tín của ông Võ Văn Kiệt thì không thể hình thành hệ thống kiểm soát lũ ở tứ giác Long Xuyên. Từ việc kiểm soát lũ tứ giác Long Xuyên, ông Võ Văn Kiệt nhìn xa hơn đến vấn đề biến đổi khí hậu, nước biển dâng và tác động của hệ thống thủy điện ở thượng lưu đến ĐBSCL. Ông hẹn tôi cùng đi khảo sát tình hình cống, đê biển và phát triển sản xuất ở Hà Lan trong chuyến bay 23 giờ 5 phút ngày 2/6/2008 của VN Airline xuất phát từ Tân Sơn Nhất nhưng đau đớn thay ông bị mất đột ngột nên nhiều việc còn bỏ dở.

Qua phân tích ở trên, có thể thấy rằng việc tổ chức tôn vinh nhân tài đất Việt nếu không thực sự khoa học và công tâm sẽ làm giảm sút ý nghĩa “nhân tài đất Việt” tạo ra tâm lý hoài nghi trong cộng đồng và cả những người được tôn vinh. Ngay bản thân GS TS Nguyễn Tất Đắc là Phó chủ nhiệm đề tài phụ trách phần tính toán cho GS Nguyễn Sinh Huy (chủ nhiệm đề tài) thừa nhận đây là công trình của tập thể của nhiều ngành, nhiều người. Một điều không bình thường là các thành viên của nhóm đề tài không được tham khảo ý kiến trong quá trình đăng ký giải. Khi được giải, các thành viên cũng không được thông báo để nhận giải. Chủ nhiệm đề tài đã mất thì còn 2 Phó chủ nhiệm nhưng cũng không được thông báo, cử người nhận giải. Viện Địa lý và tài nguyên tự đứng ra làm thủ tục nhận giải, chia tiền thưởng của giải.

Một khía cạnh câu chuyện này cho thấy là để giải quyết những chuyện khó, những vấn đề lớn cần công sức và trí tuệ của rất nhiều người, nhiều bên liên quan – từ các nhà khoa học, nhà quản lý và đặc biệt là vai trò nhà chính trị như vai trò của ông Võ Văn Kiệt trong những thời điểm lịch sử.

Việc quan trọng của các “hiền tài” quốc gia là đóng góp tài năng của mình vào giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh chứ không phải là để được trao các giải thưởng. Các nhà khoa học chân chính thường đam mê việc tạo ra giá trị (create value) là chính. Thái độ này khác hẳn với những người chỉ quan tâm chủ yếu tới việc chia phần (claim value). Tranh cãi ầm ĩ quá mức về giải thưởng là việc không nên làm đối với các nhà khoa học. Sự công bằng, phân minh trong “phân phối” giải thưởng là cần thiết và tốt, nhưng quá nhấn mạnh việc “phân phối” này khiến cho sự việc mất đi tính trong sáng của sự nghiệp sáng tạo.

Với việc tổ chức các giải thưởng tầm quốc gia: nên đảm bảo tính khoa học, công khai, minh bạch với sự cẩn trọng. Nhóm nghiên cứu “thoát lũ ra biển tây” không “đạo” ý tưởng mà đơn giản đây là công trình nghiên cứu có sự tham gia của nhiều người, nhiều ngành nên việc sản phẩm nghiên cứu chứa đựng nhiều sáng kiến, ý tưởng có từ các nguồn khác nhau cũng là điều dễ hiểu.

T.V.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN