17/02/2013

Vài chủ đề đầu năm Quý Tỵ trên trang Bauxite Việt Nam

Nguyễn Huệ Chi

Trong mười ngày nghỉ Tết, bài viết của bạn đọc gửi tới chúng tôi rất nhiều, và có thể nói đều là những ý kiến muôn màu muôn vẻ. Chính vì thế, sau một ngày “lại mặt”, xin được thay mặt Ban biên tập giãi bày một vài chủ định, về những cụm bài chọn lọc đưa lên mạng từ hôm qua đến hôm nay.

Cụm bài đầu tiên muốn gửi tới quý bạn là những tiếng nói nhắc nhở truyền thống chống xâm lược của dân tộc chúng ta. Cụ thể ở đây là chống kẻ thù truyền kiếp, bọn Đại Hán phương Bắc mà hình thù hiện nay là tập đoàn Trung Cộng Trung Nam Hải vô cùng hiểm độc, vừa đem miếng mồi “ý thức hệ” ra nhử chúng ta, làm tê liệt sức đề kháng của những người lãnh đạo Việt Nam; vừa giăng mọi thứ bẫy tinh vi (và tất nhiên bẩn thỉu) về kinh tế để đánh sập thế mạnh kinh tế của nước ta, hòng làm cho nền kinh tế nước ta trên nhiều phương diện công, thương, hay nông nghiệp... vốn đang non yếu, đều không ngóc đầu lên được, khiến nước ta ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc; lại vừa trắng trợn dùng vũ lực bao vây, đánh chiếm biển đảo, cướp quần đảo Hoàng Sa, một phần Trường Sa và nhiều vùng ven biên giới phía Bắc, ngăn chặn ngư dân chúng ta ra hành nghề trên biển, đặt chúng ta trong tình trạng lúc nào cũng không yên ổn để xây dựng cuộc sống hòa bình.

Nhân ngày 17-2, ngày Đặng Tiểu Bình xua quân sang đánh chiếm các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, chúng tôi xin đăng Lời kêu gọi của 12 vị đại biểu nguyên là cán bộ cao cấp của Nhà nước thuộc các tổ chức khác nhau, gợi thức toàn dân hướng về ngày không thể nào quên ấy, nhằm khắc tâm ghi cốt công lao các liệt sĩ đã oanh liệt hy sinh ở mặt trận Biên giới phía Bắc năm 1979, ở Hoàng Sa năm 1974 và ở Trường Sa năm 1988 – một cách bác bỏ hùng hồn nhất chủ trương ngấm ngầm xóa sạch hình ảnh của họ để mua tiếng tốt với cựu thù như dư luận vẫn rỉ tai nhau – đồng thời cũng là dịp bảo nhau mài sắc truyền thống yêu nước, rút ra bài học cảnh giác cho muôn đời con cháu, quyết không nghe những lời đường mật “vàng cuội” và “tốt cuội” mà một lũ cả thầy lẫn tớ ngu xuẩn cứ tưởng dân chúng Việt Nam ngày nay nghèo rớt mồng tơi không phân biệt được đâu là vàng thật vàng giả nên lúc nào cũng cố rót vào tai ta.

Một bài khác, Để thay thế một bản báo cáo gửi bạn bè của người đàn ông Việt gốc Pháp nhưng có dòng máu Việt chảy trong huyết quản còn mạnh hơn rất nhiều người Việt: ông André Menras Hồ Cương Quyết. Bài viết của ông kể lại một việc làm mà ông thủy chung theo đuổi từ trước đến sau không chịu rời bỏ, dù rằng bị cản trở đủ cách, cốt làm giảm nhuệ khí của ông: ông chỉ muốn đến với người dân Lý Sơn, bày tỏ sự ủng hộ hết mình với người dân Lý Sơn, mang đến Lý Sơn tấm lòng bè bạn thân thiết của nhân dân Pháp và nhiều nước Châu Âu để Lý Sơn biết rằng thế giới đang hướng về họ, và Lý Sơn có quyền tự hào về điều ấy, bởi đây là nơi hàng trăm năm nay luôn có những con người vì sứ mạng Tổ quốc giao phó đã sẵn sàng ra canh giữ Hoàng Sa dù biết rằng một đi không về, và ngày nay cũng chính họ, với lao động nghề cá trên vùng biển đó, là những người thật sự xác định Hoàng Sa thuộc chủ quyền của đất nước mình.

Cụm chủ đề thứ hai là những bài bàn thảo về việc sửa đổi Hiến pháp 1992. Đây là vấn đề có thể nói đang nóng trên các phương tiện truyền thông, thuộc quyền Nhà nước cai quản cũng như những tiếng nói độc lập trên nhiều trang mạng. Đầu năm mới dương lịch chúng tôi đã có một cuộc phỏng vấn với nhà giáo Phạm Toàn quanh bộ sách giáo khoa tiểu học của Nhóm Cánh Buồm của ông, qua đó nhân tiện cũng có mạn đàm về câu chuyện đang rôm rả trong dư luận là tuyên bố của ngài Phan Trung Lý, cho người dân được góp ý về Hiến pháp không có một đường ranh cấm kỵ nào. Nhưng cả hai chúng tôi đều đã nhìn thấy trước ở đấy một sự cởi mở khó mà ăn tươi nuốt sống. Một cuộc góp ý được nhiều cá nhân, ban ngành, hội đoàn lên tiếng, hay là một trò chơi thi nhau phô trương chữ nghĩa, kể cũng thú vị đấy, song nếu tính đến hiệu quả đích thực thì chắc sẽ không tránh khỏi cảm giác... xem thơ Trạng Quỳnh, bởi mọi thứ chữ nghĩa hay ho mà mình thành tâm và háo hức gợi ý chỗ này chỗ kia ắt cuối cùng sẽ rơi rụng hết, trong khi “cẩm nang chữ nghĩa được coi là hiến định” vốn đã có sẵn và nằm trong túi Bề Trên cả rồi. Dầu biết vậy, cho đến nay mọi người vẫn cứ lao vào cuộc chơi, vì đó là quyền công dân, một dịp được thể hiện quyền công dân và thực thi quyền làm chủ là điều rất hiếm, bởi thế BVN cũng đành sẵn sàng dành chỗ cho cuộc chơi.

Trong số bài viết góp ý cho Hiến pháp từ hôm qua đến nay, xin được đặc biệt lưu ý bạn đọc hai bài: bài Hiến pháp CHXHCNVN: Một vài đối chiếu của Phạm Vĩnh Cư và bài Chỗ đứng của Nhân dân trong Hiến pháp của Hoàng Xuân Phú. Hai bài viết là hai sự soi chiếu cơ bản từ hai phía. Một phía, PGS TS Phạm Vĩnh Cư đã lấy xuất phát điểm là hai bản Hiến pháp của Liên bang Xô Viết cũ và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hiện tại, hai nước “anh cả” và “anh hai” trong phe XHCN ngày nào, để nhìn về Hiến pháp 1992 của nước nhà. Điều không khó rút ra: những chương này chương khác của Hiến pháp 1992 mà giờ đây đối với dư luận đã trở thành mấy “miếng xương khạc chẳng ra cho”, trên thực tế vốn là phần cặn tồi tệ nhất của những thứ Hiến pháp độc tài kia “san sẻ” cho chúng ta, theo quy luật “ý thức hệ tầm ý thức hệ”, thậm chí có chỗ cặn còn lắng đọng thành vôi đông cứng trong khi cũng những chỗ “tuế toái” ấy, các bản Hiến pháp của hai nước đàn anh cũng chưa đến tình trạng đặc quánh lại đến gỡ không ra. Một phía khác, GS Hoàng Xuân Phú lại lấy xuất phát điểm là bản Hiến pháp Hoa Kỳ mà làm sáng tỏ lên một điều quan trọng, trong Hiến pháp của chúng ta hoàn toàn thiếu: Hiến pháp bao giờ cũng là khế ước của nhân dân có giá trị chế tài đối với kẻ cầm quyền để họ khỏi lộng hành, tham bạo, làm tổn hại đến quyền được sống của người dân – mạch sống vĩnh cửu của đất nước mà đời này qua đời khác phải luôn luôn duy trì. Đồng thời, đó cũng là khế ước xác nhận những quyền tự do dân chủ hiển nhiên mà tạo hóa ban cho mọi con người sinh ra trong một cộng đồng. Quy trình xây dựng ngôn bản của Hiến pháp 1992 hình như đã đi ngược lại với cơ sở lý luận thiết cốt nói trên, cũng là tức là triết thuyết tối thượng làm nên lý do ra đời và tồn tại của mọi bản Hiến pháp, mà đứng đầu là Hiến pháp Hoa Kỳ mà Tuyên ngôn độc lập 1945 của chúng ta đã chọn được một đoạn văn cô đọng phần tinh hoa nhất của nó. Chỗ thiếu trầm kha nhất ấy trong Hiến pháp 1992 làm thế nào bổ cứu, và điều kiện cần và đủ như thế nào đối với một cơ chế xã hội như Việt Nam để có thể bổ cứu? Bài viết của GS Hoàng Xuân Phú chứa đựng câu hỏi âm thầm mà nan giải này.

Sau hai bài viết trên, chúng tôi muốn quý bạn đọc tiếp bài Góp ý và ký Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 có vô ích không? của TS Nguyễn Thị Từ Huy. Người phụ nữ rất mực khiêm tốn này đã bằng trải nghiệm của mình trong một cuộc hội nghị do Liên hiệp hội phụ nữ Việt Nam TP Hồ Chí Minh tổ chức, đưa ra những lập luận xác đáng về quyền tự do đương nhiên và cả nghĩa vụ đương nhiên của mọi công dân trong việc góp ý sửa đổi Hiến pháp, một việc trọng đại liên quan mật thiết đến vận mệnh sinh tồn của quốc gia, vì Hiến pháp trước hết và trên hết là thuộc về nhân dân, mà quốc gia tiến hay thoái, yếu hay mạnh, đều do dân trí và dân quyền định đoạt. Và một Quốc hội đàng hoàng của một đất nước đàng hoàng thì theo chị, phải tôn trọng cái quyền không thể bác bỏ ấy, hơn thế nữa, phải thu hợp được mọi ý tưởng xuất sắc từ các góp ý đơn lẻ ấy, không được giấm giúi cắt xén ý kiến họ đi như trường hợp đáng gọi là nhục nhã khi người ta đối xử với bản góp ý của GS Đàm Thanh Sơn.

