21/01/2019

TƯỞNG NIỆM 45 NĂM CUỘC CHIẾN HOÀNG SA

Đúng buổi trưa Thứ Bảy ngày 19 tháng Giêng 2019, để tưởng nhớ anh linh 74 chiến sĩ VNCH đã bỏ mình trong cuộc chiến đãm máu bảo vệ quần đảo Hoàng Sa 45 năm trước chống lại bè lũ hải tặc Tàu Cộng do Đặng Tiểu Bình chỉ huy từ tận Bắc Kinh, một nhóm anh em XHDS do TS Nguyễn Quang A dẫn đầu, đã cùng nhau đi thăm lại Bến Bình Than, nơi các vương hầu tôn thất nhà Trần đã tổ chức một cuộc Hội nghị trên sông nổi tiếng trong lịch sử vào tháng 11 năm 1282 nhằm bàn kế chống nguy cơ giặc Nguyên xâm lăng Đại Việt ba năm sau đó.
       
Tất cả xuống xe lần từng bước chân xuống cái bến sông quen thuộc của gần 800 năm cũ mà từ lâu rồi không ai qua lại nữa, rồi đứng trầm mặc rất lâu nhìn ra quang cảnh mênh mông của 6 nhánh sông châu tuần lại với nhau như một điểm hẹn tại vùng sông nước trọng yếu này. Cuối cùng thì tất cả đã cùng nhau thả xuống dòng sông một vòng hoa lớn với dòng chữ DD XHDS TƯỞNG NHỚ LIỆT SĨ HOÀNG SA, mong cho nó trôi ra tận Biển Đông, nhằm kính viếng hồn thiêng 74 con người đã vì đất nước mà đi vào cõi bất tử.

Ai nợ ai?

Bauxite Việt Nam

Đặt vấn đề so sánh xem Việt Nam nợ Trung Quốc hay Trung Quốc nợ Việt Nam trong quá khứ lịch sử cũng như hiện tại để thanh toán đi những vướng mắc không đáng có đang chi phối tâm lý dân tộc là điều cần thiết. Nhưng nói đến lịch sử thì có lịch sử gần và có lịch sử xa. Nếu phải tính đến món nợ máu xương do Trung Quốc gây ra cho dân Việt thì không thể đặt nó trong một lịch sử gần mà phải nhìn suốt một chiều dài có đến hơn 2000 năm. Kể từ cuộc xâm lược đầu tiên của đội quân do các Hoàng đế Đại Hán tiến hành kéo xuống tàn sát dân ta và lập ra cuộc đô hộ của chúng suốt 1000 năm Bắc thuộc, cho đến hàng chục cuộc xâm lăng hung hãn của các đế chế Trung Hoa dưới nhiều triều đại tự chủ của nước ta từ thế kỷ X về sau, bao gồm cả những cuộc chiến tranh trong thế kỷ XX như chiến tranh cướp Hoàng Sa 1974, cướp Gạc Ma 1988, chiến tranh biên giới 1979… đều là những món nợ khủng khiếp, ngày một chồng cao như núi mà phía “vay” không bao giờ trả nổi. Chỉ có thể gọi đó là mối thù muôn đời muôn kiếp không tan, đúng như lời Phan Bội Châu: “Oán thù ta hãy còn lâu / Trồng tre nên gậy gặp đâu đánh què”.

Nhưng không chỉ có thế. Ngay việc ta đánh Mỹ cũng không hoàn toàn là đánh cho ta mà chủ yếu và trước hết là “đánh cho Liên Xô, Trung Quốc” (Lê Duẩn). Như thế, thành quả của cuộc chiến không phải ta hưởng mà chính LX và TQ mới là hai ông anh thủ đắc trước tiên. Và đó cũng là một phương diện khác của món nợ máu xương mà ta có quyền đòi ở họ, và họ - nhất là anh láng giềng phương Bắc “núi liền núi sông liền sông” - có nghĩa vụ phải trả cho ta. Không nói về nhân mạng ta đã từng mất đi hàng bao nhiêu triệu con người ưu tú, sau chiến tranh mọi hậu quả về các thứ bệnh do cuộc chiến phát sinh, nặng nề nhất là bệnh chất độc da cảm ảnh hưởng di truyền đến nhiều thế hệ con cháu… biết dùng thứ gì mà bù đắp được? Những thiệt hại về nòi giống chính là cái gánh nợ quan trọng hàng đầu mà ta có quyền đòi trong tư cách đảng cộng sản đàn em thân tín yêu cầu các “ông anh” phải “chia sẻ nỗi đau” cùng chúng ta, thực chất là ta đòi khoản thù lao đánh thuê để hai nước cộng sản đàn anh rảnh tay xây dựng và be bờ đắp đập cho phên dậu nhà mình.

Còn nói cụ thể việc Việt Nam nợ Trung Quốc về súng ống đạn dược, lương thực, bạc tiền trong cuộc chiến tranh 20 năm ấy mà Trung Quốc đã “nhiệt tình” giúp đỡ thì trước khi đặt vấn đề ai trả, lại phải đặt ra một vấn đề khác cho phân minh, rằng món nợ này do ai vay? Dám chắc toàn dân Việt Nam không ai vay Trung Quốc. Muốn biết ai vay thì phải lần đến tận ngọn nguồn: ai đã gây ra cuộc chiến tương tàn giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam trong suốt 20 năm 1954-1975 mà cuối cùng nhân dân cả hai miền đều phải chịu chịu một tổn thất nặng nề đến nay chưa thể nào hàn gắn nổi? Câu trả lời ngày càng nổi rõ trong nhận thức, tưởng không còn mấy ai phải phân vân: chính là Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính tổ chức bạo lực đó đã phát động cuộc cướp chính quyền năm 1945 dưới danh nghĩa Mặt trận Việt minh rồi sau đó giữ chặt lấy chính quyền mặc dầu không ai bầu cho họ. Vậy là họ đã cầm quyền tiếm danh kể từ 1945 đến tận hôm nay, đúng 73 năm, và trong 73 năm đó đã một mình mình tự quyết định mọi chuyện, trong đó có chuyện xoay xở vay mượn tất cả những nước cùng ý thức hệ như LX, TQ và các nước CS khác để đem mọi thứ về phát động con dân miền Bắc lên đường trèo đèo lội suối đi đánh cướp miền Nam. Kết quả của cái việc vay mượn tự chuyên kia là một nước Việt Nam tuy có thống nhất được cả hai miền sau 20 năm giết chóc, nhưng cái giá của nó thì còn đắt hơn vàng mà như trên đã nói, đến tận bây giờ vẫn chưa thể có được một nước Việt Nam yên hàn, lành lặn, khi mà cả một dân tộc trở thành nồi da xáo thịt trong suốt hai thập niên, để rồi sau đó là nhiều đoàn người đã rùng rùng bỏ nước ra đi tìm nơi trú ngụ mới ở khắp bốn phương trời, đén nỗi nay muốn ngồi lại cùng nhau để hòa hợp hòa giải cũng chưa xong. Vậy thì món nợ do ĐCS VN vay của Cộng sản Tàu không lãi mà lỗ lớn. Lỗ cả về vật chất và tinh thần cho cả một dân tộc.

Đương nhiên dù lỗ, đã vay thì phải trả. Nhưng con nợ trực tiếp là ĐCSVN thì họ phải tìm mọi cách để trả chứ không thể bắt dân Việt phải trả thay họ, vì người dân đã từng hiến dâng hết tính mạng con cái và tài sản gia đình mình (có rất nhiều nhà như nhà bà mẹ Diệm chết sạch đến cả 6 người con) cho cuộc chiến cưỡng bức vô thức này. Họ càng không thể đem đất đai, biển trời của Tổ quốc ra để trả, nếu như còn một chút liêm sỉ nào đó. Sau 73 năm tự chuyên với công và tội đầy mình, chắc chắn không ai còn muốn họ được phép nhân danh cái quyền mà thực chất họ không có để cắt xé dù chỉ một thước núi một tấc sông đem dâng cho nước ngoài, huống chi nước ngoài ấy lại là kẻ thù truyền kiếp của toàn thể dân tộc Việt Nam (Lê Duẩn).

Chính vì thế, khi chúng ta nhìn những nụ cười như nụ cười nham nhở dưới đây của một kẻ từng có đầy oai quyền và từng ban phát quyền sinh quyền sát cho rất nhiều thế hệ trí thức cũng như người dân trong nhiều thập niên thuộc nửa cuối thế kỷ XX, ta sẽ thấy trong lòng dâng lên một mối hờn căm chính đáng, và tự nhiên lợm giọng. Y và những kẻ như y mới chính là những con nợ lâu đời nhất của toàn thể dân chúng Việt Nam - những ai đã nằm xuống, những ai hiện còn, những ai đang sống ở trong nước hoặc những ai đã bỏ nước ra đi, theo chúng tôi, đều là chủ nợ của bè lũ tội nhân này.

19/1/2019 NỖI HẬN ĐAU NƯỚC VIỆT: Việt Nam nợ Trung Quốc hay Trung Quốc nợ Việt Nam?

Nguyễn Văn Phước

Trung Quốc tấn công Hoàng Sa có sự thoả thuận với Mỹ, đánh chiếm Gạc Ma có sự vô cảm của Nga. Việt Nam nợ hay Trung Quốc nợ Việt Nam?

Vào ngày 19/1/1974 lịch sử - cách đây tròn 45 năm - sau một thời gian chuẩn bị âm mưu tấn công đánh chiếm Hoàng Sa, có sự ‘thoả thuận ngầm’ từ phía Mỹ, Trung Quốc đã dùng những tàu chiến hiện đại lúc bấy giờ, trong đó có hai tàu quét lôi T43, hai tàu chống ngầm cùng 500 lính hải quân áp sát bao vây Hoàng Sa trước đó mấy ngày (sau đó 17 chiến hạm của Trung Quốc trong đó có 4 tàu ngầm trên đường tới Hoàng Sa và phi cơ phản lực bay tới từ đảo Hải Nam). Cuộc tấn công xâm lược chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã gây ra cái chết của 74 người lính VNCH trong lúc cận chiến với tàu Trung Quốc, 16 lính bị thương, 48 lính bị Trung Quốc bắt làm tù binh.

Lực lượng không quân ngay lúc đó của Việt Nam Cộng hòa ở sân bay Đà Nẵng khá mạnh (bao gồm 120 máy bay phản lực Northrop F-5) nhưng lại không được phép cất cánh để tham chiến. Theo Đại tá phi công tình báo Nguyễn Thành Trung việc sử dụng các máy bay phản lực tiêm kích tái chiếm Hoàng Sa không thể diễn ra do Mỹ cảnh báo Tổng thống Thiệu không được hành động vì Mỹ đã làm lành với Trung Quốc và chấp nhận làm ngơ để Trung Quốc dùng vũ lực xâm lược cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Cần nhắc lại những sự kiện lịch sử rất liên quan: Tháng 2/1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon tới Trung Quốc hội kiến Mao Trạch Đông. Mỹ và Trung Quốc đưa ra tuyên bố chung ‘Thông cáo Thượng Hải’, trong đó phản đối "bá quyền" tại châu Á và Thái Bình Dương. Cũng từ năm 1972, Trung Quốc chấm dứt viện trợ vũ khí và lương thực cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đổi lại Mỹ công nhận chính sách "Một Trung Quốc", theo đó họ bỏ phiếu loại Đài Loan ra khỏi Hội đồng bảo an Liên hợp quốc để Trung Quốc thay thế. Năm 1973, Trung Quốc và Mỹ mở văn phòng liên lạc ở thủ đô mỗi nước mở đầu cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai quốc gia.

Năm 1973, với Hiệp định Paris, Hoa Kỳ và Hạm đội 7 rút quân và thiết bị của Hoa Kỳ ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa. Như vậy Hoa Kỳ đã xem tranh chấp tại quần đảo này không phải là việc của họ. Việc Mỹ rút quân và kết làm đồng minh đã giúp Trung Quốc có thể điều quân đánh chiếm Hoàng Sa mà không lo ngại sẽ xảy ra xung đột với Mỹ.

14 năm sau vào sáng ngày 14/3/1988 Trung Quốc với sự tính toán thời điểm và chuẩn bị trước đó, đã dùng 3 tàu khu trục hộ vệ tên lửa 502 Nanchong, 556 Xiangtan và 531 Yingtan bao vây cụm đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam gồm 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Phía Việt Nam chỉ có 3 tàu vận tải HQ 505, HQ 604 và HQ 605. Sau cuộc tranh chấp cờ trên đảo san hô Gạc Ma và trận thảm sát bằng súng đại liên và pháo hạ nòng từ tàu chiến phá huỷ 3 tàu vận tải, giết chết 64 người lính hải quân Việt Nam, bắt 9 người lính Việt Nam làm tù binh và chiếm được đảo Gạc Ma từ ngày đó.

Theo lời kể của một cựu binh Gạc Ma có mặt trên đảo lúc đó, vì quá thương những đồng đội của mình đã bị giết như bắn bia trên đảo, đã trăn trở đi tìm nguyên nhân vì sao sau khi biết tin mất đảo Gạc Ma lại không phản ứng về mặt quân sự ngay vào lúc đó, điều tàu chiến hay máy bay chiến đấu ra chiếm lại đảo Gạc Ma, đã cho biết: Đô đốc hải quân kiêm Tư lệnh Vùng 4 hải quân Giáp Văn Cương đã lệnh cho các tàu săn ngầm của lữ đoàn 171 xuất phát ra đánh tàu mặt nước của Trung Quốc. Nhưng tương quan lực lượng với Trung Quốc quá chênh lệch. Tàu chiến của Việt Nam ở khu vực gần bờ lúc đó chỉ có mấy chiếc tàu pháo mà loại tàu rất nhỏ di chuyển ra Gạc Ma rất lâu, còn tàu săn ngầm thì chỉ có pháo, ngư lôi, trong khi Trung Quốc có tàu khu trục, tàu pháo, tàu tên lửa rất to, rất hiện đại.

