10/08/2010

Chúng ta hôm nay đang lẩn trốn lịch sử

Nguyễn Hữu Quý

Được biết, giữa tuần qua (tuần đầu tháng 8/2010), Ủy ban Thường vụ Quốc hội phối hợp Liên hiệp Các hội KHKT Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo “Xây dựng tiêu chí, phương pháp tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992”. Hầu hết các đại biểu đều thống nhất phải sửa đổi HP 1992.
Chúng ta biết rằng, Hiến pháp 1946 (HP 1946) là bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, được Quốc hội khóa I thông qua vào ngày 9 tháng 11 năm 1946. Tuy nhiên, do chiến tranh Đông Dương bùng nổ ngay sau khi bản Hiến pháp này được thông qua nên nó chưa được chính thức công bố và thi hành.
Đánh giá về HP1946 theo TS Nguyễn Sỹ Dũng: “Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém bất kỳ bản hiến pháp nào trên thế giới”[*].
Trở lại với việc bàn về sửa đổi Hiến pháp; ngày 24/6/2010, báo Tuần VNN đăng bài “Cựu Chủ tịch Quốc hội bàn việc sửa Hiến pháp”; đây thuộc chuyên mục GẶP GỠ & ĐỐI THOẠI trò chuyện với cựu Chủ tịch QH Nguyễn Văn An; qua bài báo này có một số nội dung rút ra như sau:
1. Do điều kiện chiến tranh, HP 1946 từ chỗ “quyền lập Hiến hoàn toàn thuộc về toàn dân, thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước”, thì sau các lần sửa đổi HP vào các năm 1959, 1980 và 1992 lại quy định “Quốc hội có quyền lập hiến”; cụ thể là: “Điều 43, 44 và 50 của Hiến pháp 1959 ghi: “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”, là cơ quan duy nhất “có quyền lập pháp”, có quyền “làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp”.
2. Sau những lần thay đổi HP, nhân dân VN đã thực sự đánh mất quyền làm chủ của mình; đã chuyển từ Dân làm chủ đích thực (HP 1946) chuyển sang Quốc hội thay mặt cho dân làm chủ.
Để cụ thể hơn, bài báo kết luận (ông Nguyễn Văn An kết luận):
a. Đó là sự thay đổi, sự xa rời rất lớn, rất cơ bản về người chủ đích thực của đất nước;
b. Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp, người ta gọi như thế là vừa đá bóng, vừa thổi còi.

Trở lại với Hội thảo được tổ chức giữa tuần qua (8/2010); qua báo chí thì, các vấn đề mà đại biểu đang “thảo luận” là:
“Các tham luận tại Hội thảo đều tập trung vào những nội dung trọng yếu: Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vai trò của hoạt động tổng kết việc thi hành Hiến pháp đối với việc sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp; Đề xuất các tiêu chí và phương pháp tổng kết thi hành Hiến pháp; những vấn đề chung về Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; Xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 trên các lĩnh vực…”.
Như vậy, nếu đem ý kiến mà ông Nguyễn Văn An đã kết luận nêu trên, với nội dung mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội phối hợp Liên hiệp Các hội KHKT Việt Nam (VUSTA) đang “thảo luận”, thì thấy rằng, việc “thảo luận” của hội thảo vừa rồi là “vô bổ” không cần thiết, vì các lý do sau:
- Đến hôm nay mà các vị vẫn còn “loay hoay” với… “Đề xuất các tiêu chí và phương pháp tổng kết thi hành Hiến pháp…”; rõ ràng, đây là bước không cần thiết, vì thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực về đời sống, kinh tế, xã hội… của nước ta trong mấy chục năm qua đã chứng minh rồi, và ông Nguyễn Văn An đã kết luận như nêu ở phần trên.
- Để thực hiện “hoạt động tổng kết” như các vị đã “hội thảo”, thì không biết đến khi nào chúng ta mới thực hiện sửa đổi HP, có thể là 3 năm, 5 năm hay 10 năm…? (vì còn mất thời gian để “hội thảo” nhằm đánh giá công tác tổng kết, mà không biết được là mất mấy năm, trong khi sự bất hợp lý của HP 1992 là đã quá rõ ràng).
Kiến nghị:
Do trong phạm vi ngắn của một bài báo, người viết bài này kiến nghị là:
1. Nếu thực sự “học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Hồ CHí Minh”, thì hãy mang HP 1946 ra áp dụng; có chăng là bổ sung thêm một vài điểm cần thiết phù hợp với điều kiện, tình hình đất nước hiện nay và phù hợp với thời đại.
2. Việc tổng kết thi hành HP 1992 như hội thảo vừa rồi là không cần thiết, mất thời gian, tốn tiền ngân sách.
3. Trong mọi trường hợp, nếu không sửa đổi Hiến Pháp, thì đồng nghĩa với thế hệ chúng ta hôm nay đang lẩn trốn lịch sử và như thế sẽ có tội với lịch sử; hậu thế sẽ phán xét; hẳn sẽ có đa số đồng ý với nhận xét này.
4. Mọi vần đề, khi nói về “tái cấu trúc”, “thay đổi cơ chế” v.v. nếu không đi ra từ một bản Hiến pháp, với tư cách là “Luật mẹ”, mà ở đó: “quyền lập Hiến hoàn toàn thuộc về toàn dân, thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước”, thì chỉ là hình thức, trái với lòng người, đang đi lại thực tiễn đời sống và ngược lại với yêu cầu của sự tồn tại và phát triển của đất nước./.

09.8.2010

NHQ

Ghi chú:
[*] nguồn Wikipedia tiếng Việt (HP 1946);
Phụ lục về HP 1946.
Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khóa I thông qua vào ngày 9 tháng 11 năm 1946.[1] Do chiến tranh Đông Dương bùng nổ ngay sau khi bản hiến pháp này được thông qua nên nó chưa được chính thức công bố và thi hành.

Lịch sử

Ủy ban dự thảo Hiến pháp được thành lập theo Sắc lệnh số 34-SL ngày 20 tháng 9 năm 1945 gồm có 7 thành viên: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh).
Bản dự án Hiến pháp đã được soạn thảo và công bố vào tháng 11 năm 1946.
Ban dự thảo Hiến pháp (Tiểu ban Hiến pháp) được Quốc hội bầu ra ngày 2 tháng 3 năm 1946 gồm có 11 thành viên: Trần Duy Hưng, Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ, Nguyễn Thị Thục Viên. Ban này tiếp tục nghiên cứu dự thảo hiến pháp.
Trong phiên họp ngày 29 tháng 10 năm 1946, Tiểu ban Hiến pháp được mở rộng thêm 10 đại biểu đại diện cho các nhóm, các vùng và đồng bào thiểu số để tu chỉnh dự thảo Hiến pháp và trình ra Quốc hội ngày 2 tháng 11 năm 1946 để Quốc hội thảo luận, sửa chữa và thông qua.
Bản Hiến pháp được Quốc hội thông qua vào ngày 9 tháng 11 năm 1946, tại kỳ họp thứ 2, với 240 phiếu tán thành trên tổng số 242 phiếu.[2] Sau đó, Quốc hội ra nghị quyết giao nhiệm vụ cho Ban Thường trực Quốc hội “cùng với Chính phủ ban bố và thi hành Hiến pháp khi có điều kiện”, “trong thời kì chưa thi hành được Hiến pháp thì Chính phủ phải dựa vào những nguyên tắc đã định trong Hiến pháp để ban hành các sắc luật”. Tuy nhiên, Kháng chiến chống Pháp bùng nổ vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 đã làm việc tổ chức tổng tuyển cử bầu Nghị viện nhân dân không có điều kiện để thực hiện. Do tình hình chiến tranh, Hiến pháp 1946 chưa được chính thức công bố[1] và chưa từng có hiệu lực về phương diện pháp lý.[3]

Nội dung

Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 là một bản hiến văn ngắn, bao gồm lời nói đầu và 7 chương, 70 điều.
Lời nói đầu khẳng định ba nguyên tắc cơ bản của bản Hiến pháp này:
  • Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo.
  • Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
  • Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.”
Chương I quy định chính thể của Việt Nam là dân chủ cộng hòa
Chương II quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân, xác nhận sự bình đẳng về mọi phương diện của tất cả công dân Việt Nam trước pháp luật.
Chương III quy định về nghị viện nhân dân.
Chương IV quy định về chính phủ – cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc
Chương V quy định phương diện hành chính, bộ, tỉnh, huyện, xã; quy định về cơ quan hành chính (ủy ban hành chính và hội đồng nhân dân) các cấp.
Chương VI quy định về cơ quan tư pháp bao gồm toà án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp.
Chương VII quy định về việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó có quyền phúc quyết hiến pháp của dân.