Tuy nhiên, bên cạnh các ý kiến rất đúng trên đây, Tiến sĩ họ Nguyễn, phải chăng cũng vì sống xa đất nước lâu ngày, lại đưa ra một tiêu chí đánh giá tầm mức quan trọng của những góp ý tập thể của người dân xem chừng có phần chưa thỏa đáng. Chị cho rằng đối với bản Kiến nghị về việc sửa đổi Hiến pháp 1992 do 72 người ký tên đợt đầu mà chị đã ký tiếp ngay sau đó và đặt hết lòng tin vào nó, nếu như rồi đây đạt được một số lượng chữ ký một hai triệu người chẳng hạn, thì mới có sức nặng làm cho Quốc hội buộc phải cân nhắc, còn như nếu chỉ được 5000 người ký là cùng thì cũng chưa thể đại diện cho tiếng nói của nhân dân. Sao vậy chị Từ Huy ơi? Chị không biết rằng dân tộc ta từ 1945 đến nay ở trong thể chế nào ư? Chị nghĩ đây là một xứ sở giống như xứ sở mà chị từng có nhiều năm cư trú để làm bản luận án Tiến sĩ hay sao? Chị có biết hiện nay chỉ cần không đội mũ bảo hiểm đi ra đường là người công dân Việt Nam đã có thể bị kéo vào đồn công an và mất mạng rồi không? Và việc ấy vẫn đang diễn ra chứ đâu phải đã dừng, tất nhiên không phải chỉ vì không có mũ bảo hiểm mà có hàng nghìn lý do vu vơ tương tự khiến họ mất mạng. Chị hẳn cũng đã được nếm cái vị cà phê đắng ngắt mà mỗi khi sắp có một cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược thì một đám an ninh đã kịp đến tận nhà lôi kéo mời chị đi thưởng thức dù chị không muốn chút nào? Hàng vạn người dân nước ta ở hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn trong mấy năm nay đã quá quen với mùi cà phê đặc trưng ấy đấy (nông thôn và các tỉnh lẻ thì mùi cà phê đắng cũng chẳng có đâu, đã có cái khác “nặng mùi” hơn dành cho họ). Vậy thì, trong khi nghiên cứu sâu triết thuyết của Kant về bản chất tự do của con người, chị Từ Huy hãy gắng dành ra một ít thì giờ, chỉ một ít thôi, để đọc lại những tài liệu nhan nhản nói về nỗi sợ nó như một gánh nặng tâm lý có tác dụng biến con người thành súc vật, đã đè lên một nửa nhân loại trong gần suốt thế kỷ XX, ở các xã hội được gọi là thiên đường triệu lần tự do hơn các nước tư bản, từ Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên cho đến các nước Đông Âu và các nước XHCN khác... Nếu chịu khó đọc lại những tài liệu đó, chắc chị sẽ thấu hiểu rằng dân chúng Việt Nam chừng 4, 5 năm lại đây đã có một sự cố gắng vượt mình đến thế nào để có thể trấn áp nỗi sợ nó là tâm lý chung cả một dân tộc (vốn là dân tộc anh hùng trong lịch sử), mới góp được 2000 chữ ký trong mỗi bản Kiến nghị mà ai cũng thấy mục tiêu vì dân vì nước là quá rõ ràng. Một Kiến nghị đóng góp cho Hiến pháp với tinh thần bảo đảm được quyền con người, với ý thức giành lại Hiến pháp thực sự về tay nhân dân chứ không riêng một đảng phái nào được thủ đắc để hưởng lấy mọi quyền làm người mà chính nhân dân mới đúng là người được hưởng, thì thiết tưởng, không cần chờ đến một triệu người ký đâu, chỉ 200 người ký thôi cũng đã là quý lắm, và rất cần dành cho nó một vị trí xứng đáng trong khi tham bác sửa đổi Hiến pháp 1992, vì nó là kết tinh tinh hoa của trí tuệ quần chúng.

Ngoài chủ đề Hiến pháp, hôm qua, BVN cũng có đăng bài Cần cơ chế đặc thù nào cho Ban Nội chính Trung ương? của Trường Sơn. Bài viết này cũng được đăng lại trên blog Phạm Viết Đào và lập tức được tác giả Nguyễn Huy Canh gửi đến BVN những lời góp ý. Biết rằng câu chuyện “Ban Nội chính” là một đề tài đang cuốn hút dư luận không kém gì đề tài Hiến pháp, nên chúng tôi đã dành một chỗ cho nó, song cũng lường trước bài viết của bạn Trường Sơn có thể nảy sinh những phản ứng, nên khi đăng bài, chúng tôi đã có kèm theo một Lời mở đầu của Ban biên tập, tạm lý giải: do chỗ người viết đang ở xa đất nước, đang bận trau dồi kiến thức là chính, nên cự ly nhìn ngắm của anh đối với các vấn đề thời sự của đất nước có thể chưa giúp anh nhìn sâu được vào những vấn nạn nội tại đang thật sự diễn ra. Ông Nguyễn Huy Canh đã cảm thấy bức xúc chính vì lẽ ấy.

Trong bài viết, bạn Trường Sơn của chúng ta đã bỏ công sức đề xuất một cơ chế để cho Ban Nội chính TW – đứng đầu là ông Nguyễn Bá Thanh mà anh hết lòng tin là một Triệu Tử Long của thời buổi hôm nay – mới được Đảng CS Việt Nam thành lập có khả năng hoạt động có hiệu quả, chống lại căn bệnh tham nhũng trầm kha từ mấy thập kỷ nay khiến Đảng CS lao đao, mấp mé bên bờ vực thẳm. Tuy nhiên, bạn Trường Sơn nói đến sự thay đổi cơ chế tổ chức và hoạt động cho một Ban Nội chính trong khi cái cơ chế mẹ, là cơ chế nảy sinh ra tham nhũng, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, thì anh lại không bàn. Vậy, dẫu có một Nguyễn Bá Thanh binh hùng tướng mạnh lôi ra được từng con sâu bự đi nữa, phỏng cái tổ sâu đang ngày ngày đẻ ra sâu ở khắp mọi nơi, có diệt được tận gốc hay không? Đấy chính là chỗ mà chúng tôi chỉ dám gợi ý nhẹ nhàng: “tác giả chưa nhìn ra những vấn đề nội tại” trong bài viết đầy tâm huyết của anh.

Theo chúng tôi, mỗi người cầm bút chúng ta từ nhiều vị trí khác nhau, không ai có thể tự đoan chắc vượt qua được “cái mũi” của mình khi nhìn vào thực tế. Không ai có thể vỗ ngực nói mình có tài xuyên thấu được bất kỳ khuất lấp nào trong muôn mặt đời sống phức tạp hiện tại, để có cái nhìn thật sự khách quan và bao quát hết mọi vấn đề. Bản thân bài viết của ông Nguyễn Huy Canh mà chúng tôi đăng hôm nay, biết đâu cũng sẽ gây cho người đọc những cảm giác... không kém sửng sốt, khi ông nhìn xu thế đối mới của Đảng CS Việt Nam như một tiến trình đi lên, trong đó không chỉ công lao của ông Nguyễn Văn Linh – mà rất nhiều thức giả ngày càng cảm thấy nghi ngờ – được ông đánh giá rất cao, mà đến những người chỉ cần nói đến cái tên cũng đã làm cho nhiều người giật thột, chẳng hạn các ông Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh... cũng được ông coi là những mắt xích quan trọng trên tiến trình dân chủ hóa, tách Đảng khỏi Nhà nước như một đòi hỏi tất yếu của các cơ chế pháp quyền. Có thể tin được vai trò to lớn của các vị ấy như ông đánh giá hay không? Thú thật, chúng tôi không dám tin. May lắm thì các vị ấy chỉ là người thừa hưởng của một xu hướng khó đảo ngược mà nhân vật chính, soạn thảo và chấp bút cho họ ký vào nghị quyết này nọ trong từng thời đoạn nhất định là những tư tưởng gia nằm trong bóng tối, đến nay chúng ta chưa tiện công khai hóa. Trong điều kiện như thế, những cái tên được ông nêu lên như những gương sáng nhằm đối lập với một nhân vật bị chê trách là hiện tại, e rằng có thể lại gây phản cảm và phản tác dụng, hoặc có thể khơi lên tâm lý hòa cả làng. Dầu sao, ý kiến của ông cũng sẽ rất bổ ích, trong tinh thần gạn lọc lấy cái phần đúng để nhìn cho sâu hơn.

Mấy ý kiến đầu năm xin trình cùng bạn đọc. Sắp tới, chúng tôi sẽ xin trở lại những đề tài quen thuộc bằng những phóng sự điều tra mới, chẳng hạn về tiến độ Dự án khai thác Bauxite hay về triển vọng cơ cấu lại Tập đoàn Vinashin.

N.H.C.