05/09/2015

Biển Đông – Cuộc tranh giành quyền lực ở châu Á (Kỳ 21)

Bill Hayton

Phan Văn Song dịch

Hoàng Việt hiệu đính

Chương 9 (tiếp theo)

Hợp tác và những điều trái ngược:

Giải quyết các tranh chấp

(Cooperation and its Opposites: Resolving the Disputes)

Ernie Bower có quan hệ thân mật với hầu hết những ai có thể xét tới việc nhận lời đề nghị của Trung Quốc. Bower chỉ đạo Diễn Đàn Sumitro về Nghiên cứu Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế [CSIS] ở Washington DC. Các quan chức chính phủ thường xuyên tham khảo ý kiến ông về các khía cạnh trong chính sách của Mỹ, cũng như giao dịch qua công ty tư vấn tư BowerGroupAsia của ông. Việc làm của ông đã được Vua Malaysia và Tổng Thống Philippines vinh danh và được những người có địa vị với lợi ích trực tiếp ở Biển Đông tán tụng. Trong Hội đồng tư vấn của Diễn Đàn Sumitro có Richard Armitage, cựu Thứ trưởng Ngoại giao, bây giờ là giám đốc của công ty dầu ConocoPhillips; William Cohen, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và bây giờ Giám đốc công ty của tư vấn quốc phòng của chính ông; Hashim Djojohadikusomo, ông chủ cũ của công ty dầu Indonesia PT Pertamina; Đô đốc Timothy Keating, cựu Giám đốc của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương; Melody Meyer, Chủ tịch của Chevron AsiaPacific; Edward Tortorici, Phó Chủ tịch Tổng công ty First Pacific, vốn sở hữu cổ phần kiểm soát trong Forum Energy, công ty đang cố phát triển dự trữ khí trên khu vực Bãi Cỏ Rong; James Blackwell, Phó Chủ tịch điều hành của ChevronSkip Boyce, Chủ tịch khu vực Đông Nam Á thuộc Boeing; và George David, cựu Chủ tịch của United Technologies Corporation, một nhà thầu hàng không vũ trụ.

Bower trò chuyện với quá nhiều nhân vật quan trọng đến nổi quan điểm của ông về việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông có lẽ phản ánh một sự đồng thuận mới nổi lên trong giới hoạch định chính sách Washington. ‘Nằm ở cốt lõi của sự hiểu biết của Mỹ về những gì họ cần thực hiện để có một Châu Á - Thái Bình Dương an toàn là thực tế rằng sẽ không có sự ổn định và an ninh trừ khi Trung Quốc cảm thấy an toàn về mặt năng lượng, nước và thực phẩm’, ông nói. ‘Chúng ta có thể chạy vòng quanh rất nhiều về ngữ nghĩa nhưng thực chất không có cách nào để có một Châu Á ổn định, an toàn, trừ khi Trung Quốc tìm ra một con đường với các nước láng giềng và với sự khuyến khích của Hoa Kỳ tìm ra một con đường hướng tới phát triển chung ở Biển Đông. Cuối cùng, đó là điều sẽ phải đến.’ Đáng chú ý, Mỹ và Trung Quốc thấy chính họ cũng đồng ý về một lộ trình thoát ra các vụ tranh chấp. Nhưng có một vấn đề lớn.

Song song với những nỗ lực của Tiến sĩ Wu ở Hải Khẩu, các nhóm chuyên gia tư vấn cũng đang tìm tòi các cách có thể có để tiến lên. Chẳng hạn Nhóm Sáng kiến An ninh châu Á của Quỹ MacArthur của John D. và Catherine T. đã tài trợ cho một nghiên cứu ba năm của Sở Nghiên cứu Châu Á Quốc Gia,[1] và Trung tâm Luật Quốc tế, Đại học Quốc gia Singapore đã và đang tìm tòi các khuôn khổ pháp lý tiềm năng. Tất cả các nhà nghiên cứu này nói chung cũng đã đi đến kết luận tương tự. Phát triển chung sẽ chỉ có thể xảy ra một khi có sự đồng thuận về các yêu sách lãnh thổ và biển. Chúng ta lại quay trở lại từ đầu. Sự trớ trêu đối với Trung Quốc là ‘việc gác tranh chấp cùng phát triển’ sẽ chỉ có thể xảy ra một khi họ chính thức hoá yêu sách của mình – việc mà họ không muốn làm vì các tranh chấp nội bộ giữa các bộ phận khác nhau của guồng máy nhà nước mà điều này sẽ làm nẩy sinh.

Nhà ngoại giao Indonesia Hasjim Djalal đã nuôi dưỡng những lập luận này trong hơn một phần tư thế kỉ. Lặng lẽ và kiên nhẫn, ông đã cố giúp các bên khác nhau tìm thấy điểm chung. Ông là một trong những nhà đàm phán thảo ra UNCLOS trong thập niên 1970 và 1980 và cũng từng là đại sứ tại Liên Hiệp Quốc. Khi đuợc tin về trận chiến ở Đá Gạc Ma [Johnson Reef] vào năm 1988 (xem Chương 3), ông hiểu chính xác các tác động có thể cho Đông Nam Á là gì. ‘Tôi cảm thấy không thật thoải mái khi Biển Đông tiếp tục nhận đuợc nhiều quan tâm chiến lược hơn trong mắt của Trung Quốc, Hoa Kì, Nhật Bản, các nước ASEAN và thậm chí cả Ấn Độ và Nga’.[2] Đối với Djalal, điều cốt lõi là khu vực này nên cố gắng giải quyết các tranh chấp mà không có sự can dự của các cường quốc bên ngoài. Ông lo sợ rằng những căng thẳng và kình địch trong khu vực khi các nước tranh nhau tóm lấy tài nguyên biển, sẽ cản trở khả năng của tăng trưởng kinh tế.

Ông đi đến kết luận rằng các cuộc đàm phán chính thức sẽ chẳng đi tới đâu, ngay cả trong trung hạn, và rằng các nước không muốn người ngoài cố tìm cách sắp xếp cho một giải pháp. Thay vào đó, ông đã nhìn thấy một cơ hội ở UNCLOS, đặc biệt là các quy định về việc các nước xung quanh các biển kín và nửa kín bị buộc phải hợp tác. Djalal từng là thành viên lãnh đạo Nhóm Đặc trách Nghề cá của Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương vốn đã thành công trong việc làm chính phủ các nước trong khu vực Đông Nam Á, các đảo Thái Bình Dương, và Mỹ Latin Thái Bình Dương hợp tác với nhau ở những chỗ mà các sáng kiến chính thức trước đây đã thất bại. Sau đó, khi tham dự một hội thảo về phát triển chung các quặng dầu ở Đông Nam Á vào đầu năm 1989, ông đã gặp Ian Townsend-Gault, giáo sư luật Đại học British Columbia ở Canada. Hai ông thấy rằng họ đã đi đến cùng một kết luận: Biển Đông cũng cần một chỗ chính thức để nuôi dưỡng việc hợp tác thiết thực. Townsend-Gault trút hết ý tưởng này cho Bộ Ngoại giao Canada, và đã được đồng ý tài trợ cho sáng kiến này trong 5 năm.[3]

Vào khoảng cuối năm 1989 Djalal thuyết phục Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia, Ali Alatas, cử ông và Townsend-Gault đi một vòng tới các toà đại sứ và các bộ quanh ASEAN. Họ kết luận rằng tất cả mọi người đều muốn phải làm một cái gì đó, rằng cách tiếp cận không chính thức sẽ là tốt nhất và rằng các quốc gia ASEAN cần phối hợp lập trường của họ trước khi dấn vào làm việc với những nước khác. Djalal và Townsend-Gault đặt ra cho chính mình hai mục tiêu: quản lý các xung đột tiềm năng bằng cách tìm kiếm một lĩnh vực mà tất cả mọi người có thể hợp tác và phát triển các biện pháp xây dựng lòng tin giữa các bên tranh chấp đối thủ. Indonesia có hai con bài chính để chơi: họ không yêu sách bất kỳ thể địa lý nào trong khu vực tranh chấp và họ có một số khách sạn sang trọng trên các bãi biển yên tĩnh mà ở đó các đại biểu có thể đối thoại trong hòa bình. ‘Hội thảo về Quản lý xung đột tiềm năng ở Biển Đông’ đầu tiên đã diễn ra ngay sau đó, vào tháng 1 năm 1990, tại Bali, cho các đại biểu từ chỉ sáu nước ASEAN lúc đó. Các nước khác trong năm sau cũng đã được mời. Tính phi chính thức cho phép nhiều vấn đề khó khăn len lách qua dễ dàng: cả Trung Quốc lẫn Đài Loan đều có thể tham gia, các vấn đề lãnh thổ có thể cho vào chương trình thảo luận và các phương án chính sách được xem xét. Theo Djalal, Trung Quốc ban đầu miễn cưỡng tham gia vì họ không muốn vấn đề ‘bị khu vực hoá’ nhưng cuối cùng đã như vậy.

Các cuộc thảo luận khởi đầu tốt. Một số ý tưởng thậm chí đã len trực tiếp vào lĩnh vực chính thức với việc ký kết ‘Tuyên bố Manila của ASEAN về Biển Đông’ năm 1992 (mà bản thân nó là một phản ứng với Luật mới của Trung Quốc về lãnh hải công bố vài tháng trước đó). Năm đó hội thảo không chính thức đồng ý thành lập các nhóm công tác kỹ thuật để xem xét những vấn đề cụ thể. Cuối cùng chúng bao gồm: tài nguyên, nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường, an toàn hàng hải và các vấn đề pháp lí. Tiến bộ chậm chạp nhưng đến năm 1995 họ đã phê duyệt hai dự án nghiên cứu khoa học: một về thay đổi mực nước biển và một về chia sẻ dữ liệu, Canada chấp thuận tài trợ thêm 5 năm nữa. Nhưng sau đó, theo Djalal, bắt đầu có vấn đề: ‘Trung Quốc muốn rằng chỉ các tổ chức quốc phụ trách việc thực hiện’ chứ không phải các tổ chức của khu vực. Ví dụ, năm 1998 Bắc Kinh phản đối một đề nghị của Indonesia về nghiên cứu hydrocarbon, một kế hoạch của Thái Lan về nghiên cứu nguồn cá và thậm chí cả một kế hoạch tạo ra một cơ sở dữ liệu khu vực về khoa học trái đất.[4]

