20/12/2012

Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN)

clip_image002

Ý kiến nhận xét, phản biện Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án thủy điện Đồng Nai 6 & 6A

TS Lê Anh Tuấn (thay mặt Nhóm trình bày phản biện)

1. Mở đầu

Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (gọi tắt là VRN) được thành lập từ cuối năm 2005 là một diễn đàn của các tổ chức phi chính phủ, nhà nghiên cứu, học giả, cán bộ công tác trong một số cơ quan nhà nước, cộng đồng địa phương và những người có cùng mối quan tâm đến việc bảo vệ sông ngòi và phát triển bền vững ở Việt Nam. VRN hoạt động nhằm bảo vệ hệ sinh thái sông và các lưu vực sông nhằm duy trì sự đa dạng sinh học cũng như nguồn sống cho các cộng đồng ở các lưu vực sông thông qua các hoạt động chia sẻ thông tin; nghiên cứu về các tác động xã hội và môi trường của các dự án xây dựng đập và các dự án phát triển khác có liên quan đến sông ngòi, tài nguyên nước ở Việt Nam và trong khu vực, đồng thời thực hiện các hoạt động vận động chính sách liên quan tới lĩnh vực này. Một trong những mục tiêu trọng tâm của VRN là“thực hiện vai trò giám sát, phản biện độc lập và đóng góp chính sách liên quan đến tài nguyên nước dựa vào hoạt động thực tiễn”.

Sông Đồng Nai là một trong lưu vực sông lớn của Việt Nam. Nơi đây có một vị trí vô cùng quan trọng đối với đời sống hàng chục triệu người dân cũng như đối với sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của những địa phương trong và lân cận lưu vực. Việc khai thác một cách ồ ạt hàng chục nhà máy thủy điện trên dòng chính và dòng nhánh sông Đồng Nai đã và đang gây nên những tác động mạnh mẽ tới môi trường sinh thái dòng sông và trở thành tâm điểm chú ý của công chúng cả nước. Gần đây, Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai đã thuê các đơn vị tư vấn tiến hành đánh giá tác động môi trường và chuẩn bị cho việc xây dựng 2 nhà máy thủy điện lớn trên dòng chính sông Đồng Nai, là thủy điện Đồng Nai 6 và 6A (thủy điện ĐN6 & 6A) với tổ công suất lên đến 240 MW. Hai nhà máy thủy điện này làm ngập một diện tích rừng rất lớn, trong đó đặc biệt chiếm dụng trên 170 ha rừng thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên.

VRN với đội ngũ chuyên gia có chuyên môn sâu về tài nguyên nước, đa dạng sinh học, thủy điện, sinh thái nhân văn, văn hóa và xã hội học đã tham gia vào công tác phản biện việc xây dựng thủy điện ĐN6 & 6A từ khi Báo cáo Đánh giá Tác động môi trường (ĐTM) đầu tiên của dự án ĐN6 & 6A được thực hiện năm 2011. VRN đã tiến hành phân tích báo cáo ĐTM lần một, tổ chức nghiên cứu thực địa và cùng phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo với các bên liên quan và chủ đầu tư tại Vườn Quốc gia Cát Tiên tháng 8 năm 2011. VRN đã nêu ra những vấn đề liên quan đến phát triển không bền vững thủy điện trên lưu vực sông Đồng Nai trong đó có việc xâm hại đến Vườn Quốc gia Cát tiên của thủy điện ĐN6 & 6A nếu được xây dựng. VRN đã chỉ ra những sai sót và tắc trách trong Báo cáo ĐTM lần 1 của 2 dự án thủy điện ĐN6 & 6A và gửi kiến nghị tới Quốc hội, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công thương và chủ đầu tư (xem phụ lục 1,2). Với những phát hiện của VRN và các bên liên quan khác, các cơ quan quản lý nhà nước đã yêu cầu Chủ đầu tư dự án – Công ty cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai phải tiến hành lập lại các Báo cáo ĐTM cho thủy điện ĐN 6&6A. Mới đây các báo cáo ĐTM này đã được hoàn thiện và đang chờ thẩm định bởi Hội đồng thẩm định thành lập bởi Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các chuyên gia VRN đã nghiên cứu một cách thận trọng 2 báo cáo này và nhận thấy báo cáo ĐTM mới (2012) cho 2 dự án thủy điện ĐN 6&6A còn có rất nhiều điểm nghi ngại cần phải được làm rõ. Dưới đây là những ý kiến nhận xét, góp ý, phản biện của VRN gửi đến Hội đồng thẩm định và các cơ quan hữu quan để xem xét. Chúng tôi tin tưởng rằng những ý kiến xác đáng, khách quan và có thiện chí của các nhà khoa học và các tổ chức độc lập như VRN sẽ được Hội đồng thẩm định và các cơ quan liên quan lắng nghe và cân nhắc sử dụng để đưa ra những quyết định sáng suốt, công tâm.

2. Các ý kiến phản biện của VRN

2.1. Nhận xét chung về Báo cáo ĐTM-ĐN6 và ĐN 6A

- 2 báo cáo được thực hiện theo Điều 17, Nghị định 29/2011/NĐ-CP, ngày 18/4/2011: Nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường: hồ sơ thẩm định, phê duyệt các báo cáo đánh giá tác động môi trường.

- Nội dung trình bày trong báo cáo là chi tiết. Đặc biệt là các phần mô tả dự án và điều kiện tự nhiên, môi trường, kinh tế xã hội khu vực dự án chiếm gần ½ báo cáo. Nhiều thông tin trong phần mô tả quá chi tiết, không hợp lý và không giúp hỗ trợ cho phần ĐTM.

- Phần đánh giá tác động đến tính đa dạng sinh học (động, thực vật) là chi tiết và đầy đủ cho thấy rằng khu vực xây dựng Dự án thủy điện ĐN6 & ĐN 6A có mức độ da dạng sinh học cao. Tác động của 2 thủy điện đến tính đa dạng sinh học và môi trường, sinh thái trong khu vực ở cả 3 giai đoạn (chuẩn bị, giải phóng mặt bằng, thi công và vận hành) là lớn. (chương 3 Báo cáo ĐTM ĐN6 & 6A). Bảng 3-65 Ma trận đánh giá tác động tổng hợp môi trường của Dự án (trang 250) cho thấy các tác động đến môi trường sinh thái là rất lớn và tiêu cực.

- Phần các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu tác động xấu và ứng phó sự cố môi trường dường như rất chi tiết nhưng nhiều biện pháp là mang tính lý thuyết –không chủ đầu tư nào thực hiện được.

- Báo cáo ĐTM về cơ bản đã khẳng định các tác động tiêu cực của hai Dự án thủy điện đối với môi trường mặc dù chưa toàn diện và đầy đủ. Tuy nhiên, chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với các kết luận của nhóm tư vấn ĐTM đưa ra. Báo cáo còn bỏ ngỏ một số vấn đề lớn và còn nhiều điểm gây nghi ngại. VRN đưa ra những điểm cần xem xét trong các phần dưới đây.

2.2. Các căn cứ pháp lý để xây dựng Dự án

2.2.1. Thủy điện ĐN6 & 6A chưa được Quốc hội Việt Nam thông qua chủ trương đầu tư.

Dự án thủy điện ĐN6 làm ngập vĩnh viễn diện tích tổng cộng (ở MNDBT) là 171.36 ha, trong đó diện tích thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên là: thuộc rừng phòng hộ Nam Cát Tiên là 77,9 ha; bờ trái thuộc VQG Cát Tiên là 77,63 ha và rừng phòng hộ Lộc Bắc huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng là 0.09ha. (trang 20 Báo cáo 1).

Dự án ĐN 6A làm ngập vĩnh viễn diện tích 184,61 ha trong đó chiếm dụng diện tích thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên là 50,55 ha (trang xiv, Báo cáo 2).

Theo Nghị quyết Quốc hội số 49/2010/QH12 ngày 19/6/2010, Điều 3: Tiêu chí về dự án, công trình quan trọng quốc gia đầu tư tại Việt Nam phải trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, mục b) Dự án, công trình sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 hécta (ha) trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 hécta (ha) trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng lấn biển, bảo vệ môi trường từ 500 hécta (ha) trở lên; rừng sản xuất từ 1000 hécta (ha) trở lên.

Như vậy cả thủy điện ĐN6 và 6A đều có diện tích chiếm dụng Vườn Quốc gia trên 50 ha. Đây là những dự án cần phải được Quốc hội Việt Nam thông qua chủ trương đầu tư.

Tuy nhiên Báo cáo ĐTM đã không hề nêu căn cứ pháp lý quan trọng này. Báo cáo ĐN6 còn nêu ở mục Cơ quan phê duyệt dự án đầu tư (trang 1 Báo cáo và trang 2 Báo cáo 2): Dự án thủy điện Đồng Nai 6/6 A là dự án mới, thuộc công trình cấp II, dự án nhóm A, do đơn vị tư nhân Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai làm chủ đầu tư. Chủ đầu tư phê duyệt dự án đầu tư và quyết định đầu tư trên cơ sở kết quả thẩm định và phê duyệt thiết kế cơ sở của Bộ Công Thương.

Đề nghị của VRN: Trước khi tiến hành các bước tiếp theo như thiết kế khả thi, chủ đầu tư phải xúc tiến các bước trình các cơ quan nhà nước liên quan để có tờ trình Quốc hội Việt Nam xin chủ trương đầu tư.

2.2.2. Vi phạm Luật Đa dạng sinh học

Theo Luật Đa dạng Sinh học Số 20/2008/QH12, tại Điều 7 đã ghi rõ những hành vi bị nghiêm cấm về đa dạng sinh học (ĐDSH), trong đó có việc xây dựng công trình, nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh. Hai thủy điện ĐN6 & 6A không phải là công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh nên việc xây dựng 2 công trình này vi phạm điều 7 Luật Đa dạng Sinh học.

Cũng trong Luật ĐDSH, Điều 11: Công bố, tổ chức thực hiện quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước. Tại mục 2 ghi rõ việc tổ chức thực hiện quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước được quy định như sau: mục (d) Trong quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch, trường hợp có sự khác nhau giữa quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước với quy hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, quy hoạch ngành, lĩnh vực, trừ quy hoạch quốc phòng, an ninh thì ưu tiên thực hiện quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học.

VRN cho rằng: Việc quy hoạch xây dựng thủy điện là thuộc quy hoạch ngành, do đó phải ưu tiên quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học. Ở đây, Vườn quốc gia Cát Tiên là quy hoạch bảo tồn ĐDSH (đã có) của cả nước! Như vậy, việc Bộ NN&PTNT điều chỉnh đất của VQG để làm thủy điện là vi phạm điều 11 luật ĐDSH.

2. 3. VRN nghi ngại diện tích rừng bị mất sẽ cao hơn

Theo báo cáo ĐTM dự án Đồng Nai 6A sẽ làm mất “174,6 ha rừng (107,5 diện tích lòng hồ và 44,67 ha diện tích công trình và 22,43 ha diện tích cấp đất tạm thời)” [1]. Còn dự án Đồng Nai 6 thì “tổng diện tích cấp đất cho công trình là 197,63 ha” [2]. Con số này được tính toán dựa vào diện tích bị ngập nước, phần đất rừng bị chiếm do xây dựng công trình và phần diện tích sử dụng cho việc thi công. Điều này hoàn toàn không đúng, đặc biệt là phần tóm tắt có đoạn “Khi thủy điện Đồng Nai 6A đi vào hoạt động thì mực nước sẽ dâng lên cao làm ngập khu vực rừng trước đây không ngập, điều này tạo cho cây rừng tiếp xúc với mực và mặt nước gần hơn do đó cây cối trong những vùng lân cận của vùng ngập sẽ có điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt hơn so với trước đây (ở xa mặt nước) [3]. Bất kỳ người am hiểu về hệ sinh thái rừng thường khó có kiểu lập luận như vậy.

Ở các khu rừng không ngập nước thường xuyên, cây rừng đã tồn tại hàng chục năm trời trong điều kiện khô hạn vào mùa nắng và chỉ nhận nguồn nước trời vào mùa mưa, kết cấu thổ nhưỡng ở khu vực này là cứng chắc nhưng thoáng khí. Khi chuyển sang điều kiện ngập nước do hồ chứa thì nền đất sẽ chuyển qua trạng thái bão hoà khiến kết cấu của nó chuyển sang mềm nhão, bời rời, dễ sạt lở và rửa trôi. Điều kiện đất úng ngập sẽ làm rễ cây rừng bị ngộp vì thiếu thoáng khí và cây rừng dễ dàng bị chết đi, đổ nhào và tình trạng xói mòn chung quanh hồ gia tăng nhanh chóng. Khi đó diện tích đất rừng bị mất đi sẽ nhiều hơn theo năm tháng chứ không đơn thuần là phần đất mặt bị ngập nước. Kinh nghiệm ở hồ chứa thuỷ điện Nam Ngum ở phía Bắc Vientaine (Lào), diện tích rừng xung quanh hồ chứa bị mất thực tế cao hơn 20 - 30% so với diện tích rừng bị ngập nước (hình 1, 2), còn ở thuỷ điện Kulakhani, phần đất rừng chung quanh hồ chứa mất nhiều hơn 60 – 70 % diện tích mặt nước hồ (hình 3). Ngoài ra, trong thi công thường diện tích rừng thường bị tàn phá nhiều hơn so với dự tính trong các báo cáo ĐTM (hình 4).

Điều nghi ngại này là hoàn toàn có cơ sở, chưa kể đến các công trình thuỷ điện hiện nay ở Việt Nam đều là những nơi mà lâm tặc, thú tặc dễ dàng tiếp cận để tiếp tục huỷ diệt những mảng rừng còn sót lại khiến công việc bảo tồn khó khăn. Hồ chứa nước chính là nơi vừa thuận lợi cất giấu cây rừng bị chặt trộm vừa là nơi thuận lợi cho việc vận chuyển gỗ lậu từ rừng đến nơi tiêu thụ.

Như vậy, cần phải xem lại việc tính toán diện tích rừng mất đi theo báo cáo và diện tích rừng thật sự mất đi do cây rừng chung quanh hồ bị chết theo quá trình tích nước gây lầy hoá và xói mòn, cộng thêm quá trình thi công sẽ có nhiều cây rừng bị bức tử ngoài phạm vi thiết kế do công nhân của dự án hoặc do lâm tặc lợi dụng để cố tình chặt trộm. Diện tích rừng thực tế bị mất cao hơn báo cáo sẽ làm gia tăng nghi ngại các số liệu tính toán thiệt hại trong báo cáo không còn tin cậy.

clip_image004

Hình 1: Phần rừng chung quanh hồ thuỷ điện Nam Ngum bị chết do đất úng ngập

(Ảnh: Ari, 2010)

clip_image006

Hình 2: Cây rừng ở hồ thuỷ điện Nam Ngum bị chết do hiện tượng lầy hoá và sạt lở

(Ảnh: Dương Văn Ni, 2011)

clip_image007

Hình 3: Phần rừng quanh hồ thuỷ điện Kulekhani (Nepal) bị chết do đất úng ngập và sạt lở (Ảnh: Bhesh Nath Ghimire, 2004) [4]

clip_image009

Hình 4: Khi thi công công trình thuỷ điện Đồng Nai 3, nhiều cánh rừng đã bị phá

(Hình chụp tháng 5/2007)

2.4. VRN nghi ngại các giải pháp bảo tồn tài nguyên rừng đề xuất trong ĐTM

Báo cáo có nêu: “Việc bảo tồn thực vật rừng sẽ được chủ dự án thực hiện bằng cách trồng cây tại khu vực cấp đất tạm thời và làm giàu thêm các loài sống trong rừng. Đối với diện tích rừng bị mất do tích nước của hồ chứa sẽ được thực hiện trồng lại ở vị trí khác, khu vực trồng lại rừng này sẽ do Ban quản lý Vườn Quốc gia Cát Tiên và UBND 3 tỉnh quyết định. Quá trình này thực hiện sau khi khai hoang năm đầu tiên và có báo cáo kèm theo phần đất được giao, xác định khu vực nào cần trồng rừng, khu vực nào cần bổ sung loài cho phong phú thêm, các loài sẽ sử dụng, phương pháp trồng và kế hoạch thực hiện chi tiết” [5].

Đối với động vật rừng, báo cáo cho rằng: “Thực hiện di dời các cá thể loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ bị mất nơi sinh sống tự nhiên, bị lạc, bị thương, bị bệnh vào phân khu phục hồi và bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Cát Tiên. Những loài thực vật đặc hữu, thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm trong khu vực xây dựng dự án mà tại các khu vực khác của VQG không có thì BQL VQG Cát Tiên sẽ thực hiện thu thập cây con và nguồn gen đến phân khu phục hồi sinh thái của VQG để ươm trồng và nhân giống cây trồng” [6].

Tuy nhiên, trong các phần còn lại của báo cáo, người đọc không thấy có luận cứ nào cho thấy đã có vị trí diện tích đất dự trữ cho việc trồng lại rừng, phương thức trồng đúng loại rừng bị mất, không thấy có bản cam kết của Ban quản lý Vườn Quốc gia Cát Tiên và UBND 3 tỉnh là chắc chắn có hơn 372,23 ha đất trống dành riêng cho Tập đoàn Đức Long Gia Lai thực hiện chương trình trồng lại rừng.

Ngoài ra, chuyện di dời các cá thể (chim, thú, cá, …) bị nguy cấp gần như không tưởng, việc thu thập gen và cây giống cũng không phải đơn giản như báo cáo đã nêu. Việc trồng cây tại khu vực cấp đất tạm thời không thể nào “làm giàu thêm loài sống trong rừng”, nếu không ngăn ngừa khả năng đưa các loài cây trồng ngoại lai làm hỏng hệ sinh thái đặc hữu của Vườn Cát Tiên.

Đến nay, ở Việt Nam, chưa có công trình thuỷ điện nào đã thực hiện đúng cam kết trồng lại đủ số diện tích rừng đã bị phá, (Hình 5).

clip_image010

clip_image012Hình 5: Thuỷ điện Sông Tranh 2 ở Quảng Nam

(Ảnh: Lê Anh Tuấn, 2012)

2.5. VRN NGHI NGẠI VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

Theo báo cáo, “tại khu vực dự kiến xây dựng công trình thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, kết quả ghi nhận có 38 loài gồm 11 loài ếch nhái thuộc 4 họ ếch nhái và 27 loài bò sát thuộc 13 họ bò sát được ghi nhận qua phỏng vấn, quan sát ngoài thiên nhiên hay hình ảnh chụp được (Phụ lục 11 và 12 – Báo cáo chuyên đề Đa dạng sinh học). Trong đó có 1 loài ếch mày gai mắt đỏ được ghi trong Sách Đỏ Thế giới ở mức độ chưa đủ dữ liệu và 9 loài bò sát được ghi nhận trong Sách Đỏ Thế giới (2011) và Sách Danh lục Đỏ Việt Nam (2007)” [7], và “đã ghi nhận được khu vực dự án có 208 loài, thuộc 167 chi, 75 họ, 45 bộ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), ngành Hạt trần (Pinophyta) và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Trong đó, ngành Dương xỉ có 11 loài thuộc 9 chi của 5 họ là họ Nguyệt xỉ (Adiantaceae), họ Mộc xỉ (Dryopteridaceae), họ Ráng tây sơn (Gleicheniaceae), họ Ráng đa túc (Polypodiaceae) và họ Bòng bong (Schizeaceae); ngành Hạt trần có 4 loài thuộc 1 chi của 1 họ là họ Gấm (Gnetaceae) và ngành Ngọc lan có 183 loài, 157 chi của 69 họ thuộc 42 bộ” [8].

Với những liệt kê như trên, mặc dù chưa hoàn toàn đầy đủ vì còn thiếu những phát hiện mới – ví dụ như loài trà Camellia longii là một loài mới, có hoa rất đẹp (Hình 6), chuẩn bị được công bố khoa học – thì không thể nói khu vực dự án là nghèo nàn về đa dạng sinh học được nếu chỉ đơn thuần đánh giá theo kiểu kinh tế lâm nghiệp. Tính đa dạng sinh học là một khái niệm rất rộng không chỉ đơn thuần là việc liệt kê, đếm số loài mà còn phải xem xét các tác động phụ thuộc qua lại trong một môi trường sống, chuỗi thức ăn nhất định. Theo quan điểm của VRN, khu vực dự án khó có thể chấp nhận đây là nơi nghèo về rừng, nghèo về đa dạng sinh học được (Hình 7).

clip_image016

Hình 6: Loài Camellia longii mới được phát hiện trong khu vực dự kiến làm thuỷ điện

(Ảnh Vũ Ngọc Long, 2011)

Việc hình thành một hồ chứa nước lớn và kéo dài trên một đoạn sông sẽ làm thay đổi đáng kể môi trường sống các loài động và thực vật đặc hữu ở đây, đặc biệt là các loài nguy cấp, cắt đứt đường di chuyển, trốn chạy của những loài có nguy cơ bị săn bắt, thay đổi đặc điểm kiếm ăn và tạo nguy cơ làm gia tăng quần thể của những loài không mong đợi như hồ chứa sẽ làm gia tăng số lượng và diện tích của quần thể cây Mai Dương, các loài tảo độc, các sinh vật đáy sẽ thay đổi đặc điểm do sự thay đổi áp suất và nhiệt độ ở đáy sông nay thành hồ chứa. Các cây hoang dã (dương xỉ, nấm, rêu, địa y, …) và các sinh vậy nhỏ (bò sát, giun, kiến, …) sống ẩn dưới các tầng cây lớn, kể cả các cây dưới tán tre trúc sẽ bị chết đi do bị ngập nước và sự gia tăng thời gian và cường độ ánh sáng phản chiếu từ mặt thoáng hồ chứa. Các sự mất mát này sẽ là vĩnh viễn cho một số loài và làm giảm đi tính đa dạng sinh học. Không thể đơn thuần là chuyện di dời các loài sinh vật đặc hữu này đi nơi khác giống như việc di dời các cây cảnh trong một khu vườn. Bởi vì Loài đặc hữu là loài sinh vật chỉ tồn tại, phát triển trong phạm vi phân bố hẹp và giới hạn trong một vùng lãnh thổ nhất định của Việt Nam mà không được ghi nhận là có ở nơi khác trên thế giới.

VRN không tán thành đề xuất di chuyển các loài đặc hữu bởi vì làm như vậy là phản khoa học. VRN khẳng định cho đến nay, chưa ai thành công trong việc di chuyển loài đặc hữu, bởi vì chúng chỉ tồn tại và phát triển ở một nơi đặc biệt nào đó.

clip_image018

Hình 7: Tại nơi dự kiến xây dựng thuỷ điện: tính đa dạng sinh học rất phong phú

(Ảnh chụp ngày 6/8/2011- Lê Anh Tuấn)

Toàn bộ Vườn quốc gia Cát Tiên và các khu vực lân cận của tỉnh Đồng Nai hoàn toàn có các tiêu chuẩn là khu đất ngập nước theo định nghĩa của Công ước Ramsar mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Đặc biệt Bàu Sấu đã được công nhận là Khu Ramsar vào ngày 4/8/2005 và theo Nghị định của Chính phủ số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 về Bảo tồn và Phát triển các vùng đất ngập nước như khu Ramsar, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn loài sinh cảnh… Do vậy vùng này phải được bảo vệ, cấm khai thác. Việc hình thành hồ thuỷ điện ở đây sẽ ảnh hưởng đến đặc điểm thuỷ văn của khu vực Bàu Sấu.

VQG Cát Tiên đã được chuyên gia của IUCN khảo sát thực địa và đang hoàn thành Hồ sơ trình UNESCO để công nhận Di sản Thiên nhiên Thế giới. Việc xây dựng TĐ ĐN6 và ĐN6A sẽ ảnh hưởng quá trình xem xét và công nhận này của UNESCO.

Rừng bị mất và hồ chứa hình thành chính là hoạt động làm gia tăng phát thải khí nhà kính và giảm sự hấp thu carbon trong không khí. Điều này góp phần làm trái đất nóng lên, gây hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

2.6. VRN nghi ngại về tính toán thủy văn trong ĐTM

Dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A là sự tiếp nối một chuỗi các bậc thang khai thác sông Đồng Nai theo kiểu chia cắt biến hệ thống sông thành các chuỗi hồ chứa, do vậy các yếu tố liên quan đến đặc điểm thuỷ văn của một hệ thống sông ngòi là sự liên kết (connectivity), sự biến động theo mùa (variablity) và sự trữ nước (water storage) theo quy luật của dòng sông bị phá vỡ. Tính dòng chảy tự nhiên của hệ thống sông sẽ trở thành sự chuyển nước nhân tạo bởi sự kiểm soát vận hành chủ quan của các chủ nhân các hồ chứa thuỷ điện theo nhu cầu bán điện theo thị trường của họ. Như vậy, chắc chắn việc tính toán thuỷ văn dựa vào chuỗi đo đạc mực nước và lưu lượng nhiều năm sẽ không còn đúng.

Sự phối hợp vận hành chuỗi các hồ chứa ở Việt Nam chưa bao giờ suôn sẻ và đến giờ này, chưa có một mô hình vận hành liên hồ hợp lý nào ở Việt Nam. Với mật độ dày đặc các hồ chứa nước như Hình 8, việc điều phối vận hành liên hồ nên theo sơ đồ nào?

clip_image020

Hình 8: Sơ đồ các nhà máy thuỷ điện trên hệ thống sông Đồng Nai

Theo báo cáo ĐTM: “Hiện nay, hầu hết các dự án thuỷ điện phía thượng lưu thuỷ điện Đồng Nai 6A (Đồng Nai 2, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Đồng Nai 5, Đồng Nai 6) đều được tính toán thiết kế theo phân phối dòng chảy tại Trạm thuỷ văn Tà Lài. Thuỷ điện Đồng Nai 6A là một dự án trong bậc thang thuỷ điện trên sông Đồng Nai, vận hành phụ thuộc chế độ vận hành của các dự án phía thượng lưu. Do đó mùa dòng chảy tại tuyến công trình thuỷ điện Đồng Nai 6A cũng sẽ được tính toán theo trạm thuỷ văn Tà Lài như hầu hết các dự án thuỷ điện khác trong bậc thang thuỷ điện trên sông Đồng Nai” [9].

Có 2 vấn đề tạo nên sự nghi ngại về tính toán thuỷ văn: (1). Chuỗi số liệu lịch sử của Trạm Tà Lài không thể đại diện để sử dụng tính toán thuỷ văn cho dự án thủy điện dự kiến; và (2). Việc tính toán điều tiết, xả nước chưa xem xét đến sự vận hành liên hồ trong tương lai, chưa thực hiện bài toán tổ hợp các trường hợp vận hành khác nhau của chuỗi hồ chứa trong hệ thống cũng như các tác động domino khi có sự cố hư hỏng, động đất, vỡ đập do lũ vượt tần suất thiết kế, hoặc xét cả trường hợp bị chiến tranh – khủng bố vào mùa mưa lũ, …

Điều nghi ngại tiếp liên quan đến tính toán thuỷ văn là báo cáo ĐTM này chỉ trình bày lại các kết quả thông số thiết kế công trình của chủ dự án đưa ra và không có chứng minh là có các tính toán thủy lực – thủy văn và kết cấu để kiểm tra các tính toán này xác thực hay không? Báo cáo chưa có trình bày nguyên tắc và cơ chế bảo đảm dòng chảy môi trường cho hạ lưu.

2.7. Nghi ngại về tính toán lượng bùn cát bồi lắng lòng hồ

Báo cáo ĐTM tính lượng bùn cát bồi lắng trong lòng hồ, với lượng bồi lắng trong lòng hồ sau 100 năm là 5.738.918 m3, chiếm 26,69% dung tích chết của hồ. Với dung tích chết của hồ chứa 21,5x106 m3 thì tuổi thọ của hồ sẽ đạt trên 100 năm. Đồng thời khẳng định lượng bùn cát bồi lắng lòng hồ không ảnh hưởng đến tuổi thọ công trình.

Điều này khó chấp nhận vì không một nhà thiết kế hồ chứa nào tính toán lượng bồi lắng sau 100 năm là 5,7 triệu m3 mà lại chọn dung tích chết lớn gấp 4 lần thể tích bùn cát bồi lắng. Những con số này cần phải xem xét lại.

2.8. Nghi ngại về việc xem xét tác động văn hóa, xã hội của Dự án

Danh sách 17 thành viên của đoàn tư vấn ĐTM không có chuyên gia nào có chuyên môn về khoa học xã hội. ĐTM chưa đưa được các thông tin đầy đủ về tác động văn hóa, xã hội của dự án đến từng nhóm người trong khu vực bị ảnh hưởng.

Nhóm tư vấn ĐTM đã không phân tích và dự báo được dự án sẽ khiến cho bao nhiêu người mất nhà ở, mất việc làm, mất nguồn dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sức khỏe và an ninh lương thực của bao nhiêu người. Ảnh hưởng của dự án và các chương trình tái định cư bắt buộc đối với đời sống văn hóa của các cộng đồng sẽ như thế nào cũng không được ghi nhận trong báo cáo ĐTM. Báo cáo ĐTM cũng không xem xét đời sống của nhóm người sống dựa vào tài nguyên sẽ bị ảnh hưởng như thế nào khi có dự án thủy điện. Ví dụ như nhóm bà con ngư dân đánh bắt cá tôm ở sông Đồng Nai, nhóm người dân chuyên hái lượm các loài cây, con trong rừng, nhóm làm thuốc nam, nhóm sống nhờ vào nông nghiệp ở hạ lưu sông Đồng Nai… Chính vì sự yếu kém này của nhóm tư vấn ĐTM mà các biện pháp nhằm ngăn ngừa giảm thiểu trong ĐTM hoàn toàn không đầy đủ và không đảm bảo tính công bằng xã hội và họ đã kết luận sai lầm về tính khả thi của dự án.

Ngoài ra các đánh giá về di tích và khảo cổ học khu vực lòng hồ cũng không được xem xét trong ĐTM. Khu vực gần dự án là vùng đất của Vương quốc Phù Nam xưa. Không gian quần thể văn hóa của người Mạ cổ xưa sống dọc sông Đồng Nai (trong đó có khu vực dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A) đang trong quá trình hồ sơ để đệ trình UNESCO để được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới có nguy cơ bị từ chối khi dự án thuỷ điện ở vùng này làm xáo trộn và biến mất các di thể ở đây.

2.9. Nghi ngại về tính khả thi của các giải pháp ứng phó với sự cố

ĐTM đã tính đến hàng loạt các sự cố và tai nạn có thể xảy ra trong quá trình chuẩn bị, thi công và vận hành dự án, đặc biệt các sự cố không những gây thiệt hại tài sản cho chủ đầu tư, an toàn lao động cho công nhân mà còn sẽ gây ảnh hưởng đến tài sản và tính mạng của nhiều người dân sống trong khu vực như vỡ đê quai thượng hạ lưu, sự cố cháy nổ trong thi công và cháy rừng, sự cố vỡ đập ĐN6A sẽ làm ngập trên 7 nghìn ha ở hạ du ở cả 3 tỉnh… Tuy nhiên trong ĐTM, chúng tôi không thấy có phương án khả thi được đưa ra khi thiệt hại và mất mát tài sản và tính mạng đã được tính là rất lớn.

ĐTM đã đưa ra hàng loạt tác động to lớn do dự án gây ra bao gồm suy thoái rừng , tiếng ồn, tác động lên động vật , nguy cơ xói mòn, hao hụt dinh dưỡng đất, khối lượng chất khoáng, suy giảm các hệ sinh thái, và nguồn tài nguyên thực vật, phát sinh bệnh tật, bệnh lan truyền và tệ nạn xã hội... Rõ ràng sẽ không có biện pháp nào đủ mạnh và hiệu quả để bảo tồn lại hệ sinh thái của khu vực và bù đắp nổi các mất mát và thiệt hại do dự án gây ra. Tuy nhiên nhóm tư vấn ĐTM cũng đã đưa ra hàng loạt các biện pháp với mục đích tìm mọi cách để ủng hộ chủ đầu tư là công ty Đức Long, đơn vị đã bỏ tiền ra thuê nhóm tư vấn ĐTM. Nếu xét về tiềm lực kinh tế và tính toán lợi nhuận của nhà đầu tư, thì chắc chắn nhà đầu tư cũng không đủ khả năng để chi trả cho các biện pháp mang tính xa vời ấy. Trong trường hợp này, nếu hồ thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A phải vận hành theo yêu cầu quản lý liên hồ thì lợi nhuận khai thác thuỷ điện bị chia sẻ và giảm sút. Khi đó kết quả tính toán tỷ suất hoàn vốn nội tại sẽ không còn đúng và việc chủ đầu tư có đủ khả năng hoàn vốn hay không lại là một câu hỏi lớn.

2.10. Các nội dung cần phải bổ sung, làm rõ

2.10.1. Cần có đánh giá tác động môi trường đường dây cao thế:

Đường dây cao thế chiếm dụng một diện tích nhất định rừng và đất các loại và gây tác động đến sức khỏe đời sống người dân trong vùng bị ảnh hưởng.

VRN đề nghị: cần có đánh giá tác động môi trường cho đường dây cao thế và hệ thống truyền tải điện của cả ĐN6 & 6A.

2.10.2. Cần nghiên cứu kỹ về động đất và động đất kích thích

Phần đánh giá về động đất và động đất kích thích của 2 công trình chưa được nghiên cứu mà chỉ dựa trên tổng kết của thế giới về điều kiện có thể xảy ra động đất kích thích. Điều này là không đúng. Bài học thủy điện sông Tranh 2 cho thấy động đất kích thích phụ thuộc nhiều vào điều kiện địa chất trong vùng dự án. Trong khi “cấu trúc địa chất vùng hồ chứa chịu ảnh hưởng của các đứt gãy cấp IV và V, bên cạnh đó công trình nằm gần (khoảng 5km) đứt gãy sinh chấn Củ Chi – Tuy Hòa. Với các số liệu hiện có, trong giai đoạn này công trình nằm trong vùng phát sinh động đất Imax = 7 (MSK – 64), có đỉnh gia tốc nền a = 0,0897g” nhưng Báo cáo đưa ra kết luận “Chiều cao cột nước hồ chứa tối đa trên 90m; Dung tích hồ chứa vượt quá 1.109 m3. Đối chiếu những điều kiện này với thực tế thiết kế công trình cho thấy: Chiều cao cột nước thiết kế: Hmax= 47,18m nhỏ hơn chiều cao cột nước có thể dẫn đến động đất kích thích. Dung tích hồ chứa: 64,32.106 m3, nhỏ hơn dung tích có thể xảy ra động đất kích thích”.

VRN đề nghị báo cáo ĐTM cần phải có nghiên cứu chi tiết và kỹ lưỡng về vấn đề động đất và động đất kích thích cùng với các giải pháp cụ thể cho vấn đề này.

2.10.3. Cần làm rõ phần tài liệu tham khảo

Phần tài liệu tham khảo viết rất sơ sài và thiếu cẩn trọng, không theo một quy tắc nào trong các báo cáo khoa học: nhiều trích dẫn trong báo cáo không có ở tài liệu tham khảo. Ở báo cáo ĐTM của ĐN 6A chỉ có 3 tài liệu, mà 2 tài liệu [1] và [3] lại giống hệt nhau, tài liệu số [2] không tìm thấy địa chỉ trích dẫn trong báo cáo.

3. Kết luận và kiến nghị

Từ những phân tích và phát hiện nêu trên về những lỗ hổng của báo cáo ĐTM mới 2012 của 2 dự án thủy điện ĐN 6&6A, VRN khẳng định hai dự án này nếu được phê duyệt sẽ gây ra tác động, tổn thất lớn cho môi trường và sẽ để lại hậu quả lớn cho xã hội mà sẽ không có biện pháp nào có thể cứu chữa, hay đền bù lại được. Trong khi đó báo cáo ĐTM hiện tại còn nhiều lỗ hổng, vi phạm các quy định pháp luật hiện hành liên quan tới bảo vệ vườn quốc gia, đa dạng sinh học và chưa đưa ra các giải pháp giảm thiểu, khắc phục phù hợp, thỏa đáng và khả thi do vậy nó chưa thể đủ điều kiện để được xem xét thông qua để làm cơ sở tiến hành xây dựng dự án.

Vì vậy, chúng tôi kính đề nghị các bên liên quan, đặc biệt là Hội đồng thẩm định ĐTM của 2 dự án này:

1) quan tâm xem xét các ý kiến góp ý, phản biện nêu trên.

2) chỉ thẩm định báo cáo ĐTM khi nó có thay đổi và đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật đồng thời làm rõ những nghi ngại, vấn đề còn bỏ ngỏ và hoàn thiện các tính toán chính xác về tác động và giải pháp sửa chữa, khắc phục khả thi.

3) quyết định liên quan tới việc thẩm định 2 dự án này cần được thông báo công khai rộng rãi với công chúng và các bên liên quan nhất là cộng đồng bị ảnh hưởng.

Chúng tôi rất mong quý Hội đồng và các cơ quan hữu quan xem xét và lắng nghe các ý kiến phản biện từ nhiều phía để có quyết định sáng suốt nhất đối với trường hợp này.

Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam - Tháng 10 /2012

Mọi phản hồi xin liên hệ:

Văn phòng điều phối Mạng Lưới Sông Ngòi Việt Nam

2/33 Nguyễn Trường Tộ, Thành phố Huế , Việt Nam

ĐT : 054 3837714 ; Email: rivervietnam@gmail.com ; Website: http://vrn.org.vn

Đại diện liên lạc:

1. TS. Lê Anh Tuấn: Chuyên gia Biến đổi Khí hậu và Tài nguyên nước – Thành viên Ban Tư vấn VRN – Email: latuan@ctu.edu.vn

2. TS. Đào Trọng Tứ: Chuyên gia Thủy lợi, Thủy điện – Thành viên Ban Tư vấn VRN Email: tudaotrong49@yahoo.com.vn

3. ThS. Lâm Thị Thu Sửu: Giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Xã hội - Điều phối viên VRN - Email: suu.csrd@gmail.com

4. CN. Ngụy Thị Khanh: Giám đốc Trung Tâm Sáng Tạo và Phát triển Xanh (GreenID) – Thành viên ban vận động chính sách VRN - Email : khanhgreenid@gmail.com

5. TS. Đào Thị Việt Nga: Giám đốc Trung Tâm Bảo tồn và Phát triển Tài nguyên Nước (WARECOD) – Thành viên ban điều hành VRN - Email: ndao2503@gmail.com

6. TS. Đào Trọng Hưng: Chuyên gia về Sinh Thái Nhân Văn – Thành viên Ban Tư vấn VRN - Email: dthung9109@yahoo.com

Chú thích:

[1] Trang xvi, phần BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN 6A. Phần chữ in nghiêng trong bài này là các trích dẫn báo cáo ĐTM của Viện Môi trường và Tài nguyên – Đại học Quốc gia TP.HCM cho dự án thủy điện Đồng Nai 6 (ĐN.6) và 6A (ĐN.6A).

[2] Trang x (Giống như trên nhưng cho ĐN.6)

[3] Trang xix – xx (ĐN.6A)

[4] Bhesh Nath Ghimire, 2004. Economic Losses To Kulekhani Hydroelectric Project due to Siltation in the Reservoir. Winrock International Nepal.

[5] Trang xxi (ĐN.6A)

[6] Trang xxii (ĐN.6A)

[7] Trang 90 (ĐN.6), mục 2.1.5.1

[8] Trang 111 (ĐN.6), mục... [Bản nhận xét còn bỏ trống - BVN]

[9] Trang 103-104 (ĐN.6A)

Các tác giả gửi trực tiếp cho BVN