19/09/2010

Một bản kiểm kê quan hệ Việt-Mỹ

Carlyle A. Thayer

image Asia Pacific Bulletin, số 67, 14/9/2010

Nhân dịp kỷ niệm mười lăm năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố tại Hà Nội rằng Hoa Kỳ xem trọng Việt Nam “không phải chỉ vì khả năng ưu việt của nó, mà còn vì Việt Nam là một phần của chiến lược nhằm tăng cường việc tiếp cận của Hoa Kỳ trong vùng châu Á Thái Bình Dương, và đặc biệt là khu vực Đông Nam Á.” Theo lời của bà Ngoại trưởng, tất cả các cơ cấu chủ yếu đã được sắp xếp sẵn sàng để Hoa Kỳ đưa mối quan hệ với Việt Nam “lên một đẳng cấp cao hơn trong việc tiếp cận, hợp tác, hữu nghị, và đối tác.”

Mười lăm năm trước, quan hệ song phương giữa hai quốc gia đã bị đè nén bởi những vấn đề chưa được giải quyết do hậu quả của Chiến tranh Việt Nam gây ra: giải đáp đầy đủ về vấn đề Tù binh chiến tranh/Binh sĩ Mỹ mất tích (POW/MIA), vấn đề người Việt tị nạn, và yêu sách Việt Nam đòi hỏi Hoa Kỳ phải xử lý "vết thương chiến tranh" và chấm dứt hậu thuẫn những người Việt lưu vong chống cộng tìm cách lật đổ chính quyền Hà Nội. Những vấn đề tồn đọng này vẫn còn dai dẳng cho đến ngày nay nhưng chúng không còn là tâm điểm trong mối quan hệ song phương giữa hai quốc gia.

Hoa Kỳ công nhận Việt Nam đã nỗ lực hết mình trong việc giải đáp toàn bộ vấn đề binh sĩ Mỹ mất tích. Tuy nhiên, vấn đề POW/MIA vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ Hoa Kỳ trong mối quan hệ với Việt Nam. Để đáp lại sự hỗ trợ của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề binh sĩ Mỹ mất tích, Hoa Kỳ đã lấy hợp tác y tế làm nền tảng cho kế hoạch trợ giúp Việt Nam và đã chi thẳng ba phần tư số tiền tài trợ cho chương trình phòng chống HIV/AIDS và nạn dịch cúm.

Việt Nam vẫn luôn thôi thúc hai nước nhân nhượng nhau trong việc giải quyết những vấn đề tồn đọng, và trong những năm gần đây đã yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ giải quyết những điểm nóng trong vấn đề chất độc da cam. Quốc hội Hoa Kỳ đã chuẩn chi ngân sách giúp đỡ việc tiêu trừ chất độc dioxin và cung cấp những phương tiện y tế tại Đà Nẵng, nơi trước đây có kho chứa chất độc da cam. Tại Hà Nội, bà Ngoại trưởng Hillary Clinton đã hứa hẹn “tăng cường hợp tác và cùng nhau thúc đẩy tiến bộ to lớn hơn” để đối phó với di hại của chất độc da cam.

Kinh tế chiếm vị thế trọng tâm trong năm 2000 với việc ký kết Hiệp định Mậu dịch Song phương, tiếp theo là Hiệp định Mậu dịch và Đầu tư vào năm 2007. Mậu dịch hai chiều đã tăng vọt từ 450 triệu USD vào năm 1995 lên 12.9 tỷ USD trong năm 2009. Những giới chức trong chính quyền Obama ủng hộ Việt Nam trong nỗ lực tham gia toàn diện vào Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương để mở rộng mậu dịch tự do. Các công ty Hoa Kỳ đã đầu tư 9.8 tỷ USD vào Việt Nam, đưa Hoa Kỳ lên hàng thứ sáu trong bảng xếp hạng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Quan hệ kinh tế còn bao gồm cả Hiệp định Vận tải Hàng không Song phương (ký kết năm 2003, tu chỉnh năm 2008) và Hiệp định Hàng hải Song phương (ký kết năm 2007). Hiện đã có hơn hai trăm biên bản ghi nhớ được ký kết giữa các trường đại học của hai quốc gia.

Quan hệ chính trị được đều đặn cải thiện kể từ năm 2000, khi Tổng thống Bill Clinton trở thành vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên đến viếng Hà Nội. Năm 2006 và 2007, tổng thống Hoa Kỳ và chủ tịch nước Việt Nam đã trao đổi những chuyến viếng thăm qua lại. Một bước ngoặc trọng yếu đã xảy ra vào tháng 6 năm 2008 khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Washington. Trong một bản thông cáo chung, Hoa Kỳ tuyên bố tôn trọng chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và phản đối mọi hình thức dùng vũ lực để lật đổ chính quyền Hà Nội, như vậy là giải quyết những quan ngại của Việt Nam đã đề cập bên trên.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quay lại Washington vào tháng tư năm 2010 để tham dự Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân do Tổng thống Barack Obama chủ trì. Cũng trong tháng tư này, hai quốc gia đã ký kết một biên bản ghi nhớ về hợp tác năng lượng nguyên tử bao gồm quyền sử dụng những nguồn nhiên liệu nguyên tử đáng tin cậy. Thỏa thuận này được cho là sẽ mở cửa cho những công ty Bechtel và General Electric có thể bán lò phản ứng hạt nhân cho Việt Nam.

Quan hệ quân sự hàng ngang phát triển chậm chạp từ sau năm 1995 bởi vì Việt Nam lo ngại quan hệ quốc phòng có thể vượt qua quan hệ kinh tế. Vào năm 2000, Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu trao đổi những chuyến viếng thăm cấp bộ trưởng quốc phòng, trên cơ sở hỗ hoán, mỗi ba năm một lần. Năm 2008, hai quốc gia khai mạc cuộc Đối thoại Chính sách, An ninh và Quốc phòng đầu tiên để trao đổi quan điểm về an ninh khu vực và những vấn đề chiến lược, và vào tháng tám 2010, họ đã tổ chức cuộc Đối thoại Quốc phòng đầu tiên. Cuộc Đối thoại Quốc phòng này tập trung vào những vấn đề song phương chẳng hạn như tổng kết vấn đề binh sĩ Mỹ mất tích, bom mìn chưa nổ còn sót lại từ thời chiến tranh, vấn đề chất độc da cam, cùng những lãnh vực hợp tác khác trong tương lai.

Quan hệ quân sự tiến triển đáng kể trong năm 2009, dường như nhằm để đáp trả lại thái độ hung hăng của Trung Quốc trên vùng biển Nam Trung Hoa [Biển Đông Việt Nam]. Một số giới chức quân sự Việt Nam đã ra thăm một tàu sân bay đang hoạt động trong vùng biển Nam Trung Hoa. Việt Nam đã đồng ý sửa chữa những tàu Điều phối Hải vận của Quân đội Hoa Kỳ. Nhân dịp kỷ niệm chu niên lần thứ mười lăm bình thường hóa quan hệ, ông phó đại sứ Việt Nam đã đến thăm tàu sân bay USS George W. H. Bush tại Norfolk, tiểu bang Virginia, trong khi đó bên kia nửa vòng trái đất những giới chức quân sự và chính quyền địa phương Việt Nam cũng đáp máy bay ra viếng tàu sân bay USS George Washington đang hoạt động ngoài khơi bờ biển miền Trung Việt Nam. Cùng một thời gian, Hoa Kỳ và Việt Nam đã thực hiện những hoạt động phối hợp hải quân đầu tiên.

Trong lúc mối bang giao giữa hai quốc gia rõ ràng đang được thúc đẩy bằng động lực mới, con đường phía trước vẫn còn nhiều ước thúc và khó khăn tiềm tàng. Mối quan ngại trước tiên như lời bà Ngoại trưởng Clinton mô tả là “những khác biệt sâu sắc” về nhân quyền và tự do chính trị. Vấn đề nhân quyền vẫn còn là mấu chốt bất đồng trong mối quan hệ song phương. Giới chức Hoa Kỳ tuyên bố thẳng thắn rằng không thể bán vũ khí cho Việt Nam chừng nào tình hình nhân quyền ở đó chưa được cải thiện.

Ước thúc thứ hai phát sinh từ giới bảo thủ ở Việt Nam, thành phần cho đến tận bây giờ vẫn còn tỏ thái độ hoài nghi Hoa Kỳ. Những người này không phải chỉ cho rằng tự do tôn giáo, nhân quyền, và dân chủ là công cụ để ngấm ngầm phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, họ còn lập luận rằng việc trao đổi giáo dục cũng là một bộ phận của “âm mưu tiến hóa hòa bình.” Giới bảo thủ này phản đối tiến trình hiện hành trong quan hệ quốc phòng viện lí do là nó có thể gây ra mâu thuẫn trong mối quan hệ Việt-Trung.

Ước thúc thứ ba là kỳ vọng khác biệt trong lãnh vực cải cách kinh tế. Việt Nam tỏ ra không hài lòng đối với các cơ chế mà họ gọi là chướng ngại mậu dịch có động cơ chính trị chẳng hạn như thuế chống chống bán phá giá và thuế chống bao cấp đánh vào hàng hóa Việt Nam, cũng như việc Hoa Kỳ gây áp lực thúc đẩy Việt Nam cổ phần hóa những xí nghiệp do nhà nước làm chủ. Hoa Kỳ đã đề nghị giúp đỡ kỹ thuật trong lãnh vực mậu dịch và đầu tư và mong muốn khuyến khích chính phủ trong sạch. Nhưng trên đường vẫn còn nhiều rào cản. Tham nhũng tràn lan và gây tác hại cho tất cả mọi thành phần. Tiến trình quyết định chính sách của chính phủ Việt Nam thiếu tính minh bạch, chẳng hạn như việc áp đặt chính sách kiểm soát giá cả gần đây. Những ước thúc này phải được giải quyết để mối quan hệ song phương có thể tiến triển êm thắm lên một mức cao hơn trong việc hợp tác có cơ sở khoáng đại. Bốn vấn đề cần phải được giải quyết: giảm thiểu những hạn chế về việc truy cập Internet, ký kết một hiệp ước đầu tư song phương, chấp thuận tăng số nhân viên làm việc cho tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, và nâng cấp hợp tác giáo dục để những trường đại học Hoa Kỳ được phép hoạt động ở Việt Nam.

Hồ Kim Sơn dịch

Người dịch gửi trực tiếp cho BVN