Năm 1993 Djalal đã đề nghị một khu vực cụ thể, mà ở đó một nỗ lực bước đầu cho việc cùng phát triển đích thực có thể diễn ra. Vị trí đã được giữ kín để tránh những phản ứng tiêu cực của công chúng. Hầu hết các nước ủng hộ ý tưởng đó, vài nước có những bảo lưu nhưng có một nước ‘không muốn nói chút gì về “khu” đề xuất cả’. Ý tưởng phai nhạt cho đến khi Djalal đưa ra một đề nghị sửa đổi vào năm 1998. Hội thảo đã tạo ra ‘Nhóm nghiên cứu về các Khu Hợp tác’ để cố thúc đẩy ý tưởng tiến tới. Nhóm đã xác định bốn vấn đề cần phải được khắc phục: phát triển sẽ được đặt ở đâu, tài nguyên nào sẽ được phát triển, loại tổ chức nào sẽ quản lý sự phát triển và những nước nào sẽ tham gia. Thảo luận tiếp tục trong ba năm nữa nhưng không thể đạt được điều gì cụ thể. Mặc dù các cuộc thảo luận tự chúng là các biện pháp xây dựng lòng tin, cuối cùng dự án thực tế duy nhất đi ra từ Hội thảo Biển Đông là một đoàn khảo sát hỗn hợp về sự đa dạng sinh học tháng 3 năm 2002, và thậm chí đã diễn ra xung quanh đảo Anambas không có tranh chấp của Indonesia. Đến lúc đó thì Canada quyết định ngừng tài trợ và các hội thảo trượt vào không hoạt động.

Theo cái nhìn của Djalal, đây là một thắng lợi đối với Bắc Kinh, vì Trung Quốc ‘dường như cảm thấy rằng quá trình này đã đi quá xa, quá nhanh và đã thảo luận quá nhiều chủ đề. Do đó có vẻ họ muốn tiến trình hội thảo chậm lại.’ Nhìn lại các cuộc thảo luận về phát triển chung hơn mười năm, Djalal nói: "Có vẻ như những gì Trung Quốc muốn nói về việc cùng phát triển là Trung Quốc muốn cùng và song phương phát triển – với các bên tranh chấp có liên quan – các nguồn tài nguyên của Biển Đông trong khu vực do nước khác và Trung Quốc cùng tuyên bố chủ quyền’.[5] Nói cách khác, Trung Quốc không quan tâm đến việc cùng phát triển, ngoại trừ trong các EEZ do các nước khác tuyên bố chủ quyền.

Đây vẫn là tranh chấp cơ bản ngăn cản việc cùng phát triển ở Biển Đông. Khi Tiến sĩ Wu trò chuyện về việc cùng phát triển, ông nói không úp mở rằng điều đó chỉ áp dụng cho các khu vực nằm trong EEZ của các nước khác, chứ không phải của Trung Quốc. Ernie Bower thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Washington nói rằng không một nước nào lại có thể tham gia như một sáng kiến như vậy. Điểm mấu chốt là tất cả mọi nước trừ Trung Quốc sẽ từ chối việc cùng phát triển theo những điều kiện theo đó Trung Quốc là đấu thủ lớn nhất trong khu vực và sẽ quyết định điều kiện. Câu hỏi lớn là liệu và khi nào thì Trung Quốc sẽ có đủ tự tin để thương lượng các điều kiện với tư cách là một đối tác chủ chốt nhưng không cố khống chế các điều kiện’.

Tháng 11 năm 2011, tại Hội nghị cấp cao ASEAN - Trung Quốc tại Bali, Thủ tướng Ôn Gia Bảo thông báo việc mở ra ‘Quỹ hợp tác biển Trung Quốc - ASEAN’ 3 tỷ nhân dân tệ ($470 triệu). Kể từ đó các quan chức cấp cao đã nhiều lần quảng bá cho quỹ này. Tháng 9 năm 2013, người kế nhiệm Ôn Gia Bảo, Lý Khắc Cường, nói ở lễ khai trương hội chợ triển lãm ASEAN - Trung Quốc. ‘Chúng tôi đang làm các nghiên cứu về việc thực hiện một loạt các dự án hợp tác, ưu tiên cho xây dựng các cơ sở nghề cá, bảo vệ môi trường đối với hệ sinh thái biển, sản xuất và buôn bán thủy sản, an toàn hàng hải và tìm kiếm cứu nạn, và tạo thuận lợi cho vận tải biển.’ Hầu hết đó cũng là những vấn đề mà Bắc Kinh đã từ chối hợp tác trong các hội thảo của Hasjim Djalal. ‘Chúng tôi đang mong đợi sự tham gia tích cực của các nước ASEAN’, ông tiếp tục.[6] Nhưng các nước ASEAN không tham gia – họ cho rằng sẽ có các ràng buộc chính trị kèm theo có thể khiến cho họ phải nhân nhượng các yêu sách lãnh thổ của mình. Vào thời điểm viết điều này, không một đồng nhân dân tệ đơn lẽ nào đã đi đến một dự án có dính dáng tới ASEAN. Chỉ có một dự án đã được chào mời – và dự án đó sẽ làm lợi cho công ty quốc doanh Trung Quốc, Tập đoàn Cảng Quốc tế Quảng Tây - Vịnh Bắc Bộ. Tập đoàn này dự kiến mua cổ phần tại cảng Kuantan ở Malaysia trong năm 2014 và sau đó nâng cấp cơ sở vật chất của mình. Có vẻ như có thêm một sự trùng hợp khít khao giữa lời hô hào quốc gia và lợi nhuận của doanh nghiệp Trung Quốc.[7]

