15/01/2012

Kiến nghị đình chỉ vụ án đối với bị can Trần Ngọc Sương

Kính gởi: Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

Tôi là luật sư Trịnh Minh Tân, là người bào chữa cho bị can Trần Ngọc Sương, nguyên giám đốc Nông trường Sông Hậu (bào chữa miễn phí).

Năm hết tết đến rồi mà số phận pháp lý của chị Ba Sương vẫn chưa được định đoạt. Vì vậy tôi đã viết thư kiến nghị gởi đến cấp có thẩm quyền yêu cầu đình chỉ vụ án và đình chỉ vụ án đối với bị can Trần Ngọc Sương bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh: “tội lập quỹ trái phép” theo Khoản 4 Điều 166 BLHS.

Về vụ án này, tháng 11/2009 tôi đã có văn bản THÔNG BÁO gửi cho cấp có thẩm quyền đề nghị kháng nhị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Xin gởi đến giáo sư và Ban biên tập trang mạng Bauxite Việt Nam toàn văn thư kiến nghị của tôi để Ban Biên tập tham khảo. Nếu Ban biên tập cho đăng trên trang mạng thì tôi cũng đồng ý.

Nhân dịp năm mới Nhâm Thìn sắp tới, kính chúc giáo sư và Ban Biên tập nhiều sức khỏe, hạnh phúc và bình an.

Kính thư,

Luật sư Trịnh Minh Tân

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

clip_image001

Tp Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 01 năm 2012

THƯ KIẾN NGHỊ

Yêu cầu đình chỉ vụ án đối với bị can Trần Ngọc Sương bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh: “tội lập quỹ trái phép”

Kính gởi:

- Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Cần Thơ

- Chánh án Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ

Đồng kính gởi:

- Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

- Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao

- Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao

- Bí thư Thành ủy thành phố Cần Thơ

- Chủ tịch Hội đồng nhân dân Tp Cần Thơ

Tôi là luật sư Trịnh Minh Tân, Trưởng Văn phòng luật sư Trịnh Minh Tân thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh,

Địa chỉ : 09 đường 44, phường 10, quận 6, Tp Hồ Chí Minh

Điện thoại: (08) 66781699 ĐTDĐ: 0903 709 078

Là người bào chữa cho bị can Trần Ngọc Sương, nguyên Giám đốc nông trường Sông Hậu (Giấy chứng nhận người bào chữa số 01/KSĐT ngày 10/03/2011 do VKSND TP Cần Thơ cấp) bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ truy tố về “tội lập quỹ trái phép” theo Khoản 4, Điều 166 Bộ luật hình sự (Cáo trạng 28/KSĐT-KSXXSTHS-KT-CV ngày 28/7/2011).

Tôi được biết Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã có văn bản kiến nghị gởi lên các cấp cao nhất yêu cầu chỉ đạo đình chỉ “vụ án Nông trường Sông Hậu”. Tôi nhận thấy những nội dung cơ bản của kiến nghị trùng hợp với quan điểm của các luật sư nhận bào chữa cho bà Trần Ngọc Sương, nguyên Giám đốc Nông Trường Sông Hậu bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “lập quỹ trái phép”. Tôi tin là những kiến nghị này sẽ được xem xét.

Là một trong số các luật sư nhận bào chữa cho bà Trần Ngọc Sương, tôi tin tưởng các cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương, với trách nhiệm của mình sẽ chỉ đạo xem xét lại vụ án một cách khách quan để đi đến một kết cục đúng đắn là đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can Trần Ngọc Sương và những bị can khác trong vụ án với lý do: họ không phạm tội danh: “tội lập quỹ trái phép”.

Thế nhưng, đã hơn 5 tháng kể từ ngày Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, Tp Cần Thơ ban hành bản Cáo trạng số 28/KSĐT-KSXXSTHS-KT-CV ngày 28/7/2011;

Đã gần 5 tháng kể từ ngày Ủy ban Trung ương MTTQVN gởi văn bản đến Viện trưởng VKSND Tối cao và Chánh án TAND Tối cao kiến nghị “đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bà Trần Ngọc Sương về tội danh lập quỹ trái phép”

Đến nay các cơ quan tiến hành tố tụng thành phố Cần Thơ vẫn chưa có một quyết định nào đối với số phận pháp lý của công dân Trần Ngọc Sương và những người có liên quan.

Ngày 06/01/2012, tôi đến thăm bà Trần Ngọc Sương, hiện đang ở đậu nhà người em dâu. Bà đang bệnh, sức khỏe giảm sút nhiều, nhưng vẫn phải lao động chân tay (làm các loại dưa chua) để mưu sinh và đang mòn mỏi chờ đợi công lý.

Bức xúc trước số phận một con người, một phụ nữ đã có nhiều đóng góp cho quê hương, xứ sở của mình, đã xây dựng một hình mẫu làm ăn hiệu quả, đầy tính nhân văn mà giờ này bà vẫn phải đau đáu chờ đợi một sự giải oan. Vì thế, tôi mạnh dạn viết lá thư kiến nghị này, trước hết với tư cách một công dân, cũng như bao nhiêu người dân khác ngưỡng mộ bà Ba Sương, sau đó là với trách nhiệm của một luật sư nhận bào chữa cho bị can Trần Ngọc Sương, tiếp đến là trách nhiệm của một đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam gửi tới các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cơ quan tiến hành tố tụng để bày tỏ quan điểm của mình, trên cơ sở đó kiến nghị phải xem xét ngay không chậm trễ số phận pháp lý của công dân Trần Ngọc Sương – Anh hùng lao động.

Tôi đồng tình với quan điểm của Ủy ban Trung ương MTTQVN, với ý kiến kiến nghị của hai đồng nghiệp (cũng là người bào chữa cho bị can Trần Ngọc Sương) đã gởi đến các cấp có thẩm quyền. Do đó tôi không lặp lại những vấn đề mà tôi có chung quan điểm. Tôi xin bổ sung một số ý kiến thuộc về nhận thức cá nhân để quý cấp xem xét.

Quan điểm của tôi về vụ án:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, bản kết luận điều tra của CQCSĐT công an TP Cần Thơ và bản cáo trạng của VKSND huyện Cờ Đỏ cho thấy, vấn đề đặt ra là đã có đủ các căn cứ để xác định hành vi của bà Trần Ngọc Sương cấu thành tội danh “tội lập quỹ trái phép” hay chưa? Theo tôi, để kết luận hành vi của bà Trần Ngọc Sương có phạm tội “lập quỹ trái phép” hay không thì phải:

- Định hình và định tính mô hình Nông trường Sông Hậu cho đúng với bản chất của nó, có đúng Nông trường Sông Hậu là “nông trường quốc doanh” thuần túy như các văn bản quy phạm pháp luật qui định không? Có nên lấy mô hình hình thức cứng nhắc để quy kết cho nội dung vận hành của một mô thức kinh tế có hiệu quả lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam?

- Xác định quỹ bị gọi là “quỹ trái phép” đó được hình thành như thế nào và hình thành nhằm mục đích gì?

- Hành vi của bà Trần Ngọc Sương (như mô tả trong cáo trạng) đã hội đủ các yếu tố cấu thành của tội danh này, có nghĩa là phải chứng minh được đầy đủ các yếu tồ về mặt khách thể, mặt khách quan và chủ quan của tội phạm có tên là “tội lập quỹ trái phép” hay chưa?

Để trả lời được các câu hỏi trên cần phải có một cái nhìn tổng quát, dựa trên quan điểm lịch sử cụ thể về mô hình nông trường quốc doanh nói chung qua từng thời kỳ, để từ đó làm rõ tính đặc thù của tổ chức kinh tế mang tên gọi “Nông trường Sông Hậu” được coi là NÔNG TRƯỜNG QUỐC DOANH. Vậy “nông trường quốc doanh” được hiểu như thế nào và quá trình hình thành của loại tổ chức kinh tế này ra sao? Nông trường Sông Hậu có cùng chung khái niệm “nông trường quốc doanh” về mặt bản chất như các văn bản quy phạm pháp luật qui định không?

1. Khái niệm nông trường quốc doanh

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các nông trường quốc doanh (NTQD) được hình thành xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng, lực lượng lao động lúc đầu chủ yếu là các quân nhân giải ngũ sau chiến tranh, sau này mới dần thu hút lực lượng lao động trẻ ở các vùng nông thôn đồng bằng đến làm nông trường viên, được trả lương từ ngân sách; địa bàn sản xuất của các NTQD chủ yếu là các vùng trung du, miền núi; hoạt động sản xuất chủ yếu là trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi bò sữa. NTQD hoạt động như một xí nghiệp nông nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế. Hàng năm, NTQD sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh do nhà nước phân bổ, sản phẩm tiêu thụ do Nhà nước chỉ định và bán theo giá qui định của nhà nước.

a) Định nghĩa

Có thể định nghĩa Nông trường quốc doanh theo qui định tại Thông tư số 348-TTg ngày 30/08/1961 của Thủ tướng Chính phủ như sau:

“Các nông trường quốc doanh là những đơn vị xí nghiệp của Nhà nước, quản lý theo chế độ kinh tế hạch toán, được Nhà nước cấp vốn để sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước”.

Thông tư nói trên cũng qui định rõ: “Toàn bộ sản phẩm của nông trường làm ra (không kể phần do nông trường viên có thể tự sản xuất riêng) thuộc quyền sở hữu của Nhà nước do Nhà nước phân phối theo kế hoạch. Nông trường có trách nhiệm giao nộp sản phẩm cho Nhà nước theo số lượng đã quy định, và cho các cơ quan, đơn vị được phân phối, theo giá cả điều động nội bộ và Ủy ban kế hoạch Nhà nước đã công bố. Quan hệ giữa các nông trường và các cơ quan tiêu thụ giải quyết theo chế độ hợp đồng kinh tế Chính phủ đã quy định.”

Phải nói rằng NTQD là một điển hình của nền kinh tế quản lý theo chế độ kinh tế hạch toán bao cấp, tổ chức kinh tế không được chủ động trong họat động sản xuất kinh doanh. Đó là một đặc điểm mang tính lịch sử mà ngày nay gọi đó là “thời kỳ bao cấp”.

b) Sự phá sản của mô hình Nông trường quốc doanh.

Từ sau năm 1954 đến trước năm 1975, nhiều nông trường quốc doanh đã được thành lập ở miền Bắc, thu hút hàng chục vạn lao động từ nông thôn vào nông trường. Nông trường quốc doanh hoạt động theo phương thức: sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh, giao nộp sản phẩm cho Nhà nước hoặc bán sản phẩm theo chỉ định của nhà nước, giá cả do Nhà nước qui định. Điều này có nghĩa là nông trường không được tự chủ trong hoạt động sản xuất, sản xuất không theo nhu cầu của thị trường, do đó đã triệt tiêu tính chất kinh doanh của doanh nghiệp. Thực ra ở nước ta thời kỳ đó chưa có khái niệm “doanh nghiệp” (nên cũng chưa có khái niệm “doanh nhân”), sản phẩm làm ra mang nội hàm của mệnh lệnh, không mang nội hàm của thị trường và lẽ đương nhiên là nó chẳng phải cạnh tranh với đối thủ nào cả. Sản xuất và phân phối sản phẩm mang tính áp đặt đã tạo nên hội chứng thừa hoặc thiếu sản phẩm cung cấp cho xã hội.

Sau năm 1975, sau khi thống nhất đất nước về mặt nhà nước, tiến trình cải tạo nền kinh tế được tiến hành ở miền Nam, trong đó có cải tạo nông nghiệp với các phong trào đưa nông dân vào làm ăn tập thể với các mô hình HTX và tập đoàn sản sản xuất nông nghiệp. Mô hình nông trường quốc doanh cũng được áp dụng trong nông nghiệp, vì thế mà nhiều nông trường quốc doanh ở miền Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng đã được thành lập dập khuôn theo loại hình nông trường quốc doanh ở miền Bắc vốn đã hoạt động không hiệu quả và đi vào bế tắc, chỉ khác một điều là đối tượng cây trồng không phải chủ yếu là cây công nghiệp, cây ăn quả, mà ở đồng bằng sông Cửu Long, đối tượng sản xuất là cây lúa.

Việc sản xuất lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long mang những nét riêng có do đặc điểm thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng và phụ thuộc vào thiên nhiên nên người nông dân khi sản xuất mang tính thụ động nhiều hơn. Các nông trường quốc doanh được thành lập về mặt tổ chức bước đầu cũng như ở miền Bắc những năm 60, 70 của thế ký 20, lúc đầu cũng do các đơn vị quân đội quản lý hoặc được thành lập bởi lực lượng thanh niên xung phong, và lẽ tất nhiên là các nông trường này đều được cấp vốn từ ngân sách nhà nước. Thời kỳ đầu, được Nhà nước cấp vốn 100%. Tuy nhiên, nền kinh tế kế hoạch (bao cấp) đã ngày càng bộc lộ những yếu kém, ngân sách không thể chu cấp để bù lỗ. Do đó cùng với sự tan rã của các HTX và tập đoàn sản xuất nông nghiệp, các nông trường quốc doanh cũng lâm vào tình trạng khó khăn và nhiều nơi đã giải thể. Các mô thức kinh tế như HTX nông nghiệp, nông trường quốc doanh hoạt động bởi chính sách “bao cấp” bị tan rã là tất yếu vì nó trái với quy luật của nền kinh tế khi được vận hành theo cơ chế thị trường.

Vậy tại sao Nông trường Sông Hậu vẫn tồn tại và phát triển? Đây là một thực tiễn mà các nhà khoa học cần nghiên cứu. Với vai trò là một luật sư, tôi có thể đưa ra những ý kiến trong môi trường pháp lý cho phép.

Chính sự phát triển không theo “khuôn mẫu” sẵn có đã giúp cho người nông dân NTSH làm ra nhiều lúa gạo, bắt tiềm năng thành hiện thực, từ nghèo khổ thành khá giả, biến cả một vùng đất hoang hóa, chua phèn thành một vùng đất trù phú với ngút ngàn màu xanh của lúa và cây. Đây là một thực tế không thể chối bỏ. Nhưng thực tế này đã đẩy bà Ba Sương vào những hệ lụy đau lòng, những oan khiên đến nay chưa được giải.

Vì vậy, phải phân tích mô thức kinh tế Nông trường Sông Hậu trên nền tảng tư duy đổi mới nhằm xác định bản chất pháp lý của sự việc, từ đó quy chiếu hành vi của lãnh đạo nông trường Sông Hậu với quy định của pháp luật hình sự về “tội lập quỹ trái phép” để xác định có hay không có tội phạm và người phạm tội “lập quỹ trái phép” ở tổ chức kinh tế này.

2. Sự hình thành và phát triển của Nông trường Sông Hậu – một mô thức kinh tế không giống mô thức nông trường quốc doanh vốn có.

Theo nghiên cứu của tiến sĩ Triều Hải Quỳnh (biên tập viên Tạp chí Cộng sản tại miền Nam), Nông trường Sông Hậu đã trải qua 3 giai đoạn xây dựng và phát triển. Đó là:

- Giai đoạn 1: từ 1979 – 1989

- Giai đoạn 2: từ 1990 – 1995

- Giai đoạn 3: từ năm 1996 trở đi

Những số liệu thông kê, phân tích và đánh giá của tiến sĩ Triều Hải Quỳnh đã mô tả bức tranh toàn cảnh rất sát thực quá trình xây dựng và phát triển của NTSH. Tuy nhiên, tôi xin được chia giai đoạn 3 là từ năm 1996 đến năm 2004 và thêm giai đoạn 4 là từ 01/01/2004 đến nay. Vì từ ngày 01/01/2004 trở về trước, NTSH gắn liền với đơn vị hành chính cấp tỉnh. Đó là:

- Tỉnh Hậu Giang: được sáp nhập từ hai tỉnh: Cần Thơ và Sóc Trăng theo Nghị định số 03/NĐ-76 ngày 24/3/1976

- Tỉnh Cần Thơ: tháng 12/1991, tại kỳ họp thứ 10, Quốc Hội khóa 8 đã ra Nghị quyết tách tỉnh Hậu Giang thành 2 tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng

- Thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương: từ 01/01/2004 tỉnh Cần Thơ được tách ra thành hai là thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và tỉnh Hậu Giang

Nêu ra các mốc thời gian sáp nhập và tách tỉnh để trong phần trình bày của mình, tôi sẽ đề cập đến những hệ lụy mà bà Trần Ngọc Sương phải chịu đựng trong suốt mấy năm qua có nguyên nhân từ lãnh đạo thành phố Cần Thơ, sau khi được tách ra từ tỉnh Hậu Giang.

Giai đoạn 1:

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Trần Ngọc Hoằng, Ban giám đốc NTSH đề ra quyết tâm phải xây dựng NTSH với tinh thần “ba tự”: tự lực, tự cường, tự làm.

Mặc dù đang ở thời kỳ mà nền kinh tế được vận hành bởi chính sách bao cấp, nhưng NTSH không được Nhà nước cấp vốn từ ngân sách, người lao động của nông trường không được hưởng lương “biên chế”. Giám đốc Trần Ngọc Hoằng đã đưa ra “phương cách tự cân đối, tự trang trải”, gắn kết ba lợi ích: Nhà nước, tập thể và nông dân, mà hạt nhân của nó là phương thức giao khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động. Chính phương thức này đã tạo ra một lượng lương thực và sản phẩm nông nghiệp gấp nhiều lần thu nhập của người nông dân trước đó, giúp nông dân thoát nghèo, có tích lũy và làm nền tảng vật chất cho sự phát triển của nông trường.

Ở thời điểm năm 1979 – 1980, về hình thức tổ chức, NTSH là một nông trường quốc doanh nhưng lại chủ yếu là chuyên canh cây lúa, nên tổ chức kinh tế này không giống như hợp tác xã nông nghiệp, lại càng không giống các NTQD đã được thành lập bởi vốn ngân sách Nhà nước cấp. Sự trì trệ trong các HTX nông nghiệp đã được một số nơi “phá rào” bằng cách khoán sản phẩm cho nông dân. Thực tế đó đã dẫn tới việc Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp, còn được gọi là “khoán sản phẩm”.

NTSH được coi là nông trường quốc doanh, việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, các chế độ hạch toán, kế toán – tài chính không thoát ra được cơ chế “bao cấp”, trong khi hoạt động của nông trường là “tự cấp” – tự lo vốn, vật tư, thu nhập của nông dân … nhưng lại không thể vận hành như một HTX nông nghiệp. Cái khó đó đã buộc NTSH phải có những bước chuyển động tự thân với mục tiêu là xây dựng một tổ chức kinh tế vững mạnh bằng chính “đôi chân trần” của mình. Ảnh hưởng của Chỉ thị 100 cũng có tác động tích cực đến sự phát triển của nông trường. Không phải là HTX nông nghiệp về mặt tổ chức, nhưng từ năm 1981, NTSH cũng đã có cơ sở để yên tâm với chế độ KHOÁN quy định trong Chỉ thị 100 mà NTSH đã thực hiện trước khi có nội dung khoán trong chỉ thị này.

Việc xây dựng và phát triển thành công của NTSH ở giai đoạn đầu không tách rời sự lãnh đạo, chỉ đạo, động viên, ủng hộ, khuyến khích của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Hậu Giang.

Giai đoạn 2:

Ngày 05/04/1988, Bộ chính trị Khóa VI ra Nghị quyết 10 về cải tiến chế độ khoán trong sản xuất nông nghiệp. Nghị quyết có nội dung mang tính đột phá, tạo bước phát triển mới rất quan trọng cho nông nghiệp và nông thôn trong thời kỳ đổi mới. Đối với NTSH thì tính đột phá đó thực sự đã được Ban giám đốc Nông trường thực hiện từ khi chưa có Nghị quyết 10 (mặc dù đặc điểm về cơ cấu tổ chức, về qui mô không giống như các HTX nông nghiệp được tổ chức và hoạt động theo các văn bản quy phạm pháp luật về HTX nông nghiệp). Cho nên ở giai đoạn này, NTSH đã tạo ra lượng của cải vật chất dồi dào, có tích lũy để tái sản xuất mở rộng, từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc, chuẩn bị cho những bước phát triển chiều sâu, mở rộng ngành nghề sản xuất, kinh doanh.

Giai đoạn 3:

Đây là giai đoạn NTSH tiến hành đầu tư chiều sâu, mở rộng ngành nghề sản xuất kinh doanh, nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng cường xuất khẩu, đặc biệt là mặt hàng nông sản chế biến có chất lượng cao. Sản phẩm của nông trường đã có uy tín trên thị trường nội địa và quốc tế. Qui mô sản xuất, kinh doanh của NTSH đã mang dáng dấp của môt tập đoàn kinh tế nông nghiệp

Giai đoạn 4:

Ngày 01/01/2004, tỉnh Cần Thơ được tách làm hai: thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang.

NTSH nằm trên địa bàn huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Những năm đầu của giai đoạn này NTSH vẫn trên đà phát triển. Do mở rộng sản xuất, phát triển nhiều ngành nghề nhưng những quy định về tổ chức bộ máy, chế độ kinh tế - tài chính theo mô hình nông trường quốc doanh không thích hợp với qui mô và nội dung của các hoạt động sản xuất kinh doanh mà nông trường đã và đang tiến hành.

Ngày 21/03/2006, UBND Tp Cần Thơ ra quyết định thanh tra NTSH, mốc thời gian thanh tra là từ năm 1993 đến năm 2005.

Giai đoạn này nông trường gặp phải những khó khăn khách quan do thành phố tiến hành thanh tra nông trường. Cuộc thanh tra kéo dài, không đúng với mục đích của thanh tra đã gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nông trường. Mục đích thanh tra được qui định tại Điều 3, Luật Thanh tra năm 2004 như sau:

“Hoạt động thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”

Đây cũng là thời điểm phải thực hiện Nghị định của Chính phủ số 170/2004/NĐ-CP ngày 22/09/2004 về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông trường quốc doanh, Nghị định được đăng trên Công báo số 38 – 28 – 9 – 2004. Như vậy Nghị định có hiệu lực từ ngày 13/10/2004. Tất nhiên là các địa phương chưa thể triển khai thực hiện được ngay khi Nghị định có hiệu lực, mà phải đợi hàng loạt các văn bản khác có liên quan được ban hành mới triển khai thực hiện được. Đó là:

- Công số 3256/VPCP-NN ngày 13/6/2005 v/v triển khai Nghị định 170/2004/NĐ-CP;

- Nghị định 135/2005/NĐ-CP ngày 09/11/2005 v/v giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản;

- Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13/11/2006 của Bộ NN & PTNT hướng dẫn Nghị định 135/2005/NĐ-CP;

- Thông tư số 46/TT-BTC ngày 08/6/2005 của Bộ Tài chính hướng dãn về tài chính khi sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh

- Thông tư số 16/2005/TT-BLĐTBXH ngày 19/4/2005 của Bộ LĐ TB XH hướng dẫn về chính sách lao động theo Nghị định 170/2004/NĐ-CP

v. v.

Việc tiến hành thanh tra kéo dài để cuối cùng lãnh đạo Tp Cần Thơ chỉ đạo cơ quan điều tra khởi tố vụ án “cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng.” (công văn số 91-TP/VPTU ngày 20/3/2008, do ông Đinh Công Út là Phó chánh Văn phòng ký thay Chánh văn phòng).

Chủ trương trên được chính thức hóa bằng Công văn số 1575/UBND-NC ngày 25/3/2008 của UBND TP Cần Thơ do Phó Chủ tịch Nguyễn Thanh Sơn ký: “Giao Công an thành phố, sau khi Thanh tra thành phố chuyển một số nội dung sai phạm của Nông trường Sông Hậu sang Cảnh sát điều tra thì tổ chức họp báo, để công khai với báo chí (...) Trước mắt khởi tố vụ án về tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng”.

Thay vì phải tập trung chỉ đạo thực hiện Nghị định 170/2004/NĐ-CP thì lãnh đạo thành phố lại “tập trung” chỉ đạo thanh tra NTSH kéo dài, gây nên nhưng thiệt hại cho NTSH chưa thể tính toán được.

Điểm b, Khoản 1, Điều 38 Luật Thanh tra năm 2004 quy định: “Cuộc thanh tra do Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ tiến hành không quá bốn mươi lăm ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài, nhưng không quá bảy mươi ngày”.

Cuộc thanh tra NTSH đã kéo dài 02 (hai) năm.

Mặc dù kết quả thanh tra không chỉ ra được những vi phạm pháp luật rõ ràng, nhưng lãnh đạo thành phố vẫn chỉ đạo các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi “cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng”. Thế nhưng quá trình tố tụng kéo dài đến nay vẫn chưa đến hồi kết, gây thiệt hại cho nông trường và cá nhân Giám đốc Trần Ngọc Sương và những người có liên quan cả về vật chất lẫn tinh thần.

3, Quy chiếu hành vi của bà Trần Ngọc Sương với các yếu tố cấu thành “tội lập quỹ trái phép”.

Theo Quy định tại Điều 166 BLHS, để cấu thành tội danh “Tội lập quỹ trái phép” phải thỏa mãn đủ 2 dấu hiệu, đó là :

- Có hành vi lập quỹ trái phép

- Đã sử dụng quỹ trái phép đó gây hậu quả nghiêm trọng

Nếu không thỏa mãn một trong 2 dấu hiệu trên thì không thể cấu thành tội Lập quỹ trái phép.

Như vậy, trong vụ án này xác định:

+ Quỹ Công đoàn có phải là quỹ trái phép hay không?

+ Xác định hậu quả từ hành vi sử dụng quỹ này gây ra?

Thứ I: Quỹ này có phải là quỹ trái phép không?

Quỹ trái phép là quỹ được lập “nhằm rút tiền của Nhà nước ra khỏi sự giám sát tài chính của Nhà nước”. Theo quan điểm cá nhân, quỹ này không phải là quỹ trái phép, bởi lẽ:

Một là, xét về quá trình thành lập và hoạt động của NTSH, Ngân sách Nhà nước đầu tư rất ít, gần 100% vốn ban đầu và trong suốt 30 năm hoạt động là tự vay ngân hàng. Đây là thực tế ai cũng biết và thừa nhận. Do cơ chế chính sách kinh tế của những năm sau giải phóng là đề cao mô hình kinh tế quốc doanh, tập thể, không thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, nên dù là doanh nghiệp tự lực về mặt tài chính, nguồn vốn nhưng NTSH vẫn hoạt động dưới danh nghĩa là Nông trường quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước).

Hai là, về nguồn thu hình thành quỹ Công đoàn không phải có được từ việc thực hiện các chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh theo giấy đăng ký kinh doanh chính thức của NTSH, cho nên nó không có cơ sở hoạch toán trong tài sản của NTSH. Quỹ này được lập từ năm 1979, nguồn hình thành từ hoạt động sản xuất của Công đoàn. Cụ thể:

- Thu từ bán cây bạch đàn, keo, tràm (do công đoàn nông trường trồng trên các tuyến đê bao dài 200km và những diện tích đất không trồng lúa được) là trên 14 tỷ, nộp vào nguồn vốn ngân sách nông trường trên 12 tỷ, còn lại 2,066 tỷ đưa vào quỹ công đoàn.

- Thu từ tiền thuê đìa cá, quản lý công trình điện, quản lý, thu khác: 2,247 tỷ đồng là những khoản phụ thu không có cơ sở hoạch toán vào tài sản của NTSH, nên được đưa vào quỹ Công đoàn nhằm mục đích cải thiện đời sống của CB-CNV của nông trường.

- Khoản vay từ các cá nhân bên ngoài 3,188 tỷ đồng cũng nhằm phục vụ các hoạt động của NTSH. Các khoản vay cá nhân này thuộc lĩnh vực dân sự, nên việc dùng số tiền trên để truy cứu trách nhiệm hình sự trong tội danh Lập quỹ trái phép là không có căn cứ.

- Khoảng thu từ tiền bán 5 lô đất, trong đó 3 lô được mua từ tiền công đoàn nên trả vào quỹ công đoàn là hợp lý và được mua trước khi bà Sương về giữ chức giám đốc NTSH. 2 lô còn lại ( lô 6.500 m2 và lô 1058 m2 đều do sai xót của cán bộ nghiệp vụ và bà Nhung xử lý) Bà Sương không biết và không hề chỉ đạo, cũng như không được đối chất với 10 người có liên quan đến việc mua bán 2 lô đất này.

Thứ II: Xác định có hay không hậu quả nghiêm trọng từ hành vi sử dụng quỹ Công đoàn?

Từ năm 2001 đến 2006 vào dịp tết, sinh nhật của bà Trần Ngọc Sương, Công đoàn chủ trương chi tiền mua quà tặng cho bà Sương với tổng số tiền là 129.325.000đ 00. Khoản chi này do công đoàn đề xuất và bà Nhung duyệt chi, bà Sương không yêu cầu cũng như không chỉ đạo trong việc chi khoản tiền này, do đó không có căn cứ pháp lý buộc bà Sương chịu trách nhiệm về khoản tiền trên. Việc tặng quà sinh nhật không chỉ tặng riêng cho giám đốc Trần Ngọc Sương, mà hàng năm công đoàn tặng quà cho cả hơn 200 CBNV nông trường.

Một số khoản chi khác như: chi bồi dưỡng, lương kiêm nhiệm cho Ban giám đốc, trong đó chi cho bà Sương là 77,4 triệu đồng/7 năm, như vậy chưa đến 01 triệu/ tháng là khoản tiền quá nhỏ so với công sức bà Sương bỏ ra, làm việc không có ngày nghỉ. Việc xuất chi cho một số cá nhân nguyên trong Ban giám đốc đã mất (trên 381 triệu), các khoản chi này mang tính chất hỗ trợ cho gia đình họ, Giám đốc Trần Ngọc Sương không vụ lợi cá nhân trong khoản chi này (câu chữ của người lập phiếu có sai sót, bà Nhung ký). Do đó, cáo trạng quy buộc bà Sương sử dụng cá nhân là không có căn cứ.

Chi biếu tặng các cá nhân, ngành TW, địa phương, các đoàn kiểm tra (khoảng 911 triệu đồng). Tuy nhiên, trong khoản chi đó, bà Sương chỉ thừa nhận đã chi 10 triệu đồng để tiếp đoàn kiểm toán, và 131 triệu đồng chi lì xì tết 2005 và 2006 cho cán bộ, nhân viên nông trường mà danh sách được tặng do các phòng ban, đoàn thể lập đề nghị. Đây là khoản chi mang tính chất thông lệ hàng năm, bà Sương cũng không dùng nó vào mục đích vụ lợi cá nhân. Số tiền còn lại, CQ ĐT cũng không chứng minh được có sự chỉ đạo chi, mà chỉ căn cứ vào lời khai của Nhung, Hưng, Hoan… là những người trực tiếp nhận và chi các khoản trên.

Khoản chi đi công tác 2.277.713.000đ00 cũng không đủ cơ sở chứng minh là chi cho bà Sương đi công tác, vì không có chữ kí nhận của bà Sương, cũng như nội dung chi cho ai cũng không được thể hiện đầy đủ trong tài liệu.

Chi lấp âm quỹ số tiền 729.690.000đ00 là khoản tiền trả nợ thay cho một số cá nhân đã vay của nông trường. Đó là những khoản nợ khó đòi do một số cá nhân đã chết, một số không xác định nơi cư trú… Nếu hoạch toán vào nợ khó đòi sẽ làm tăng chi phí quản lý, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của Nông trường. Quỷ Công đoàn hình thành trên nguồn vốn nông trường, việc dùng tiền trong quỹ này chi lấp âm quỹ, xét cho cùng là nhằm bảo toàn vốn, có lợi cho Nông trường, nên không thể xem đây là khoản chi gây thiệt hại tài sản cho Nông trường. Một số khoản chi khác như chi hoàn tiền tạm ứng, thanh toán 2 lần cho công trình nạo vét kênh khu vực IV, tuy có sai về chế độ tài chính kế toàn nhưng có thể điều chỉnh và xác định trách nhiệm dân sự.

Khoản chi cho bà Sương mang tính cá nhân như: mua nhà số 22 đường Định Tiên Hoàng, Tp Cần Thơ (246.460.000đ00). Theo bản cáo trạng thì chi mua ngôi nhà này là do Trương Hồng Nhung chỉ đạo thủ quỹ Nguyễn Văn Sơn chi mua nhà hóa giá cho bà Sương, dựa trên chính sách hỗ trợ nhà ở cho cán bộ của Nông trường. Không phải do bà Sương trực tiếp chỉ đạo việc này.

Tóm lại, Quỹ này không có cơ sở để quy kết là “quỹ trái phép”, bởi nó được hình thành từ hoạt động của công đoàn, không có nguồn gốc từ vốn của Nhà nước. Mặt khác, quỹ này được lập từ những năm 1979 khi Nông trường đi vào hoạt động (phù hợp với Quyết định 25/CP ngày 21- 01-1981 của Chính phủ được ban hành sau đó), bà Sương không phải là người sáng lập quỹ này và cũng không trực tiếp quản lý, sử dụng quỹ (bà Sương học xong đại học và về NTSH công tác năm 1981). Nhìn chung, mục đích sử dụng của Quỹ công đoàn là nhằm cải thiện và nâng cao đời sống cho cán bộ, công nhân viên của Nông trường và phục vụ, hỗ trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của Nông trường Sông Hậu. Dù rằng trong hoạt động tài chính kế toán của nông trường còn có những bất cập do cơ chế trói buộc, nhưng đó không phải là dấu hiệu của “tội lập quỹ trái phép”.

Những lập luận mà kết luận điều tra và cáo trạng đưa ra đều dựa trên lời khai của các bị can, không đưa ra được những chứng cứ có giá trị chứng minh để buộc tội bà Trần Ngọc Sương. Lập luận của VKS mang tính chủ quan, áp đặt, không xem xét sự việc trên quan điểm lịch sử và thực tiễn về quá trình xây dựng và phát triển của NTSH cũng như những thành quả, đóng góp của bà Trần Ngọc Sương cho Nông trường, cho xã hội. Không những vậy, CQĐT và VKS còn đưa ra những tình tiết không liên quan đến hành vi của bà Sương bị quy kết là “lập quỹ trái phép” như: tình hình kinh doanh không hiệu quả, dân làm đơn khiếu nại gây mất trật tự xã hội, v.v. nhằm làm xấu đi hình ảnh của cá nhân giám đốc Trần Ngọc Sương nói riêng và NTSH nói chung.

Các nội dung trên cho thấy không hội đủ các yếu tố về khách thể, mặt khách quan và chủ quan của “tội lập quỹ trái phép” ở hành vi của bà Trần Ngọc Sương.

Khách thể của “tội lập quỹ trái phép” là hành vi xâm phạm đến chế độ quản lý tài chính, kế toán ở cơ quan, đơn vị nhà nước được cấp phát vốn, kinh phí hoạt động[1]

Các tài liệu điều tra cho thấy NTSH không phải là đơn vị kinh tế được cấp phát vốn, kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước nên yếu tố về mặt khách thể của “tội lập quỹ trái phép” là không có.

Mặt khách quan của tội phạm. “Tôi lập quỹ trái phép” được thực hiện bởi hành vi lén lút, không công khai; nguồn thu của loại “quỹ đen” này phải là nguồn thu không hợp pháp[2]. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã không thu thập được các chứng cứ để chứng minh yếu tố này. Thực chất đây là quỹ công đoàn, được lập ra từ năm 1979.

Mặt chủ quan của tội phạm: tội lập quỹ trái phép “được thực hiện do lỗi cố ý. Người phạm tội biết hành vi lập quỹ trái phép của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm”[3]

Quỹ công đoàn này đã được hình thành và duy trì từ năm 1979, trước khi có Quyết định của hội đồng chính phủ số 25 - CP ngày 21-1-1981 về một số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh. Tại phần 4 của Quyết định quy định:

“b) Đối với phần kế hoạch tự làm của xí nghiệp:

Phần lợi nhuận xí nghiệp được phân phối như sau: nộp vào ngân sách Nhà nước 20%; phần còn lại được sử dụng cho ba quỹ theo tỷ lệ sau đây: 20% cho quỹ phát triển sản xuất; 60% cho quỹ khen thưởng; 20% cho quỹ phúc lợi tập thể.

c) Đối với sản xuất phụ:

Phần lợi nhuận còn lại sau khi nộp các loại thuế và thu quốc doanh theo chế độ hiện hành, được phân phối như sau:

- Nộp vào ngân sách Nhà nước 15%;

- Xí nghiệp được sử dụng 85%, trong đó sử dụng cho quỹ phát triển sản xuất, cho quỹ khen thưởng và cho quỹ phúc lợi tập thể theo tỷ lệ do giám đốc xí nghiệp bàn bạc thoả thuận với công đoàn để quyết định.”

Như vậy, ở thời điểm đó, mặc dù chế độ bao cấp còn nặng nề, các xí nghiệp nhà nước hoạt động từ vốn ngân sách cũng đã được phần nào “cởi trói” để đảm bảo quyền lợi của người lao động, kích thích người lao động hăng hái sản xuất.

Xin nhắc lại là “Các nông trường quốc doanh là những đơn vị xí nghiệp của Nhà nước, quản lý theo chế độ kinh tế hạch toán, được Nhà nước cấp vốn để sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước” (Thông tư số 348-TTg ngày 30/08/1961 của Thủ tướng Chính phủ). NTSH hoạt động theo cơ chế một nông trường quốc doanh nhưng không được “Nhà nước cấp vốn”. Cứ cho rằng NTSH là đơn vị được cấp vốn từ ngân sách nhà nước thì việc lập quỹ như trên cũng không thể là “hành vi nguy hiểm cho xã hội được”.

Khi đã không xác định được một trong 4 yếu tố về: mặt khách quan, khách thể, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm thì không thể kết luận một người phạm một tội nào đó. Đối với vụ án “Nông trường Sông Hậu”, chúng tôi phân tích là không hội đủ 3 yếu tố: mặt khách quan, khách thể và mặt chủ quan của tội phạm có tội danh là “tội lập quỹ trái phép”. Do đó không có tội phạm này xảy ra tại NTSH.

Việc “cắt khúc” giai đoạn để quy kết bà Trần Ngọc Sương phạm tội là không khách quan. Vì quỹ bị gọi là “quỹ trái phép” đã hình thành trong suốt 30 năm xây dựng và trưởng thành của NTSH. Quỹ đó đã góp phần làm nên kỳ tích mà chưa có một đơn vị kinh tế nông nghiệp quốc doanh cũng như tập thể nào đạt được.

4. Kiến nghị:

Kính thưa các cấp lãnh đạo,

Nghĩ về ông Nguyễn Kim Ngọc, người được truy tặng danh hiệu Anh hùng lao động sau khi qua đời, tôi chạnh lòng nghĩ về cố Anh hùng lao động Trần Ngọc Hoằng và người con của ông, Anh hùng lao động Trần Ngọc Sương. Mỗi người một số phận, nhưng họ có điểm chung là đã suy tư, trăn trở, quên mình vì cơm ăn, áo mặc, vì hạnh phúc của người nông dân chân lấm tay bùn, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”.

Người dân tỉnh Hậu Giang, tỉnh Cần Thơ trước đây và Tp Cần Thơ ngày nay tự hào về Nông trường Sông Hậu, nhân dân Việt Nam nói chung và giai cấp nông dân Việt Nam nói riêng cũng tự hào về điểm sáng của một phương thức làm ăn mới ở Nông trường Sông Hậu, về những con người có tâm và có tài, “chí công vô tư” như cố giám đốc Trần Ngọc Hoằng và nguyên giám đốc Trần Ngọc Sương.

Hệ lụy đã đến với NTSH từ sau khi tách tỉnh năm 2004, và năm 2005 có lãnh đạo mới ở địa phương khác được điều về Tp Cần Thơ. Những ý kiến trung thực, tâm huyết của các vị lãnh đạo tiền nhiệm đã không được lắng nghe nên đã có một “vụ án Nông trường Sông Hậu” làm triệt tiêu những ấp ủ, những dự án dựa trên nền tảng sẵn có của một mô hình kinh tế có qui mô sản xuất lớn, đã được khẳng định về tính hiệu quả, đang chuẩn bị có những bước điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển chung của đất nước và hội nhập quốc tế theo tinh thần và nội dung của Nghị định số 170/2004/NĐ-CP ngày 22/09/2004 của Chính phủ.

Đã bắt đầu năm 2012, chuẩn bị đón tết nguyên đán Nhâm Thìn, trên tinh thần thượng tôn pháp luật, tôi viết thư kiến nghị này kính đề nghị các cấp có thẩm quyền, mà trực tiếp là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ xem xét, áp dụng Khoản 2 Điều 107, Khoản 1 Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự để ra quyết định đình chỉ vụ án và đình chỉ vụ án đối với bị can Trần Ngọc Sương (và những bị can khác) về “tội lập quỹ trái phép”.

Nhân dịp năm mới 2012 và tết nguyên đán Nhâm Thìn, kính chúc các Cấp lãnh đạo nhiều sức khỏe và bình an để cùng toàn dân xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Trân trọng cảm ơn!

Người viết thư kiến nghị

Nơi gởi:

- Như trên

- Báo Đại đoàn kết

- Báo Tiền phong

- lưu

Luật sư Trịnh Minh Tân

[1] Bình luận Bộ luật Hình sự, tr. 214 – NXB Tư pháp, Hà Nội, năm 2008

[2] Bình luận Bộ luật Hình sự, tr. 214 – NXB Tư pháp, Hà Nội, năm 2008

[3] Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999, tr. 290 – NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2001