Ngay sau đó Đô đốc Giáp Văn Cương đã điện cho viên Thiếu tướng Chuẩn Đô đốc của Hạm đội Liên Xô (năm 1991 Liên Bang Xô Viết tan rã mới tách ra thành 15 nước cộng hòa độc lập trong đó Nga là lớn nhất) đang đóng ở Cam Ranh nhờ giúp đỡ, chi viện. Viên Thiếu tướng Liên Xô đã điện về Bộ Quốc phòng Liên Xô tại Matxcova xin ý kiến và được trả lời: ‘Nước chúng tôi có biên giới với Trung Quốc hơn 6 ngàn km, quan hệ giữa 2 nước đang tốt, chúng tôi phải đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích bè bạn’. Ông Giáp Văn Cương thất vọng cay đắng vì thương lính của mình. Ông bị bệnh nặng và mất 2 năm sau đó vào ngày 23/3/1990.

Vị Đô đốc Hải quân đầu tiên của Việt Nam này ngay vào năm 1984 đã nhận định: "Trong tương lai gần, vùng biển khu vực Trường Sa không được bình yên và sẽ là chiến trường chính của hải quân Việt Nam". Trong hai năm 1986-1987, một mặt ông yêu cầu bộ phận tác chiến soạn thảo gấp kế hoạch và phương án phòng thủ Trường Sa, mặt khác ông chủ động và kiên trì đề xuất với Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chấp thuận kế hoạch bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa và thềm lục địa phía Nam. Kế hoạch bảo vệ Trường Sa của ông được cấp trên chấp thuận. Ông ra lệnh: ‘Nhanh chóng dốc toàn lực, đặc biệt là công binh, ra Trường Sa để tăng cường, củng cố tất cả đảo nổi đảo chìm mà quân dân Việt Nam đang đồn trú và sinh sống bao đời nay. Đối với những đảo chìm thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng chưa có quân đồn trú, ông yêu cầu "kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo, nếu cần có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi".

Theo lệnh đó, ngày 14/3/1988, sau khi mất Gạc Ma, tàu HQ 505 dù bị trúng đạn pháo hư hỏng nặng đã lao nhanh giữa những làn đạn đại bác, ủi thẳng lên đảo Cô Lin biến con tàu thành cột mốc chủ quyền bằng thép rồi bốc cháy, trước khi quân Trung Quốc kịp đổ bộ chiếm đảo.

Ngay sau đó Bộ Ngoại Giao VN và các báo lớn ở Việt Nam, lúc đó đều là báo giấy vì chưa có Internet đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ Trung Quốc xâm lược Gạc Ma. Mọi người chỉ rất ngạc nhiên là suốt một thời gian dài sau năm 1990 thì hầu như báo chí truyền thông lại dường như được chỉ đạo không đề cập nhiều đến sự kiện bi thương Gạc Ma, kể cả tưởng niệm cũng khó khăn vì cho là vấn đề nhạy cảm (cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc chống Trung Quốc xâm lược ngày 17/2/1979 cũng vậy). Mãi đến ngày 22/7/2015 sau cuộc đấu giá bức tranh ‘Gạc Ma - Vòng Tròn Bất Tử’ và Đại Lễ Tưởng niệm và Cầu siêu chính thức lần đầu tiên 3000 người tham dự được tổ chức tại chùa Vĩnh Nghiêm, TP. HCM thì việc đưa tin sâu về Gạc Ma trên báo chí mới được khai thông.

Bối cảnh và diễn biến hải chiến Hoàng Sa 1974

Carlo Schuster

Lê Đỗ Huy biên dịch

Lê Hồng Hiệp hiệu đính

Ngày 11/01/1974, các sĩ quan Nam Việt Nam nhận được báo cáo về những động thái của Trung Quốc trên hai hòn đảo của Nam Việt Nam thuộc quần đảo Hoàng Sa. Hai ngày sau, Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn phái hai tàu khu trục Lý Thường Kiệt HQ-16 và Trần Khánh Dư HQ-4 tới thám sát.

HQ-16 tới đảo Hữu Nhật (Robert Island) vào 16/01 và nhận thấy đảo này đã bị “ngư dân” Trung Quốc, từ hai thuyền đang neo tại bãi ven đảo, chiếm đóng. Chỉ huy tàu HQ-16 lệnh cho những người Trung Quốc rời đảo và bắn thị uy để họ hiểu ý định của ông. Sau đó họ bắn và phá hủy các lá cờ Trung Quốc và một khu vực chế biến cá mà những “người đánh cá” triển khai 6 ngày trước đó. HQ-4 tới Hoàng Sa ngày 17/01 và phái một đơn vị đặc nhiệm SEAL của Nam Việt Nam lên đảo Hữu Nhật và đảo Quang Ảnh (Money Island) gần đó để nhổ những cờ Trung Quốc. Ngày 18/01, hai tàu chiến của Nam Việt Nam đuổi một tàu đánh cá bằng lưới rà của Trung Quốc, buộc con tàu bị phá hủy nặng nề này phải rời vùng biển. Sau đó các tàu khu trục Trần Bình Trọng HQ-5 và tàu quét mìn Nhật Tảo HQ-10 tới Hoàng Sa.

Sài Gòn nghĩ rằng đã chặn được nỗ lực trong suốt 6 tháng liền của Bắc Kinh nhằm chiếm nửa phía tây của Hoàng Sa. Những “ngư dân” có vũ trang của Trung Quốc trước đó hầu như đã đẩy được các ngư dân Nam Việt Nam ra khỏi vùng biển Hoàng Sa, và ít nhất có hai tàu đánh cá Trung Quốc đã bị phát hiện đang hoạt động tại vùng nước mà Nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Nhưng biến động gần nhất này của Trung Quốc lại là khởi đầu của một giai đoạn mới trong nỗ lực nhằm chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Lần này, những “ngư dân” Trung Quốc là thành viên của lực lượng Dân quân biển - một lực lượng bán vũ trang của Hải quân Trung Quốc.

Hai chiếc tàu cá gần đảo Hữu Nhật báo cáo về Bộ Tư lệnh Hạm đội Nam Hải Trung Quốc. Ngày 16/1, Bộ Tư lệnh Hạm đội ra lệnh cho hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt đóng tại đảo Hải Nam tháp tùng lực lượng dân quân biển tới hiện trường, về mặt công khai là để bảo vệ ngư dân Trung Quốc, nhưng chủ yếu là để tập trung binh lực. Trung Quốc cũng hạ lệnh triển khai hai tàu quét ngư lôi. Bắc Kinh quyết định giải quyết tranh chấp tại Hoàng Sa bằng vũ lực nếu thời cơ cho phép.
Quần đảo Hoàng Sa gồm 130 đảo san hô, mỏm đá ngầm và bãi cát nằm rải rác trên 5.800 dặm vuông trên Biển Đông, cách gần đều cảng Đà Nẵng của Việt Nam (200 hải lý) và đảo Hải Nam của Trung Quốc (162 hải lý). Diện tích của toàn quần đảo (chỉ tính mặt đất) là khoảng 3 dặm vuông. Hầu hết các đảo hợp thành Nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite Group) về phía đông bắc và Nhóm đảo Lưỡi liềm (Crescent Group) về phía tây, cách nhau khoảng 39 hải lý. Đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm An Vĩnh là lớn nhất trong các đảo thuộc Hoàng Sa, có diện tích khoảng 530 mẫu Anh.

Cho dù những tuyên bố chủ quyền của cả Việt Nam và Trung Quốc đều có từ các triều đại phong kiến xa xưa, gốc rễ của sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Nam Việt Nam gắn với những năm 1930 và các tham vọng của thực dân Pháp. Nước Pháp, cường quốc đô hộ Việt Nam từ 1858, đã đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ 1932 nhưng từ đầu không quan tâm đến việc chiếm giữ các đảo này trên thực tế. Điều này thay đổi vào năm 1937 khi cuộc chiến của Nhật Bản với Trung Quốc – vốn bắt đầu từ năm 1931 với việc Nhật chiếm Mãn Châu Lý – leo thang khi Nhật tiến quân sâu vào lãnh thổ Trung Quốc. Người Pháp lo Trung Quốc hay Nhật sẽ chiếm các quần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) nên đã đặt một trại lính gồm khoảng 100 lính Pháp và Việt tại đảo Phú Lâm vào năm 1938 như một khu đệm để mở rộng chu vi phòng thủ cho các thuộc địa Đông Dương của Pháp.

Nhà cầm quyền Anh ủng hộ bước đi này của Pháp vì nó mở rộng phạm vi phòng thủ của thuộc địa Malaya của Anh. Cả hai cường quốc châu Âu này cho rằng cuộc chiến tranh của Nhật chống Trung Quốc chỉ là bước đi ban đầu của kế hoạch chiếm các thuộc địa của châu Âu ở Đông Nam Á. Nhưng thay vì răn đe hành động của Nhật trên Biển Đông, việc đồn trú tại Hoàng Sa của Pháp lại khiêu khích Nhật. Nhật cho một đơn vị nhỏ lính thủy đánh bộ đổ bộ lên đảo Phú Lâm chỉ một tháng sau khi Pháp cho quân đồn trú. Quân đồn trú trên đảo đầu hàng, không nố súng chống lại. Nhật sáp nhập Trường Sa và Hoàng Sa vào năm 1941, tuyên bố chúng thuộc Đài Loan, đảo đang bị Nhật chiếm đóng lúc đó.

Sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật ngày 6 và 9/8/1945, Tokyo bắt đầu rút quân khỏi các quần đảo này. Chính phủ Quốc dân đảng Trung Hoa chiếm nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite) hai tháng sau đó, và đặt một đồn trên đảo Phú Lâm vào tháng Giêng 1946. Pháp sau đó do không đẩy được quân Quốc dân đảng ra khỏi Nhóm đảo An Vĩnh bằng một cuộc biểu dương lực lượng hải quân đành tuyên bố chủ quyền đối với Nhóm đảo Lưỡi liềm và đổ bộ một trung đội lê dương lên đảo Hoàng Sa (Pattle) để ngăn quân Quốc dân đảng chiếm đóng đảo này.
Chính phủ Quốc dân đảng lặp lại yêu sách đối với toàn bộ Biển Đông năm 1947, xuất bản một bản đồ đưa các yêu sách lãnh thổ vào khuôn khổ một “đường chín đoạn” dọc vành ngoài của Biển Đông. Năm 1949, quân Trung Cộng đẩy chính quyền Quốc dân đảng ra Đài Loan. Nhật Bản từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo trên Biển Đông tại Hội nghị hòa bình San Francisco 1951, nhưng không giao quyền kiểm soát của mình cho bất cứ một bên có yêu sách cụ thể nào khác, đẩy vấn đề sở hữu các quần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) rơi vào tình trạng không được giải quyết. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng họ thừa kế các yêu sách đối với Biển Đông từ chính phủ Quốc dân đảng.

Mặc dù vậy Nam Việt Nam đã chiếm đóng nhóm đảo Lưỡi liềm từ năm 1954 và đặt một lực lượng đồn trú nhỏ trên ba hòn đảo. Trung Cộng giành quyền kiểm soát nhóm đảo An Vĩnh và đảo Phú Lâm vào năm 1956. Ngư dân Trung Quốc đổ bộ lên đảo Quang Hòa (Duncan) năm 1959 nhưng phía Nam Việt Nam đã đuổi họ đi.

Khi Chiến tranh Việt Nam leo thang, Sài Gòn, tin tưởng vào sự hỗ trợ của Hải quân Mỹ, đã rút các đơn vị đồn trú của mình. Tới năm 1967, sự hiện diện của Nam Việt Nam tại quần đảo chỉ còn một trạm khí tượng. Trung Quốc tỏ ra chấp nhận nguyên trạng.

Hai biến chuyển trong tình hình những năm 1970 đã thay đổi bàn cờ Biển Đông: các báo cáo về trữ lượng dầu tại thềm lục địa vùng này xuất hiện vào giữa năm 1972, và Hiệp định Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam chấm dứt sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam. Các lãnh đạo châu Á đột nhiên nhận thấy tranh chấp Biển Đông không chỉ là một vấn đề chính trị và hành chính, mà còn là vấn đề phát triển kinh tế. Nhóm thân cận với Mao tính toán rằng những phần thưởng về kinh tế lớn hơn những rủi ro xảy ra xung đột quân sự. Vả lại, những rủi ro đang giảm xuống.
Mao nhận thấy một chính phủ Mỹ đang rút chân khỏi Nam Việt Nam sẽ thiếu ý chí dấn vào một cuộc xung đột khác, lại đang mong được Trung Quốc hỗ trợ chống lại một Liên Xô đang ngày càng thách thức hơn. Nguyên thủ Trung Quốc kết luận rằng chế độ Sài Gòn khó có khả năng được Mỹ hỗ trợ, và sự tồn tại của nó cũng đang được tính bằng ngày. Nhóm thân cận với Mao cũng hiểu rằng Bắc Việt Nam vẫn còn cần viện trợ của Trung Quốc trong nỗ lực chiến thắng Nam Việt Nam, đồng thời đồng minh khác của Hà Nội là Liên Xô không có lực lượng trên địa bàn này để cản trở Trung Quốc hành động đối với các đảo (trên Biển Đông). Mao ra lệnh tiến hành một loạt những bước đi nhằm ép Nam Việt Nam từ bỏ Hoàng Sa.

Không biết các ý định của Bắc Kinh, Sài Gòn tuyên bố quyền kiểm soát về hành chính tại nhóm đảo Lưỡi liềm vào tháng 8/1973 và một tháng sau cho phép thực thi các hợp đồng thăm dò dầu khí tại các vùng nước quanh nhóm đảo này. Cuộc đột nhập đầu tiên của đội tàu đánh cá của Trung Quốc xảy ra vào cuối tháng 7. Một số “ngư dân” có vũ trang, và ít nhất một tàu trong số này là loại bọc thép, nhưng chúng rút ngay mỗi khi các đơn vị Hải quân Nam Việt Nam tới. Sài Gòn triển khai các đơn vị đồn trú có quân số khoảng một trung đội trên ba hòn đảo thuộc nhóm đảo này.

Tháng 10/1973, các tàu đánh cá lưới rà số 402 và 407 của Trung Quốc đưa thủy thủ đoàn đổ bộ lên đảo Quang Hòa, thiết lập một trạm cung cấp, hầm hào, và cắm cờ Trung Quốc khắp trên đảo. Nam Việt Nam bắt giữ một số tàu đánh cá Trung Quốc vào tháng 11 cùng thủy thủ đoàn của chúng. Các thủy thủ Trung Cộng bị đưa về Đà Nẵng nơi họ phải thú tội trên truyền hình về các hành động phạm pháp và các tội ác đối với nhân dân Việt Nam trước khi được thả. Nhưng những vụ tàu đánh cá Trung Quốc tấn công dân chài Việt Nam tiếp tục diễn ra. Cùng kỳ, Mao ra lệnh cho Hải quân Trung Quốc chuẩn bị hành động quân sự để hỗ trợ các ngư dân Trung Quốc.

Ngày 10/01/1974, một nhóm ngư dân Trung Quốc tiến hành đánh bắt cá tại đảo Hữu Nhật thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm. Nhóm này đã bị các dân chài Việt Nam phát hiện 3 ngày trước, nhưng họ không thông tin được cho nhà cầm quyền Nam Việt Nam cho tới khi về tới Đà Nẵng hôm 11/01/1974. Cùng ngày, Bắc Kinh ra tuyên bố nhắc lại chủ quyền không thể tranh cãi của nước này đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như bãi ngầm Macclesfield, một đảo san hô vòng cách quần đảo Hoàng Sa 70 hải lý về phía Đông.

Nhận thấy những ý đồ của Bắc Kinh, Sài Gòn cử các tàu khu trục HQ-16, HQ-4, HQ-5, và tàu quét thủy lôi HQ-10 chở đội đặc nhiệm SEAL đến đảo Hữu Nhật. Hai trong số các tàu khu trục trên là thủy phi cơ đời Thế chiến II được cải tiến, tháo bỏ các thiết bị hỗ trợ thủy phi cơ, còn chiếc thứ ba là tàu khu trục hộ tống được cải tiến. Tất cả chúng ở trong tình trạng kém, thường xuyên xảy ra các vấn đề về kỹ thuật và vũ khí, khiến tốc độ và hỏa lực đều bị hạn chế.
Đến nơi vào ngày 16/01, các tàu chiến của Nam Việt Nam đã nhanh chóng đuổi các ngư dân Trung Quốc đi. Tàu đánh cá (TQ) số 407 báo cáo sự việc HQ-16 tới lên Bộ chỉ huy dân quân biển tại Du Lâm trên đảo Hải Nam ngay sáng 16. Điện báo này về tới Bắc Kinh vài giờ sau.

Chiều tối hôm đó, Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc phái hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt mang số hiệu 271 và 274 đón một đại đội dân quân biển gồm bốn trung đội (mỗi trung đội 10 người) từ đảo Phú Lâm đưa sang Nhóm đảo Lưỡi liềm. Bắc Kinh cố gắng tăng viện cho quân của họ, nhưng giống như đối phương, tàu chiến của Trung Quốc cũng ở trong tình trạng tồi tệ.

Cuộc Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc - một cuộc thanh trừng chống các ảnh hưởng phi chủ nghĩa xã hội và các đối thủ của Mao - đã làm hư hoại gần như hoàn toàn các xưởng đóng tàu của nước này. Hơn 2 triệu nhà khoa học, kỹ sư, nhà giáo, công nhân lành nghề, cán bộ hành chính bị tù đày hoặc giết chết, gồm cả những người đã đóng và bảo dưỡng tàu bè của nước này cũng như mạng lưới đường sắt chuyển vật tư tới các xưởng đóng tàu.

Kết quả là tàu chiến tốt nhất của Hải quân Trung Quốc, các khu trục hạm loại Type 065 đã không thể khởi hành. Còn chiếc 271 vừa xuất xưởng và chưa hoàn tất việc chạy thử trên biển, và chiếc 274 với động cơ diesel ở tình trạng kém, không thể đạt tốc độ 18 hải lý/giờ. Vậy mà chúng vẫn nhanh hơn, được trang bị tốt hơn các tàu của hải quân Nam Việt Nam. Hai chiếc tiêm kích Thẩm Dương J-6, bản copy của MIG-19 do Liên Xô sản xuất, yểm hộ đường không cho các tàu săn ngầm, nhưng không có năng lực hoạt động tầm xa đủ để trực chiến trên đầu các tàu khi chúng nhập cuộc sáng 17/01.

Vào rạng sáng 18/01, hai tàu Trung Quốc đã đưa được một trung đội dân quân biển lên đảo Duy Mộng, một trung đội khác lên đảo Quang Hòa tây, và hai trung đội lên đảo Quang Hòa. Các trung đội này lập tức tiến hành đào hầm hào và đặt mìn và bẫy phía trước trận địa của họ. Hai tàu rà thủy lôi loại Type 10 đóng ở Quảng Châu, mang số hiệu 389 và 396, được lệnh tăng cường cho các tàu săn ngầm loại Kronstadt mang số hiệu 271 và 274. Chúng cũng đến nơi vào cuối buổi sáng hôm đó.

Hai chiếc tàu chiến khác có thể hoạt động được lúc đó của Trung Quốc là hai tàu săn ngầm lớp Hải Nam được điều từ Sán Đầu, cách đó khoảng 476 hải lý. Chúng tiến về Hoàng Sa với tốc độ tối đa, được tiếp dầu ở Trạm Giang, phía Nam Hồng Kông, và tại Du Lâm. Các tàu chiến này được lệnh hỗ trợ các thuyền đánh cá của dân quân biển với điều lệnh chiến đấu “không gây sự; không bắn trước; nhưng nếu lâm chiến, phải thắng”.

Vào sáng sớm 19/01, hạm trưởng chia tàu của Trung Quốc thành hai nhóm: tốp đầu gồm 4 chiếc do các tàu săn ngầm Kronstadt dẫn đầu, và tốp sau gồm các tàu săn ngầm lớp Hải Nam vừa tới. Hạm trưởng được lệnh đáp trả mọi thách thức đối với các tàu đánh cá của dân quân biển và hỗ trợ các ngư dân trên các đảo nếu cần.
Hải quân Nam Việt Nam cũng chia thành hai tốp. Tốp đầu bao gồm các tàu khu trục HQ-4 và HQ-5. Tốp này chạy vòng quanh các đảo Quang Ảnh (Money) và Hải Sâm (Antelope) từ phía nam và tiếp cận đảo Quang Hòa. Tốp thứ hai gồm các tàu quét mìn HQ-10 và tàu khu trục HQ-16, băng qua vùng đầm phá tại Nhóm đảo Lưỡi liềm từ phía Tây Bắc.

Hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt của Trung Quốc chiếm vị trí để theo dõi các tàu HQ-4 và HQ-5, trong khi các tàu quét mìn loại Type 10 bám theo các tàu HQ-10 và HQ-16. Hạm trưởng HQ-16 dự cảm trận đánh sắp xảy ra - đã tăng tốc vượt lên các tàu quét mìn Trung Quốc, và 14 lính đặc nhiệm của Nam Việt Nam được đưa lên hai thuyền cao su để giành lại đảo Quang Hòa và Quang Hòa Tây. HQ-16 đâm mạnh và làm hỏng nặng tàu quét mìn 389; thủy thủ trên chiếc 389 bắn vào cầu tàu và ụ súng phía trước của HQ-16, giết hoặc làm bị thương hầu hết thủy thủ Nam Việt Nam trên đó. Cuộc giao chiến sau đó đã diễn ra theo như ý đồ của Trung Quốc.

Các lính đặc nhiệm, từng dự kiến có hải quân yểm hộ, nay phải một mình đối đầu với các tàu Trung Quốc. Họ lên bờ giữa ban ngày, đối địch với một lực lượng kẻ thù đông, cố thủ trong chiến hào trên cả hai đảo Quang Hòa và Quang Hòa Tây, nên nhanh chóng bị đẩy lùi. Họ cố trở lại các thuyền cao su dưới làn đạn kẻ thù, trong khi các tàu hải quân Nam Việt Nam dàn hàng ngang tiến thẳng vào đội hình địch, bắn vào buồng hoa tiêu của địch và tìm cách xoay chuyển thế trận thành một cuộc chiến của pháo tầm xa. Không may cho lực lượng Nam Việt Nam, họ không có được tốc độ, do đó các tàu cơ động hơn của Trung Quốc có thể quyết định khoảng cách giao tranh. Hạm trưởng Trung Quốc ra lệnh: “Tăng tốc tiến lên, đánh cận chiến, thọc mạnh”. Biết rằng các tàu của mình trang bị kém và sẽ bị áp đảo trong một cuộc đấu súng tầm xa, hạm trưởng Trung Quốc quyết định dùng chiến thuật “giáp lá cà”. Sau 10 phút giao tranh, chiến trường đã thu hẹp từ phạm vi 2, 3 hải lý xuống còn vài trăm mét.

Các tàu săn ngầm lớp Kronstadt bắn cấp tập vào HQ-4, trong khi các tàu quét mìn Type 10 tập trung hỏa lực pháo 37 mm vào chiếc HQ-16, nhằm vào buồng hoa tiêu, trung tâm thông tin và các radar. Bị bắn hỏng nặng, chiếc HQ-16 phải thoái lui. Các tàu quét mìn chuyển sang bắn vào HQ-10, nhằm vào kho đạn ở đuôi tàu, gây một tiếng nổ khiến phần động cơ phía trước con tàu này tê liệt.
Các tàu quét mìn chỉ cách HQ-10 có khoảng mười thước, khiến các nòng pháo còn lại của chiếc tàu Nam Việt Nam này không thể bắn vào những con tàu thấp và nhỏ hơn của đối phương đang tiếp cận sát thân tàu. Súng bộ binh của thủy thủ Trung Cộng quét dọc ngang sàn tàu và buồng hoa tiêu, sát hại thuyền trưởng và hầu hết thủy thủ điều khiển tàu.

Chiếc HQ-16 bị hư hại cố tiếp ứng cho HQ-10 nhưng bị đẩy ra xa bởi hỏa lực của quân Trung Quốc. Nó phải rút về phía Đông Nam, trong khi HQ-4 và HQ-5 rút về phía Nam. Hai tàu săn ngầm lớp Hải Nam của Trung Quốc tới nơi khoảng trưa 19/01, bắn tiếp vào chiếc HQ-10 khiến nó chìm vào lúc 1h chiều.

Cùng lúc, Bắc Kinh lo ngại Sài Gòn sẽ tăng cường quân cho các đồn còn lại trên các đảo, gồm khoảng 2 đại đội bộ binh trên các đảo Hữu Nhật, Hoàng Sa (Pattle), và Quang Ảnh, và các lính đặc nhiệm còn sống sót. Hạm đội Nam Hải pha trộn một đội hình chắp vá gồm tất cả những đơn vị nào còn có thể lên đường: một tàu khu trục, năm tàu phóng lôi, và tám tàu tuần tra loại nhỏ. Được tổ chức thành ba đội tàu đổ bộ và vận tải, các tàu này chở 500 lính thuộc 3 đại đội bộ binh, một đại đội dân quân và một nhóm trinh sát vũ trang.

Đội tàu này triển khai thành đội hình thuận cho xuất phát. Tốp đầu gồm bốn chiếc tàu tuần tra và các tàu lưới rà của dân quân biển mang số hiệu 402 và 407, mang theo một đại đội bộ binh 100 lính. Tốp hai gồm một đại đội bộ binh và đội trinh sát thủy - bộ được rải ra trên bốn chiếc tàu tuần tra và chiếc tàu quét mìn 389. Chiếc tàu khu trục Nam Ninh, vốn là một tàu hộ tống của Nhật trước đây, trở thành thê đội ba, chở một đại đội bộ binh và được bổ nhiệm làm soái hạm của chiến dịch này.

Tốp đi đầu tiến công đảo Hữu Nhật, bắn pháo vào những người giữ đảo để đẩy họ khỏi bờ biển, rồi đổ bộ lính bộ binh bằng các thuyền cao su và xuồng ba lá. Hữu Nhật thất thủ sau 10 phút. Thê đội 2 tiến đánh đảo Hoàng Sa (Pattle), đẩy 30 lính giữ đảo về phía giữa đảo nơi họ đầu hàng sau một giờ giao tranh. Trong trận đánh trên đảo này, Trung Quốc bắt được viên thiếu tá Nam Việt Nam chỉ huy lực lượng đồn trú tại quần đảo Hoàng Sa và viên cố vấn được phái tới từ Đại sứ quán Mỹ. Các lính đặc nhiệm trên đảo Quang Ảnh bỏ vị trí trước khi Hải quân Trung Quốc tiến công, trốn thoát được vài ngày trước khi bị bắt.

Cho đến cuối chiều 20/01, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đã rơi vào tay Trung Quốc. Hơn 100 lính Nam Việt Nam bị giết hoặc bị thương, và 48 lính Nam Việt Nam và một sĩ quan liên lạc người Mỹ bị bắt, so với 18 lính Trung Quốc bị chết, 67 người khác bị thương.

Đây là một thắng lợi lớn của Hải quân Trung Quốc: một tàu phá thủy lôi của Nam Việt Nam bị chìm, ba tàu khu trục bị hư hỏng nặng, so với hai tàu săn ngầm, một tàu quét thủy lôi và một tàu đánh cá của Trung Quốc bị hư hỏng nặng.
Trung Quốc dành 2 tuần tiếp theo để gia tăng sự hiện diện hải quân xung quanh các đảo và củng cố phòng ngự, bao gồm cả việc triển khai một tàu ngầm lớp Romeo và ba tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường lớp Thành Đô, mang theo các tên lửa hành trình chống hạm loại Styx.

Về chiến thuật, các đơn vị hải quân Nam Việt Nam có hỏa lực mạnh hơn đối phương, nhưng họ không có một hệ thống radar điều khiển hỏa lực, do đó phải bắn qua lỗ ngắm, làm giảm đáng kể khả năng bắn trúng các mục tiêu cơ động nhanh như các tàu tuần tiễu của Trung Quốc. Mặc dù tình trạng kỹ thuật của tàu chiến cả hai bên ngăn cản họ hành động ở tốc độ cao nhất, các tàu của Trung Quốc vẫn đạt được tốc độ tới 7-10 hải lý/giờ, một ưu thế khiến họ có thể quyết định cự ly giao tranh.

Một khi đã đạt được cự ly cách các tàu của Nam Việt Nam nửa dặm, các vũ khí nhẹ, tác xạ nhanh của tàu Trung Quốc và sự linh hoạt tạo cho họ một ưu thế rõ ràng. Chiến trường được quyết định trong một khoảng cách chỉ 200 thước. Không gian chỉ huy, hoa tiêu và liên lạc của các tàu Nam Việt Nam đối mặt với hỏa lực tầm gần chính xác, và các pháo lớn của họ bị vô hiệu ở tầm bắn gần. Các tàu của Nam Việt Nam đành rút lui, để các đơn vị đồn trú trên các đảo không được hỏa lực hải quân hỗ trợ.

Nam Việt Nam đe dọa sẽ trả đũa nhưng nhận thấy cán cân lực lượng hải quân nghiêng về phía Trung Quốc. Hơn nữa, Sài Gòn có nhiều mối lo đè nặng. Cơ quan tình báo Sài Gòn đang dõi theo các đường vận tải và chuyển quân của Bắc Việt đổ theo hướng qua Lào và đông Campuchia. Việc dồn quân dọc biên giới Nam Việt Nam là một dấu hiệu gây lo ngại về ý định của Hà Nội.

20/01/2019

Trong bối cảnh an ninh mạng, nghệ sĩ Việt vẫn tìm kiếm sự 'tự do'

Ánh Liên dịch

Việt Nam gần đây đã thông qua một đạo luật yêu cầu kiểm duyệt phương tiện truyền thông xã hội về nội dung ‘chống nhà nước’. Các nghệ sĩ bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động sợ rằng không gian biểu lộ và phản kháng của họ sẽ sớm biến mất.

Ca sĩ Mai Khôi, 35 tuổi, người thông qua tác phẩm âm nhạc của mình để bày tỏ sự phản kháng với nhà nước.

‘Trại giáo dưỡng làm nổi bật cách chính quyền cộng sản buộc người dân vào tù và kiểm soát tự do ngôn luận’, cô nói.

Chiêu Anh Nguyễn và Nguyễn Viện

Tuy nhiên, phản kháng nghệ thuật là rủi ro ở Việt Nam. Vào tháng 3.2018, Mai Khôi đã bị chính quyền Việt Nam câu lưu 8 tiếng tại sân bay Hà Nội sau khi trở về từ chuyến lưu diễn ở châu Âu - nơi cô quảng bá album của mình.

‘Nhìn con mèo này đi,’ Khôi chỉ vào bìa album. ‘Nó cảnh giác và lo lắng, giống như chúng tôi đang ở đất nước này bởi vì chúng tôi không bao giờ biết ai đang rình mò chúng tôi.’

Và Khôi có một lý do mới để lo lắng. Việt Nam ban hành luật an ninh mạng mới yêu cầu các công ty internet xóa nội dung mà chính phủ cho là có hại và cấm người dùng đăng nội dung ‘chống chính phủ’, hay có thể ‘gây tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội’.

Năm 2017, 'nhà báo công dân' Nguyễn Văn Hóa, đã bị kết án 7 năm tù vì 'tuyên truyền chống nhà nước'.

Một làn sóng kiểm duyệt mới?

Theo luật, chính phủ Việt Nam có thể buộc các gã khổng lồ công nghệ như Google và Facebook chuyển giao thông tin cá nhân của chủ tài khoản, lưu trữ dữ liệu người dùng và kiểm duyệt các bài đăng chống chính phủ.

Vào ngày 9.1, hãng tin Reuters cho biết Bộ Thông tin và Truyền thông của Việt Nam đã cáo buộc Facebook vi phạm luật pháp bằng cách cho phép người dùng đăng các bình luận ‘vu khống’ Chính phủ. Facebook vẫn chưa phản hồi yêu cầu của Bộ này về việc xáo các bài đăng.

Hà Nội đang giám sát các nhà bất đồng chính kiến bằng cách chạm vào điện thoại của họ, gửi nhân viên an ninh đến các cuộc tụ họp riêng tư và nơi mà các nghệ sĩ biểu diễn. Bây giờ phương tiện truyền thông xã hội, từng là nơi trú ẩn an toàn cho các nghệ sĩ bày tỏ ý kiến của họ và phản đối chính phủ, lại đang nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước.

Các vấn đề ở Việt Nam như tấn công tự do ngôn luận, bắt giữ những người bảo vệ nhân quyền và chỉ trích động thái 'bán đất' của chính phủ cho các nhà đầu tư nước ngoài, trước đây được người biểu tình giải quyết trên phương tiện truyền thông xã hội. Nhưng hiện nay, ngày càng trở nên khó khăn hơn để họ phản đối trực tuyến.

‘Không gian trực tuyến là nơi ẩn náu trong trạng thái đàn áp này’, Khôi nói với DW. ‘Nhưng không gian này đang biến mất.’

'Cái đinh cuối cùng trong quan tài'

Nhạc sĩ Ngọc Đại có một phòng thu tại Hà Nội, ông từng bị kiểm duyệt các bài hát của mình với nội dung ‘tình dục thái quá’ và ‘chống nhà nước’, nhưng nay ông đã sử dụng YouTube để phát hành tác phẩm âm nhạc của mình. Ông nghĩ rằng luật mới là hình thức đàn áp nhà nước tồi tệ nhất. ‘Đó là chiếc đinh cuối cùng trong quan tài,’ ông nói với DW.

Năm ngoái, nhà thơ 40 tuổi Chiêu Anh Nguyễn đã bị công an giam giữ trong 12 tiếng vì phản đối luật an ninh mạng.

‘Không gian cho những người suy nghĩ tự do đang thu hẹp hơn nữa,’ cô nói với DW. Thơ của Nguyễn nổi tiếng trên mạng vì những lời chỉ trích gay gắt đối với nhà nước, thể hiện sự khinh miệt đối với ‘kẻ man rợ’ đã ‘đánh cắp và bán quê hương’.

Một nơi ẩn náu trên phương tiện truyền thông xã hội

Đối với những nghệ sĩ này, phương tiện truyền thông xã hội đã cho phép họ bỏ qua việc kiểm tra của chính quyền. Vào năm 2007, Mai Khôi không thể phát hành bài hát ‘Hoa đêm’ vì ngôn ngữ của nó ca ngợi cơ thể của một người phụ nữ. Đáp lại, cô đã ngừng gửi các bài hát của mình đến Bộ Văn hóa thông tin, thay vào đó phát hành chúng trực tiếp trên YouTube. Những bài hát nổi tiếng nhất của cô trên YouTube bao gồm ‘Tự sướng’ năm 2014.

Ca sĩ Mai Khôi

Tương tự vào năm 2013, Ngọc Đại đã phát hành album ‘Thẵng Mõ 1’, mà không có sự cho phép của chính quyền, bởi tác phẩm này bày tỏ việc nhà nước kiểm soát cách mọi người nghĩ. ‘Chúng tôi phải tạo ra một cảm giác tự do thông qua công việc của chúng tôi,’ ông nói.

Tác giả Nguyễn Viên, được biết đến với những lời chỉ trích chính phủ thông qua các tiểu thuyết như ‘Rồng và rắn’, cho biết điều quan trọng là phải nói về những điều ‘bị cấm’. ‘Nó mang lại cho bạn cảm giác giải phóng’, ông nói với DW.

Năm ngoái, Viên đã sử dụng một chiến dịch trên Facebook để phản đối một động thái của chính phủ nhằm bán đất cho các nhà đầu tư Trung Quốc.

19/01/2019

Về cái lý sự “không thích chế độ này, ra nước ngoài mà sống”!

Mạc Văn Trang

Ta thường bắt gặp trên mạng xã hội và cả trong đời sống, một số người lý sự rằng, “Anh phê phán, không thích chế độ này, thì ra nước ngoài mà sống”; “Chị muốn tự do, dân chủ, thì sang Tây mà sống”! Có lẽ chính quyền cũng đồng lõa và khuyến khích những người có thái độ như vậy, nên cái lý sự này ngày càng lan rộng, nhất là khi chính quyền đã trục xuất ra nước ngoài một số tù nhân đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền... Xin có mấy ý kiến như sau.

1. Nếu chế độ XHCN tốt đẹp, “dân chủ gấp vạn/triệu lần” xã hội tư bản, thì sau năm 1975 đã không có hàng triệu người Việt phải đau khổ, bỏ nhà cửa, tài sản, mạo hiểm cả mạng sống của mình, quyết ra đi. “Đến cái cột điện mà biết đi thì nó cũng di tản”! Đồng bào mình phải bỏ quê hương, đất nước ra đi là nỗi đau đớn tột cùng. Chỉ có những kẻ vô lương tâm mới dửng dưng, vô cảm, nói người dân “... ra nước ngoài mà sống”!

2. Đất nước hòa bình, thống nhất, phát triển hơn 40 năm rồi, nay người Việt vẫn tìm đường ra đi: Bao nhiêu cô gái xếp hàng cho người ta chọn làm vợ dân xứ Đài Loan, Hàn Quốc...; bao nhiêu người “chạy” để được đi xuất khẩu lao động, sang nước người ta làm những việc mà dân sở tại không ai muốn làm; bao nhiêu người hết hạn lao động trốn chui, trốn lủi để lưu vong xứ người; bao nhiêu người tốn kém mấy trăm triệu cho các đường dây, để được sang châu Âu, tìm cách bám trụ, rồi đưa gia đình sang; vừa mới rồi 152 người đi du lịch Đài Loan trốn ở lại; 30 du học sinh Việt Nam bỏ học và trốn ở Hàn Quốc... Rồi bao nhiêu quan chức, đại gia gửi con du học ở các nước tư bản, mua nhà bên đó, chuẩn bị tổ ấm cho tương lai...?

Cuộc chiến giữa CSVN với Facebook: Dáng dấp một màn tấu hài

Phạm Chí Dũng

https://i1.wp.com/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/01/Facebook-PhamChiDung-01.jpg?resize=696%2C467&ssl=1

Vợ chồng ông chủ Facebook, Mark Zuckerberg (thứ 2 từ trái) và vợ Priscilla Chan (thứ 2 từ phải) trong chuyến thăm vịnh Hạ Long của Việt Nam hồi tháng 12 năm 2011. (Hình: Getty Images)

“Mục đích họ sang, gặp mặt chúng ta chỉ là để câu giờ. Họ không bao giờ chốt các vấn đề, không làm việc bằng văn bản bản chất. Facebook đang kinh doanh kiếm lời tại một quốc gia và không tuân thủ luật pháp quốc gia đó”.

Một quan chức của Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin Điện tử, thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, đã trả lời phỏng vấn báo chí nhà nước với thái độ đầy ‘bức xúc’ như thế.

Nhưng điều trớ trêu đối với nhà cầm quyền Việt Nam là trong khi họ tố cáo Facebook ‘câu giờ’, đó cũng là một thủ đoạn rất quen thuộc để đối phó với rất nhiều cáo buộc của cộng đồng quốc tế về việc Việt Nam vi phạm nhân quyền trầm trọng.

Kể từ khi Việt Nam tham gia vào Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc vào cuối năm 2013 đến nay, đã chẳng hề có một cải thiện nhân quyền nào được thực hiện, nếu không muốn nói là ngược lại.

Hết thời ‘nhà chồng’ và ‘nàng dâu’

“Chúng tôi có một quy trình rõ ràng để các chính phủ báo cáo nội dung bất hợp pháp và chúng tôi xem xét tất cả các yêu cầu đó, đối chiếu các điều khoản và điều kiện cung cấp dịch vụ của chúng tôi với luật pháp địa phương”, Facebook viết trong một tuyên bố để phản ứng những cáo buộc của nhà cầm quyền Việt Nam vào Tháng Giêng 2019 về việc doanh nghiệp này “vu khống, bôi nhọ cá nhân, tổ chức; cho phép quảng cáo bất hợp pháp; và trốn thuế”.

Lần đầu tiên từ lúc vào Việt Nam, Facebook đã biết phản ứng như thế nào trước sự can thiệp ngày càng thô bạo của chính thể độc đảng ở đất nước này.

"Vườn Rau" và "EVFTA"

Thục Quyên

Cái tựa đề có vẻ để câu người đọc? Kể ra thì có thể có tác dụng đó thật.

"Vườn Rau" nghe còn mường tượng là cái gì có thể hiểu được nên còn muốn đọc. Chứ "EVFTA", ngay cả dùng tiếng Việt Nam "Hiệp định Thương mại Tự do Việt nam-Liên minh Âu châu"  thì cũng quá xa lạ, đọc chắc cũng không hiểu, nên không đọc luôn cho rồi.

Nhưng không phải chỉ có vậy. "Vườn Rau" và EVFTA có liên quan với nhau.

Cái tựa phản ảnh tình trạng đang rất bi đát của đất nước và con người Việt Nam.

"Vườn Rau" Lộc Hưng

Người lưu tâm theo dõi diễn biến vụ việc này từ ngày 4/01/2019 (tới nay là 13 ngày) hầu như chỉ có thể đọc trong Facebook và trên vài báo mạng lề trái. Mỗi ngày tối thiểu phải đầu tư 1 tiếng đồng hồ để sàng lọc tin tức, nhưng tuy vụ việc xảy ra công khai trước mắt đám đông, những chi tiết xác thực rất hiếm, còn mong chi tìm được hai hay ba nguồn khác nhau để kiểm chứng?

Vụ "Vườn Rau" quan trọng ở chỗ xảy ra sau một thời gian rất dài diễn biến, nạn nhân lại là một xóm đạo, với sự có mặt thường xuyên và trực tiếp của một số linh mục Công giáo Rôma.

Khi chùa Liên Trì bị đập nát ngày 8/09/2016, chùa là một trong những cơ sở nhỏ bé và hiếm hoi còn sót lại của Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất, lúc đó còn dám phát quà cho thương phế binh của chế độ cũ, trợ giúp dân oan mất đất hay họp mặt các cựu tù chính trị hoặc các hội đoàn xã hội dân sự. Vị trụ trì, Hoà thượng Thích Không Tánh, đứng bất lực chứng kiến mà lẻ loi cô độc như mọi người dân oan khác, vì GHPGVNTN chỉ còn là một cái tên không chút sinh khí sau 40 năm đảng cộng sản cai trị đất nước. Trong khi gần đó, Nhà thờ Thủ Thiêm và tu viện Mến Thánh Giá còn được tồn tại (tới ngày nay), tưởng chừng nhờ nội lực tự bảo vệ của Giáo hội Công giáo VN với ảnh hưởng mạnh mẽ của Vatican, nhưng lại cũng chưa chắc sau vụ "Vườn Rau" này.

Lẽ dĩ nhiên Vườn Rau không phải là một cơ sở tôn giáo.

Nhưng là một xóm đạo, sống và hoạt động rất mật thiết với Văn phòng Công Lý Hoà bình Dòng Chúa Cứu Thế, và, như Liên Trì (nhưng mạnh hơn nhiều), là nơi nương tựa của một số thương phế binh chế độ cũ, dân oan mất đất, các cựu tù binh chính trị, một số thành viên của vài hội đoàn xã hội dân sự.

Việc san bằng Vườn Rau chỉ trong vài ngày thay vì 90 ngày như nhà cầm quyền dự tính, là do không gặp sự phản đối mạch lạc theo trình tự pháp luật của những chủ đất từ bao năm nay (trong đó có Giáo hội Công giáo Rôma), cũng như tại chỗ, đã không gặp sức chống cự bất bạo động nhưng mãnh liệt của vài trăm người dân sống tại đó.

Chuyện gì đã xảy ra nếu trước đó có sự theo dõi, đánh giá tình hình kỹ lưỡng, có sự suy nghĩ tổ chức đề phòng và chống cự khi có tình huống? Chuyện gì đã xảy ra nếu vài trăm người dân Vườn Rau không bỏ mặc cho dăm ba người kêu gào mà cùng nhau ngồi xuống chặn đường công an và xe ủi đất? Nếu thay vì vài trăm dân cư Lộc Hưng lại là vài ngàn, vài chục ngàn giáo dân, vài trăm linh mục? Nếu những hồi chuông của 300 nhà thờ Công giáo Rôma tại Sài Gòn cùng đổ vang khi bạo lực tiến gần, thì chắc dân Sài Gòn khắp nơi, ngay cả các toà lãnh sự, các đại diện những tổ chức quốc tế tại Sài Gòn, đều bắt buộc phải ghi nhận đang có sự oan khiên xảy ra giữa lòng thành phố. Liệu việc san bằng Vườn Rau có thể nhanh chóng và tốt đẹp ngoài sức tưởng tượng của kẻ chủ mưu hay không?

18/01/2019

Bình luận một quyết định

Nguyễn Đình Cống

Chỉ có ở một thể chế như Việt Nam thì ông Thủ tướng mới phải ra một quyết định gọi là thực hành “văn hóa công vụ” mà thực chất là răn cấm cán bộ từ cao đến thấp của đảng không được cư xử những điều sơ đẳng ảnh hưởng đến đạo đức, tư cách người công chức nơi công sở mà xét kỹ đó đều là những nội dung đã được dạy dỗ từ lứa tuổi học sinh cấp I ở bất cứ một nước nào. Thử xem, người dân hàng ngày phải tiếp xúc với loại cán bộ chưa qua cấp I về hành xử thì khốn khổ cho họ đến chừng nào.

Nhưng có một thứ đạo đức còn đáng răn dạy hơn vạn lần thì không hiểu sao từ ông Thủ tướng đến bà Quốc hội, cho đến tận ông Chủ bí đều im thin thít không hề mở mồm nói cho cán bộ hay: hãy chọn làm người chứ đừng làm thú vật. Nói thế chẳng phải là nói ngoa: Có ai đời giữa lúc năm hết Tết đến mà cả một bầy cán bộ đảng và chính quyền phường 6 Quận Tân Bình TP HCM đã bất thình lình nhâu nhâu kéo đến địa điểm Vườn rau Lộc Hưng đập phá tan tành nhà cửa đồ đạc của 120 hộ dân nơi đây, đẩy tất cả bà con trẻ già lớn bé ra nằm đường với hai bàn tay trắng đúng nghĩa đen. Mà đó là những người dân đã định cư tại đây từ năm 1954 đến bây giờ, không phải một xóm liều mới dựng chòi lên đâu chừng dăm bữa nửa tháng.

Vậy thì, nói làm gì đến mấy chữ “văn hóa công vụ” cho nó sang; còn có một chút nhân tính nào đâu đối với cái bầy thú dữ kia mà đòi chúng phải học “văn hóa công vụ”? Tuy nhiên, trước hành động trời không dung đất không tha như kia thì các ông bà tứ trụ lại hoàn toàn câm miệng. Rõ ràng là các ông bà đã để cho lũ súc sinh phường 6 Quận TB TP HCM bôi những vết nhọ đen ngòm lên mặt mình mà mặt mình cũng là đại diện của bộ mặt thể chế ở thời điểm này rồi. Chúng tôi không biết nói sao nữa nhưng dám chắc từ nay cái mặt của các ông bà có kỳ cọ đến đâu cũng không bao giờ sạch nổi. Các ông bà nhọ nhem thì chẳng ai cần đoái hoài, nhưng một thể chế nhọ nhem thì... xin bắt chước ông Trọng: phải có thế nào thì người ta mới nhìn vào mặt mình mà kêu oai oái lên như thế chứ (Xin xem: ‘Báo cáo Thế giới 2019’ lên án nhân quyền Việt Nam, chỉ trích Mỹ về vấn đề di dân)

Bauxite Việt Nam

Đó là Quyết định số 1847/QĐ-TTg, ngày 27/12/2018, của Thủ tướng Chính phủ, VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN VĂN HÓA CÔNG VỤ. Nội dung QĐ có 3 điều, tóm tắt như sau:

Điều 1- Phê duyệt Đề án với 6 tiểu mục: 1- Mục tiêu; 2- Phạm vi đối tượng áp dụng; 3- Quan điểm; 4- Nội dung;  5- Các giải pháp thực hiện; 6- Tổ chức thực hiện.

Điều 2- Hiệu lực thi hành. Có 2 tiểu mục : 1- Hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. 2- Các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam… cơ quan của Quốc hội… xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện.

Điều 3- Trách nhiệm thi hành.

Tôi phát hiện thấy vài điều có thể và nên bình luận. QĐ này được ban hành cùng với các QĐ của Đảng về nêu gương của cán bộ cấp cao, về xiết chặt kỷ luật, về tổ chức các đợt học tập đạo đức. Ra các QĐ như vậy chứng tỏ sự lúng túng của lãnh đạo trước thực trạng bi đát về đạo đức và năng lực của CB. Tình trạng đã quá rõ ràng. Nó là kết quả của một quá trình do kết hợp giữa 2 thứ: Nguyên nhân gốc và điều kiện môi trường. Nguyên nhân gốc là chủ thuyết Mác Lê với chuyên chính vô sản, độc tài toàn trị. Điều kiện môi trường được tạo nên từ mặt trái của nền kinh tế và văn hóa, là một số sai lầm hoặc thiếu sót trong chủ trương và luật pháp.

Muốn đưa ra được các giải pháp đúng nhằm khắc phục tình trạng bi đát cần có trí tuệ và lòng dũng cảm để phân tích nguyên nhân gốc. Thế nhưng vì lãnh đạo thiếu cả hai nên không thấy hoặc không dám tìm ra để loại bỏ mà chỉ dám nhìn đến vài điều kiện của môi trường rồi đưa ra giải pháp không căn bản. Ra các QĐ như trên là một dạng của việc làm hình thức và rất kém hiệu quả. Phải chăng để tự an ủi  là đã làm một việc gì đó và có cớ để thanh minh rằng đã biết và quan tâm.

Tôi thấy phần lớn các QĐ dài dòng là tập hợp của một đống ngôn từ và khẩu hiệu, rườm rà, chất lượng thấp, được viết ra một cách dễ dãi. Riêng QĐ 1847-QĐ/TTg chứa đựng một số điều hơi lạ.

Thứ nhất là đối tượng áp dụng. Tiểu mục 2 điều 1 ghi: Cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: a) Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;  b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Điều 3: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương… chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Phải minh bạch ai đã cấm tuyên truyền về chiến tranh biên giới phía Bắc

Tâm Chánh

Vì sao cuộc chiến tranh chống bành trướng bá quyền Trung Quốc đã vắng mặt nhiều năm nay trên các diễn đàn quốc sử?

10 năm trước báo SGTT của chúng tôi đã ghi nhận lại hình ảnh nhan tàng khói lạnh trên các nấm mồ liệt sĩ còn nằm dọc tuyến biên giới phía Bắc vào chính những ngày kỉ niệm 30 năm cuộc chiến.

Chiến tích bị đục bỏ. Nghĩa trang néo cửa. Quan san tê tái. Những giọt nước mắt tưởng nhớ lén chảy vào trong nỗi ấm ức. Một hiện thực không thể tưởng tượng, khiến cho bất kì ai tận mắt nhìn thấy không thể không bức bối.

Biên giới tháng Hai do Huy Đức viết, là ký sự ghi nhận hiện thực ấy, định đăng ba kì báo trên SGTT, nhưng chỉ mới đăng được một kì đã kết thúc.

Chúng tôi chỉ biết mệnh lệnh ngưng đăng từ truyền đạt của cấp lãnh đạo gần nhất.

Nhiều năm qua, chúng tôi chưa từng được giải thích về mệnh lệnh ấy.

Một lần kiểm điểm Tổng biên tập SGTT, ông Nguyễn Thanh Hải Phó ban Tuyên giáo Thành ủy phê bình báo SGTT về 100 bài “có vấn đề”, nhận xét “chuyện người ta muốn quên thì các đồng chí moi lại. Để làm gì? Có phải chuyện của các đồng chí không? Chuyện của các đồng chí là thị trường...”

Người ta là ai?

Ai cho mình cái quyền được đứng trên, quên hay nhớ lịch sử? Chúng tôi chỉ nhận được sự im lặng trịch thượng.

Bộ Chính trị và nguy cơ cạn dầu trên Biển Đông

Thường Sơn

Tiếp theo năm 2018 ‘chẳng ra gì’ khi hoạt động khai thác dầu khí của Việt Nam bị Trung Quốc gây sức ép tại mỏ Cá Rồng Đỏ ở Bãi Tư Chính,  mỏ Lan Đỏ và Cá Voi Xanh mà đã khiến Bộ Chính trị Việt Nam mất ăn ngay trên ‘vùng biển chủ quyền không tranh cãi’ của mình, năm 2019 đang hiện ra với sắc màu tê tái dành cho nền ngân sách rỗng ruột ngoại tệ của Việt Nam.

Vào những ngày đầu năm mới 2019, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam - PVN) đã mang lại một thất vọng tím tái cho các cấp trên của nó khi thông báo rằng căng thẳng ở Biển Đông sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam trong năm nay. Cụ thể, PetroVietnam dự tính sẽ khai thác 12,37 tấn dầu thô trong năm nay, giảm 11,45% so với năm ngoái.

Tỷ lệ 11,45% thậm chí còn thấp hơn mức tiết giảm dự kiến 10% mỗi năm của PetroVietnam vào năm 2018.

Vào tháng 11 năm 2018, PetroVietnam lần đầu tiên cho biết với trữ lượng gia tăng quá thấp khiến từ nay đến năm 2025, sản lượng khai thác dầu sẽ giảm đều đặn mỗi năm 10% - tương đương với hơn 2 triệu tấn.

Vào năm 2017, sản lượng khai thác quy dầu của PVN lên tới 25 triệu tấn. Nhưng với đà ‘suy giảm tự nhiên’ và với mức giảm bắt buộc hơn 2 triệu tấn/năm, đến năm 2025 sản lượng khai thác quy dầu sẽ cao lắm là 10 triệu tấn/năm. Còn nếu trong giai đoạn 2019 - 2025 mà PVN phải chịu sức ép quá mạnh từ Chính phủ và Bộ Chính trị đảng để phải giữ nguyên hoặc thậm chí gia tăng sản lượng khai thác dầu khí nhằm bù đắp cho một nền ngân sách mau chóng cạn kiệt, đặc biệt là gần như cạn hoàn toàn các nguồn ngoại tệ dùng để trả nợ nước ngoài và chi xài cho công tác ăn tiêu trong đảng, đến năm 2025 PVN sẽ có thể chẳng còn dầu để khai thác nữa.

Những thông tin trên là chuỗi tiếp nối logic với một thông tin từ ông Từ Thành Nghĩa - Tổng giám đốc Vietsovpetro - vào đầu tháng 2/2018 về “Móng mỏ Bạch Hổ còn quanh quẩn 10 triệu tấn, tối đa chỉ khai thác được 4-5 năm nữa thôi”, tại Hội nghị tổng kết năm 2017 của PVN.

Điều đó có nghĩa là ngay cả mỏ Bạch Hổ - cung cấp sản lượng lớn nhất, chiếm hơn 60% sản lượng của PVN từ xưa đến nay - đã vào giai đoạn suy kiệt.

https://3.bp.blogspot.com/-PTNtDC9g5HQ/XD7cR0eSA3I/AAAAAAAAdPM/PE9NQZjj_fkAL_i-9goGwDsfhoB-GXTggCLcBGAs/s640/lam-gi-khi-mo-bach-ho-can-dau-15-.9353.jpg

Mỏ Bạch Hổ - cung cấp sản lượng lớn nhất, chiếm hơn 60% sản lượng của PVN từ xưa đến nay - đã vào giai đoạn suy kiệt.

Việt Nam đang trở thành "mẫu" tiếp theo của phương thức tham nhũng BRI?

Hoa Nghi

Sáu năm về trước (2013), sáng kiến đầy tham vọng của Bắc Kinh mang tên "Một vành đai, một con đường" (BRI) ra đời nhằm kết nối cơ sở hạ tầng dọc con đường tơ lụa trên bộ, nối Trung Quốc với Âu châu, và nguồn tiền được bảo trợ bởi Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (tiếng Anh: Asian Infrastructure Investment Bank - AIIB) của Bắc Kinh.

Đến năm 2017, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tổ chức một tiệc chiêu đãi 28 lãnh đạo các quốc gia nhằm giới thiệu BRI với các nước.

Tại vùng Đông Nam Á, Trung Quốc chi hàng tỷ USD để thuyết phục các nước về sáng kiến này, như một tham vọng của một cường quốc mới nổi.

Ngày 16.12.2018, bên lề Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Hợp tác Mekong-Lan Thương lần thứ 4 Lào, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị kêu gọi Việt Nam thúc đẩy việc kết nối sáng kiến Vành đai Con đường của Trung Quốc với kế hoạch BRI của Việt Nam.

https://1.bp.blogspot.com/-JUAdMzfhsHk/XD8CZQJ-JqI/AAAAAAAAAiA/FTFO-3XY3B8gBMSa0Rh3jmUCiY22h4WEwCLcBGAs/s640/BRI-Illustration.png

Ngày 20.12.2018, tại Diễn đàn Xúc tiến Kinh tế Việt Nam – Trung Quốc, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung trong bài phát biểu cũng cho biết: để triển khai có hiệu quả sáng kiến của Trung Quốc, chính quyền Hà Nội mong rằng, trong thời gian tới sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác giữa Hà Nội, các tỉnh, TP của Việt Nam với các tỉnh, TP của Trung Quốc.

Trong tuyên bố chung nhân chuyến thăm của ông TBT Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc vào đầu năm 2017, cũng khẳng định: Tích cực thúc đẩy kết nối chiến lược phát triển giữa hai nước, bao gồm kết nối khuôn khổ "Hai hành lang, một vành đai” với BRI.

Những dữ kiện nêu trên cho thấy tiến trình gắn kết dài hơi về mặt chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam với BRI.

Tuy nhiên, sáng kiến của Trung Quốc đang vấp phải những phản ứng ngược của các nước trong thời gian gần đây, khi câu chuyện "bẫy nợ từ sáng kiến" đang khiến các quốc gia dè chừng. Báo Pháp luật TP. HCM trong bài viết ngày 16.1 đã đặt câu hỏi "Sáng kiến Tập Cận Bình: Hỗn độn hay nguy hiểm?", theo đó, sáng kiến Vành đai và Con đường còn bị lợi dụng để triển khai các dự án bất khả thi và tham nhũng.

Và thực sự, sáng kiến này đang trở thành một con đường tham nhũng đích thực, với sự duy trì quyền và tiền từ Bắc Kinh theo hướng "dùng tham nhũng nuôi BRI".

Mới đây nhất, hãng tin FP đã có bài viết sâu về tình trạng này qua trường hợp của Malaysia.

17/01/2019

THÔNG CÁO BÁO CHÍ SỐ 1 CỦA NHÓM LUẬT SƯ LỘC HƯNG

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16 tháng 01 năm 2019

Kính gửi các cơ quan báo chí, truyền thông trong ngoài nước.

Đồng kính gửi cộng đồng mạng xã hội, các cơ quan, đơn vị có thầm quyền và có liên quan.

Chúng tôi, nhóm luật sư giúp dân Vườn Rau Lộc Hưng (viết tắt nhóm Luật sư Lộc Hưng hay nhóm LSLH) xin trân trọng thông báo như sau:

1/. Ngày 15/1/2019, 20 hộ dân tại Vườn Rau Lộc Hưng (VRLH), quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, do các ông bà Cao Hà Chánh, Cao Hà Trực, Trần Minh Thi đại diện đã có giấy đề nghị luật sư gửi những tổ chức hành nghề luật sư của nhóm LSLH, yêu cầu cử các luật sư trợ giúp pháp lý cho họ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong các vụ việc liên quan đến khu đất Vườn Rau Lộc Hưng, đặc biệt trong vụ cưỡng chế phá nhà diễn ra tại đây từ ngày 4 đến ngày 8/1/2019. Các ông bà nêu trên cho biết hầu hết người dân (khoảng từ 150 đến 180 hộ) bị ảnh hưởng từ vụ cưỡng chế phá nhà đều mong muốn nhờ các luật sư giúp đỡ về pháp lý.

2/. Đến nay, đã có các luật sư và tổ chức hành nghề luật sư sau đây đồng ý nhận trợ giúp cho người dân VRLH: Luật sư Đặng Trọng Dũng (Văn phòng luật sư Đặng Dũng & Ninh Hòa), Luật sư Trần Vũ Hải (Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải), Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc (Công ty Luật Inter Law), Luật sư Trần Hồng Phong (Công ty Luật Eco Law), Luật sư Nguyễn Văn Miếng (Văn phòng luật sư Luật Hồng Đức), Luật sư Đào Kim Lân (Công ty Luật An Thuận Phát), Luật sư Đặng Đình Mạnh (Văn phòng luật sư Đặng Đình Mạnh), Luật sư Đồng Hữu Pháp (Văn phòng luật sư Đồng Hữu Pháp), Luật sư Đoàn Thái Duyên Hải (Văn phòng luật sư Hải Đoàn), Luật sư Dương Vĩnh Tuyến (Văn phòng luật sư Dương Chí), Luật sư Nguyễn Duy Bình (Văn phòng luật sư Duy Trinh), Luật sư Phương Văn Thêm (Công ty Luật Phương Gia),Luật sư Nguyễn Hữu Thông (Văn phòng luật sư Nguyễn Hữu), Luật sư Trần Đình Dũng (Văn phòng luật sư Đặng Dũng & Ninh Hòa), Luật sư Thái Thị Diễm Trúc (Công ty Luật Tín Nhân), Luật sư Ngô Thị Phương Thảo (Văn phòng luật sư Trương Anh Tú), Luật sư Phùng Thanh Sơn (Công ty Luật Thế Giới Luật Pháp).

Ngoài ra còn một số luật sư, chuyên gia pháp lý và tổ chức hành nghề luật sư khác đã ngỏ ý sẵn sàng tham gia hỗ trợ pháp lý cho người dân VRLH, chúng tôi sẽ thông báo khi thích hợp.

3/. Các hộ dân VRLH cho rằng có nhiều vấn đề cần được các luật sư giúp đỡ về pháp lý, đặc biệt hai vấn đề sau:

- Vụ cưỡng chế phá nhà từ ngày 4 đến ngày 8/1/2019 theo họ là trái pháp luật, không làm đúng theo các quy định của pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng cho hàng trăm người dân VRLH về vật chất lẫn tinh thần, khiến rất nhiều người lâm vào tình trạng khó khăn về cuộc sống, chỗ ở, mất tài sản. Họ đề nghị các luật sư yêu cầu làm rõ tính hợp pháp của cuộc cưỡng chế này, buộc những cơ quan và cá nhân liên quan phải chịu trách nhiệm và bị xử lý theo pháp luật, bồi thường thiệt hại cho họ, trả lại đất VRLH cho họ tiếp tục sử dụng.

- Theo họ, đất VRLH đã được người dân ở đây (phần lớn có nguồn gốc người miền Bắc di cư năm 1954) khai thác, sử dụng hợp pháp liên tục từ năm 1955 đến nay, phục vụ cho cuộc sống của họ, mà hầu hết là những lao động nghèo, hoàn cảnh khó khăn. Họ có đủ tài liệu chứng minh về việc này. Sau năm 1975 họ đã nhiều lần đề nghị chính quyền địa phương thực hiện chính sách đất đai của nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam để xác nhận hiện trạng về đất (không có tranh chấp), làm

các thủ tục để cấp các giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp theo pháp luật đất đai cho họ yên tâm sinh sống, làm ăn. Thế nhưng chính quyền địa phương đã không làm theo các quy định của pháp luật, khiến họ phải khiếu nại, tố cáo liên tục từ năm 1999 đến nay. Song các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa giải quyết dứt điểm để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, khiến cuộc sống, việc làm ăn của họ thiếu ổn định. Chính quyền địa phương cho rằng đất VRLH là đất công (hay đất công cộng) nhằm tước đoạt quyền sử dụng đất hợp pháp của họ, biến họ từ những công dân lương thiện thành người vi phạm chiếm đất công. Họ kiên quyết phản đối cách ứng xử chuyên quyền và trái luật này. Họ đề nghị các luật sư yêu cầu chính quyền địa phương tại TPHCM và trung ương tổ chức tiếp dân đối thoại công khai với họ về vấn đề này.

4/. Các luật sư của nhóm LSLH cho rằng những ý kiến trên của người dân VRLH là có căn cứ pháp lý. Chúng tôi trân trọng đề nghị các cơ quan chức năng tại TPHCM tạo mọi điều kiện để các luật sư và người dân thực hiện các quyền của mình theo Hiến pháp và Luật trong việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân VRLH, cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu liên quan đến những vụ việc này.

5/. Chúng tôi được biết trong thời gian vừa qua, có một số báo chí đã đưa tin một chiều, không khách quan. Theo các hộ dân VRLH, nhiều thông tin đó không phản ánh đúng sự thật, không ghi nhận những ý kiến của những người dân VRLH và phản ánh những tài liệu mà họ đã cung cấp cho các cơ quan chức năng, cơ quan báo chí, gây bất lợi cho họ, khiến họ rất bức xúc trong khi họ đang gặp vô vàn những khó khăn sau vụ cưỡng chế phá nhà (và thực tế là chiếm đất của họ) tại VRLH. Nhiều người mất nhà, mất việc, mất tài sản, thu nhập, sống vất vưởng, càng bị tổn thương thêm về tinh thần. Vì vậy, nhóm LSLH trân trọng đề nghị các cơ quan báo chí, truyền thông, cộng đồng mạng xã hội đưa tin bài về VRLH một cách khách quan, trung thực, phản ánh đúng sự thật, đặc biệt cần ghi nhận những ý kiến và tình cảnh hoạn nạn của người dân VRLH hiện nay sau vụ cưỡng chế phá nhà trên. Chúng tôi cũng trân trọng mời các cơ quan báo chí, truyền thông và những ai quan tâm đến VRLH chứng kiến các hoạt động của các luật sư và người dân trong quá trình đấu tranh pháp lý sắp tới để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân VRLH, tường thuật cho công chúng.

6/. Chúng tôi trân trọng cám ơn mọi sự giúp đỡ, hỗ trợ, chia sẻ, ủng hộ, đồng hành của các nhà hảo tâm, các đồng nghiệp, các doanh nhân, các nhà hoạt động xã hội và bất cứ cơ quan, đơn vị, hội đoàn, nhóm công dân và cá nhân nào để giúp người dân VRLH và nhóm Luật sư Lộc Hưng trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân VRLH./.

Nhóm Luật sư Lộc Hưng

Tập quyền nhà nước hay tập quyền tham nhũng?

Nguyễn Đình Ấm

Ở một quốc gia, vùng lãnh thổ chỉ do một thế lực chính trị duy nhất cầm quyền thống nhất từ trung ương đến địa phương gọi là chế độ tập quyền, độc tài toàn trị.

Ở Việt Nam từ năm 1954 (ở miền bắc) và từ năm 1975 (ở miền Nam) do đảng CS nắm quyền là chế độ độc tài toàn trị, tập quyền triệt để nhất. Đảng CS nắm quyền từ trung ương đến cả những tổ chức, cơ quan, đơn vị dân cư, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang nhỏ nhất.

Đặc điểm bộ máy cầm quyền của đảng từ trung ương đến cơ sở do “đảng cử, dân bầu”, tức không do dân lựa chọn mà do cơ quan, cán bộ đảng cấp trên “quy hoạch”, chỉ định, bố trí, quản lý không liên quan, phụ thuộc đến bất kỳ thế lực nào khác. Do đặc điểm này mà cán bộ ngày càng trở nên quan liêu, tách biệt với nhân dân bởi sự “hưng, vong” của họ chỉ phụ thuộc quan trên có quyền phán xét họ chứ không phụ thuộc ý nguyện của dân. Ngày 27/12/2018 trong buổi tiếp xúc cử tri HĐNDTP Đà Nẵng, bị cử tri chất vấn về sai phạm của mình, Chủ tịch thành phố Huỳnh Đức Thơ nói rất thật: “Việc tôi đi hay ở là do trung ương quyết định...” (Tức không liên quan đến dân mà hỏi lôi thôi).

Tập quyền tham nhũng

Với bộ máy quyền lực đơn nhất khi họ “đồng tâm” việc gì thì “cộng hưởng” quyền lực thành thế lực, kể cả trong lĩnh vực tham nhũng.

Ở VN thời chiến tranh, bao cấp cán bộ có lý tưởng bảo vệ Tổ quốc, ít tiếp xúc với lợi ích, của cải nên quan chức chỉ tham ô, tham nhũng nhỏ. Thời HTX cán bộ địa phương, chủ nhiệm tham ô tạ thóc, cân chè, con gà, cà phê, con gà, lợn (heo)... Quan chức huyện, tỉnh, trung ương cũng chỉ được cấp dưới biếu xén đồ ăn cao cấp, thuốc thang, cái xe đạp, xe máy, radio, TV... Tức buổi “bình minh” tham nhũng chỉ mang tính cục bộ. Thế nhưng, từ những năm 1990 đến nay do kinh tế thị trường và mở cửa với bên ngoài nên nhiều thứ tài nguyên đặc biệt là đất đai, khoáng sản, rừng, biển, những vụ thương mại, dự án, trao đổi kinh tế lớn, lên chức, lên quyền... trở nên giá trị cao. Từ đây pháp luật cũng sản sinh để gắn kết trách nhiệm của các ngành, cấp, cơ quan quản lý các hoạt động ấy.

Quyền được dốt và quyền được yếu kém (*)

Trương Quang Đệ
Tôi thật sự xúc động khi đọc bài "Đừng làm học sinh giỏi ở Việt Nam" của bạn trẻ Hoàng Huy, được nhiều người chia sẻ trên mạng.
Tôi cảm thấy đó là một bản tuyên ngôn thống thiết về quyền con người trong lĩnh vực giáo dục, quyền của các em học sinh muốn thoát khỏi vòng kim cô của tiêu chuẩn học sinh giỏi, nói nôm na là "quyền được dốt".
Tôi vô cùng lạc quan trước viễn cảnh giới trẻ có suy nghĩ độc lập, biết từ chối những điều không hay mà người lớn muốn áp đặt cho họ. Họ từ chối làm học sinh giỏi vì, theo Hoàng Huy:
Một: Tốn rất nhiều thời gian cho việc học. Học mọi nơi, mọi lúc: ở lớp, ở nhà, học thêm, học luyện thi... Đến nỗi không còn thời gian dành cho vui chơi giải trí, rèn luyện thân thể, hòa mình vào môi trường thiên nhiên.
Thử hỏi khi ra đời với một thân thể yếu đuối, tâm hồn bạc nhược nghèo nàn thì có thẻ làm gì hữu ích?
Hai: Đã là học sinh giỏi thì phải giỏi toàn diện, nghĩa là phải giỏi cho tất cả các môn học. Điều đó giết chết ước mơ cá nhân, ngăn chặn việc phát huy năng khiếu.
Trước câu hỏi: "Em thích làm gì?", câu trả lời của đa số học sinh giỏi là: "Em không biết". Ngán ngẩm thay!
Ba: Tiếp nhận một khối lượng kiến thức đồ sộ, mà phần lớn không tỏ ra thiết thực gì cho nghề nghiệp tương lai. Nếu nghề sau này của bạn là diễn viên điện ảnh thì liệu các công thức vi phân, tích phân, bảng Mendéléev mà bạn ra sức nhớ thuộc lòng sẽ giúp bạn được gì?
Nói thêm: Đấy là chưa kể biết bao lý thuyết mông lung, quá đát dầu bạn thấy rõ là vô ích, nhưng phải tốn công học thuộc từng câu chữ.
Ngược lại những kiến thức giúp bạn quản lý tốt thời gian, suy xét nhanh chóng sự vật như đường cong phân bố Gauss, biểu đồ Perati, tỉ lệ cân bằng sinh thái động vật... thì không thấy bóng dáng trong các bài giảng.
Hơn nữa, tư duy của ngành giáo dục hiện nay quá lỗi thời trước thềm công nghệ 4.0.
Thực vậy, tri thức nhân loại tích lũy từ thời cổ đến nay rất nhiều, cách học kiểu nhồi nhét không còn thích hợp nữa.
Cách học hợp lý là học cách nhận biết, phân tích, tổng hợp sự kiện chứ không học để nhớ hết các sự kiện.

VỀ CÁI LÝ SỰ “ĂN CHÁO ĐÁ BÁT”

Mạc Văn Trang

Kg Ban Biên tập trang nhà,

Tôi là một độc giả thường xuyên, hôm nay vào đọc bài của tác giả Mạc văn Trang thấy ông phân tích rất có lý, nên chỉ muốn góp thêm là:

Chính cái bọn mà được dân nuôi bằng tiền thuế bây giờ có chức có quyền lại bức bách đàn áp nhân dân, tham nhũng, đánh tráo khái niệm chủ tớ, mới đích thực là bọn ĂN CHÁO ĐÁ BÁT!

Kính,

Minh Ha

Xin không dài dòng, nói ngay vào cái “lý sự” này của mấy người “còn đảng còn mình”, lên án những người có thái độ phê phán chế độ hiện nay. Họ cho rằng những người đã học hành, thành đạt từ chế độ này thì phải tuyệt đối phục vụ chế độ này; phải trung thành tuyệt đối, phải ca ngợi chế độ chứ không được phê phán chế độ; thậm chí không được phê phán những sai lầm, tội lỗi của những người cai quản chế độ này. Lý sự của họ là: “Đảng và Nhà nước đã cho ăn học”; “Đảng và nhà nước đã gửi anh ra nước ngoài đào tạo”; “Đảng và nhà nước đã quy hoạch, bồi dưỡng anh”... Thế mà bây giờ anh quay lại phê phán Đảng và chế độ này?

Với cái não trạng như vậy, nên năm trước GS Ngô Bảo Châu có viết một câu gì đó, mà một số người cho là đụng chạm đến vong linh của chế độ, liền bị đám dư luận viên xúm vào phê phán là “vong ân, bội nghĩa”, nhiếc móc là đồ “ăn cháo, đá bát”(?)... Nhưng đối với đám DLV, chả chấp làm gì!

Năm vừa qua, khi GS Chu Hảo bị Đảng CS phê phán, kỷ luật khai trừ đảng, nhiều người bày tỏ sự bất bình với quyết định ấy, thì mấy ông già cũng lên tivi phê phán GS Chu Hảo với ý là “Đảng và Nhà nước đã ưu ái cho đi đào tạo..., bố trí anh vào vị trí này nọ, thế mà bây giờ anh lại quay ra phê phán lại chế độ...”.

Xin có mấy ý kiến thế này:

1. Nếu những ai được đào tạo từ chế độ đó mà không trung thành với nó, là “ăn cháo đá bát”, thì thử hỏi, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945 là gì, khi tất cả các thành viên của nó đều được đào tạo, nuôi dưỡng từ chế độ thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn?

16/01/2019

Xỉ than & tro bay - bài toán khó cần lời giải

Tô Văn Trường

Do nhiều nguyên nhân, trong giai đoạn ngắn hạn nhiệt điện vẫn đóng góp vai trò quan trọng trong bài toán an ninh năng lượng quốc gia. Vấn đề hiện nay là phải làm cái gì, làm như thế nào để giải quyết vấn nạn chất thải xỉ than và tro bay đang ứ đọng trên cả nước làm đau đầu các nhà quản lý điều hành ở trung ương và các địa phương.

Và điều quan trọng hơn theo kinh nghiệm của các nước là làm thế nào để biến cái hại cho môi trường của tro bay và xỉ than thành cái lợi cho ngành vật liệu xây dựng?

Để giải quyết hài hòa vấn đề kinh tế và môi trường cần phân tích các yếu tố công nghệ và lựa chọn các giải pháp thích hợp trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Công nghiệp điện đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Thế giới đang đi vào hạn chế nguồn năng lượng khoáng chất gây ô nhiễm môi trường và đã sáng tạo nhiều công nghệ mới có khả năng sử dụng các nguồn năng lượng sạch. Nhưng vì là công nghệ mới nên hiệu suất sử dụng chưa cao vì công nghệ chưa được hoàn thiện, ảnh hưởng môi trường trong những điều kiện khác nhau và lâu dài chưa đánh giá hết.

Đồng thời, việc giải bài toán an ninh năng lượng cần có cái nhìn tổng thể trên cơ sở các nguồn năng lượng có sẵn, các nguồn năng lượng có khả năng ổn định và các nguồn năng lượng sạch để đảm bảo vừa không bị thiếu hụt năng lượng cho phát triển kinh tế vừa đảm bảo tương lai môi trường chấp nhận được của đất nước.

Bộ Công thương xin bổ sung thêm 17 dự án điện mặt trời vào quy hoạch điện mặt trời là xu thế tất yếu nhưng cần đầu tư đồng bộ với hệ thống truyền tải đấu nối điện. Trong giai đoạn trước mắt, nhiệt điện than vẫn chiếm tỷ lệ chủ yếu trong bài toán năng lượng vì giá điện phát ra là rẻ nhất, đáp ứng công suất nhanh nhất, tính ổn định cao nhất trong khi nguồn thủy điện đã cạn kiệt. Các loại năng lượng khác ngoài than như khí thì đắt quá và đã hết nguồn.

Đối với chất thải của nhiệt điện than thì cần phải xác định nguồn nhiên liệu trước khi thiết kế nhà máy bởi lẽ việc thay đổi loại nhiên liệu sẽ khiến cho lò hơi vận hành kém hiệu quả. Than nhập khẩu sẽ tốt hơn than trong nước do than trong nước là loại Antraxit có nhiều tro, khó bốc cháy, lâu cháy kiệt, hàm lượng carbon còn lại trong tro khá cao nên khó sử dụng tro bay làm phụ gia xi măng. Nếu dùng than nhập khẩu thì có thể lựa chọn loại than có hàm lượng tro ít, dễ bốc cháy và cháy kiệt hơn nên tro thải ra có thể sử dụng ngay làm phụ gia xi măng. Khi đó lượng xỉ thải có thể giải quyết dễ dàng hơn nhiều. Tuy nhiên, than nhập khẩu thì hiện tại khó chủ động với số lượng lớn, hoạt động lâu dài. Nhìn chung các nước thường mua cả mỏ của nước có nguồn nguyên liệu để có thể ổn định vận hành. Việt Nam chưa làm được điều đó nên nguồn cung cấp nhiên liệu ổn định sẽ là vấn đề rủi ro lớn.

Công nghệ nhiệt điện đốt than

Có 2 công nghệ lò hơi sử dụng ở VN bao gồm:

- Lò hơi phun đốt than nghiền. Đây là loại lò có khả năng chế tạo công suất lớn lên đến hàng nghìn MW sử dụng than bột nghiền mịn tới cỡ hạt khoảng nhỏ hơn 90 micromet phun vào lò qua các vòi phun để đốt. Loại lò hơi này cần dùng than chất lượng cao và ổn định với dải dao động hẹp về chất lượng than. Loại lò này tro bay thải ra chiếm 90% có thể dùng làm phụ gia xi măng, gạch không nung với điều kiện hàm lượng carbon trong tro nhỏ hơn 6%. Tuy nhiên, các nhà máy nhiệt điện ở VN đang vượt mức quy chuẩn này, nên khó sử dụng. Việc chuyên chở cũng là vấn đề vì tro bay rất nhẹ, làm sao chở được đến nhà máy xi măng ở xa. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long có ít nhà máy xi măng nên việc xử lý tro bay cũng là vấn đề cần tính đến.

- Lò hơi đốt kiểu tầng sôi thì cỡ hạt than to hơn (khoảng 1 milimet) nên ít tốn điện cho việc nghiền, có thể đốt được than chất lượng xấu, nhiều lưu huỳnh, nhiều tro và dải chất lượng than có thể biến động trong khoảng rộng. Loại này phù hợp với Việt Nam do chất lượng than thấp, khó cháy, lâu cháy kiệt, chất lượng than không ổn định. Tuy nhiên, nhược điểm của loại lò hơi này là công suất không cao. Công suất cao nhất hiện tại là 300MW. Có duy nhất 1 lò ở Ba Lan có công suất đạt được là 450 MW. Nhược điểm về thạch cao là do than được trộn với CaCO3 để xử lý SO2. Nếu xử lý SO2 bằng vôi nhưng ở sau lò đốt thì thạch cao cũng được tách riêng và sạch, sử dụng được cho việc khác.

Các bất cập về xử lý tro xỉ ở Việt Nam

Nhiệt điện than là loại phát thải khí CO2 cao nhất, ngoài ra còn có khối lượng lớn các chất thải rắn. Trước hết, cần phân biệt rõ chất thải tro xỉ (bao gồm cả tro bay và xỉ đáy lò) và tro bay. Ví dụ ở lò tầng sôi xỉ đáy lò sẽ có nhiều thạch cao (CaSO4), trong khi tro bay sẽ có canxi (Ca) cao.

Về hiện trạng thải tro và xỉ nhiệt điện và Phosphorus Gypsum (PG) từ DAP (PG viết tắt của Phosphorus Gypsum - thạch cao thải ra từ quá trình sản xuất phân bón Di-Amoni-Phosphat - DAP, sử dụng Apatite - làm nguyên liệu) ở Việt Nam có điểm rất khác so với thế giới.

Tro xỉ của ta có hàm lượng than dư (chưa cháy hết) rất cao, không thể dùng làm phụ gia xi măng hay làm xi măng đầm lăn ngay được. Muốn sử dụng được cho xi măng hay kết hợp với xi măng thì phải tuyển loại than dư xuống dưới 6%. Đấy là chưa kể đến các nhà máy nhiệt điện có xử lý lưu huỳnh làm hàm lượng canxi tăng cao (tro bay lớp/loại C) thì càng không sử dụng làm phụ gia xi măng được. Một phần nhỏ tro bay của ta đáp ứng yêu cầu sử dụng làm phụ gia xi măng là từ các nhà máy nhiệt điện chạy theo công nghệ tiên tiến, có hàm lượng than dư dưới 6% và phần thạch cao từ xử lý SO2 được tách riêng (như nhiệt điện Thái Bình 1).

Nói đến sử dụng tro bay làm phụ gia xi măng cũng không đơn giản vì khi thêm tro bay vào xi măng, thời gian cần thiết để bê tông đạt tiêu chuẩn kéo dài hơn so với bê tông không có tro bay. Điều này, ảnh hưởng đến tiến độ thi công, cho nên các nhà thầu không thích và không dùng. Muốn họ dùng thì phải có chính sách ưu đãi.

Nhà máy nhiệt điện Mông Dương 1 có nguy cơ phải đóng cửa sẽ làm lãng phí gần 37.000 tỷ VNĐ đầu tư của nhà nước. Mặt khác, nhà máy điện Mông Dương 1, đầu tư 11 hạng mục dùng chung giữa MD1 và MD2 và chịu trách nhiệm quản lý vận hành các hạng mục này. Nếu Mông Dương 1 phải đóng cửa dẫn đến Mông Dương 2 cũng phải đóng cửa theo và như vậy mỗi một ngày Mông Dương 2 đóng cửa, Chính phủ phải trả tiền cho nhà đầu tư BOT là AES - Mỹ khoảng 600.000 USD/ ngày.

clip_image002[6]

Hình ảnh bãi chứa tro, xỉ nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2. Ảnh TL

Những “nhà” phát triển điện than muốn “cởi trói” bằng cách sửa Nghị định 38 về quản lý chất thải và phế liệu để cho tro xỉ cũng như hàng loạt các quy định khác. Điều này, có vẻ như họ đang muốn “gọt chân” cho vừa giầy vì khi phát triển dự án nhiệt điện các nhà đầu tư mới chỉ hoàn thành 1 mục tiêu là sản xuất ra điện, đến khi chất thải trong quá trình sản xuất quá lớn, vướng luật, họ lại muốn kiến nghị điều chỉnh luật, nghị định. Lẽ ra về nguyên tắc chủ đầu tư phải có phương án xử lý chất thải trước khi đi vào hoạt động (trong quá trình lập dự án) không thể cứ đi vào hoạt động rồi lại đem chuyện thiệt hại kinh tế như vậy ra mặc cả được.

Hiện nay ách tắc là do không có đầu ra hợp lý cho tro xỉ - tương tự như phân vi sinh/compost từ rác thải hữu cơ. Việc chỉ cho phép bãi thải xỉ chứa được lượng tro xỉ 2 năm thì tất cả các nhà máy nhiệt điện đều biết là không thể được nhưng tất cả các nhà máy đều biết nhà nước kiểu gì cũng phải tháo gỡ nên nhà máy nào cũng có tâm lý ỷ lại nhà nước giải quyết sau.

Giải pháp

Nhiều người theo kinh nghiệm ở các nước đã đề cập đến cách thức sử dụng tro xỉ nhiệt điện tập trung ở một số nhóm giải pháp như: làm phụ gia xi măng, phụ gia bê tông đầm lăn, vật liệu xây không nung, san nền, nâng cốt trong xây dựng làm đường giao thông v.v… Cố gắng tối ưu hóa các nhà máy điện hiện có, đảm bảo giảm thiểu chất thải và ô nhiễm môi trường của các nhà máy nhiệt điện này.

Chính phủ đã phân công chức năng nhiệm vụ cho các Bộ ngành rõ ràng trong Quyết định 1696/2014/QĐ-TTg và Quyết định 452/2017/QĐ-TTg. Vấn đề ách tắc cho việc xử lý tro xỉ nhiệt điện bao gồm:

- Công nghệ sử dụng tro xỉ nhiệt điện chưa đủ hoàn thiện, đa dạng. Các sản phẩm làm ra từ tro xỉ nhiệt điện chưa được đưa vào thị trường một cách thuận lợi.

- Một số nhà máy nhiệt điện có vị trí xa đặc biệt các nhà máy ở miền Trung, ở Đồng bằng sông Cửu Long, tro xỉ thải có khối lượng riêng thấp nên chi phí chuyên chở cao. Chi phí chuyên chở có thể bị đội thêm trong nhiều trường hợp khi quy định đây là chất thải nguy hại dẫn đến cơ quan giám sát môi trường làm gắt gao.

- Tro xỉ nhiệt điện còn có hàm lượng carbon trong tro cao nên khó sử dụng hơn.

Phải chăng nên có quy định bắt buộc về chất lượng than và công nghệ nhiệt điện. Vấn đề này thuộc trách nhiệm của các Bộ Khoa học & Công nghệ, Tài nguyên & Môi trường, và Công thương.

Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông Vận tải cần xây dựng gấp các tiêu chuẩn, quy chuẩn cho các loại vật liệu làm từ tro xỉ. Bộ KH&CN tập trung cho những việc nghiên cứu triển khai các dự án ứng dụng thực tế đối với tro xỉ, cải tiến cách quản lý khoa học công nghệ thì các nghiên cứu mới có giá trị đưa vào cuộc sống.

Nhìn chung, khi bài toán kinh tế được giải quyết, vấn đề tro xỉ thải sẽ không phải là vấn đề quá lớn không giải quyết được. Hình dưới đây chỉ ra những xe bồn chở tro bay luôn sẵn sàng xếp hàng chờ để mua tro bay từ nhà máy nhiệt điện Hải Phòng. Vấn đề tro xỉ thải có thể là vấn đề lớn với nhà máy nhiệt điện này nhưng lại là nguồn thu của nhà máy nhiệt điện khác. Bởi vậy, vai trò của nhà nước là luôn tìm các chính sách phù hợp để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, đẩy mạnh việc nghiên cứu để tìm ra những sản phẩm mới tiềm năng từ nguồn thải này để ứng dụng cho các mục đích dân sinh.

clip_image004[6]

Các xe bồn xếp hàng dài chờ trước cổng nhà máy nhiệt điện Hải Phòng để lấy tro bay (Ảnh trên mạng).

Gần đây, có thông tin rất triển vọng về việc sử dụng tro bay để cải tạo đất, bón cho cây trồng. Chất lượng trong tro bay của Việt Nam có kích thước khá mịn (nếu qua hút tĩnh điện), khoảng 5-10μm nên sẽ rất phù hợp bón cho đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát, đất xám bạc màu.

Theo tôi tìm hiểu được biết thành phần tro xỉ của nhiệt điện Vũng Áng và mấy mẫu phân tích thành phần hóa học của đất. Nhìn chung thì hàm lượng SiO2 cũng khá tương đồng. Hàm lượng nhôm Al2O3 của tro xỉ nhiệt điện cao hơn đáng kể. Việc đưa tro vào đất nhìn chung đã được thực hiện đối với rơm, trấu và các loại biomass khác có tác dụng làm giàu cho đất. Đối với rơm, trấu thì hàm lượng SiO2 lên đến 97% nên có khả năng làm giàu cho đất khá tốt. Băn khoăn nhất là hàm lượng nhôm trong tro than quá cao, xung quanh 20-25% Al2O3, làm cho nguy cơ đất bị chua hóa khá cao nếu bón nhiều và liên tục, cần có nhiều nghiên cứu thêm.

ĐẶC TÍNH HÓA HỌC TRO XỈ nhiệt điện Vũng Áng

SiO2

%

60.15

Al2O3

%

24.20

Fe2O3

%

6.70

CaO

%

0.73

TiO2

%

0.90

K2O

%

4.30

Na2O

%

0.3

MgO

%

1.20

SO3

%

0.60

Các chất khác

%

0.92

Đặc tính hóa học của đất

Mẫu 1

Mẫu 2

Mẫu 3

Mẫu 4

Hàm lượng hữu cơ

3.58

5.05

6.15

5.52

Siclip_image006[12] (%)

68.81

67.21

65.85

66.64

clip_image008[8](%)

13.98

15.32

15.41

14.21

clip_image010[8] (%)

5.10

5.85

6.31

6.48

Ticlip_image006[13] (%)

0.71

0.83

0.91

0.86

Mg0 (%)

1.93

1.28

1.10

1.38

Ca0 (%)

1.02

0.47

0.39

0.79

clip_image012[6] (%)

3.29

2.90

2.79

2.72

clip_image014[6] (%)

1.35

0.90

0.91

1.13

Về việc nghiên cứu xử lý tro xỉ nhiệt điện có hàm lượng than dư tới trên 20% thành một dạng bê tông không sử dụng xi măng để làm vật liệu không nung và nền (base) cứng ứng dụng trong xây dựng và làm đường giao thông của nhóm chuyên gia Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (đề tài nghiên cứu khoa học thuộc Bộ Công thương) đến nay đã có được công thức để tạo ra loại bê tông không xi măng có cường độ chịu nén lên tới trên 20 MPa mà chỉ sử dụng cao lanh hay fenspat và kiềm làm chất kết dính. Việc thử làm các viên vật liệu không nung (gạch) và 30 m2 nền cứng cho kết quả rất tốt (đã lấy mẫu gửi kiểm tra chất lượng).

Sơ đồ làm vật liệu không nung từ tro xỉ

clip_image016[6]

Về PG từ các nhà máy DAP, cần thử nghiệm xử lý theo kiểu như đối với tro xỉ nhiệt điện sau khi fixed các yếu tố có thể gây ô nhiễm môi trường thứ cấp như flour, phosphat hoạt động, kim loại nặng, asen... thì khả năng thành công là rất cao, có thể giải quyết được vấn đề Phosphorus Gypsum của các nhà máy DAP.

Lộc Hưng và những sự thật được phơi bày

Lưu Trọng Văn

Mấy ngày qua, gã chưa lên tiếng về vụ Lộc Hưng trong khi tin tức Lộc Hưng tràn các ngóc ngách và xa lộ mạng.

Ba lý do.

- Gã đang dở bài viết về sự thật ở nhà thờ Đức Bà mà gã cho rằng một dân tộc sẽ đổ vỡ khi hai dinh luỹ là làng quê và tôn giáo bị tha hoá. Với gã đó là hai dinh luỹ cuối cùng.

- Ngày 14.1 hôm qua là ngày hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực ở VN. Đây là đột phá và niềm hy vọng cho cuộc tháo chạy, mong thoát khỏi nền kinh tế bẩn cùng làn gió độc phương Bắc để từng bước hoà nhập với nền kinh tế sạch - vấn đề sống còn với dân tộc. Gã cần viết bài về sự kiện lịch sử này.

- Gã cần đủ thông tin và độ lùi thời gian để có góc nhìn theo gã là đúng nhất về sự thật vụ Lộc Hưng.

Có một nhà báo tích cực bảo vệ Dân quyền đã giận gã và tuyên bố huỷ kết bạn với gã vì cái mà nhà báo đó cho là gã đã im lặng đồng nghĩa với việc gã đứng về phe áp bức. Gã tuyên bố, không ai có quyền như các quan tuyên giáo chỉ đạo gã phải viết và phải đứng về phe nào. Và sự im lặng không chỉ có nghĩa là vô cảm mà có thể còn có nghĩa chất chứa sóng ngầm. Những ai muốn thành công phải hiểu điều ấy.

Vậy lúc này gã đã nhận chân ra các sự thật nào qua vụ Lộc Hưng đang dậy sóng dư luận?

Người cộng sản VN đã giành được chính quyền nhờ hiểu lòng Dân, biết Dân muốn gì và họ sống trong lòng Dân vận động Dân ủng hộ họ. Nhưng trớ trêu thay khi yên vị ngai vàng không ít người cộng sản đã phạm sai lầm nghiêm trọng nhất trong lịch sử của họ, họ đã coi Dân không là chủ thể nữa mà thay vào đó là họ.

Họ đã càng ngày càng xa Dân, không cần hiểu Dân muốn gì mà chỉ cần biết họ muốn gì rồi bất chấp luật pháp mà do chính họ đặt ra áp đặt, buộc Dân theo họ. Họ trừng trị bất cứ Dân nào chống lại ý muốn của họ.

Tiên Lãng, Đồng Tâm, Thủ Thiêm là minh chứng cho sai lầm đó. Tưởng với bài học Tiên Lãng, Đồng Tâm, Thủ Thiêm họ phải hãi sợ rút ra bài học để đời, nhưng không, Lộc Hưng ngang nhiên một lần nữa xảy ra.

Vậy thực chất họ là ai?

Là nhóm lợi ích cùng những người trong hệ thống chính trị vô trách nhiệm bị nhóm lợi ích chi phối và cho vào bẫy. Gã có thể khẳng định các vụ đất đai đều liên quan đến nhóm lợi ích bẩn thỉu hết. Đồng Tâm, Thủ Thiêm là những minh chứng rõ ràng.

Khi bất động sản là nguồn thu lợi khổng lồ, nhanh nhất, ngon nhất thì bất cứ miếng mồi bất động sản nào đều có đôi mắt cú vọ và vòi bạch tuộc của nhóm lợi ích ấy chõ vào.

Từ rất lâu Lộc Hưng - miếng mồi hơn 4 héc ta quá ngon đã bị chúng nhòm ngó và nuốt nước bọt.

Đó là lý do chính quyền Tân Bình và chính quyền TP bao lâu nay không chịu làm thủ tục theo Luật đất đai để cấp chứng nhận chủ quyền đất cho nhiều người Dân có đủ chứng từ cấp chủ quyền đất.

Họ gài bẫy tạo ra tình hình không kiểm soát ở Lộc Hưng, dẫn đến bên cạnh những người Dân có giấy tờ, chứng cứ hợp pháp là làn sóng một số người dân nghèo khác mua bán đất, chiếm đất không hợp pháp rồi đánh đồng tất cả với nhau thành bất hợp pháp hết.

Họ vừa để cho chính quyền địa phương ăn tiền người Dân xây nhà bất hợp pháp vừa để mặc các nhà xây bất hợp pháp ấy tồn tại.

Bẫy sập.

Nhưng không dễ nuốt trôi mảnh đất ngon ăn này khi tấm gương Thủ Thiêm cùng Lò của bác cả Trọng đang hừng hực, chúng buộc phải chuyển mục đích thu hồi đất để làm trường học, công ích.

Sự thật Lộc Hưng đã bị che giấu. Ngài Bí thư Nguyễn Thiện Nhân bị phong toả thông tin nên không thể biết sự thật này. Cái lý lẽ đưa ra quá đúng, nào là đất công, nào là dân lấn chiếm, xây nhà không phép, nào là kỷ cương phải nghiêm, nào là nhu cầu xây dựng chính đáng. Ngài Bí thư tin sái cổ.

Tin vào đồng chí của mình là tốt, nhưng khi tin không tìm hiểu đồng chí mình là ai là ngớ ngẩn. Tin vào đồng chí mình cho là Dân sai nhưng không gặp Dân, nghe Dân, tìm sự thật trong Dân là sự vô trách nhiệm với Dân.

Sai lầm cố hữu. Sai lầm kinh niên.

Nếu gã là Bí thư Nhân, gã đã một mình lặng lẽ đến Dân. Sự thật quá dễ để biết. Ai có giấy tờ hợp pháp phải được pháp luật bảo vệ. Ai lấn chiếm đất bất hợp pháp phải trừng trị. Ai vì mưu sinh mua bán đất không đúng cần được chia sẻ thích hợp. Ai nghèo quá, bệnh tật, thương phế binh cần hỗ trợ giúp đỡ.

Xong. Ngòi nổ được tháo.

Nhưng không, ngài Bí thư đã để cho chính quyền vơ đũa cả nắm, đã coi tất cả đều bất hợp pháp cần phải nghiêm trị theo phép nước.

Sự phẫn nộ từ sự bất công, từ sự chà đạp sự thật này mà ra.

Gã luôn ủng hộ luật pháp nghiêm minh. Nhưng luật pháp chỉ thực sự công bằng nghiêm minh nếu được trao vào tay chính quyền bất vụ lợi, trao vào tay chính quyền thực sự nghiêm minh.