* * * * *

Có một căn hộ ở London, nhìn ra sông Thames, một vài dặm về phía thượng nguồn từ nơi sinh của Thuyền trưởng Richard Spratlys và cách một vài dặm về phía hạ lưu, nơi ông mất, mà ở đó có một cách khác để tiến tới đang được nuôi dưỡng. Đó là một căn hộ rất lớn, ở trung tâm khu chính trị của Whitehall, được tô điểm với tác phẩm nghệ thuật, đồ cổ và vật quý từ khắp Đông Nam Á. Nó thường xuyên tiếp đón các thành viên của nhóm ưu tú xuyên Đại Tây Dương đi lại giữa các nhà ở khu old và New England và đó cũng là cơ sở của một tổ chức tự coi mình là một giải pháp tiềm năng cho các tranh chấp ở Biển Đông. ‘Kingdom of the Colonia of Saint John’ [Vương quốc Colonia của Thánh John] nghe có vẻ giống như một chuyện giả tưởng loại Ruritania nhưng những người ủng hộ nó cho rằng đó là pháp nhân thừa kế hợp pháp của đế chế của đô đốc người Philippines, Tomas Cloma, và yêu sách của Cloma ở Biển Đông. Người quản trị yêu sách này dùng biệt danh là Thomas de Lys: nhân viên ngân hàng, người từng cộng tác với gia đình Marcos và từng là cố vấn tài chính cho Bà Tưởng Giới Thạch [Tống Mỹ Linh], ‘Bà Rồng’ [Dragon Lady] vợ của nhà lãnh đạo Quốc Dân Đảng.

De Lys cho tôi xem một tài liệu, Nghị định của Hội đồng Tối cao Nhà nước Freedomland, có vẻ do Tomas Cloma ký ngày 24 tháng 8 năm 1974, trong đó tên Freedomland được chuyển thành ‘Colonia’ và Cloma đã từ chức quốc trưởng thay bằng nhà phát triển bất động sản người Anh tên là John Barnes (sau này đổi tên thành John de Mariveles). Việc ký kết có sự chứng kiến của anh trai Tomas, Filemon Cloma, và một bạn làm ăn của Barnes, cựu chỉ huy tàu ngầm [U-boat] tên là Eric Sroka. Sau đó văn bản này được công chứng bởi luật sư Rufino A. Sanic ở Manila. Theo de Lys, những tay trong đã cảnh báo rằng Tổng thống Marcos Cloma sắp ép buộc ông phải giao nộp yêu sách này cho chính phủ Philippines nên ông đã cố gắng để qua mặt họ. Cuối cùng khi Cloma ký văn bản của Chính phủ, ngày 04 tháng 12 năm 1974, sau gần hai tháng ở trong tù, ông đã sử dụng những lời này ‘bất cứ quyền lợi và/hay lợi ích nào mà họ có thể đã thu được qua các đảo đã nói có tên là Freedomland’, hàm ý rằng thật ra chẳng còn có bất kỳ lợi ích nào, dù Marcos không biết điều đó.

Lập luận De Lys thực chất như thế này: theo Hiệp ước San Francisco 1951, quốc gia Nhật Bản từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Do đó, theo thuật ngữ pháp lý chúng đã trở thành không có chiếm đóng – terra nullius [đất vô chủ] – cho phép Cloma yêu sách các đảo này cho mình một cách hợp pháp. Bạn đọc nào đã đọc suốt từ đầu tới đây sẽ biết rằng đã có một tuyên bố từ trước của Pháp đối với sáu đảo kể từ năm 1933, được làm mới lại vào tháng 10 năm 1946, và một tuyên bố của Trung Quốc đối với Đảo Ba Bình [Itu Aba], từ tháng 12 năm 1946. Nhưng theo cái nhìn của de Lys, Cloma đã tránh được mấy vấn đề này. ‘Tôn trọng yêu sách này của Pháp, Cloma cắt đi góc Tây Nam của lãnh thổ có chứa đảo Trường Sa, nó có tác dụng làm cho yêu sách của Cloma có dạng hình thang [đúng ra là hình lục giác – ND] như hiện nay. Các điều cụ thể liên quan đến yêu sách của Trung Hoa Dân Quốc [ROC] có thể được coi là ‘bị dập tắt’ vì Trung Hoa Dân Quốc được cho là không có tư cách một ‘quốc gia’ theo luật quốc tế, còn các điều cụ thể liên quan đến yêu sách của Trung Quốc [Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa] chưa bao giờ được Trung Quốc đề ra hoặc làm rõ cho đến giờ, ngoại trừ cái gọi là ‘đường chín vạch’. Những yên sách Việt Nam dựa trên quan điểm cho rằng họ là những người kế thừa yêu sách của Pháp nhưng Pháp lại tranh chấp điều này.’

clip_image002

Tuyên bố Freedomland của Tomás Cloma ngày 6/7/1956

(giới hạn của Freedomland là hình lục giác ABCDEF có toạ độ như xác định trong tuyên bố)*

clip_image004

Freedomland do Tomás Cloma (lục giác màu xanh nhạt) và phần do Tổng thống Philippines tuyên bố theo sắc lệnh 1596 ngày 11/6/1978 (lục giác vàng đậm) có chênh lệch đôi chút.

(Theo bản đồ này chỉ có tuyên bố của TT Philippines là không chứa đảo Trường Sa, còn tuyên bố của Cloma chứa toàn bô các đảo do Pháp tuyên bố năm 1933)

Trong những năm qua nhiều doanh nhân đã cố gắng để lập ra các quốc gia riêng của họ: chẳng hạn gia đình Brooke tìm cách làm điều đó ở Sarawak. Tuy nhiên, hầu hết đều đáng ngờ về tính ngay thẳng. Nhà chức trách Mỹ đã phải đối phó với một số kẻ lừa đảo xưng là đại diện cho các quốc gia đóng trên các rạn san hô và muốn truy cập vào hệ thống ngân hàng quốc tế. Đã có nhiều vụ ở Biển Đông. Năm 1971, một người Mỹ tên Morton Frederick Meads, tự xưng là vua của Vương quốc Humanity - Cộng Hoà Morac-Songhrati-Meads đóng trên ‘Đảo Meads’ và tìm cách đánh lừa chính phủ Malaysia một thời gian. Thật không may cho Cộng hòa - Vương quốc này, có tin là những người ủng hộ nó đã bị nước cuốn chết trong một cơn bão vào tháng 6 năm 1972. Một đối thủ là ‘Principality of Freedomland’ có vẻ do một tay lừa đảo người Pháp công bố vào năm 1974 – không có liên hệ được biết với Tomas Cloma – và Cộng hòa Thaumaturgy, với thủ đô tuyên bố là nằm trên Đá Louisa, tìm cách bán trái phiếu chính phủ cho các nhà đầu tư cả tin trong năm 2004. Thật ra có cả một cộng đồng nhỏ các nhóm và các cá nhân trên toàn thế giới tự xưng đại diện cho các quốc gia dân tộc đóng trên các rạn san hô, hay cho các phẩm trật cao quý và các gia đình hoàng tộc không còn tồn tại.

Tuy nhiên, Vương quốc Colonia of St John, có vẻ khác biệt. Nó có một địa chỉ thật, với những người thật phía sau nó và các tài liệu thật làm chỗ dựa cho tuyên bố của mình. Quan trọng hơn nó có thể tiếp cận thật với những người có ảnh hưởng và có tiền bạc thật đằng sau nó. Thomas de Lys là một phần của Triều đại ở bờ biển phía Đông của Mỹ, nó làm ra tiền qua việc xây dựng các nhà máy điện ở châu Á và về sau đã cung cấp một bộ trưởng tài chính cho Hoa Kỳ và một số tòa nhà mới tốt cho Đại học Yale. Các bạn thân của De Lys gồm cả nhiều người rành rẽ hành lang quyền lực – từ các nhà tư bản gai góc cho đến các luật sư tài hoa.

Virginia Greiman chuyên vạch ra các giải pháp mới cho các vấn đề cũ. Bà là một luật sư về Big Dig – dự án đường hầm khổng lồ bên dưới thành phố Boston – và bây giờ dạy ở trường Luật Harvard. Việc bà đứng về Colonia bắt đầu với cùng các lập luận đúng y như trong bài viết của Gao Zhiguo và Jia Bing Bing rằng UNCLOS chẳng phải là tất cả và một quốc gia có thể khẳng định quyền sở hữu/danh nghĩa lịch sử về lãnh thổ, mà Colonia là pháp nhân kế thừa đúng lẽ yêu sách của Freedomland từ năm 1956. Qua bữa ăn trưa ở trung tâm London, bà vạch ra mô hình phát triển đề xuất của mình, một định chế pha tạp dựa trên kinh nghiệm của bà với siêu dự án. Cách tiếp cận của bà sẽ cố gắng trả lời bốn câu hỏi được Djalal và Townsend-Gault nhận diện nhưng với một khu vực tư nhân hơn là với một mô hình liên chính phủ. Một Nhóm nghiên cứu hỗn hợp từ tất cả các bên tranh chấp sẽ phát triển một khuôn khổ cho việc đối thoại và đàm phán một thỏa thuận. Thỏa thuận này sẽ xác định ‘Khu vực nhượng quyền của Quần đảo Trường Sa’ [Spratly Island Concession Area hay SICA] và cách phân bổ các tài sản bên trong nó. Nó sẽ để mở cho tất cả các bên tranh chấp, với các tranh chấp được chuyển đến tòa trọng tài riêng của chính khu vực. Khu vực này sẽ có cơ quan thẩm quyền riêng của mình, làm việc phân bổ các nhượng quyền đối với các tài nguyên khai thác.[8]

‘Nó có thể là một cầu nối giữa Trung Quốc và Philippines’, bà lập luận. Điều quan trọng là phải giữ nó trong khu vực tư nhân và ngăn chặn các nước đi đến tòa án quốc tế. Bà tự tin rằng cả Trung Quốc lẫn Philippines đều sẽ được lợi từ việc sắp xếp đó. Nhưng còn Colonia thì sao? Theo mô hình SICA, Colonia sẽ nhận được một phần trong thu nhập và việc phải làm cái gì với nó là tuỳ các ‘nhà cai trị’ của Colonia quyết định. Bà nói rằng một số trong đó sẽ đi đến các mục đích tốt lành. Colonia muốn chia sẻ tài nguyên vì lợi ích của thế giới nên các liên kết về xây dựng của nó với các giáo hội và những người khác là để tạo thành một quỹ phúc lợi, ví dụ như giảm nghèo. Thách thức rõ ràng nhất cho kế hoạch hoành tráng này là mối nghi ngờ đáng kể về việc liệu có bên tranh chấp nào sẽ đối xử với Colonia một cách nghiêm túc không. Tiếp theo sẽ là liệu các bên tranh chấp sẽ có khả năng tìm được thỏa thuận trong Nhóm Nghiên cứu Hỗn hợp Greimans nhiều hơn chút nào so với trong các cấu trúc hiện tại mở ra cho họ thông qua các hội thảo chính thức và trọng tài quốc tế không. Nghe có vẻ điên rồ, nhưng nó có ít thực tế hơn chút nào so với việc mong đợi Trung Quốc từ bỏ yêu sách ‘không thể tranh cãi’ của họ đối với Biển Đông không?

* * * * *

Độc giả mệt mỏi vì cuốn sách này, vào thời điểm này, có thể ao ước có một liều lượng biến đổi khí hậu tương đối lớn để nâng mực nước biển cao lên và nhấn chìm toàn bộ các thể địa lý của Biển Đông. Ngay cả những dự báo dè dặt về một mức nâng thêm 39-58 cm vào năm 2100 có thể đưa một số thể địa lý hiện nay chìm dưới mặt nước. Đáng buồn là điều đó ít có khả năng làm giảm bớt vấn đề hơn là mở ra một đợt bất ổn khác. Việc mực nước biển nâng lên trong tương lai không phải là một mối quan tâm lớn khi soạn thảo UNCLOS và do đó, Công ước này không cung cấp lời hướng dẫn rõ ràng chúng cần được xử lí.như thế nào. Những lập luận giả định đã bắt đầu, với các học giả tranh luận nhau liệu cách giải thích đúng đắn luật quốc tế sẽ hoặc là duy trì trạng thái của các vùng đất này như chúng có vào năm 1982 hoặc là các ranh giới đó có thể di chuyển. Ngay cả khi chúng chìm sâu bên dưới sóng biển, các nước có thể vẫn sẽ tiếp tục đưa ra yêu sách đối với chúng. Nhật Bản đã chi những khoản tiền rất lớn để cố ngăn không để cho đá trên Okinotorishima, một đảo san hô xa trong Thái Bình Dương, bị xói mòn nhằm giữ yêu sách của họ rằng nó thực sự là một đảo được hưởng EEZ đầy đủ.

Vì vậy với ‘giải pháp’ đó không có khả năng thực hiện thì những giải pháp nào khác là có thể? Tin tốt và tin xấu đã được phô bày trong tháng 5 năm 2009. Khi Malaysia và Việt Nam nộp hồ sơ chung cho Ủy ban về ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc, họ chỉ tính yêu sách của mình từ đất liền chứ không từ bất kỳ một đảo nào trong các đảo tranh chấp.[9] Nhưng đó là nguyên nhân để Trung Quốc để đưa ra bản đồ ‘đường chữ U’ một vài ngày sau đó, dường như làm thay đổi các điều khoản của các lập luận. Tất cả các quốc gia, ngoại trừ Trung Quốc, đều đã từng bước đưa yêu sách của mình phù hợp với UNCLOS. Các nước Đông Nam Á có thể không thừa nhận giá trị các yêu sách của nhau, nhưng họ đang bắt đầu thống nhất một cơ sở để giải quyết bất đồng của họ. Từng chút, từng chút một, vài tranh chấp ở Biển Đông đang được gỡ rối.

Việt Nam, Malaysia và Indonesia đã giải quyết các yêu sách đáy biển của họ trong các khu vực mà chúng gặp nhau và ba quốc gia đang hợp tác hướng tới việc phân chia ranh giới của chúng. Trong khi đó họ đang theo đuổi việc cùng phát triển ở các vực chồng lấn. Ranh giới giữa Malaysia và Brunei ban đầu đã được các quản trị thuộc địa Anh giải quyết vào năm 1958 và sau đó mở rộng bởi một thỏa thuận song phương vào ngày 16 tháng 3 năm 2009. Hiện vẫn còn là một tranh chấp tiềm ẩn trên thềm lục địa mở rộng của Brunei, có thể chạy vào khu vực phát triển chung của Malaysia - Việt Nam nhưng điều này có vẻ như không kích động đối đầu. Tại thời điểm viết sách Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei vẫn chưa làm rõ yêu sách đầy đủ thềm lục địa của họ.

Vấn đề lớn nhất trong nội bộ ASEAN là việc Philippines tiếp tục yêu sách đối với địa bàn tỉnh Sabah của Malaysia – bắt nguồn từ các thỏa thuận ban đầu của Công ty British North Borneo về nhượng lại hoặc cho thuê (việc dịch chính xác là rất quan trọng đối với tranh chấp này) khu vực này từ Quốc vương (Sultan) Sulu ở 1878. Như cuộc ‘xâm lược’ Sabah hồi tháng 2 năm 2013 của những người ủng hộ Sultan lúc đó cho thấy, yêu sách này vẫn còn là một vấn đề rất nhạy cảm. Mặc dù Sultan đã mất vào tháng 10 năm 2013, ước nguyện cuối cùng của ông là yêu sách nên được giữ vững.[10] Kết quả là Philippines không thể đồng ý ngay cả nơi khởi đầu cho việc phân định ranh giới với Malaysia, vì trước hết một bên sẽ phải thừa nhận tính hợp pháp của yêu sách các bên khác đối vớ Sabah. Khi Henry Bensurto của Philippines trình bày ý tưởng về Khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác với Viện Hàng vụ của chính phủ Malaysia tháng 12 năm 2011 ông đã sử dụng một tấm phim chiếu cho thấy ranh giới Philippines bắt nguồn từ biên giới giữa Malaysia và Brunei. Có lẽ đó không phải là cách ngoại giao nhất để trình bày kế hoạch. Không ngạc nhiên là sau đó người Malaysia đã từ chối ủng hộ sáng kiến.

Luật pháp khó có khả năng cung cấp câu trả lời cuối cùng cho các tranh chấp. Ngay cả khi Tòa Trọng tài Thường trực phán quyết nghiêng về Philippines thì cũng không có cảnh sát toàn cầu đứng ra thực thi phán quyết. Tuy nhiên, nếu như Trung Quốc cố tìm cách hạn chế việc truy cập của quân đội Mỹ đi qua Biển Đông thì chúng ta có thể chắc chắn rằng luật pháp quốc tế sẽ được viện dẫn để biện minh cho phản ứng của Washington. Trong khi đó, mối đe dọa của vũ lực đang thực hiện theo cách khác. Chính phủ Philippines cho rằng nếu họ có thể khai thác hydrocarbon ở Bãi Cỏ Rong thì mức sống cho hàng triệu người dân của họ sẽ được cải thiện. Chuyển lập luận ngược lại, có thể cho rằng sự bất lực của chính phủ trong việc khai thác các nguồn tài nguyên này đang giữ mức độ suy dinh dưỡng và tử vong trẻ sơ sinh ở Philippines cao một cách không cần thiết: người dân đang chết vì các tranh chấp ở Biển Đông. Nếu Forum Energy, hoặc công ty khác, cố khảo sát hoặc khoan trên khu vực Bãi Cỏ Rong mà không có sự đồng ý của Bắc Kinh thì sẽ bị các tàu Trung Quốc chặn lại. Về lâu dài Manila có thể xây dựng hải quân mạnh lên đủ sức để có thể bảo vệ một giàn khoan, nhưng điều đó dường như còn rất xa vời. Trong khi đó, Philippines không có khả năng quân sự để khẳng định việc phòng vệ đáng tin cậy, do đó, họ sẽ hoặc phải trì hoãn việc khai thác hoặc phải khuất phục trước đòi hỏi của Trung Quốc. Manila sẽ trở nên đủ liều lĩnh để thực hiện một thoả thuận? Trung Quốc sẽ đi đến một thỏa thuận nào đó trước hoặc sau phán quyết của Tòa Thường trực?

Không có lựa chọn thay thế dễ dàng cho xung đột đang tiếp diễn ở Biển Đông. Không bên nào muốn kích động một cuộc xung đột mà cũng chẳng bên nào sẵn sàng giảm bớt căng thẳng bằng cách điều chỉnh các yêu sách lãnh thổ của mình. Với mỗi rạn đá bây giờ hoặc bị chiếm hoặc dưới sự kiểm soát của nước này hoặc nước khác, sự căng thẳng đã chuyển sang các vùng biển nằm ở giữa và các nguồn tài nguyên có thể, hoặc không nằm bên dưới. Không may là có rất nhiều cơ hội làm cho sự xung đột xuất hiện và leo thang. Sự kết hợp của các tranh chấp lãnh thổ với các cuộc đấu tranh rộng lớn hơn giữa Mỹ và Trung Quốc về việc tiếp cận và an ninh chỉ làm cho tình hình thêm nguy hiểm Với việc các chính phủ đang từ chối hợp tác với nhau trong các vấn đề quan trọng như nguồn cung cấp lương thực, thật khó thấy ra bất kỳ khả năng tiến bộ hướng tới việc hợp tác khu vực. Việc cùng phát triển nghe có vẻ như là một ý tưởng tốt, nhưng sẽ không thực tế cho đến khi Trung Quốc làm rõ vị thế của nó. Điều đó mang chúng ta trở lại yêu sách lãnh thổ lịch sử của họ.

Các quan chức Trung Quốc trong tư riêng nhận ra sự vô lý về pháp lý của việc duy trì một yêu sách đối với những nơi như Bãi James, nằm sâu dưới nước và trong EEZ của nước khác. Các nhà ngoại giao Trung Quốc cũng được cho là đã đưa ra bảo đảm cho Indonesia rằng Bắc Kinh không yêu sách đối với các vùng biển xung quanh Natunas, mặc dù chúng nằm một phần trong ‘đường chữ U’. Nhưng cũng các quan chức này nói rằng họ không thể chính thức điều chỉnh ‘đường chữ U’ vì lý do chính trị – chỉ trích trong nước sẽ là quá lớn nên họ phải tiếp tục giữ lại yêu sách của họ. Một vài người trong số này là kết quả có tính toán của việc tuyên truyền chính trị: cố ý củng cố vị trí của chính phủ ở nước ngoài bằng cách truyền bá thông điệp rằng họ đang bị sức ép trong nước. Nhưng rõ ràng là một số rủi ro là có thật. Một bước ‘thụt lùi’ khỏi vị trí hiện tại của Trung Quốc sẽ kích động một loạt tiếng gào thét chỉ trích trong dân chúng. Vậy thì có thể thuyết phục dân Trung Quốc như thế nào để họ có một cái nhìn khác về lịch sử của vùng Biển Đông?

Có lẽ một câu trả lời nằm ở Đài Loan. Cơ hội cho một cuộc tranh luận tự do hơn về lịch sử Trung Quốc là ở Đài Loan là lớn hơn rất nhiều so với ở lục địa. Hiện đã có một số học giả ‘bất đồng chính kiến’ xem xét lại các khía cạnh của lịch sử thế kỷ XX. Đài Loan cũng là nơi mà các hồ sơ của Trung Hoa Dân Quốc, chính phủ vốn vẽ ra ‘đường chữ U’ đầu tiên, được lưu trữ. Một cuộc kiểm tra mở và toàn diện về các quá trình tuỳ tiện mà qua đó đường này đã được vẽ có thể thuyết phục được những người tạo ra dư luận phải xem xét lại một số chuyện hoang đường dân tộc chủ nghĩa mà từ lâu họ đã tuyên bố là chân lý phúc âm. Có lẽ lý do mạnh mẽ nhất để bắt đầu tại Đài Loan là nhà chức trách ở Bắc Kinh lo sợ rằng bất kỳ sự nhượng bộ nào mà họ có thể thực hiện sẽ bị lớn tiếng chỉ trích tại Đài Bắc. Như Giáo sư Zha Daojiong [Tra Đạo Quýnh] Đại học Bắc Kinh giải thích, điều đó đơn giản, đó là Cộng sản so với Quốc Dân Đảng’. Nếu chính phủ Quốc Dân Đảng [KMT], cầm quyền ở Đài Loan, phải xuống thang cuộc xung đột mang tính lịch sử nghiêm túc ở Biển Đông thì chính quyền Bắc Kinh sẽ dễ dàng hơn nhiều để làm như vậy. Chìa khóa cho một tương lai hòa bình có thể nằm trong việc xem xét trung thực và có phê phán về quá khứ.

B. H.

Dịch giả gửi BVN.


[1] Clive Schofield (ed.), Maritime Energy Resources in Asia: Legal Regimes and Cooperation, National Bureau of Asian Research Special Report, no. 37, February 2012.

[2] Hasjim Djalal, Preventive Diplomacy in Southeast Asia: Lessons Learned (Jakarta, 2002), 57.

[3] Hasjim Djalal and Ian Townsend-Gault, Managing Potential Conflicts in the South China Sea: Informal Diplomacy for Conflict Prevention’, in Chester A. Crocker, Fen Osler Hampson and Pamela Aall (eds), Herding Cats: Multiparty Mediation in a Complex World (Washington, 1999), 10733.

[4] Hasjim Djalal, ‘Preventive Diplomacy in Southeast Asia: Lessons Learned’ (Jakarta, 2002).

[5] Ibid, 78.

[6] ‘Premier Li Keqiangs Keynote Speech at 1oth China-ASEAN Expo’, Xinhua, 4 September 2013. Có thể xem tại http://www.globaltimes.cn/content/808525.shtml.

[7] Kristine Kwok, ‘China’s “Maritime Silk Road” Linking Southeast Asia Faces a Rocky Birth’, South China Morning Post, 18 October 2013.

[8] Virginia A. Greiman, ‘Resolving the Turbulence in the South China Sea: A Pragmatic Paradigm for Joint Development’, Proceedings of the International Management Development Association Twenty Second Annual World Business Congress, 25-29 June 2013, National Taipei University, Taipei, Taiwan.

[9] . Joint Submission dated 6 May 2009 by Malaysia and the Socialist Republic of VietNam to the Commission on the Limits of the Continental Shelf, through the UN Secretary-General, in accordance with Article 76, paragraph 8, of UNCLOS. Có thể xem tại http://www.un.org/Depts/los/clcs_newsubmissions_files/submission_mysvnm_33_2000.

[10] Marion Ramos, Sulu Sultan Dies; Sabah Claim Lives on, Philippines Inquirer, 21 October 2013. Có thể xem tại http://news.info.inquirer.net/510943/sulu-sultan-dies-sabah-claim-lives-on.