So sánh

Quy định về việc sửa đổi Hiến pháp (Chương VII) không được kế thừa trong các bản Hiến pháp sau này của Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[2]
Vai trò và quyền lực của Chủ tịch nước như được quy định trong Hiến pháp 1946 rất lớn: Chủ tịch nước không chịu trách nhiệm trước Quốc hội, không thể bị khởi tố trừ tội phản quốc, có thể từ chối công bố các đạo luật do Quốc hội ban hành và yêu cầu Quốc hội thảo luận lại. Đặc điểm này gần với quy định về quyền lực của Tổng thống trong Hiến pháp nước Mỹ. Trong các bản hiến văn theo mô hình Xô Viết sau này của Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước chỉ có chức năng nghi lễ mà ít mang tính quyền lực. [3]
Hiến pháp 1946 công nhận các quyền cơ bản của công dân như quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền khiếu nại tố cáo… Ở các bản Hiến pháp sửa đổi năm 1959 và 1980, các quyền này không được qui định rõ ràng hoặc không đầy đủ. Đến bản Hiến pháp sửa đổi năm 1992 lại có nhiều điểm quay lại với Hiến pháp 1946 [4].
Điều 10 bản Hiến pháp 1946 qui định rõ ràng các quyền tự do cá nhân: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Đây là những quyền tự do bị hạn chế trong các bản Hiến pháp sau này.
So sánh với Hiến pháp của các quốc gia khác, tác giả Phạm Duy Nghĩa cho rằng nội dung Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam dân chủ cộng hòa “không hề có bóng dáng của Hiến pháp Liên Xô 1936″, có “thái độ thượng tôn và tiếp nối truyền thống tư pháp đã có từ thời thực dân”, và chứa đựng những tư tưởng dân chủ hơn hẳn hệ thống luật pháp của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa [3].

Đánh giá

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng[5] cho rằng Hiến pháp 1946 phản ánh đúng tinh thần pháp quyền – “những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ”. Điều đó thể hiện ở 5 điểm[5]:
1.Hiến pháp đã được đặt cao hơn nhà nước. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi Hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70 Hiến pháp 1946).
2.Các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thay vì được nhà nước ghi nhận và bảo đảm.
3.Quyền năng giữa các cơ quan nhà nước được phân chia khá rõ và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế.
4.Quyền năng giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cũng được phân chia rất rõ.
5.Vai trò độc lập xét xử của toà án được bảo đảm. Các cơ quan khác không có quyền can thiệp.
Ông đánh giá “Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém bất kỳ bản hiến pháp nào trên thế giới”[2].
Giáo sư Trần Ngọc Đường, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội (năm 2006), cho rằng các điểm nổi bật của Hiến pháp 1946 là: Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nền lập hiến Việt Nam; Tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân; Tư tưởng pháp quyền; Những quy định về quyền con người và đảm bảo quyền công dân; Cơ chế bảo hiến; Sửa đổi hiến pháp. Theo ông, việc nghiên cứu về “quyền phúc quyết” hiến pháp của người dân trong Điều 70 Hiến pháp 1946 rất có ý nghĩa trong hoàn cảnh xây dựng Luật trưng cầu dân ý của Việt Nam[2].
Giáo sư Phạm Duy Nghĩa, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng Hiến pháp năm 1946 là “bản hiến văn dân chủ vào loại bậc nhất Đông Nam Châu Á lúc bấy giờ” và “đã có thể là một bản khế ước tốt để ràng buộc và khống chế công bộc với lợi ích của ông chủ nhân dân”. Ông tỏ ý tiếc rằng sáu mươi năm sau Việt Nam “đã không có cơ hội đi xa hơn trong chủ nghĩa lập hiến” [3]. Theo ông, Hiến pháp 1946 vẫn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam và “vẫn còn nguyên giá trị cho một xã hội dân chủ pháp quyền ở Việt Nam”[4].
Đây là bản Hiến pháp được soạn thảo theo tinh thần “tam quyền phân lập”: lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ) và tư pháp (Tòa án) với ảnh hưởng của Hiến pháp Hoa Kỳ, Pháp, và Hiến pháp của các nước cộng hòa khác.[cần dẫn nguồn] Điều 1 của Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa”.
Tuy nhiên những giá trị của bản Hiến pháp 1946 không được vận dụng trong thực tế mà chỉ có giá trị về mặt chính trị. Bởi vì nhiều lý do khiến cho Hiến pháp 1946 không được thực thi.

Chú thích

[1] Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946
[2] Đỗ Minh, Hiến pháp 1946: Nghĩ về quyền phúc quyết hiến pháp của dân
[3] Phạm Duy Nghĩa, Bản Hiến pháp sáu mươi năm trước và những món nợ lịch sử
[4] Vang vọng tiếng dân
[5] Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội (năm 2008), Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền