18/09/2012

“Cái giá của tự do là sự cảnh giác thường trực”

Lê Anh Hùng

1.

Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập với những lời lẽ hùng hồn làm lay động trái tim của hàng chục triệu người dân Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Với bản tuyên ngôn Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: chính thể cộng hoà do nhân dân làm chủ – đó là thông điệp mà ông muốn gửi tới toàn thể quốc dân cũng như cộng đồng quốc tế.

67 năm sau, ngày 7/5/2012, tại một phòng họp chỉ cách quảng trường Ba Đình mấy bước chân, TBT Nguyễn Phú Trọng đưa ra một “tuyên ngôn” đanh thép khác trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị TW 5 khoá XI: “Nhà nước ta không tam quyền phân lập!”. Lời tuyên bố thẳng thừng làm nhức nhối hàng chục triệu trái tim “con Lạc cháu Rồng” đó hàm ý rằng quyền lực nhà nước ở Việt Nam vẫn tiếp tục “thống nhất” ở Quốc hội; đồng thời, với việc Điều 4 Hiến pháp 1992 quy định Đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thì trên thực tế quyền lực nhà nước ở Việt Nam vẫn tiếp tục nằm trong tay Đảng CSVN: chính thể độc tài do Đảng CSVN làm chủ – đó là “thông điệp” mà nhân dân Việt Nam cũng như cộng đồng quốc tế không thể nhầm lẫn.

Ngày 13/9/1945, tức chỉ 11 ngày sau Lễ Tuyên ngôn Độc lập, “xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ dân chủ cộng hoà”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh Số 31, theo đó những người tổ chức biểu tình chỉ việc phải khai báo với uỷ ban nhân dân sở tại trước 24 giờ.

66 năm sau, ngày 18/8/2011, Uỷ ban Nhân dân Tp Hà Nội lại ra một bản thông báo trời ơi đất hỡi khác (thiếu căn cứ pháp luật, không được ban hành theo những thủ tục hành chính thông thường, không có người ký để xác định cá nhân chịu trách nhiệm, và đặc biệt là thông báo này đã xâm phạm một quyền công dân được Hiến pháp qui định và đảm bảo: quyền biểu tình, theo Điều 69 Hiến pháp 1992) để ngăn cấm những người Việt Nam yêu nước xuống đường biểu tình chống bành trướng Trung Quốc.

Vài sự kiện cách nhau đến 2/3 thế kỷ trên đây đủ cho chúng ta rút ra hai kết luận: (i) nền cộng hoà do nhân dân làm chủ như tinh thần của bản Tuyên ngôn Độc lập mùa Thu 1945 đã biến thành một chính thể độc tài đảng trị từ lúc nào không hay, và (ii) một khi quyền lực nhà nước tập trung quá mức vào trong tay một người hay một nhóm người trong bối cảnh thiếu vắng các cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu thì người dân và xã hội đó bị tước mất các quyền tự do cơ bản với mức độ tương ứng.

2.

Trong bài phát biểu ra mắt cương vị chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do Đức (FDP) ở Rostock trung tuần tháng 5/2011, chính trị gia người Đức gốc Việt Philipp Rösler đã so sánh hệ lụy khi người ta hạn chế tự do từng chút một với một câu chuyện ngụ ngôn về con ếch. Nếu ném con ếch vào nồi nước nóng nó sẽ phản xạ tức thì, nhảy ra khỏi nồi ngay. Nhưng nếu ném nó vào nồi nước lạnh rồi đun nóng dần thì nó sẽ nằm yên cho đến khi bị luộc chín. Hạn chế quyền tự do từng chút một rốt cuộc sẽ dẫn tới kết cục như vậy, bởi xã hội dần dần bị mất khả năng đề kháng.

Julius Fucik (1903–1943), một chiến sĩ cách mạng Cộng hòa Séc, bị phát-xít Đức bắt giam năm 1942. Trong xà lim dành cho tử tù, ông đã cho ra đời tác phẩm nổi tiếng – “Reportáž psaná na oprátce” (Viết dưới giá treo cổ), với câu nói khiến nhân loại phải giật mình: “Hỡi nhân loại, hãy cảnh giác!” Còn nhà hoạt động nổi tiếng người Mỹ Wendell Phillips (1811-1884) khi diễn thuyết trước các thành viên của Hội chống chế độ nô lệ Massachusetts (Massachusetts Anti-Slavery Society) ngày 28/1/1852 thì phát biểu: “Cái giá của tự do là sự cảnh giác thường trực; quyền lực luôn tước đoạt từ đa số sang cho thiểu số”.

clip_image002Bức tượng với dòng chữ “Eternal Vigilance Is the Price of Liberty”

(Cái giá của tự do là sự cảnh giác thường trực) ở thủ đô Washington (Mỹ)

Liệu “chú ếch” Việt Nam có cần phải mất tới 2/3 thế kỷ để bị “luộc chín” trước sự mất cảnh giác của đa số người dân Việt Nam hay không? Xin thưa, lịch sử nước nhà đã cho thấy là không cần phải mất nhiều thời gian đến thế. Chỉ hơn một năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh “trịnh trọng tuyên bố với thế giới” về nền “tự do, độc lập” của Việt Nam, trong Hiến pháp 1946 (bản Hiến pháp mang đậm dấu ấn của ông do Quốc hội khoá I thông qua ngày 9/11/1945) đã xuất hiện những dấu hiệu của sự tập trung quyền lực quá mức, mà nổi bật là Điều 50: “Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc”. Và đến khi Hiến pháp 1959 được Quốc hội thông qua ngày 31/12/1959 thì quyền lực nhà nước ở Việt Nam trên thực tế đã được trao vào tay Đảng Lao động Việt Nam (Lời nói đầu Hiến pháp 1959); quyền lập hiến của nhân dân vốn được quy định tại Điều 21 và Điều 70 của Hiến pháp 1946 cũng bị tước đoạt và trao cho Quốc hội tại Điều 50 và Điều 112 của Hiến pháp 1959. Tất cả đều diễn ra theo một “quy trình dân chủ” như những gì mà người đã khai sinh ra chế độ dân chủ cộng hoà này, trong giai đoạn ở đỉnh cao quyền lực của mình, mong muốn.

Ở Đức, chính Reichstagsbrandverordnung (Sắc lệnh của Tổng thống về việc bảo vệ nhân dân và nhà nước)[1] do Tổng thống Đức Paul von Hindenburg ban hành ngày 28/2/1933 và Ermächtigungsgesetz (Luật Trao quyền)[2] do Quốc hội Đức thông qua ngày 23/3/1933 đã biến chính phủ của Hitler thành một chính thể độc tài trên thực tế. Và rồi nhà độc tài khát máu này đã truyền sức sống mới cho Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia hay Chủ nghĩa Quốc xã (National Socialism/Nazism), phát động cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2, đồng thời gây ra nạn diệt chủng người Do Thái. Tên trùm phát-xít Hitler đã được trao quyền lực độc tài thông qua các quy trình dân chủ/pháp lý hợp thức trước sự mất cảnh giác của Tổng thống và cả Quốc hội Đức như thế, để rồi không lâu sau đó không chỉ nhân dân Đức mà cả thế giới phải trả một cái giá thật kinh hoàng.

Tại Nga, đất nước xứ sở bạch dương dưới thời Putin là một chính thể độc tài cá nhân điển hình. Chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Nga ngày 4/3/2012 hầu như đã chính thức kéo dài “triều đại Putin”, vốn bắt đầu từ năm 2000, đến tận năm 2024. Dĩ nhiên, bên cạnh những biện pháp “truyền thống” như trấn áp lực lượng đối lập, khống chế và kiểm duyệt báo chí chặt chẽ, ông ta cũng không quên lợi dụng các “quy trình dân chủ” trước sự mất cảnh giác của Quốc hội cũng như nhân dân Nga để thâu tóm và duy trì quyền lực độc tài của mình. Từ năm 1995, Hiến pháp Nga quy định những người đứng đầu các tỉnh, miền phải được dân cử qua bầu cử rộng rãi. Năm 2006, theo “sáng kiến” của tổng thống Putin, Hiến pháp lại quy định người đứng đầu các thực thể tỉnh, miền, nước cộng hòa tự trị trong Liên bang Nga là do tổng thống bổ nhiệm. Ngày 14/11 và 26/11/2008, lần lượt Hạ viện (Duma) và Thượng viện (Hội đồng Liên bang) của Nga thông qua việc sửa đổi hiến pháp, kéo dài nhiệm kỳ tổng thống từ 4 năm lên 6 năm, một động thái được những người hiểu biết lúc bấy giờ nhìn nhận là nhằm mở đường cho “triều đại” mới kéo dài 12 năm của Putin bắt đầu từ năm 2012. Những giọt nước mắt của Putin tại buổi mit-tinh mừng chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống tối 4/3/2012 hẳn khiến không ít người yêu mến nước Nga trên thế giới phải se lòng, tuy không phải cho ông ta mà là cho nhân dân Nga, cả những người đã bỏ phiếu cho Putin cũng như những người đã lựa chọn đối thủ của ông ta.

Nền dân chủ Thụy Sỹ dựa trên một kiểu phân chia quyền lực mà đối với người ngoài, nó dường như mơ hồ và mang bản chất dòng tộc. Tuy nhiên, trụ cột của hệ thống này lại chính là công cụ trưng cầu dân ý do người dân đề xướng (tức là, không phải hình thức trưng cầu dân ý điển hình do các chính trị gia đề xuất như ở nhiều nước khác); 100.000 phiếu, chẳng hạn, là đã có thể khởi xướng một cuộc trưng cầu dân ý nhằm thay đổi hiến pháp liên bang thành văn.

Phương thức này được sử dụng sau tình trạng nguy ngập của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2, khi chính phủ tỏ ra miễn cưỡng trong việc từ bỏ những quyền lực không hạn chế mà nó giành được trong thời chiến. Một nhóm nhỏ người Thụy Sỹ gốc Pháp đã phát động chiến dịch đòi nhanh chóng quay trở lại hoàn toàn với nền dân chủ trực tiếp bằng cách lồng một điều khoản vào trong hiến pháp nhằm mục đích đảm bảo rằng chính phủ liên bang không thể lạm dụng những quyền lực khẩn cấp (emergency powers) của nó. Cuộc bỏ phiếu đại chúng vào ngày 11/9/1949 đã bãi bỏ các quyền lực thời chiến của chính phủ trung ương; ngược lại, nhiều chính thể dân chủ khác vẫn tiếp tục được phó thác những di sản toàn trị thời chiến một cách lâu dài.

(Nguồn: Wolfgang Kasper & Manfred E. Streit, Kinh tế học thể chế: Trật tự xã hội và chính sách công, trang 335-336.)

3.

Ngày 29/11/2005, giữa lúc tình hình tham nhũng ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp và nghiêm trọng trước sự bất lực của hệ thống pháp luật hiện hành, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Phòng chống tham nhũng, trong đó vai trò Trưởng Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng được giao cho Thủ tướng. Phải mất vài năm sau người ta mới “ngộ” ra rằng, với đầy đủ quyền hành pháp theo quy định của Hiến pháp, cộng thêm quyền chỉ đạo trực tiếp cả bộ máy tư pháp mà Luật PCTN trao cho, quyền lực của Thủ tướng CP quả là quá lớn trong khi lại thiếu hẳn một cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực hữu hiệu. Và, trái ngược với lời tuyên bố hùng hồn tại lễ nhậm chức Thủ tướng ngày 27/6/2006 (“Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay!”), chính Thủ tướng đương nhiệm lại là nhân vật đang phải chịu nhiều tai tiếng nhất về tham nhũng, vấn nạn chẳng những không bị đẩy lùi mà còn ngày càng tác oai tác quái kể từ ngày Luật Phòng chống tham nhũng ra đời và chức vụ Trưởng Ban Chỉ đạo PCTN được trao vào tay Thủ tướng với bao kỳ vọng của cả các vị Đại biểu Quốc hội lẫn nhân dân cả nước. Trong bối cảnh đó, để trấn áp những tiếng nói đối lập dám thách thức quyền lực của mình, ngài Thủ tướng đã không ngần ngại sử dụng những biện pháp khác nhau, kể cả khi chúng xâm phạm các quyền tự do cơ bản mà Hiến pháp quy định và bị cộng đồng quốc tế lên án như việc ban hành Quyết định 97/2009/QĐ-TTg ngày 24/7/2009 hay vụ tống giam nhà hoạt động Cù Huy Hà Vũ tháng ngày 5/11/2010.

Tuy nhiên, thay vì cải tổ hệ thống nhằm khắc phục tận gốc vấn đề thì giới lãnh đạo Việt Nam lại tìm cách sửa chữa sai lầm này bằng một sai lầm khác: Hội nghị TW 5 khoá XI diễn ra vào trung tuần tháng 5/2012 đã quyết nghị việc Tổng Bí thư BCHTW Đảng sẽ thay thế Thủ tướng trong vai trò Trưởng Ban Chỉ đạo TW về Phòng chống Tham nhũng, dĩ nhiên là lại theo một “quy trình dân chủ” mang đậm “bản sắc” của Đảng CSVN. Chưa ai dám chắc là tham nhũng có bị đẩy lùi như kỳ vọng của 175 vị Uỷ viên BCHTW Đảng kia hay không, song điều mà có lẽ ai cũng nhìn thấy rõ là nguy cơ lạm dụng quyền lực của Tổng Bí thư kiêm Trưởng Ban Chỉ đạo PCTN Trung ương (một người vốn đã có quyền lực bao trùm nay lại còn được trao thêm quyền chỉ đạo trực tiếp cả lực lượng công an lẫn bộ máy tư pháp), nhất là trong bối cảnh Đảng CSVN cũng như các chức danh lãnh đạo của nó từ trung ương tới địa phương không phải chịu sự điều chỉnh của bất kỳ một đạo luật cụ thể nào.

Theo các nhà khoa học chính trị, quyền lực là khả năng gây ảnh hưởng đến cách ứng xử của người khác bất kể họ có kháng cự hay không. Vì vậy, khi người đứng đầu một chính thể được trao quyền lực quá lớn hoặc lạm dụng quyền lực trong bối cảnh thiếu vắng các cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu thì hệ quả tự nhiên là người dân hay xã hội đó không được hành xử tự do một cách thích đáng. Thậm chí, chính thể đó còn có thể biến thái thành kiểu chế độ độc tài quái đản như Đức Quốc xã hay các chế độ độc tài đảng trị khác, bất chấp một thực tế là chúng lại giương cao những giá trị nhân văn cao cả nhất ngay từ đầu, như tiến trình lịch sử thế giới thế kỷ 20 đã cho chúng ta thấy.

Bất luận thế nào, sau bao trải nghiệm xương máu với quyền lực chính trị trong nền dân chủ “gấp vạn lần tư bản” kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố với thế giới về nền “tự do, độc lập” của Việt Nam trên quảng trường Ba Đình đến nay, thiết tưởng mỗi người dân Việt Nam cần khắc cốt ghi tâm câu thành ngữ phương Tây rằng “CÁI GIÁ CỦA TỰ DO LÀ SỰ CẢNH GIÁC THƯỜNG TRỰC!”.

L.A.H.

Hà Nội, 17/9/2012

[1] Sắc lệnh do Tổng thống Đức Paul von Hindenberg ban hành nhằm phản ứng trước vụ toà nhà Quốc hội Đức bị hoả hoạn vào ngày 27/2/1933; nó đã vô hiệu hoá nhiều quyền tự do dân sự cơ bản của công dân Đức. Với việc các đảng viên Quốc xã nắm giữ những vị trí then chốt trong chính phủ, sắc lệnh đã được sử dụng làm cơ sở pháp lý cho việc bỏ tù bất cứ ai bị coi là đối thủ của Đảng Quốc xã, và nhằm trấn áp những những ấn bản bị cho là thiếu “thân thiện” với sự nghiệp cách mạng của đảng này.

[2] Đạo luật do Quốc hội Đức thông qua và Tổng thống Paul von Hindenburg ký ban hành vào ngày 23/31933; nó cho phép nội các của Hitler ban hành pháp luật mà không cần sự tham gia của Quốc hội. Đạo luật quy định thời hiệu của nó là 4 năm trừ phi được Quốc hội gia hạn tiếp, điều mà trên thực tế đã xảy ra tới 2 lần.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN