30/12/2018

Yêu sách 2019 với tám điểm: “Đó là ý nguyện của nhân dân”

Tuấn Khanh

Từ lâu, Việt Nam được coi là một quốc gia độc lập, nhưng tôi nghĩ đó chỉ là độc lập trên danh nghĩa thôi.

Trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, mọi quyết sách trong cuộc chiến, rõ ràng không phải đến từ Hà Nội hay Sài Gòn, mà xuất phát từ Moscow, Bắc Kinh hay Washington. Việt Nam lúc đó chỉ là một quân cờ nhỏ trên bàn cờ quốc tế. Người Việt trở thành quân cờ trong tay kẻ khác.

Còn sau hội nghị Thành Đô (1990), tôi để ý thấy rõ: cứ trước mọi kỳ đại hội Đảng, là có phải có phái đoàn của Việt Nam sang xin ý kiến của Trung Quốc. Đại hội xong, nhân sự yên chỗ, thì lại có đoàn sang Bắc Kinh để báo cáo. Vậy thì độc lập ở chỗ nào? Không chỉ vậy, chẳng hạn như vụ Bauxite Tây Nguyên cũng là một ví dụ. Hơn 200 trí thức lớn của Việt Nam viết thư kiến nghị, can ngăn nhà cầm quyền về môi trường, về an ninh quốc phòng… nhưng họ vẫn bất chấp. Cho đến nay thì hậu quả tai hại khôn lường, mà tất cả chỉ vì muốn cung phụng cho Trung Quốc.

Nhiều người sợ rằng Trung Quốc mạnh lên, không thuận ý thì sẽ xảy ra chiến tranh như năm 1979. Thế nhưng điều đó không còn cần thiết, vì Bắc Kinh đã nắm được ngoại giao, tác động được cá nhân hay nội bộ, muốn lái đi đâu thì lái. Do đó cần đặt dấu hỏi là chúng ta có thật sự độc lập hay không?

clip_image002

Không thể không thấy bản Yêu sách 2109 với tám điểm gửi đến nhà cầm quyền Việt Nam, là một văn bản thú vị cũng như có sức tác động mạnh mẽ trong người dân. Thế nhưng cũng vì sự mạnh mẽ này mà không ít người lo ngại rằng đó là một thách thức với thể chế, nhất là vào thời buổi tòa án dành cho người bất đồng chính kiến diễn ra không ngớt.

Đặc biệt là sau vài tuần lễ, từ lúc bản Yêu sách 2019 được phát đi, mọi thứ đều là im lặng. Có thể đó sự im lặng của nhận thức thiện chí – tạm hy vọng – hoặc đó có thể là sự im lặng trước bão tố với những âm mưu thấp hèn.

Cuộc trò chuyện cuối năm với nhà báo Võ Văn Tạo, người ký tên trong bản Yêu sách 2019 này, đã mở ra thêm nhiều chiều suy nghĩ khác. Đặc biệt, về suy nghĩ của những người dấn thân cho sự thay đổi tốt đẹp của đất nước, vốn chỉ có trái tim yêu nước, sẳn sàng đối diện với dùi cui, ngục tù hay lý luận hàm hồ chủ nghĩa.

***

Một lần nữa, Yêu sách – hay thư ngỏ của giới trí thức Việt Nam gửi đến nhà cầm quyền đã rơi vào im lặng. Theo ông những người soạn ra bản Yêu sách 2019 có nên thất vọng trước sự im lặng này không?

Thật ra những thư ngỏ, kháng nghị hay yêu sách… của giới trí thức hay tranh đấu cho dân chủ tự do của Việt Nam, hầu hết mọi người khởi xướng hay ký tên đều không kỳ vọng gì nhiều. Vì theo dõi trong suốt bao nhiêu năm nay, cho thấy những người cộng sản cầm quyền không hề lắng nghe.

Nhìn lại để thấy, bản yêu sách được nhóm Ngũ long ở Paris chuyển đến hội nghị Hòa bình Versailles (1919) thì ít nhiều gì đó, người Pháp cũng tiếp thu, đặc biệt với hội nghị Mặt trận bình dân. Còn những tuyên bố, khuyến nghị… của giới nhân sĩ, tranh đấu… gửi đến nhà cầm quyền Việt Nam mấy chục năm nay, đều bị rơi vào quên lãng. Đó là chưa nói đến chuyện họ phản ứng ngược lại, khủng bố. Thi thoảng họ cũng bị tác động và chỉnh sửa, nhưng không đáng kể. Chính vì vậy, mục tiêu mà bản Yêu sách hướng đến nhà cầm quyền thì ít, mà cái chính là gửi gắm đến đồng bào.

Yêu sách nhằm thức tỉnh mọi người rằng sống trong mọi thời đại văn minh, thì con người cần có những quyền tối thiểu nào, và hôm nay chúng ta đã có những cái gì? Đây là cơ hội để so sánh 100 năm qua ở Việt Nam, quyền con người đang tiến lên hay thụt lùi? Đồng thời bản Yêu sách này cũng nhắm đến các quốc gia đang có mối quan hệ với Việt Nam để nói cho họ rõ hiện trạng nhân quyền ở Việt Nam hiện nay ở mức độ nào. Nếu có thiện chí với người dân Việt Nam, các quốc gia đó sẽ góp phần tác động với nhà cầm quyền.

Có tín hiệu khá mới mẻ trong bản Yêu sách 2019. Đó nơi là văn bản này hướng tới nhà cầm quyền không nhằm rõ là gửi cho ai, sau đó lại là nhằm đến nhân dân Việt Nam và Liên Hợp Quốc. Theo ông, sự thể hiện này có ngụ ý gì?

Bản Yêu sách của nhóm Ngũ Long là nhằm gửi đến nhà cầm quyền Pháp, đến hội nghị Versailles, để nói lên nguyện vọng của người dân xứ Đông Dương và người An Nam. Những người khởi xướng và cùng ký bản Yêu sách sau 100 năm này, nghĩ rằng mọi thứ nếu có lạc quan thì cũng không cải thiện nhanh được, có thể nhiều tháng, nhiều năm. Do đó, bản Yêu sách không đề tên ai cụ thể mà chỉ gửi chung đến những người giữ các cương vị trong bộ máy nhà nước Cộng sản Việt Nam thôi. Nhà cầm quyền ở giai đoạn nào thì cũng cần nhìn vào bản Yêu sách này.

Còn về nơi đến có cả Liên Hợp Quốc, đó là một hiện trạng đau lòng của người Việt Nam. Lẽ ra chuyện của người Việt Nam phải do người Việt Nam giải quyết, nhưng hiện thực rất khó khăn. Sau hàng chục năm dùng đến các biện pháp bưng bít thông tin, khủng bố, bộ máy công an trị… rất nhiều người dùng ngòi bút, suy nghĩ của mình lên tiếng chỉ mong nhân dân mình đỡ khổ thôi, cũng đã phải ngồi tù. Những người tranh đấu cho quyền lợi người dân luôn dùng hết sức mình nhưng cũng tận dụng mọi khả năng yểm trợ từ quốc tế. Nhận định về tiêu đề nơi đến của Yêu sách, theo cách hiểu của tôi là như vậy.

Sự mới mẻ đó có thể dễ dàng nhìn thấy, nhưng nó cũng tạo thêm các luồng dư luận ngay sau khi Yêu sách 2019 ra mắt. Đã có những bình luận lo ngại rằng việc đặt ra yêu sách như vậy với Hà Nội, là có ý phủ nhận tính chính danh của hệ thống cầm quyền, và thậm chí là thách thức quyền cai trị?

Bản Yêu sách này không xuất phát từ một hệ thống hay đảng phái đối lập nào, mà chỉ là của những người đứng trong hàng ngũ nhân dân. Chính bản Yêu sách năm 1919 cũng nằm trong một tư thế như vậy. Đây là ý nguyện của nhân dân.

Có là một kiểu thách thức với nhà cầm quyền hay không? Tôi nghĩ mọi thứ vẫn ở mức ôn hòa nhất, đặc biệt gợi nhớ lại lịch sử có liên quan đến nhà cầm quyền.

Bản Yêu sách 2019 chỉ dựa vào những gì của 100 năm trước mà thanh niên Nguyễn Ái Quốc được nhóm Ngũ Long soạn thảo và nhờ mang đi đến hội nghị Versailles. Mà Nguyễn Ái Quốc được coi là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Giới nhân sĩ trí thức, tranh đấu muốn giới thiệu sự thiện chí của mình trong việc nêu lại những tiêu chí mà hoàn toàn không có gì khác biệt với bản Yêu sách 1919, do Nguyễn Ái Quốc phát đi.

Đọc bản Yêu sách 2019, ai cũng hiểu và tự hỏi rằng vì sao 100 năm rồi mà vẫn phải lặp lại bản Yêu sách 8 điểm – mà về cơ bản thì gần như hoàn toàn giống nhau. Sự nhắc lại này muốn nhấn mạnh rằng 100 năm qua, các quyền cơ bản của con người trên đất nước vẫn chưa được đáp ứng. Thậm chí có những mặt còn tệ hại hơn.

Cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ, tiến bộ xã hội nhằm xây dựng một nước Việt cường thịnh vẫn là cuộc đấu tranh chung của người Việt Nam yêu nước thương nòi, cho đến bây giờ. Tôi nghĩ ở đây không có bất kỳ sự thách thức nào. Tuy vậy, về phía những người ngồi trong guồng máy lãnh đạo của Nhà nước Cộng sản Việt Nam ắt cũng có thể nhột nhạt vì đây là câu chuyện liên đới với chính lãnh tụ sáng lập đảng. Không có lý do gì mà những người được coi là hậu duệ của Nguyễn Ái Quốc lại từ chối đáp ứng.

Nhưng bản Yêu sách 1919 là để đối với bọn cai trị và đô hộ… khi đem một chủ nghĩa ngoại lai vào áp đặt lên lưng nhân dân và đất nước Việt Nam. Còn bây giờ, Việt Nam đã là một quốc gia độc lập, và thậm chí tuyên bố mới đây của đại diện Việt Nam trước kỳ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát Toàn cầu (UPR) của Liên Hợp Quốc là đã thực hiện được đến 96% các hạng mục về nhân quyền…?

Từ lâu, Việt Nam được coi là một quốc gia độc lập, nhưng tôi nghĩ đó chỉ là độc lập trên danh nghĩa thôi.

Trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, mọi quyết sách trong cuộc chiến, rõ ràng không phải đến từ Hà Nội hay Sài Gòn, mà xuất phát từ Moscow, Bắc Kinh hay Washington. Việt Nam lúc đó chỉ là một quân cờ nhỏ trên bàn cờ quốc tế. Người Việt trở thành quân cờ trong tay kẻ khác.

Lộ trình dân chủ hóa cho Việt Nam

Nguyễn Kiều Dung (1)

Lâu nay nhiều ý kiến muốn vạch lối Việt Nam nên thế này, Việt Nam nên thế kia, đó là những câu nói chưa có chủ từ, vì Việt Nam nào chứ?

Hiện nay có hai cái đều gọi là VN: Việt Nam B là một VN với danh nghĩa chính thức, do nhà cầm quyền CS đại diện trước quốc tế và toàn quyền điều hành trong nước. Một Việt Nam A là VN của nhân dân VN, mang hồn cốt của dân tộc VN mà đại diện là tầng lớp Dân chủ tiến bộ hiện nay. Đó là 2 Việt Nam khác nhau, sinh lộ của anh này là tử lộ của anh kia, lối thoát của anh này thì anh kia chống lại.

Nếu vạch lộ trình dân chủ cho nhân dân Việt Nam (tức lộ trình của anh A) thì bên cạnh việc XÂY (lực lượng của mình) phải vạch được cách làm thế nào để thắng lực cản của anh B (tức nhà cầm quyền), nếu không thì việc XÂY này cũng chỉ nói cho vui. Vì chỉ Tập Cận Bình mới vạch được lộ trình cho anh B thôi, tiếng nói của DÂN không bao giờ lọt tai họ.

Hà Sĩ Phu

Khi xem xét các đề xuất lộ trình dân chủ trước đây, có hai điều đặc biệt quan trọng mà tôi thường thấy thiếu vắng, đó là: (i) Xây dựng nền móng tri thức cho một nền dân chủ (bao gồm nâng cao dân trí) và (ii) Đảm bảo nền dân chủ vận hành hiệu quả.

Hoàn cảnh Việt Nam hiện nay rất khác với Liên Xô và Đông Âu thời 1989. Như tôi luôn khẳng định (2): 43 năm sau thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam đang ở tính trạng đặc biệt yếu kém, với thu nhập/đầu người và năng suất lao động đứng gần bét ASEAN (chỉ hơn Campuchia, thua cả Lào). Mức thu nhập đầu người 4.4 triệu/tháng năm 2017 là mức rất thấp, không đủ sống. Luật pháp, chính trị, giáo dục, báo chí, văn hóa, khoa học kỹ thuật, tài nguyên môi trường đều ở mức đáng xấu hổ, nhân cách người Việt bị hủy hoại nặng nề, do việc lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm triết lý chủ đạo và việc chính trị hóa trường học. Những người can đảm nhất dám phê phán để xã hội tốt lên thì bị đàn áp, trong khi những kẻ ngậm miệng, luồn cúi thì được tôn vinh. Đó là những minh chứng sống động cho năng lực lãnh đạo kém cỏi, triết lý quản lý xã hội bệnh hoạn của Đảng cũng như sự thất bại của mô hình chính trị. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt nam chưa trên đà lao xuống vực như Liên Xô, Đông Âu thời 1989 hay Venezuela mới đây chưa khiến cho các lãnh đạo Đảng phải hốt hoảng cân nhắc chuyển đổi chính trị ngay.

Có một số người hy vọng TBT/CTN Nguyễn Phú Trọng sẽ trở thành một Gorbachev của Việt nam. Cho dù (một xác suất vô cùng nhỏ) ông Trọng có tư tưởng như vậy, người Việt cần phải căn cứ vào tình hình thực tế của Việt Nam

để thấy rằng mọi sự sẽ không diễn ra như Liên Xô. Nghĩa là đứng trước một ngôi nhà đổ nát sắp sụp, lãnh đạo phải quyết định đánh bộc phá để phá sập cho nhanh để xây cái khác. Nhiều người khác phân tích những lời nói của ông Trọng và cảm thấy thất vọng. Tôi nghĩ rằng ông Trọng nói gì không quan trọng. Có nhiều điều ông ấy nói nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, lại làm ngược lại. Chẳng hạn vụ nhất thể hóa, nhiều người đã chỉ ra cách đây 2 năm ông ấy nói hoàn toàn khác. Hoặc khi mới trở thành Tổng Bí thư, ông Trọng cho biết không có ý định làm điều gì đột phá, chứ không hề thổ lộ một kế hoạch “đốt lò” rầm rộ như hiện nay. Nếu thời cơ chưa đủ chín, số người bảo thủ trong BCHTƯ còn đông đảo, thì việc sớm hở ra “tư tưởng Gorbachev” sẽ chỉ khiến các thế lực bảo thủ phản ứng dữ dội và tìm cách tiêu diệt. Bài học Triệu Tử Dương vẫn còn nguyên giá trị.

Tuy nhiên, tôi đồng ý rằng hi vọng ông Trọng trở thành một Gorbachev Việt nam là vô cùng nhỏ và không đáng để trông đợi. Khả năng cao là ông ấy chỉ có ý định chống tham nhũng, tinh giản bộ máy nhà nước, và giảm bớt ảnh hưởng của Đảng (thông qua cắt giảm số tờ báo tuyên truyền cho Đảng, theo thông tin báo chí đã đưa), đợi khi nào Việt Nam trở nên giàu có rồi tính tiếp. Nhưng nếu vậy, không có gì đảm bảo những người kế nhiệm sẽ tuân thủ kế hoạch của ông, và công sức của ông sẽ xuống sông, xuống biển. Đấy là chưa kể, cứ tiếp tục ưu tiên phát triển kinh tế trong khi kết quả rất kém như thời gian vừa qua, đồng thời duy trì những chủ thuyết phát triển cũ kỹ giáo điều như Chủ nghĩa Marx-Lenin đến nỗi phá hoại nền luật pháp, nền giáo dục, nền chính trị, nền báo chí, nền khoa học…, tạo sự giả dối tràn lan trong xã hội, hủy hoại nhân cách người Việt, là cái giá quá đắt mà dân tộc phải trả.

Trên thực tế, tất cả những gì đáng gọi là thành tích của Đảng khiến Việt Nam tạo được ấn tượng đối với thế giới là chiến thắng trong đối đầu quân sự với Pháp và Mỹ giai đoạn trước 1975. Những điều Đảng đã thực hiện từ khi thống nhất hai miền Nam - Bắc đến nay chỉ là sửa sai chứ không đáng gọi là thành tích. Xã hội miền Nam thời Việt Nam Cộng hòa đã có những nền tảng tốt của một kinh tế thị trường và của một nền dân chủ đa nguyên. Thế nhưng sau 1975, Đảng phá bỏ hết những nền tảng đó, để rồi năm 1986, nhận ra sai lầm lại quyết định sửa sai bằng phá rào Đổi mới để áp dụng kinh tế thị trường. Ngay cả công cuộc chống tham nhũng ngày nay của ông Trọng cũng chỉ là sửa sai (các đảng viên tham nhũng cho nên Đảng phải trừng phạt) thậm chí còn mang tiếng là đấu đá nội bộ chứ không phải thành tích. Suốt từ 1975 đến nay, hết thế hệ lãnh đạo này đến thế hệ lãnh đạo khác của Đảng nối đuôi nhau đi vào lịch sử như một đám người thiển cận, bất tài, thậm chí kìm hãm sự phát triển của quốc gia.

Cách duy nhất để ghi điểm với nhân dân lúc này là cởi mở mạnh mẽ về chính trị. Ông Trọng (và những người kế nhiệm ông) cần thấy được sứ mệnh lịch sử của mình và nỗ lực tối đa để dân chủ hóa. Quan điểm của tôi là ông Trọng nên tập trung sức lực loại bỏ những thành phần bảo thủ và bổ nhiệm những người cấp tiến vào những vị trí cao nhất trong Đảng để chuyển đổi dân chủ càng sớm càng tốt để bảo vệ thành quả Đổi mới Chính trị. Việc này thậm chí còn quan trọng hơn là chống tham nhũng.

Bên cạnh đó, những người Việt yêu quý tự do cũng cần thiết kế một lộ trình dân chủ có khả năng giải tỏa những lo lắng của người dân, và chuẩn bị cho một biến cố đặc biệt (nếu có), chẳng hạn một cú sốc kinh tế, chính trị, hoặc khoa học kỹ thuật, dẫn đến việc Đảng bắt buộc phải nhanh chóng chuyển đổi chính trị. Có 2 cách để tuyên truyền cho người dân: (i) Tuyên truyền rộng rãi cho đại chúng; (ii) Tuyên truyền cho nhóm người nổi tiếng (những người có ảnh hưởng đối với xã hội nhờ vị trí lãnh đạo, nhờ công việc mà họ phụ trách, hoặc khả năng thu hút sự quan tâm của công chúng nhờ tài năng hoặc hoàn cảnh đặc biệt, v.v…). Trước nay mọi người vẫn chỉ quan tâm chủ yếu đến cách (i). Cách này tôi nghĩ không đem lại nhiều hiệu quả lắm với điều kiện hiện nay. Tôi nghĩ hiện nay nên tập trung vào cách thứ hai. Các tổ chức chính trị, dân sự ở ngoài có thể thành lập các trang web “Những người Nổi tiếng” để thu hút sự quan tâm của họ nếu như không thể tiếp cận họ.

Tôi đề xuất một Lộ trình Dân chủ gồm 3 giai đoạn như dưới đây. Trong mỗi giai đoạn có nhiều nhóm hoạt động được tiến hành song song.

LỘ TRÌNH DÂN CHỦ CHO VIỆT NAM

(Dự kiến tổng thời gian để hoàn thành lộ trình: 7 -10 năm)

Các hoạt động

GIAI ĐOẠN I

(Giai đoạn I lẽ ra phải được tiến hành từ cách đây 30 năm, khi bắt đầu Đổi mới. Bây giờ cũng là rất muộn để bắt đầu sửa sai.)

Xây dựng nền móng tri thức cho một nền dân chủ

Xây dựng tẩng lớp học giả Pháp lý và Chính trị đẳng cấp, liêm chính và nhân bản (3).

Chấm dứt chính trị hóa hệ thống nghiên cứu và giảng dạy.

Phổ biến quan điểm khuyến khích học hỏi tất cả những tinh hoa Pháp lý và Chính trị của thế giới trên truyền thông đại chúng.

Xây dựng chương trình giáo dục Pháp lý và Chính trị hiện đại từ bậc tiểu học trở lên.

Xây dựng triết lý chính trị chủ đạo của quốc gia phù hợp với một nền chính trị đa nguyên. Chuyển chủ nghĩa Marx-Lenin trở thành triết lý chính trị thứ yếu.

Thảo luận rộng rãi về mô hình dân chủ phù hợp cho Việt Nam.

Phát triển các quyền dân sự

Xây dựng nhà nước pháp quyền (tam quyền phân lập)

Phát triển các thể chế/chính sách nhằm tăng cường các quyền dân sự (quyền biểu tình, quyền lập hội, các tổ chức dân sự độc lập, xã hội dân sự, báo chí tư nhân…)

Phát triển các thể chế/chính sách Dân chủ - Hòa giải - Khoan dung để phục vụ chuyển đổi dân chủ.

Ân xá vô điều kiện tất cả các tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm.

Chỉnh đốn Đảng để phục vụ dân chủ hóa

Tiếp tục quyết liệt chống tham nhũng và các loại tội phạm khác liên quan đến đảng viên.

Loại bỏ các thành phần bảo thủ, có tư tưởng ngăn cản tiến trình dân chủ hóa trong đội ngũ lãnh đạo Đảng. Bổ nhiệm những người có tư tưởng cấp tiến vào đội ngũ lãnh đạo cao nhất.

GIAI ĐOẠN II

(Giai đoạn II có thể bắt đầu ngay sau khi lực lượng ủng hộ dân chủ trong BCHTƯ Đảng lấn át được lực lượng bảo thủ)

Thay đổi bản chất mô hình chính trị

Đổi tên nước, tên đảng (không mang tên Đảng cộng sản, nhà nước Xã hội Chủ nghĩa nữa, theo đề nghị năm 2015 của nhóm 126 trí thức).

Trung lập hóa quân đội (theo đề nghị trước đây của nhiều nhân sỹ, trí thức).

Lan tỏa tinh thần Dân chủ - Hòa giải - Khoan dung trong toàn xã hội

Đàm phán các nguyên tắc dân chủ, ân xá, và nhân quyền cho những người liên quan đến Đảng

Đảng Cộng sản và đại diện các đảng phái, tổ chức dân sự, chính trị đối lập người gốc Việt cả trong và ngoài nước tiến hành đàm phán để thống nhất các nguyên tắc bảo vệ quyền lợi và ân xá cho các đảng viên cộng sản, và đảm bảo quyền lợi của những người có công với Đảng trong 3 cuộc chiến tranh, đảm bảo các (đương/cựu) nguyên thủ quốc gia và thân quyến được bảo vệ quyền lợi và an ninh suốt đời nếu sinh sống ở Việt Nam. Các cuộc đàm phán này sẽ được giám sát bởi các tổ chức quốc tế.

Trong quá trình đàm phán, tiến hành trưng cầu dân ý rộng rãi về các nguyên tắc kể trên để điều chỉnh cho phù hợp với nguyện vọng của công chúng.

Các nguyên tắc được thống nhất sau các cuộc đàm phán này sẽ được ký cam kết và ghi vào Hiến pháp dân chủ trong tương lai.

Đàm phán với các quốc gia dân chủ để hình thành liên minh bảo trợ chuyển đổi dân chủ

Đảng Cộng sản và đại diện các đảng phái, tổ chức dân sự và chính trị đối lập gốc Việt đàm phán với các quốc gia phát triển có nền dân chủ vững mạnh (v.d. Mỹ, Canada, Úc, cộng đồng châu Âu) để hình thành một liên minh bảo trợ dân chủ cho Việt Nam trong vòng 20-50 năm ngay sau khi chuyển đổi dân chủ. Liên minh này có thể đưa quân đội, cố vấn chính trị/quân sự đến đóng trên lãnh thổ Việt nam và được phép can thiệp quân sự khi cần thiết để đảm bảo nền dân chủ và nhân quyền ở Việt nam vận hành tốt.

Khi gần kết thúc thời hạn 20-50 năm, nhân dân Việt Nam sẽ bỏ phiếu quyết định về việc có cần gia hạn bảo trợ hay không.

Tiếp tục các nhóm hoạt động của Giai đoạn I

Tiếp tục hoàn thiện các công việc còn dang dở của giai đoạn I.

GIAI ĐOẠN III

(Giai đoạn III có thể bắt đầu ngay khi các cuộc đàm phán của giai đoạn II kết thúc)

Giảm thiểu những xáo trộn, đấu tố và trả thù.

Khuyến khích các (đương/cựu) lãnh đạo Đảng Cộng sản còn nhiều nghi vấn tham nhũng và các tội phạm khác nhưng chưa thể xử lý hết ra nước ngoài định cư. Ân xá phần lớn những đối tượng này sau một khoảng thời gian, khi tinh thần hòa giải, khoan dung trong xã hội đã đạt mức tốt.

Sửa đổi và thực thi Hiến pháp dân chủ

Sửa đổi Hiến pháp để trở thành một hiến pháp thực sự dân chủ (cho phép đa đảng, bầu cử dân chủ toàn quốc v.v…) và đưa vào Hiến pháp những nguyên tắc đã được đàm phán ở Giai đoạn II.

Liên minh các quốc gia bảo trợ đem quân đội và cố vấn đến đóng quân lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam. Thực thi các điều khoản khác trong Hiến pháp.

Đảm bảo các nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ và chống lại ảnh hưởng phi dân chủ từ bên ngoài

Hiến pháp dân chủ cần ghi rõ đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, ngăn ngừa và chống lại mọi tác động xấu từ các quốc gia phi dân chủ, và từ các tổ chức, và cá nhân liên quan đến các quốc gia đó. (Điều này cho phép thực thi các biện pháp ngăn chặn những hành vi xấu từ Trung Quốc và cộng đồng Hoa kiều ở Việt Nam).

Tiếp tục một số nhóm hoạt động của Giai đoạn I.

Tiếp tục hoàn thiện các công việc còn dang dở của giai đoạn I.

Con đường dân chủ hóa của các quốc gia trên thế giới rất đa dạng và phong phú. Một số quốc gia đã tiến hành chuyển đổi một cách rất hòa bình (chẳng hạn như Mông Cổ). Hạnh phúc là trên đường chứ không chỉ là đích đến. Điều quan trọng là người dân Việt Nam không nên mất niềm tin. Mỗi người hãy tích cực lên tiếng đòi hỏi các quyền dân sự chính đáng, trước tiên vì lương tâm của mình, chưa nói đến những mục tiêu to lớn hơn như chuyển đổi xã hội.

GIẢI THÍCH LỘ TRÌNH DÂN CHỦ

Xây dựng tầng lớp học giả Pháp lý và Chính trị đẳng cấp, liêm chính, và nhân bản: việc này sẽ hỗ trợ: (i) Nâng cấp các ngành khoa học Pháp lý và Chính trị nói riêng, và toàn bộ nền khoa học Việt Nam nói chung; (ii) Cải tạo hiệu quả hệ thống luật pháp, cơ chế, và chính sách; (iii) Tăng cường các quyền dân sự cho người dân thông qua thiết kế các thể chế/chính sách Dân chủ song song với việc thiết kế các thể chế/chính sách Hòa giải và Khoan dung; (iv) Lan tỏa tinh thần Dân chủ - Hòa giải - Khoan dung trong toàn xã hội; (v) Góp phần chuyển đổi dân chủ một cách hòa bình và bền vững.

1. Xây dựng Nhà nước pháp quyền: đây là gợi ý của nhiều cơ quan phát triển quốc tế, chẳng hạn Ngân hàng Thế giới (4). Ở một số quốc gia như Campuchia, tam quyền phân lập được ghi vào Hiến pháp. Ở nhiều quốc gia khác, mô hình này không được ghi vào Hiến pháp nhưng cũng phân tách thành ba cơ quan (hành pháp, lập pháp, tư pháp) riêng biệt. Ngoài ra, theo khuyến cáo của các cơ quan phát triển quốc tế, quốc hội cần bao gồm các nhà lập pháp chuyên nghiệp và có năng lực chuyên môn pháp lý cao (5). Không nhất thiết phải có một nhà nước pháp quyền hoàn chỉnh mới có thể tiến hành Giai đoạn III, tuy nhiên các thành tố cơ bản của nhà nước này phải được xây dựng ngay từ Giai đoạn I.

2. Chỉnh đốn Đảng để phục vụ dân chủ hóa: Đây là các hoạt động cần thiết để thu hồi lại các tài sản cho quốc gia và trừng phạt đáng kể các tội phạm trước khi thực thi Hiến pháp dân chủ ở Giai đoạn III. Nhóm các hoạt động này cần được Đảng tự thực hiện ở Giai đoạn I và II để tránh đấu tố và trả thù bởi các nhóm đối lập.

3. Thay đổi tên Đảng: đây là việc riêng của Đảng Cộng sản. Tuy nhiên sự thay đổi là cần thiết để kế thừa lợi ích từ những thành tích của Đảng trong quá khứ và tránh những ảnh hưởng xấu từ thuật ngữ Cộng sản, và tăng tính cạnh tranh của Đảng trong một nền dân chủ đa nguyên.

Quốc thể. Trăm đường trốn chạy. Chung một tủi hờn

Nguyễn Ngọc Chu

Chiếc áo quốc thể duy nhất còn lại của họ là do tổ tiên truyền đời. Để mỗi lần đất nước lâm nguy, họ lại tự nguyện khoác lên mình hiến dâng cả tính mạng.

clip_image002

Chưa kịp giãi bày cuộc trốn chạy về phương Đông – nơi “Đất nước mặt trời mọc”, thì bàng hoàng nghe tin cuộc trốn chạy của 152 đồng bào đến Trung Hoa Dân Quốc.

Họ trốn chạy đến đó không phải để làm bộ trưởng, cũng không phải để làm giáo sư, giám đốc. Họ trốn chạy để làm những việc cơ cực, nặng nhọc, vì một đồng lương ngược đãi, cam chịu một thân phận rẻ rúng.

Thì vẫn biết hàng ngày hàng giờ, nhiều đồng bào phải rứt ruột bỏ quê hương mà đi. Nhưng vẫn nuốt nước mắt tự an ủi vì không nghe, không thấy. Điếc mù câm - đôi khi cũng có chút hữu dụng. Nhưng phải tự điếc, tự mù, tự câm, thì đó là khổ nạn.

Cửa ải nhập cảnh

Bước xuống phi trường Kansai, dẫu có Visa nhập cảnh, đã chụp ảnh, lăn tay, photocopy hộ chiếu, người Việt Nam vẫn phải qua một cuộc sát hạch tại trạm xuất nhập cảnh. Người có hộ chiếu nhiều lần xuất nhập cảnh, đặc biệt là Visa vào Nhật Bản và các nước Âu Mỹ, biết khá tiếng Anh thì cuộc sát hạch nhanh chóng kết thúc. Ngược lại là chuỗi dài những câu hỏi.

Ngay cả những doanh nhân, có tiền, đến để làm việc, hay tham quan, mà xuất ngoại ít, yếu tiếng Anh, đều bị phỏng vấn dài. Trước khi cho qua, cảnh sát biên phòng còn dặn dò, đừng làm điều gì để ảnh hưởng đến người Nhật viết thư mời xin Visa. Không phải họ lo cho mình. Mà họ lo cho chính đồng bào của họ. Tính cách Nhật đã tỏa sáng ngay từ biên giới nước Nhật.

Chạnh lòng, tìm hiểu nguyên nhân, thì biết rằng trước đó đã có người Việt bỏ trốn. Vừa đến “ Đất nước mặt trời mọc” mà mặt trời đã lặn trong tâm. Ngoài trời thì mới bình minh, mà trong lòng thì đã hoàng hôn.

Học không xuể

Muốn đánh giá đời sống và nhịp sống của một nước, hãy đến ga tàu điện ngầm. Tàu điện ngầm ở Tokyo có hơn 300 ga. Tàu đi đúng từng giây. Phục vụ ở ga tàu điện ngầm khá nhiều người đứng tuổi. Những dòng người hối hả xuôi ngược liên tục cho đến đêm khuya. Hàng triệu người đi lại mà nhà ga và trên tàu sạch bong. Người Nhật không để lại thứ gì nơi mình ngồi. Tất cả được gói gém trong túi nilon mang theo người khi rời khỏi chỗ. Điều mà ngay cả ở trên máy bay ở Việt Nam cũng chưa làm được.

Những tòa nhà cao tầng xây nhiều chục năm vẫn đẹp. Trong khi khu vực mới của Hà Nội ở đường Phạm Hùng không tìm thấy được một tòa nhà bắt mắt. Để thấy sự cách biệt không bắt kịp, ngoài tự sướng bằng những sáo từ.

Người Nhật không nói đến Công Nghiệp 4.0, mà đâu đâu cũng ngập tràn công nghệ. Ngay cả trên đồng ruộng vùng nông thôn bao la cũng đan chen những “cánh đồng” pin mặt trời. Sự sáng tạo có mặt khắp mọi nơi. Không phải chỉ ở trong các phòng sáng chế của các tập đoàn lớn. Không chỉ ở các trường đại học và các viện nghiên cứu. Mà từ người làm bánh đến người trồng rau, người Nhật không ngừng sáng chế. Ở đâu, sản phẩm của người Nhật cũng không ngừng được hoàn thiện.

Là kẻ bại chiến, thế mà người Nhật đã trở thành đối thủ của bất cứ cường quốc nào. Tính kỷ luật của người Nhật cũng không kém tính nguyên tắc của người Đức. Có khác chăng là ở hình thức thể hiện.

Đến bố mẹ mà còn không trung lập được với con cái, còn cảm tình người con này, ưu tiên người con kia. Thì đối với người dưng làm sao mà trung lập như nhau? Làm sao mà chúng ta có thể không có bạn bè, người thân, đứng một mình trong một thế giới biến động không ngừng?

Người Nhật luôn tìm kiếm cơ hội, tìm kiếm bạn bè, tìm kiếm đồng minh. Họ tìm kiếm cơ hội, bạn bè, đồng minh ở cả nước giàu lẫn nước nghèo, ở cả nước lớn lẫn nước bé, bao gồm cả nước mạnh lẫn nước yếu. Người Nhật là bậc thầy về tìm kiếm cơ hội, bạn bè, đồng minh. Vì thế mà họ đã hùng cường lại còn hùng cường hơn.

Người Nhật chu đáo với khách, nhưng càng rất chu đáo với chính người Nhật. Không ai nói ra, càng không hô khẩu hiệu, nhưng máu giống nòi mãnh liệt cuộn chảy trong máu mỗi người Nhật.

Chữ Nhật nhiều chữ giống Trung Quốc. Nhiều nơi người Nhật đề cả tiếng Anh lẫn tiếng Trung Quốc. Có khá nhiều người Trung Quốc. Nhưng những người Trung Quốc ở Nhật đã cam chịu tính cách Nhật. Không lỗ mãng nghênh ngang, ồn ào, bẩn, trắng trợn đòi trả Nhân Dân Tệ như ở Đà Nẵng hay Nha Trang. Người Trung Quốc ở Nhật đã nhập gia tùy tục, nép mình trong khuôn mẫu của pháp luật và luân lý Nhật.

Đi đến đâu cũng thấy phải học. Học không xuể.

Trăm đường trốn chạy. Chung một tủi hờn.

Trong chiến tranh, chúng ta có dòng người trốn chạy. Hòa bình vẫn tiếp tục trốn chạy. Đến bây giờ vẫn không ngừng trốn chạy.

Trong chiến tranh, dòng người trốn chạy chủ yếu là do chính trị. Thì nay, không chỉ vì chính trị, mà còn những nguyên do khác.

Kẻ có tiền trốn chạy bằng thẻ xanh.
Kẻ ít tiền trốn chạy để bán sức lao động.
Kẻ vay tiền trốn chạy bằng mạo hiểm sinh mạng.

Kẻ trốn chạy cầu mong tình duyên.
Kẻ trốn chạy kiếp đời nô lệ tình dục.
Kẻ trốn chạy bán cả giọt máu đào nòi giống.
Kẻ trốn chạy bị cướp đi nội tạng.

Kẻ trốn chạy để tìm cơ hội hợp tác.
Kẻ trốn chạy để tìm kiếm kiến thức.
Kẻ trốn chạy vì đời sống an toàn…

Trăm đường trốn chạy.
Chung một tủi hờn.

Bao giờ thì đồng bào thôi khỏi phải trốn chạy?

Khi mà xuất khẩu lao động còn là chỉ tiêu góp phần tăng GDP và ngoại tệ cho Chính phủ, thì chừng đó đồng bào còn mãi phải trốn chạy.

Trốn chạy về đâu?

Trốn chạy về phương Tây.
Trốn chạy về phương Đông.
Nếu có thể, đã trốn chạy lên sao Kim, sao Hỏa.

Quốc thể? Tại sao lại phải trốn chạy?

Một Dân Tộc đã vượt qua những năm dài chiến tranh khốc liệt thì không thể không vượt qua được những khó khăn mưu sinh. Cái gốc, với nhiều người trốn chạy, là do môi trường mưu sinh chưa tốt, chưa tốt đến nỗi phải thúc ép họ đi tìm môi trường mưu sinh ở xứ người.

Từ đó để thấy được, cải thiện môi trường mưu sinh là cực kỳ quan trọng và cấp bách. Đừng tự ru ngủ bằng những bình chọn mơ hồ “thành phố đáng sống”, “đất nước đáng sống”, “con hổ”, “con rồng” - trong khi hàng ngàn đồng bào phải kéo nhau vượt biên xa xứ.

Chúng ta vui mừng vì lần đầu tiên tăng trưởng GDP vượt 7%. Chúng ta vui mừng vì GDP đạt 245 tỷ USD. Những điều đó không sai.

Nhưng một đất nước 95 triệu dân mà đạt GDP chỉ có 245 tỷ USD, trong khi Singapore chỉ có dân số 5 triệu 638 ngàn 700 người lại có GDP là 349 tỷ 659 triệu USD. Quốc thể chúng ta ở đâu?

Trong cuộc trốn chạy của hàng chục ngàn đồng bào có lỗi của mỗi chúng ta. Chúng ta đã không chung tay để thay đổi môi trường sống về hướng tốt hơn. Chúng ta cam chịu một môi trường sống ngày càng thêm ô nhiễm.

Môi trường mưu sinh trùm chứa nhiều bình diện của một kiếp người, không đơn thuần chỉ là miếng ăn, kiếm sống.

Nhìn đồng bào của mình bị còng tay dắt đi trong con mắt khinh rẻ của người, một nỗi xót thương quặn thắt trào dâng nghẹn họng. Cũng là cùng kiếp người, sao thân phận đồng bào mình bị đẩy trôi đến lớp đáy của xứ người? Ai đã buộc họ đến nông nỗi này?

“Lưng rồng”, “Tàu” & Chiến tranh Biên giới 17-2

Huy Đức

clip_image002

Tôi không thích Lưng Rồng nhưng vô cùng thất vọng khi nghe nói cuốn sách này bị cấm. Không thích vì nhận thấy Đỗ Hoàng Diệu vẫn còn bị bóng đè, tuy Lưng Rồng không còn là sản phẩm của một cô gái mới về nhà chồng (như trong Bóng đè) nữa. Ngòi bút điêu luyện của Diệu bóc tách không thương tiếc những khao khát thân xác của một phụ nữ có chồng "lên Biên giới" và cũng ngay lập tức hả hê trước những dằn vặt đoan chính của nàng.

Tấm lưng đĩ thoã của một "hậu duệ Thuý Kiều" bắt đầu được xăm Rồng vào lúc 4 giờ sáng, ngày 17-2.

Sử dụng não trạng tuyên huấn mà đọc văn chương; lấy sự sợ hãi các ám chỉ mà soi xét tính ẩn dụ trong từng con chữ thì giật mình trước Lưng Rồng là không có gì bất ngờ. Nhất là thời điểm tưởng niệm 40 năm cuộc chiến tranh Biên giới.

Tôi không thích Bóng đè cũng như Lưng Rồng vì chủ nghĩa dân tộc được Diệu nói ở đây vừa rất tự ti, vừa rất yếm thế. Nhưng tôi tôn trọng cái cách mà Diệu nhìn vấn đề "Tàu", không phủ nhận là điều đó tồn tại một phần trong tâm thức người Việt. Tâm thức của người Việt trước Tàu là những điều không chỉ các nhà sử học mà rất cần được cả các nhà văn mổ xẻ.

Điều tôi đang tự hỏi, là bây giờ Cục Xuất bản cấm Lưng Rồng, liệu vài tuần nữa, Tuyên giáo có cấm nói về cuộc chiến tranh Biên giới. Chỉ còn 8 tuần nữa là tới ngày 17-2, ngày quân Trung Quốc gây chiến tranh 1979. Cuộc chiến tranh chưa xa, hàng nghìn liệt sỹ ở Vị Xuyên vẫn chưa tìm thấy xác. Cuộc chiến tranh cũng không còn quá gần để ta phải sợ nó tấy lên, mưng mủ.

Hôm trước tôi có nói đến cuốn Phán xét; cuốn sách này không mới về tư liệu mà mới ở chỗ, lần đầu tiên một Thượng tướng An ninh sử dụng tư liệu lịch sử nhiều nguồn để khẳng định rằng, nguồn gốc Cộng sản của Việt Minh là cản trở quan trọng nhất để các phe phái công nhận độc lập cho Chính phủ Hồ Chí Minh và ý thức hệ đóng vai trò quyết định khi đặt VN vào các cuộc chiến sau đó. Phán xét cũng nói rất nhiều đến vai trò Trung Cộng trong việc chia cắt nước ta ở sông Bến Hải.

Phán xét cũng nói đến súng đạn và cố vấn TQ, đặc biệt nói đến con số 320 nghìn binh sỹ Trung Quốc từng có mặt ở miền Bắc Việt Nam một thời gian trong thập niên 1960s.

Chúng ta biết rất nhiều về Lê Duẩn với vai trò như một người hùng chống Trung Quốc. Nhưng chúng ta rất ít nói đến vai trò TQ đứng rất lâu sau lưng Lê Duẩn.

Sau 1956, khi Trường Chinh mất chức TBT để cứu uy tín của Đảng trong CCRĐ, Bắc Kinh ngăn cản ứng cử viên Tướng Giáp. Sau đó, Bắc Kinh tìm cách đưa Lê Duẩn ra Bắc. Năm 1957, chiếc xe và lái xe đưa Lê Duẩn đào thoát từ Sài Gòn sang Phnom Pênh là của người Hoa. Một điệp viên người Hoa đón Lê Duẩn ở Phnom Pênh và sau đó một điệp viên người Hoa khác đưa Lê Duẩn về HK rồi Trung Hoa Lục địa. Bắc Kinh rất quan tâm tới con cái Lê Duẩn và bà vợ thứ hai của ông trong thời gian bà ở Bắc Kinh.

Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc sẽ mở đường cải cách thể chế?

Ánh Liên 

Sau đỉnh núi sẽ là sườn dốc, cuộc chiến chống tham nhũng và tăng trưởng kinh tế cũng không thể tiếp tục đi xa hơn nếu thiếu động lực cải cách thể chế.

Tham nhũng sẽ không thể bị loại trừ nếu chỉ dựa vào các quy định trong Đảng, và kinh tế sẽ không thể tiếp tục duy trì trạng thái ổn định cao nếu nhờ vào FDI, mà chủ yếu là Samsung (gần 30% GDP) và Formosa. Bởi thể chế nào, doanh nghiệp đó; tham nhũng nào thì thể chế đó.

Sở dĩ đặt vấn đề cải cách thể chế vì gần đây, có những động thái hé mở vấn đề này. Vào tháng 11.2018, một cuộc tọa đàm khoa học về Đặc khu kinh tế: góc nhìn chính sách của PLD và VEPR được phản ánh trên trang báo chính thống (Tuổi Trẻ), trong đó dẫn dắt quan điểm của trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Nguyễn Trung khi nhấn mạnh, cần phải xây dựng cơ chế để phát huy tất cả nguồn lực, tránh rơi vào trạng thái như 30 năm qua, khi huy động nguồn lực lớn nhưng đến nay vẫn chưa hoàn tất mục tiêu công nghiệp hóa, trong khi sự phụ thuộc FDI và Trung Quốc ngày càng gia tăng.

Cần nhắc, ông Nguyễn Trung là tác giả của loạt bài viết về ĐH XII của Đảng CSVN, trong đó bàn mạnh nhất là về cải cách thế chế, trong đó tại bài viết số 3, ông vạch rõ ra ba việc cần giải quyết, trong đó: cải cách chế độ chính trị toàn trị; hoàn thiện kinh tế thị trường; đổi mới ĐCSVN để trở thành đảng của dân tộc. Và tại phần 4 của bài viết, ông nhìn nhận, cái trở ngại ‘duy nhất’ là thiếu quyết tâm chính trị trong cấp cao nhất của quyền lực đảng: đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Và sự ‘trì hoãn, đối kháng cuộc cải cách’ sẽ đẩy đất nước vào thời kỳ đen tối mới.

clip_image002

Tuy nhiên, từ ĐH XII đến nay, tình trạng đối kháng cải cách vẫn diễn ra, câu chuyện tập trung quyền lực tối đa ở Trung ương nhằm xây dựng một hệ thống chính trị tập quyền nhằm xử lý các vấn đề thuộc nội bộ trong ĐCSVN, thay vì tập trung mở rộng đường cho sự phát triển dân tộc.

Từ đây đến ĐH XIII chỉ còn 2 năm nữa, và mới đây nhất, trên Tạp Chí Cộng sản vào ngày 21.12 đã đăng tải bài viết ‘Xây dựng văn hóa trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam’. Mặc dù là bàn về văn hóa chính trị, nhưng bài viết này vẫn hàm chứa quan điểm về sự cải cách thể chế và đổi mới chính trị là nguồn gốc thúc đẩy sự xóa bỏ tình trạng trì trệ và khủng hoảng như Liên Xô trước đây.

Câu chuyện cải cách thể chế trong bài này sẽ hướng về một con người thường bị dư luận chế giễu là ‘tấu hài chính trị’ bởi sự cởi mở hết mức đối với lời hoa mỹ cho các tỉnh thành: Nguyễn Xuân Phúc.

Ông Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mới đây trong một cuộc họp với TBT Nguyễn Phú Trọng, ông đã gây nên sự tranh luận với quan điểm: Không đổ lỗi cho thể chế vì mọi chính sách đều do cán bộ làm ra. Nếu hiểu theo đúng nghĩa đen, thì có thể hiểu rằng, cơ chế cơ bản là tốt, do cán bộ làm sai. Tuy nhiên, quan điểm người viết cho rằng, ông Phúc đánh trúng trọng tâm là chính sách bằng đầu tư cán bộ, bởi ở Việt Nam cán bộ làm chính sách. Do đó, nếu không giải quyết được khâu cán bộ, cán bộ không đủ nhận thức dân chủ, thì cơ chế sẽ bị sai lệch hoàn toàn.

Cách đây 4 năm, chính ông Nguyễn Xuân Phúc, lúc đó đang còn làm Bộ trưởng Văn phòng Chính phủ cũng có một nhận định hết sức cấp tiến, mà theo ông, nếu muốn phát triển nhanh, bền vững thì cần ưu tiên cải cách thể chế. Quan trọng hơn, ở góc độ năm 2014, những quan điểm ông giống quan điểm ông Nguyễn Trung năm 2018 khi thẳng thắn thừa nhận, qua gần 3 thập kỷ đổi mới, ‘nhiều vấn đề bất cập, hạn chế như một căn bệnh kinh niên, mãn tính đều có nguyên nhân sâu xa từ chất lượng thể chế yếu kém.’. Ông Nguyễn Xuân Phúc cũng gây chú ý khi  đề nghị tổ tư vấn làm rõ, 3 trụ cột gồm ‘nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường, và xã hội dân chủ’. Những yếu tố mà có thể khiến cho người khác dễ dàng liên tưởng đến tam quyền phân lập và xã hội dân sự thực tế, chỉ khác đi về mặt câu chữ. Và mặc dù nhiều nhà hoạt động dân sự không kỳ vọng về những điều này, do ông Thủ tướng không đề cập đến ‘xã hội dân chủ’, nhưng người viết cho rằng, bản thân ông Phúc vẫn là Đảng viên, và vẫn còn Quyết định 102-QĐ/TW (về việc xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm) ràng buộc chính ông.

Có một quan điểm cho rằng, bản thân ông Phúc khi đứng ở vị trí người đứng đầu Chính phủ, gánh các khoản nợ được đẩy từ di sản Nguyễn Tấn Dũng sang, ông đã có cái nhìn cởi mở hơn với việc cải cách thể chế, ở mức độ nào đó. Và cũng cần nhắc lại rằng, về kinh nghiệm địa phương và vị thế chính trị (bao gồm cả vai trò Ủy viên Bộ Chính trị) thì ông Nguyễn Xuân Phúc là người tiệm cận tốt nhất cho chức vụ Tổng Bí thư trong tương lai.

Giàu có sao lại chăm chăm mọi cách 'bóp cổ' dân nghèo?

Thảo Vy 

Nhà báo Nguyễn Khắc Nhượng, cựu Tổng thư ký tòa soạn báo Thanh niên, kể rằng “cô chủ tiệm cà phê cóc ở vỉa hè đầu hẻm nhà tôi thắc mắc: Tình hình kinh tế nước nhà ngon lành rực rỡ như vậy, sao mấy ổng không giảm bớt gánh nặng thuế má cho dân, mà còn lăm le oánh thuế những người lao động mạt hạng ở vỉa hè như tụi tui cùng những người ‘tay làm hàm nhai’ như các chú xích lô, ba gác, xe ôm... Tăng trưởng kinh tế kiểu gì mà kỳ cục zậy!”.

“Chúng ta có thể yên tâm đã vượt thu ngân sách trung ương, mấy năm trước thì rất vất vả, đến phút chót vẫn phải đốc thu quyết liệt. Tốc độ tăng trưởng GDP cao gấp đôi so với lạm phát, chưa bao giờ chúng ta xuất siêu trên 7 tỷ USD”. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã thông báo như vậy trong phiên họp thường kỳ Chính phủ cuối cùng của năm 2018, diễn ra chiều 27-12.

clip_image002

Cũng trong chiều 27-12, thông cáo báo chí của Tổng cục Thống kê cho biết quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành đạt 5,54 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017. GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở lại đây. [http://bit.ly/2EsgoPY]

Cùng thời gian công bố bản thông cáo báo chí nói trên của Tổng cục Thống kê, chỉ số trên trang ‘đồng hồ nợ công’, phiên bản tiếng Việt, cho biết với tỷ giá USD/VNĐ của ngày 27-12-2018, thì mỗi người dân Việt Nam đang phải gánh mức nợ công tương đương 56.381.851 đồng, tức 2.430 USD.

Như vậy, với người dân lao động, họ được quyền mang con số GDP bình quân đầu người ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD trong năm 2018 mà Tổng cục Thống kê đưa ra, sau đó trừ khoản nợ công do Chính phủ gây nên, thì GDP bình quân đầu người phải chăng chỉ còn nhỉnh hơn 100 USD/năm?

Có vẻ lạc nhịp khi nhìn sang thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm nay khi VN Index từng lập đỉnh cao mới trong lịch sử ở mức 1.211 điểm (ngày 10-4), nhưng sau đó lại có quá trình sụt giảm mạnh 27% xuống đáy 888 điểm (ngày 30-10). Nay thì vẫn quanh con số 900.

Câu hỏi khác, nếu tăng trưởng thật sự đầy phấn khích như thông báo của Tổng cục Thống kê, xem ra các đại biểu Quốc hội đã sai lầm khi đồng ý thuế môi trường đối với xăng được tăng kịch trần lên mức 4.000 đồng/lít từ 1-1-2019, so mức cũ là 3.000 đồng/lít. [http://bit.ly/2ThsZ2x]

“Việc điều chỉnh tăng mức thuế bảo vệ môi trường đối với các hàng hóa trên sẽ góp phần tạo thêm nguồn thu để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, trong đó có các nhiệm vụ chi cho bảo vệ môi trường”, Bộ Tài chính đã giải trình như vậy với các đại biểu Quốc hội, và cho biết ngân sách sẽ có thêm gần 15.000 tỷ từ thuế thuế bảo vệ môi trường thu qua xăng dầu.

Nếu so với con số thống kê đầy lạc quan công bố hôm chiều 27-12-2018 như nói ở trên, thì chỉ xét riêng chuyện tăng thuế bảo vệ môi trường qua xăng dầu cho thấy sẽ làm sụt giảm GDP bình quân đầu người, khi mà chính sách thuế mới đi vào áp dụng trong vài ngày tới đây, theo đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI, thì vận tải, nông nghiệp và thủy hải sản là những nhóm ngành chịu thiệt hại lớn nhất.

VCCI lý giải, chi phí nhiên liệu đối với ngành vận tải chiếm từ 25% -35% cơ cấu giá thành đối với xe chạy xăng, từ 35-45% đối với xe chạy dầu; còn hàng không là 39,5%. Với ngành thủy hải sản, chi phí nhiên liệu chiếm từ 33 -59% cơ cấu giá thành. Còn trong nông nghiệp, chi phí vận chuyển chiếm từ 35-40% cơ cấu giá thành.

Những người lao động – nói như lời của nhà báo Nguyễn Khắc Nhượng - mạt hạng ở vỉa hè cùng những người ‘tay làm hàm nhai’ như các chú xích lô, ba gác, xe ôm... thì khi tăng thuế bảo vệ môi trường, họ sẽ phải đối mặt với chi phí sản xuất gia tăng khó tránh, bởi xăng là nhiên liệu đầu vào của nhiều ngành nghề. Giá xăng tăng, chi phí sản xuất của nhóm lao động này bị ảnh hưởng trực tiếp.

Hiện tại, mỗi lít xăng gánh thuế nhập khẩu 20%, thuế tiêu thụ đặc biệt 10%, VAT 10%, thuế môi trường trong năm 2018 là 3.000 đồng/lít. Người lao động cạnh tranh với nhau về giá, như người làm vận chuyển hay bán hàng, đâu dễ gì tăng giá được. Cuối cùng họ phải gánh số tiền 1.000 đồng này vào mức thu nhập. Coi như đã nghèo, còn mắc cái eo và phải gánh thêm khoản nợ công từ chính phủ gây ra.

Trong tháng cuối cùng của năm 2018, với áp lực nguồn thu ngân sách, Bộ Tài chính đã đưa ra hoạch định thu phí môi trường với khí thải đối với phương tiện giao thông. Hoạch định đó được chính bộ này khẳng định với báo chí rằng đã được sự thuận tình của phó thủ tướng Vương Đình Huệ.

“Nghiên cứu, đề xuất gì cũng phải thể hiện sự hợp lý, hợp tình, chứ không thể tùy tiện được. Xe cộ chỉ khi nổ máy mới tạo ra khí thải. Mà muốn máy nổ thì phải sử dụng xăng dầu. Xăng dầu đã nộp thuế bảo vệ môi trường thì thu thêm phí chi nữa vào khí thải?

29/12/2018

“CON ƠI, ĐỪNG LÀM ANH HÙNG”!

Châu Thị Phan

Tháng 11/2018, tôi đến thăm khu tưởng niệm cựu chiến binh Hoa kỳ tham chiến tại Việt Nam (Vietnam Veteran war Memorials) tại Sacramento. Khu tưởng niệm không lớn lắm, nằm khiêm tốn bên cạnh khu vườn hoa hồng trong khuôn viên toà nhà Quốc hội tiểu bang California.

clip_image002

Khu này gồm bốn bức tường xây theo kiểu vòng tròn, bên trên mỗi bức tường là tấm đá hoa cương đen khắc danh sách của 5822 binh sĩ (ở California) đã tử trận và mất tích tại Việt Nam. Tuổi đời của các chiến binh này còn rất trẻ, nhiều nhất là từ 19 đến 26. Nhưng ấn tượng nhất là những bức tượng chạm trổ nổi bằng đồng cao bằng người thật ghi lại những sinh hoạt của binh lính Mỹ trong những năm tháng chiến tranh tại Việt Nam: bị thương, đánh trận, nghĩ ngơi, làm tù binh...

clip_image004

clip_image006

clip_image008

clip_image010

Đặc biệt bức tượng một chiến binh trẻ bần thần ngồi đọc thư nhà đặt ngay chính giữa khu tưởng niệm. Tất cả đều toát lên một nét chung nhất là đăm chiêu và buồn bã như không biết ngày mai sẽ ra sao.

clip_image012

Nhưng gây ấn tượng mạnh nhất trong tôi là tấm biển bằng kim loại, trên đó có sao chép trích đoạn nguyên bản lá thư viết tay của một người mẹ Mỹ gửi cho con trai đang chiến đấu ở chiến trường tại Việt Nam nhân ngày sinh nhật cậu ấy bước vào tuổi hai mươi.

clip_image014

“... Con trai à, ba mẹ vô cùng yêu thương con. Làm ơn,ráng tự chăm sóc mình nghe con. Đừng trở thành một anh hùng. Ba mẹ không cần tấm Huân chương danh dự. Chúng ta chỉ cần một đứa con
Yêu thương con với tất cả tấm lòng
Ba-mẹ”

(... we love you,son. Please take care of yourself and don’t be a hero. We don’t need a Medal of Honor. We need a son. 
All our love
Mom and Dad)

Lạ lùng thật, Mỹ là một Đất Nước nổi tiếng... hung hăng về mặt quân sự. Nước nào láng cháng vi phạm đến quyền lợi của Nước Mỹ hay đến an nguy hòa bình thế giới là bị bộp liền. Vậy mà khu tưởng niệm này mang đầy màu sắc phản chiến, (không giống bên nước ta tượng đài nào cũng hừng hực lửa giết, giết và kêu gọi khắc sâu mối hận thù). Hay... thật ra ở Mỹ, phản chiến mới chính là đích đến còn tham chiến chỉ để vì... phản chiến?

Giới trẻ Tinh hoa và Nhân quyền

Nguyễn Khắc Mai

Tôi đọc bài viết mới đây của GS C.Thayer nhận định về tình hình chính trị Việt Nam năm 2018 và 2019, có đoạn: ”Tình hình nhân quyền của Việt nam, ngày càng xấu đi, khi giới an ninh tiếp tục bắt giữ, xét xử và tống giam một loạt các nhà hoạt động chính trị và xã hội dân sự, theo các điều khoản mơ hồ của bộ luật hình sự”.

Tôi nghĩ rằng nên có chút phân tích và nhận xét về nhận định đó. Đúng, nó đã xấu đi khi nhà cầm quyền  VN đã tăng cường bắt bớ giam cầm phi lý và trái đạo những người bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa. Họ chỉ yêu cầu  mỗi một điều, là nhà cầm quyền hành xử đúng đắn và tốt hơn những gì mà Hiến pháp đã ghi và họ đã đặt tay lên đó thề thốt trung thành.

Nhưng giữa việc làm và lời nói của họ thì trái ngược lẫn nhau! Cái xấu mà GS C. Thayer nhận định, chính là chính sách phi nhân tiêu cực, phản văn hóa, phản đạo lý của giới cầm quyền. Họ học tập cái ác trong chính sách tàn bạo của mô hình xô viết Liên Xô và Diên An của Trung Hoa. Họ không hiểu được nét nhân văn, tính tiến bộ mà Hiến pháp VN 2013 đã phải thừa nhận. Họ đổ vấy hành động phê phán những sai trái của Đảng của chính quyền một cách ôn hòa là tội phạm cố ý lật đổ Nhà nước, và dung túng cho những cấp dưới đàn áp thô bạo phi nhân trong một hệ thống lao tù bất nhân, bất nhẫn, khắc nghiệt để nhục mạ thân thể và làm nhụt ý chí của tù nhân lương tâm.

Vì thế tiếng kêu gọi cải thiện chế độ nhà tù không chỉ cho Tù nhân lương tâm mà cho cả mọi người tù là khẩn thiết! Những người lãnh đạo Đất Nước chẳng những không thi hành những văn kiện mà họ đã cam kết. Hơn thế nữa, họ nhắm mắt, vô cảm cả với những đạo lý thương người như thể thương thân, hay triết lý nhân ái trong đạo trị nước của tiền nhân (Hãy giở  sử ra học lấy tư tưởng nhân ái của Vua Lý Nhân Tông trong đối xử với tù nhân. Khi rét mướt, ngài đã ra lệnh cấp thêm chăn chiếu và tăng khẩu phần ăn cho tù nhân, lại còn lệnh tha hết mọi tù nhân không có án!)

Mặt trái trong nhận định của C. Thayer lại là có ý nghĩa rất tích cực. Càng ngày ta càng thấy hành động phản đối những chính sách tiêu cực của nhà cầm quyền cộng sản càng lan rộng, vào nhiều giới trong xã hội, đặc biệt là trong giới trẻ có học vấn. Đã có một bước phát triển mới khi ngày càng có nhiều anh chị em sinh viên, như Phan Kim Khánh, Trần Hoàng Phúc, như nhóm Nghiệp đoàn Sinh viên… ý thức được thái độ trách nhiệm cao quý ”Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, đã dõng dạc lên tiếng trước những việc làm sai trái, phản dân hại nước của những kẻ cầm quyền xấu xa.

Chúng ta không muốn nhiều người trẻ tinh hoa có tình cảm cao thượng biết nhận thức được những nỗi đau, nỗi nhục của Dân của Nước, đã hành động theo lương tri của dân tộc và thời đại, mà bị nhà cầm quyền đày đọa như nhận định của GS C. Thayer. Nhưng chúng ta không thể không tăng thêm niềm tin yêu khi ngày càng có nhiều giới trẻ dấn thân, theo cách này hay cách khác để mong ước Đất Nước và người Dân “chuyển biến và chuyển hóa” vào một thời kỳ mới Phục hưng nước Việt. Theo ý nghĩa này, chúng ta thấy cuộc đấu tranh của Dân ta cho Nhân quyền và Dân quyền vẫn ngày càng tiến bước.

Chúng ta nhớ lại cách nay đã 73 năm trong Mùa Thu tháng Tám, giới trẻ Việt Nam đã say sưa hát bài ”Chiến sĩ Việt Nam” với một đoạn ca từ rất hùng tráng, thiêng liêng: ”Lập Quyền Dân tiến lên Việt Nam.

         Đài Hạnh phúc đắp xây Tự Do,        

         Việt Nam tranh đấu chống quân ngoại xâm!”

Bây giờ tôi chỉ xin sửa lại một chút câu hát cuối: "Việt Nam Dân Nước sáng tươi từ đây"!

Tháng trước tôi từng thưa với Chủ tịch Nhà nước* Nguyễn Phú Trọng rằng, từ xưa Dân ta đã có tư tưởng Dân là Quý, Dân là Mạnh (nó chở được và lật được chính quyền). Dân phải  được An ,Dân phải được thân yêu gần gũi… Nhưng Quyền Dân chỉ mới lập được trên giấy. Ngày nay, chưa bao giờ vấn đề Lập Quyền Dân lại trở nên thiêng liêng và cấp bách đến vậy.

Cho nên việc dấn thân của giới trẻ tinh hoa để Lập Quyền Dân cho chính mình và cho đồng bào thật đáng trân trọng tự hào. Chỉ những ai  vì miếng cơm manh áo thiển cận, chỉ những kẻ cam tâm lệ thuộc, làm tay sai cho ngoại bang để thực hiện chiến lược bành trướng Đại Hán của chúng, mới cho những người dấn thân tranh đấu cho dân quyền và nhân quyền ở Việt nam là tự diễn biến, tự chuyển hóa, là phản động!

BPSOS công bố bản tiếng Việt nhận xét kết luận của Uỷ ban Chống tra tấn LHQ

Để tạo thuận tiện cho người ở trong nước góp ý với LHQ trong tiến trình theo dõi việc chính quyền Việt Nam thực thi Công Ước LHQ về chống tra tấn, hôm nay BPSOS công bố bản dịch tiếng Việt của văn bản “các nhận xét kết luận” của Uỷ Ban Chống tra tấn của LHQ. Xem: http://dvov.org/wp-content/uploads/2018/12/Ban-Nhan-Xe-Ket-Luan-tieng-Viet.pdf

Uỷ Ban Chống tra tấn của LHQ yêu cầu nhà nước Việt Nam cung cấp bản dịch tiếng Việt của văn bản này để người dân có thể góp ý cho LHQ trong tiến trình theo dõi việc thực thi của nhà nước Việt Nam.

“Tuy nhiên, vì e rằng việc này sẽ không xảy ra hoặc sẽ không xảy ra sớm, chúng tôi đã xúc tiến dịch và phổ biến văn bản này,” Ts. Nguyễn Đình Thắng, Tổng Giám Đốc kiêm Chủ Tịch BPSOS, nói.

Uỷ Ban Chống Tra Tấn của LHQ đã đưa ra tổng cộng 25 khuyến cáo, trong đó có 3 khuyến cáo mà Việt Nam nhất thiết cần trả lời:

(1) Khuyến cáo về sử dụng vũ lực quá đáng và tử vong khi bị giam giữ: Đảm bảo rằng tất cả các trường hợp bị cáo buộc về việc gây ra tử vong trong khi bị giam giữ và các khiếu nại về việc sử dụng vũ lực quá đáng, ở trong các cơ sở quốc gia thành viên và trên đường phố, được điều tra kịp thời, hữu hiệu và công minh bởi một cơ chế độc lập không có mối liên hệ với các cơ sở bị cáo buộc.

Chỉ đạo hội nghị Chính phủ: Thâm ý nào của ông Trọng?

Thường Sơn

 Đúng là thâm ý Nguyễn Phú Trọng- một ‘người Bắc, có lý luận’ và không thiếu chất thâm nho.

Ngày 28 tháng 12 năm 2018, người vừa trở thành ‘tổng chủ’ đã nghiễm nhiên dự hội nghị của chính phủ với các địa phương và lãnh luôn trách nhiệm ‘phát biểu chỉ đạo’, mà không phải là vai trò của Thủ tướng Phúc được nói lời cuối cùng.

https://1.bp.blogspot.com/-jQf47Cyoup8/XCXcy9fuIjI/AAAAAAAAdIo/NCaBq6Zmg9Q3fUKkBEyAeWPVjXkYx24jQCLcBGAs/s640/tbt20phat20bieu201-15459796659801843693287-crop-15459796716561027623.jpg

‘Tổng chủ’ phát biểu chỉ đạo hội nghị của Chính phủ với các địa phương vào ngày 28 tháng 12 năm 2018.

Hình ảnh trên cũng rất giống với thế ngồi ngay chính giữa - vị trí chủ tọa - của Ủy viên thường vụ Đảng ủy Công an trung ương Nguyễn Phú Trọng, trong khi bí thư cơ quan này là Bộ trưởng Công an Tô Lâm thì chỉ ngồi kế bên như thể ‘chầu rìa’.

Những câu thơ trong sáng từ ngục tối

Tâm Don

Khoảng 20 năm lại nay, thơ là mặt hàng ế ẩm nhất trong thị trường sách vở. Không ai bỏ tiền ra, dù chỉ vài chục ngàn đồng, để mua một tập thơ. Những người bỏ tiền ra để in thơ, thường tặng bạn bè và những người quen biết. Người được tặng thơ cũng hờ hững đón nhận theo phép lịch sự. Có thể nói thơ ca Việt đã không còn đất sống trong tâm hồn người Việt.

Trong hoàn cảnh éo le ấy, một tia chớp đã xuất hiện trên thi đàn Việt như một niềm kinh dị. Vào dịp giáng sinh này, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã tiến hành xuất bản tập thơ THƯƠNG ƠI LÀ THƯƠNG của một tác giả có tên ngắn ngủn: TRẦN. Theo các nhà hoạt động xã hội và những người đấu tranh cho nhân quyền ở Việt Nam, TRẦN là ẩn danh của tù nhân lương tâm nổi tiếng Trần Huỳnh Duy Thức. Các bài thơ trong THƯƠNG ƠI LÀ THƯƠNG được Trần Huỳnh Duy Thức viết trong nhà tù, khi người nhà đến thăm nuôi, anh đưa cho người thân trong gia đình. Quản giáo đã đọc những bài thơ này rất kỹ nhưng họ thấy không có vấn đề gì nên để cho người nhà nhận. Gia đình và thân hữu anh Trần Huỳnh Duy Thức đã đi đến quyết định cho ra đời tập thơ này. Để lọt lưới kiểm duyệt gắt gao ở Việt Nam, những người lo cho tập thơ này ra đời đã quyết định lấy ẩn danh Trần. Sự ngắn gọn này đã giúp tập thơ THƯƠNG ƠI LÀ THƯƠNG vượt mặt kiểm duyệt, để hiện nay đang gây sốt trên mạng.

https://4.bp.blogspot.com/-QqxUMcNs8zo/XCSp4-XEGxI/AAA8AAAAAAEI/C51oO7BdvEcxW1RHZIyK89ZNzGb6mL-LwCLcBGAs/s640/New%2BProject.jpg

Và, còn một điều rất đặc biệt, tập thơ THƯƠNG ƠI LÀ THƯƠNG còn hãnh diện xuất hiện trong các nhà sách trên phạm vi toàn quốc.

Khi biết tin Trần Huỳnh Duy Thức cho ra đời tập thơ THƯƠNG ƠI LÀ THƯƠNG, một nhà báo trong hệ thống báo chí nhà nước đã ngay lập tức ra nhà sách mua luôn 10 cuốn, và hào hứng viết trên trang FB cá nhân của mình: “Các bạn có thể tưởng tượng được rằng, tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức vừa được xuất bản tập thơ THƯƠNG ƠI LÀ THƯƠNG? Đó là một sự thật. Bằng một cách thức nào đó, tập thơ THƯƠNG ƠI LÀ THƯƠNG của TRẦN- ẩn danh của Trần Huỳnh Duy Thức đã được Nhà xuất bản Hội nhà văn cấp phép xuất bản”.

Về mặt hình thức, tập thơ THƯƠNG ƠI LÀ THƯƠNG được trình bày nền nã, sang trọng nhưng vẫn toát lên vẻ dung dị và đằm thắm.

Sự thụt lùi của một quốc gia dưới bộ Quy tắc sử dụng mạng xã hội

Kiều Phong

Ngày 25/12/2018, Hội Nhà báo Việt Nam đã công bố Quy tắc sử dụng mạng xã hội của nhà báo với những quy định siết chặt việc sử dụng trong việc đưa các thông tin lên mạng xã hội, xử lý nghiêm những tác giả viết những bài bị cho là trái với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Luật này đưa ra đúng 7 ngày, tức là tròn 1 tuần trước năm mới dương lịch 2019. Có thể nói rằng Bộ quy tắc sử dụng mạng xã hội là “sứ giả dọn đường” cho luật An ninh mạng sẽ đến vào ngày 01/01/2019. Cả hai bộ luật đều hết sức mơ hồ, đều là chơi chữ. Cách đây không lâu, kỹ sư tin học nổi tiếng Dương Ngọc Thái đã viết thư gửi các nhà ban hành Luật an ninh mạng ở Việt Nam, gọi họ là những người bảo vệ an toàn kỹ thuật số bằng ngôn từ, thay vì bằng những thuận toán, bằng những dòng lệnh như ở các nước phương Tây tiên tiến về kỹ thuật.

Quy định này được nhiều người dân cho rằng được đưa ra chỉ để che đậy những cái xấu, đừng đưa những bê bối của vua quan Việt Nam lên mạng xã hội, làm mất hình ảnh của họ.

https://1.bp.blogspot.com/-wTTZAmSWCXc/XCNNu7jMU9I/AAAAAAAAADA/5jW2qlVuYCcOraAe6a8i_NRvm_ig6ZcSQCLcBGAs/s400/47367530_734213676939414_4011142856214315008_o.jpg

Ảnh minh họa

.

Chi Dương Thị Quyên, một công dân nhận xét: “Một con người biết phục thiện và nhìn nhận sai lầm thì mới tiến bộ. Một chế độ không biết nhận sai thì đó là một chế độ không trong sạch, không minh bạch, và như thế sự thụt lùi của một quốc gia dưới chế độ đó sẽ là điều tất yếu !”

28/12/2018

Giải mã bí ẩn lịch sử

Nguyễn Đình Cống

Trong lịch sử cận đại VN có 1 sự kiện được nhắc đến nhiều, nhưng chứa 1 bí ẩn lớn, chưa thấy ai công bố lời giải. Sự kiện  là vào năm 1945-46 Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ nhưng không nhận được trả lời. Bí ẩn là lý do của sự việc không trả lời  đó. Đây thuộc vấn đề biết kết quả, cần tìm và giải thích nguyên nhân. Đơn giản nhất là hỏi TT Mỹ, nhưng ông ta chết mất rồi. Liệu ông có nói với ai hoặc để lại bút tích gì  liên quan đến việc này hay không. Bây giờ có một cách là nhờ nhà ngoại cảm phụ hồn ông lên để cầu xin câu trả lời. Tiếc rằng hình như chúng ta chưa bao giờ đề ra và nhờ những nhân vật quan trọng của Mỹ giải đáp.  Ngoài ra thì có thể suy đoán, đưa ra giả thuyết rồi chứng minh hoặc bác bỏ.

Gần đây, đọc bài Mênh mông thế sự số 56 của GS Tương Lai, tôi thấy ông viết: “Nhưng vì sao mà những bức thư của Hồ Chí Minh không có hồi âm? Đơn giản chỉ vì, người Mỹ không tìm thấy được chút lợi ích nào trong chuyện chìa tay ra với Hồ Chí Minh của Việt Nam ở sát mép nước Biển Đông tít tắp bên kia bờ Thái Bình Dương mênh mông sóng vỗ“. Có lẽ GS Tương Lai cũng chỉ mới dự đoán thế thôi chứ chưa chứng minh để rút ra kết luận.

Tôi  đưa ra giả thuyết theo hướng khác. Khi còn ở  rừng núi thời kỳ 1944-45, Hồ Chí Minh đã tốn nhiều công sức để liên lạc với quân Mỹ vì biết rằng chính quyền Mỹ  ủng hộ sự giải phóng thuộc địa. Và họ đã có những giúp đỡ tích cực cho Đội quân của Võ Nguyên Giáp. Nhưng cụ Hồ cũng biết Mỹ chống Cộng sản. Để giải quyết mâu thuẫn,  không biết ai đã nghĩ ra mẹo giải tán ĐCS Đông Dương. Nếu khôn ra thì giải tán xong ĐCS, cùng với những đảng viên ấy lập đảng mới, lấy tên là Đảng Cộng hòa hoặc Đảng Dân chủ chẳng hạn và tạm lờ chủ thuyết cộng sản để tập trung cho độc lập dân tộc. Đằng này không biết ai bày ra kế sách rút vào bí mật. Tưởng như thế lừa được Mỹ, nhưng không lừa được. Tôi đưa ra giả thuyết rằng chính vì việc này mà TT Mỹ không trả lời thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi đoán, nếu thực sự vì độc lập dân tộc thì đảng chấp nhận giải tán và lập đảng mới, nhưng vì quá nặng ý thức hệ cộng sản, quá bị lệ thuộc vào Đệ Tam quốc tế mà rút vào bí mật. Khốn nỗi Đệ Tam quốc tế đã bị Xít-ta-lin giải tán từ 1941, mà là giải tán thật chứ không định lừa ai cả. Lừa thế nào được.

Hội nhà báo VN đi ngược lý tưởng dân quyền Cộng sản thời kỳ đầu?

Ánh Liên

Hình của những người sáng lập ra Đảng Cộng sản VN vẫn được treo trong các văn phòng đảng, nhưng lý tưởng của họ đã bị phản bội! Nghe thật mâu thuẫn, nhưng lại hoàn toàn là hiện thực.

Còn vài ngày nữa Luật An ninh mạng hay Luật nhằm 'bảo vệ chế độ' (theo tuyên bố của ông TBT Nguyễn Phú Trọng) sẽ có hiệu lực. Tuy nhiên, hiện giờ đã xuất hiện các thông tư của các ban ngành nhằm chi tiết hóa Luật này, điều chỉnh hành vi theo đối tượng.

Ngày 25.12, Hội Nhà báo Việt Nam đã tổ chức họp báo công bố việc ban hành Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam. Trong đó, quy định rằng, không được: đăng tải các tin, bài, hình ảnh, âm thanh trên mạng xã hội, đưa ra các bình luận, chia sẻ quan điểm cá nhân hoặc trích đăng lại các bài phát biểu, ý kiến trái với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; trái với quan điểm của cơ quan báo chí nơi mình công tác; không được bình luận, nhận xét, chia sẻ các thông tin có mục đích kích động, lôi kéo người khác phản ứng tiêu cực và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại… có yếu tố phức tạp nhạy cảm đang cần tạo sự đồng thuận, cách nhìn và thái độ tích cực mang tính xây dựng của cộng đồng và xã hội.

https://2.bp.blogspot.com/-n9JXYrESq3U/XCNQ-PbPJTI/AAAAAAAAADg/DiJBN0JP05UTU-R6rZG1XrwnWFuqA0LxQCLcBGAs/s640/quytaclambao1.jpg

Toàn cảnh buổi họp báo

Căn cứ quan điểm này, thì các bài viết bàn về Luật đặc khu sắp tới đây sẽ hoàn toàn biến mất trên Facebook của các nhà báo thuộc Hội nhà báo Việt Nam, bởi nó hoàn toàn 'đáp ứng' các quy định được nêu ra trong bộ ứng xử. Nói cách khác, việc ngăn chặn các quan điểm cá nhân hoặc ý kiến trái chiều với “quan điểm của cơ quan báo chí, của đảng và nhà nước” chính là thao tác chặn quyền tự do ngôn luận, chặn quyền giám sát và phản biện xã hội. Hội nhà báo Việt Nam giờ đây thay mặt luôn cả Ban tuyên giáo Trung ương gia tăng 'giám sát báo chí', trong khi chặn vai trò 'giám sát xã hội' của báo chí.

Từ nay, đội ngũ phóng viên - nhà báo sẽ không còn bàn về “chính trị, về kinh tế, văn học như ta thấy ở châu Âu và các nước châu Á khác”, mà chỉ thấy “nói đến chuyện nắng mưa, tán dương những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện vớ vẩn, ca tụng công ơn,...và rủ ngủ dân chúng”. Quan điểm này thực ra là sự trích lược của người sáng lập ra ĐCSVN - ông Hồ Chí Minh lên án trong kỳ đầu cách mạng.

Hỏi và Đáp về Phong trào Dân chủ Việt Nam (Bài 10)

Nguyễn Vũ Bình

Câu hỏi: Dân chủ cuội là gì? Tại sao lại có dân chủ cuội?

Trả lời: Dân chủ cuội là những người đấu tranh dân chủ nhưng có làm việc cho An ninh. Dân chủ cuội là sản phẩm của Nhà cầm quyền, hệ thống An ninh Việt Nam chủ động tạo ra để thực hiện những nhiệm vụ của an ninh.

Câu hỏi: Có thể xác định được ai là dân chủ cuội hay không?

Trả lời: Rất khó nếu không muốn nói là không thể. Vì những người dân chủ cuội không có gì khác với người đấu tranh dân chủ thực sự. Họ cũng tham gia viết bài, cũng đi biểu tình, cũng giao lưu gặp gỡ nhau, giúp đỡ dân oan… Nói chung, về mặt công khai, họ không khác gì những người đấu tranh dân chủ thực sự. Những việc họ làm với An ninh, làm cho An ninh là những việc được thực hiện bí mật, liên lạc bí mật, chỉ có họ và An ninh mới biết được. Chính vì vậy, việc gọi ra hoặc quy chụp người này hay người kia là dân chủ cuội mà không đưa ra được chứng cứ là hết sức nguy hiểm.

Câu hỏi: Mục đích của an ninh trong việc gây dựng và sử dụng dân chủ cuội là gì?

Trả lời: Đầu tiên là để nắm được thông tin, tình hình, các hoạt động của các cá nhân, hội nhóm và tổ chức của phong trào dân chủ, của xã hội dân sự, của các tổ chức tôn giáo không thuộc Nhà nước quản lý. Từ những thông tin của những kẻ dân chủ cuội này, An ninh có thể biết rõ được nội tình của các hội nhóm, tổ chức từ đó xây dựng kế hoạch đối phó hữu hiệu.

Mục tiêu tiếp theo mà An ninh nhắm tới khi sử dụng dân chủ cuội là gây mâu thuẫn, chia rẽ trong phong trào dân chủ. Đây là âm mưu rất thâm độc mà An ninh đã ít nhiều thành công. Chúng ta đã được chứng kiến, sự mâu thuẫn, chia rẽ, đánh phá nhau trầm trọng, âm ỉ và dai dẳng của các tổ chức ở hải ngoại. Ở trong nước, thời kỳ trước cũng có các cuộc xung đột, chia rẽ và mâu thuẫn ghê gớm của một số người trong phong trào dân chủ...

Mục tiêu chiến lược và lâu dài của An ninh Việt Nam trong việc sử dụng dân chủ cuội có lẽ là dự phòng trường hợp chế độ chủ động chuyển đổi sang hình thức dân chủ nửa vời, độc tài trá hình, hay dân chủ hình thức... Trong trường hợp chế độ sụp đổ, An ninh Việt nam cũng hy vọng một sự giảm thiểu việc truy cứu trách nhiệm các tội ác trong quá khứ, nếu những kẻ dân chủ cuội nắm quyền. Nhưng đây là những hy vọng rất mong manh, vì khi chế độ sụp đổ, những ràng buộc và áp lực đối với những kẻ dân chủ cuội (bị ép) không còn nữa, rất khó để họ có sự trung thành và cứu giúp.

Câu hỏi: Quy mô của lực lượng này lớn đến đâu?

Trả lời: Số lượng dân chủ cuội, những người đấu tranh dân chủ làm việc cho An ninh là rất lớn. Có hai lý do để chúng ta tin rằng, số lượng dân chủ cuội trong phong trào dân chủ rất lớn. Khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Đông Đức, người ta đã tính được, số lượng đặc tình chiếm 10% dân số của Đông Đức. Đồng thời, trong một chia sẻ của đối lập dân chủ của Đông Đức, 2/3 số người trong các tổ chức đối lập Đông Đức làm việc cho An ninh.  Chúng ta còn biết được rằng, khi cuộc chiến tranh Quốc - Cộng diễn ra, cộng sản miền Bắc Việt Nam không hiện diện ở miền Nam, vậy mà họ đã cài cắm một số lượng người khủng khiếp, đủ các thành phần, ở tất cả các lĩnh vực. Việc cài cắm người vào nội bộ đối phương là điểm nhấn của cuộc chiến và là hoạt động được đánh giá cao của An ninh Bắc Việt Nam. Trong điều kiện rất hạn chế như vậy, mà họ vẫn thành công trong việc cài cắm một số lượng lớn người vào hàng ngũ đối phương thì trong môi trường hiện nay, tất cả đều trong tay họ, thì chắc chắn số lượng cài cắm đó phải rất nhiều.

Nhà hoạt động Phan Vân Bách và bạn bè bị hành hung vô cớ tại Lâm Đồng

Minh Hải

Nhà động Phan Vân Bách ở Hà Nội cho dư luận quan tâm được biết là vào ngày 21/12/2018 vừa qua, ông và bạn bè của ông ở Lâm Đồng bị “côn đồ” mặc thường phục vô cớ hành hung thô bạo. Cùng với nhiều vụ hành hung tương tự xảy ra trước đó, cho thấy một sự vô pháp luật nơi đây…

Vụ hành hung xảy ra vào ngày 21/12/2018, ban đầu anh Phan Vân Bách từ Hà Nội lên Lâm Đồng ngoài lý do chữa bệnh mất ngủ thì cũng là dịp để gặp gỡ những bạn bè mà anh quen biết. Anh Bách đến nhà anh Phạm Thế Lực ở huyện Đơn Dương để chữa bệnh, tại đây phía Công an và An ninh ở Lâm Đồng nói chung là không cho anh Bách cư trú ở địa phương. Anh Bách không đồng ý bởi phía Công an, An ninh không đưa ra lý do rõ ràng. Ngay sau đó, có một người thường phục xông vào hành hung anh Bách và anh Lực. Anh Bách buộc phải rời nhà anh Lực ở huyện Đơn Dương để sang nhờ chị Yến và anh Đặng Ngọc Sỹ ở huyện Đức Trọng giúp đỡ, chị Yến và anh Sỹ là hai người bạn mà anh Bách có quen từ trước, đồng thời cũng là những người theo đức tin Kito.

Khi anh Bách đến nhà chị Yến tạm cư trú để lánh nạn, anh Sỹ gọi điện báo chính quyền địa phương về tình hình của anh Bách và đăng ký lưu trú nhưng phía chính quyền thông báo, thuyết phục gia đình chị Yến là anh Bách phải trục xuất đi chứ không được ở. Gia đình chị Yến không đồng ý với yêu cầu của phía chính quyền đưa ra.

Chị Yến chia sẻ phản ứng của chị tại thời điểm đó:

“Gia đình chị mới nói là vậy các anh phaỉ đưa ra các căn cứ: Anh này (anh Phan Vân Bách) vi phạm những gì? Có bị truy nã hay là không? Nếu đầy đủ thì chúng tôi sẽ giao người, chúng tôi mang người đến giao luôn. Nhưng phía chính quyển địa phương không đưa ra được căn cứ nào”

Chị Yến và anh Sỹ quyết định hướng dẫn anh Bách lên cơ quan Công an địa phương để đăng ký lưu trú. Trước khi vào trụ sở Công an làm việc, anh Bách, chị Yến và anh Sỹ có tập trung tại quán Cà phê Sapphire gần cao tốc Liên Khương (Đức Trọng) để uống cà phê, nói chuyện những vấn để trăn trở của đất nước. Mọi người đang nói chuyện khá vui vẻ và ôn hòa thì anh Sỹ có nhận một cuộc điện thoại của một nhân viên Công an-An ninh tên là Toàn ở huyện Đức Trọng. Sau đó thì anh Toàn này cũng đến uống cà phê nói chuyện với mọi người. Nói chuyện được một lúc thì anh Toàn xin phép đi, đi khoảng 5 phút thì anh Bách, chị Yến và anh Sỹ tiếp tục ngồi uống cà phê, nói chuyện, bất ngờ có tốp côn đồ mặc thường phục tấn công anh Bách. Chị Yến và anh Sỹ bỏ chạy nhưng vẫn bị những tên côn đồ đuổi theo hành hung hết sức thô bạo. Kết quả cuộc hành hung thô bạo này, anh Bách và chị Yến bị thương tích khá  nhiều chổ trên người.

Anh Bách thuật lại ở Live Stream Facebook:

“Khi ba anh em đang ngồi nói chuyện ở quán cà phê Sapphire thì bất ngờ tôi cảm giác có những cú đánh từ đằng sau vào đầu, vào người tôi rất quyết liệt, dữ dội và rất là mạnh mẽ có tính chất cố ý giết người bằng những cú đánh rất nguy hiểm. Trước đây tôi cũng là một người tập võ nên tôi hiểu được những cú đánh của những đòn đánh này, liên tiếp vào đầu, vào mặt, vào ngực của tôi dẫn đến choáng váng”

习近平的真面目 - Cảnh báo của Tập Cận Bình

Chriss Street

Phạm Nguyên Trường dịch

Chủ tịch Tập Cận Bình mở màn lễ kỉ niệm 40 năm Cải cách ở Trung Quốc bằng lời cảnh báo rằng nguy hiểm “không thể tưởng tượng nổi” mà chỉ có ông ta lãnh đạo Đảng Cộng sản thì mới kiểm soát được mà thôi.

Ngày 18 tháng 12 năm 1978, khi Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình, tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ có những bước đi nhằm mở cửa cho sự tham gia và chào đón chủ nghĩa tư bản, thì ông ta cũng nói với các nhà lãnh đạo Trung Quốc: “Ẩn mình, chờ thời gian của bạn, đừng bao giờ cố gắng đi hàng đầu”.

Nhưng đứng trước những nỗ lực nhiều mặt về kinh tế vĩ mô và địa chính trị của Tổng thống Donald Trump trong việc sử dụng thương mại, ngoại giao và quân sự nhằm chống lại tham vọng “Made Made in China 2025” với mục tiêu giành thế thượng phong trên thế giới về công nghệ và chuỗi cung ứng, Tập [Cận Bình] tìm cách chia đôi thế giới thành những khu vực chịu ảnh hưởng của Mĩ và Trung Quốc cạnh tranh với nhau.

https://2.bp.blogspot.com/-P9H8GZk8JtI/XCEXHzvt1yI/AAAAAAAAAA0/Q_v_0evyznooPsBxTKQNSQ5wxHYA1dxoQCLcBGAs/s640/211045_5_.png

Chủ tịch TQ Tập Cận Bình

Phát biếu trước 10.000 quan chức nhà nước tại Đại lễ đường Nhân dân, kỉ niệm giai đoạn cải cách mở cửa kinh tế 1978-2018, Tập [Cận Bình] đã dành một giờ rưỡi để nhấn mạnh: “Thực tiễn của cải cách và mở cửa trong 40 năm qua chứng tỏ rằng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc là đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc… Đông, Tây, Nam, Bắc và ở giữa, đảng lãnh đạo toàn diện”.

Kể từ khi giành được quyền lực, năm 2012, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã kỉ luật 18 ủy viên chính thức và 17 ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Theo số liệu chính thức, 1,34 triệu quan chức từ cấp cao đến cấp thấp khác - được gọi là "hổ và ruồi" - đã bị thanh trừng vì bị cáo buộc vô kỉ luật và tham nhũng.

Nhằm ghi nhận những đóng góp của Tập [Cận Bình] vì sự tiến bộ của chủ nghĩa xã hội trong nhiệm kì kéo dài 6 năm, tháng 3 vừa qua người ta đã sửa đổi Hiến pháp Trung Quốc nhằm loại bỏ giới hạn nhiệm kì cầm quyền của ông này. Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc đã thông qua bản hiến pháp mới với 2.958 phiếu thuận, 2 phiếu chống và 3 phiếu trắng.

Những bùng binh nổi giận

Nguyễn Quang

Kiến Văn dịch

Thế là người Pháp, dân tộc om xòm và hay cãi, suốt 5 tuần lễ (xin lỗi, 5 “hồi”) nay, đắm mình trong vở tuồng xã hội bùng nổ mà họ vốn sở trường: tất nhiên ai cũng nghĩ tới “hệ quy chiếu” tuyệt đối, là phong trào Tháng năm 1968; rồi cuộc tổng đình công xe lửa năm 1995 chống lại cuộc cải cách của thủ tướng Alain Juppé; cuộc nổi dậy năm 2006 chống lại “hợp đồng tuyển dụng đầu tiên” của Dominique de Villepin; bãi công và biểu tình năm 2010 chống lại cuộc cải cách của Nicolas Sarkozy về chế độ hưu bổng. Năm nay, đệ nhị niên của triều đại Mã Khắc Long, vừa ra khỏi cuộc đọ gân với công nhân hoả xa, Đại Đế bỗng chới với với bọn “khố rách” (*) mặc áo vàng, dựng lên những máy chém hàng mã ở vô vàn bùng bình trên các nẻo đường đất nước. Diễn Đàn đã có bài “Cuộc khủng hoảng ‘áo vàng’ tại Pháp” tóm tắt diễn biến 5 tuần xáo động, ở đây, chúng tôi chỉ xin nhắc lại là cuộc khủng hoảng đã bắt đầu bằng một cuộc “jacquerie” (nông dân nổi loạn) tự phát, có vẻ như một phong trào Poujade (**), chống lại thuế môi trường đánh vào xăng dầu. Ban đầu, phong trào gặp sự chần chờ cù cưa của chính quyền, nhưng sau đó được các mạng xã hội tiếp ứng, rồi truyền thông khuếch âm, nó đã trở thành một cuộc nổi dậy bình dân, được sự ủng hộ của ít nhất 2/3 dân chúng Pháp, trong khi những yêu sách ban đầu được mở rộng thành những đòi hỏi về mãi lực và công bằng thuế khoá. Cuối cùng, sau những cuộc bạo loạn hồi III và IV, sự lùi bước và những nhân nhượng của chính quyền không dập tắt được được đám cháy đã lan sang lãnh vực định chế (không phải không có hơi hớm dân tuý chủ nghĩa). Ở phần dưới, chúng tôi sẽ bình giải về ba từ ngữ : Poujade, bình dân và dân tuý vừa dùng ở trên.

Tháng tận hay tận thế?

Ở trên đã nói tới giọt (dầu) đã gây ra sự “tràn hông” (vì thuế má): đó là quyết định tăng “thuế xanh” trong đạo luật ngân sách 2019 vừa được thông qua. Đây là sự tiếp nối “lộ trình cac-bon” bắt đầu dưới nhiệm kỳ François Hollande nhằm mục đích ngăn chống nạn hâm nóng khí hậu. Trái nghịch với những khẳng định nguỵ tín của một số người, cả hai biện pháp đang gặp sự chống đối – tăng thuế đánh vào “tấn cac-bon” (dẫn tới việc tăng giá xăng dầu) và việc từng bước tăng thuế dầu cặn lên ngang bằng thuế xăng – đều ghi rõ trong chương trình tranh cử của Emmanuel Macron, không những ghi rõ mà còn đi vào chi tiết trong những đề nghị được đưa ra để trả lời bảng câu hỏi của hội “40 triệu người lái xe”. Chính phủ hoàn toàn có khả năng thực hiện ngân sách “quá độ năng lượng” vì biểu đồ giá xăng lên xuống theo thời gian cho thấy giá xăng cuối năm 2017 nằm trong trung bình giá cả từ 1960 đến nay (xem hình 1). Không những thế, biểu đồ mức lương cho thấy, năm 1973, một giờ tiền lương tối thiểu (smic) mua được 3 lít xăng, năm 2018 mua được 6 lít. Lại nhớ tới sự phản đối quyết liệt (đến mức đốt phá những cột ra-đa bắn tốc độ) quyết định hạn chế vận tốc tối đa 80 km/giờ trên một số tuyến tỉnh lộ, có người vội vã kết luận phong trào Áo Vàng có hơi hớm Poujade. Xin nhắc lại vào những năm 1950, đó là phong trào do Pierre Poujade khởi xướng, tập hợp một số ngành nghề. Trong ngôn ngữ chính trị Pháp, nói “phong trào Poujade” là nói tới sự tập hợp một số ngành nghề và những tầng lớp trung lưu có xu hướng phản động.

Hình 1 : biểu đồ giá xăng bán lẻ trong thời gian 1960-2017 tính bằng Euro cố định 2017.

h1

Prix de l'essence à la pompe en France (en euros constants 2017).

Chúng tôi không có ý biện minh cho những hành động quá khích, nhưng phải nói phản ứng như vậy là quá vội vàng bởi vì đó là quan điểm thuần tuý “kỹ trị”. Điều mà tia lửa gây ra đám cháy đã rọi sáng một điều mà những thống kế vĩ mô không cho thấy là giới tuyến phân chia hai nước Pháp: một nước Pháp toàn cầu hoá bao gồm những trung tâm đô thị lớn, và một nước Pháp bao gồm những vùng ngoại vi trên đường bần cùng hoá, nghĩa là nông thôn và cả những thị trấn và thành phố nhỏ bị gạt ra ngoài lề cuộc toàn cầu hoá. Sự phân bố các hoạt động Áo Vàng xác nhận sự phân ranh: 77% trong số 700 xã tham gia phong trào Áo Vàng là những xã dân số không quá 20 000 người, số thành phố trên 50 000 dân chỉ chiếm 8% tổng số 700 nói trên. Phương thức hành động cũng cho thấy điều đó: sở dĩ “Áo Vàng” đóng chốt ở các bùng binh ngoại vi và bãi đậu xe của các trung tâm thương mại là vì đó là những biểu tượng hiển nhiên nhất của những cư dân phải dùng xe hơi để đi làm việc và đi mua bán. Một chính sách “quá độ năng lượng” lẽ ra phải tích hợp cả những nhân tố “ngoại tại” như phương tiện di chuyển và dịch vụ công cộng, tức là nằm trong tổng thể “quy hoạch lãnh thổ”. Nghĩ cho cùng, đó là những nhân tố không “ngoại tại” chút nào.

Để hiểu rõ hơn thành phần kinh tế - xã hội của những người Áo Vàng, may sao chúng ta có được số liệu một cuộc điều tra thực địa do 70 nhà nghiên cứu và giảng dạy đại học tiến hành từ ngày 24.11.2018, và những kết quả ban đầu đã được công bố trên nhật báo Le Monde (số đề ngày 11.12.2018). Theo đội ngũ điều tra, “mục tiêu là thu thập những dữ liệu cho phép nhận thức được phong trào này về mặt xã hội học. Làm sao hiểu được tính phức tạp, thành phần và diễn trình của phong trào, ghi nhận những yêu sách của các thành viên, đo lường được sự đa dạng trong phương thức tổ chức và huy động (…). Các dữ liệu được xử lý bằng những phương pháp đan chéo để có thể nhận thức về vận động của phong trào một cách sâu sắc và phức tạp hơn là đứng từ một quan điểm duy nhất”.

Hình 2 (Biểu đồ của báo Le Monde)

Kết quả bước đầu cuộc điều tra “Áo Vàng” (phỏng vấn 166 người trong hai ngày 24.11 và 1.12.2018)

Phân bố thành phần xã hội và nghề nghiệp của những người được phỏng vấn (tính theo %)

Vàng đậm: tính chung những người Áo Vàng

Vàng nhạt: những phần tử “tích cực”

Con số trong khung tròn: tỉ số % trong dân số Pháp (năm 2017)

Danh sách nghề nghiệp:

Agriculteurs et exploitants: nông dân và chủ doanh nghiệp nông thôn

Artisans, commerçants et chefs d’entreprise: thợ thủ công, thương nhân và chủ doanh nghiệp

Employés: người làm công

Ouviers: công nhân

Professions intermédiaires: nghề trung gian

Cadres et professions intellectuelles supérieures: cán bộ và nghề nghiệp trí thức cấp cao

Inactifs: người không hoạt động

h2ah2b

Bình luận: Hình 2 (trái) cho thấy một vài thành phần có mặt nhiều hơn, ví dụ người làm công tham gia 33% (45% trong số tham gia tích cực, trong khi họ chỉ chiếm 27% dân số ở tuổi lao động). Họ đông gấp đôi công nhân (chỉ có 14% tham gia biểu tình). Thủ công, thương nhân và doanh nhân cũng rất đông: 10,5% tham gia (14% tích cực, trong khi giới này chỉ chiếm tỉ số 6,5% trong dân cư tuổi lao động). Ngược lại, các nghề trung gian và cán bộ tương đối ít tham gia: nghề trung gian chỉ chiếm 10% số người biểu tình (13% số người tích cực, trong khi tỉ trọng trong tổng số người Pháp trong tuổi lao động là 26%); số cán bộ chỉ chiếm 5% số người biểu tình (7% số người tích cực, trong khỉ tỉ trọng cán bộ trong tổng số người Pháp ở lứa tuổi lao động là 18%) (đây là những thống kê về các cuộc tuần hành và chốt đường trong hai ngày 24.11 và 1.12). Một phần tư số người Áo Vàng là những người “không hoạt động”, đa phần là người nghỉ hưu.

Đứng về mặt thu nhập, “Áo Vàng” thuộc những giai cấp thường được gọi là “bình dân” hay “trung lưu thấp”. Cụ thể, 55% người Áo Vàng nói là có đóng thuế thu nhập (cũng như toàn bộ dân chúng Pháp), 85% có xe hơi riêng. Thu nhập trung vị tính theo hộ gia đình là 1 700 Euros, so với thu nhập trung vị chung thì thấp hơn 30% (theo số liệu điều tra về “Thu nhập thuế và xã hội” năm 2015 của Viện thống kê INSEE). Nói chung, “Áo Vàng” là những người thu nhập thấp, nhưng không ở trong hoàn cảnh “bấp bênh”: 10% trong số họ cho biết thu nhập hàng tháng ở dưới mức 800 Euros (trong khi đó, thu nhập hàng tháng của 10% số hộ nghèo nhất ở Pháp là 519 Euros).

Điều tra về ý kiến chính trị còn cho thấy một điều bất ngờ, đi ngược với phản ứng ban đầu của những người cho rằng phong trào “Áo Vàng” cho hơi hướm Poujade. Hình 3   (Biểu đồ của báo Le Monde)

Trên nấc thang từ 1 đến 7, bạn tự xác định chính kiến của mình nghiêng về phái tả (1) hay phái hữu (7) (tỉ lệ %):

- Không tả không hữu : 33 ;1%

- Có định vị chính trị : 61,5 %

- Không nói : 5,4%

h3

Cho dù một đa số tương đối (33%) tự nhận là vô chính trị, thành phần phái tả đông hơn hẳn thành phần phái hữu. Điều này cho thấy tại sao các chính đảng phái hữu, như LR (Wauquiez) và RN (Le Pen), đều nhất trí khoác “Áo Vàng” lên người và gán ép cho họ những sơ đồ chính trị - tư tưởng của chính mình (LR thì đòi giảm thuế, RN thì kịch liệt chống di dân) đã hoàn toàn trật chìa đối với xu hướng chung của phong trào (xem hình 2 phải).

Để bổ sung bức tranh toàn cảnh trên, cũng nên nói tới kết quả cuộc thăm dò dư luận của IFOP (ngày 13 và 14 tháng 11) về sự ủng hộ Áo Vàng của dân chúng: 62% thợ thuyền, 56% người làm công, 54% người lao động độc lập, 57% người dân nông thôn ủng hộ phong trào ; còn giới cán bộ cấp cao chỉ có 29% ủng hộ “Áo Vàng”.

Chú thích về một vài thuật ngữ thống kê kinh tế:

Thu nhập trung vị : là mức thu nhập tách đôi dân số làm hai phần bằng nhau: 50% dân số có thu nhập cao hơn, 50% thu nhập thấp hơn. Đây là một chỉ dấu có ý nghĩa hơn là thu nhập trung bình, chỉ là con số trung bình của tổng số thu nhập chia cho số đầu người. Cũng cần phân biệt thu nhập trung vị tính theo hộ gia đình với thu nhập trung bình tính theo “đơn vị tiêu thụ” (viết tắt là UC). UC được tính theo bậc thang tương đương (được chỉnh sửa) của OCDE: trong môĩ hộ, người thành niên thứ nhất được tính là 1 UC, những người khác (14 tuổi trở lên) được tính 0,5 UC, trẻ em dưới 14 tuổi 0,3 UC. “Mức sống” (từ ngữ không chính thức) là thu nhập trung bình tính theo UC, tức là thu nhập của hộ gia đình chia cho số UC; như vậy là mọi thành viên trong gia đình đều có “mức sống” ngang nhau.

Còn mãi lực (sức mua) thì sao ? (ngay từ tuần lễ đầu tiên, mãi lực đã được nêu ra trong các yêu sách). Một bài báo khá tỉ mỉ của Elise Barthet (trang “Kinh tế” của nhật báo Le Monde, số đề ngày 16.11.2018) đã lí giải độ vênh giữa những số liệu thống kế vĩ mô và thực tế nghiệm sinh. “Sức mua”, theo định nghĩa, là số tiền còn lại khi lấy số thu nhập “thô” của mỗi hộ gia đình (tiền lương, thu nhập từ gia sản như tiền cho thuê nhà, cổ tức, và những số tiền được cấp dưỡng như tiền hưu, trợ cấp gia đình) trừ đi các khoản thuế trực thu, tiền đóng góp vào quỹ xã hội, và lạm phát. Thế mà theo điều tra của CREDOC thì hộ nào có mãi lực ở dưới mức 1 400 EUR/tháng đều bắt đầu bị khó khăn, và đại để đó là giới hạn trên quy định sự tham gia vào phong trào “Áo Vàng”. Trong khi chính quyền, và ngay cả những chuyên gia dự báo kinh tế thuộc mọi xu hướng, mùa thu vừa qua, đã hân hoan mừng “sức mua” chung của người dân Pháp gia tăng (+1% theo viện thống kê INSEE) nhờ giảm thuế nhà ở và nhờ huỷ bỏ các khoản đóng góp về lương bổng, thì sự thực là các cuộc cải tổ đã tiến hành trong năm 2018 và dự kiến trong năm 2019 dẫn tới giảm thu nhập đối với 23% người Pháp nghèo nhất. Để hiểu rõ ý nghĩa những con số, trong ngân sách các gia đình, cần phân biệt các khoản chi tiêu “hoạch định trước” (tiền nhà, bảo hiểm, căng-tin, điện thoại, nghe nhìn vân vân) với những chi tiêu “có thể du di” (nghĩa là những chi tiêu khác). Thế mà, theo một nghiên cứu của sở DREES thuộc Bộ Y tế và liên đới xã hội (Sở nghiên cứu, đánh giá và nghiên cứu thống kê), thì đối với những gia đình thanh bần nhất, “số tiền còn lại để sống” năm 2018 chỉ còn chiếm 39% quỹ gia đình. Từ đó, có thể hình dung ra hoàn cảnh một gia đinh hai con và hiểu được câu trả lời dứt khoát của “Áo Vàng” đối với câu hỏi – trở thành câu hỏi ở cửa miệng mọi người – của Bộ trưởng Môi trường Nicolas Hulot vừa từ chức: “Lo những ngày cuối tháng hay lo cho ngày tận thế” ?

Tự do, bất bình đẳng và li khai

Cố nhiên Nicolas Hulot không đặt câu hỏi ấy dưới dạng nhị phân, hai vế phải chọn một. Khi tái hiện trên đài truyền hình (ngày 22.11), giữa lúc đỉnh điểm của phong trào “Áo Vàng”, Hulot vẫn chủ trương “đánh thuế cac-bon”, với điều kiện là sự chuyển tiếp chính sách năng lượng để bảo vệ môi trường phải tuân thủ nguyên tắc “liên đới xã hội”, cụ thể là kèm theo, phải có “gối đệm xã hội” để “thuế xanh” trở thành công bằng. Trong cuộc thảo luận về ngân sách 2019 ở Quốc hội, các đại biểu “ở cơ sở”, tả cũng như hữu, cũng đã chất vấn chính phủ theo cùng chiều hướng ấy: những lời báo động về môi trường chỉ “lọt tai” những ai có công ăn việc làm đang hoàng, có thể suy nhẫm về tương lai (vì thu nhập có đủ). Những đại biểu Quốc hội còn đề nghị cả những biện pháp kỹ thuật như đặt ra “vé xăng dầu”, hay “tiền thưởng cho sự chuyển tiếp năng lượng” dành cho những gia đình thanh bần, trích từ thuế môi trường, hay từ sự tái phân phối thuế giá trị gia tăng (TVA) tăng lên theo giá dầu thô. Chính phủ đã làm ngơ trước những đề nghị đó. Sự điếc đặc của chính phủ xuất phát từ ý đồ muốn che giấu toan tính này: trên số 4 tỷ EUR thu được do tăng thuế xăng năm 2018, và 4 tỷ EUR dự trù cho 2019, chính quyền dự định chỉ dành 10% cho các biện pháp đi kèm, còn bao nhiêu là để bù vào khoản hao hụt vì bãi bỏ thuế tài sản ISF và thuế flat tax đánh vào thu nhập của tư bản (xem phần dưới). Thành thử những thành phần thanh bần trong xã hội không có lí do gì tham gia trò xúc xắc ma giáo này.

Từ bất bình đẳng về thuế má chuyển sang bất bình đẳng xã hội, chỉ cách một bước ngắn. Từ khi các công trình nghiên cứu của Thomas Piketty1 đã lưu ý tới vấn đề này, tình hình vẫn chưa khấm khá hơn, theo báo cáo của Observatoire des Inégalités (Đài quan sát về các bất bình đẳng): tháng 5-2018, cơ quan này đã xem xét thực trạng xã hội Pháp mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 (vụ “subprime”). Đại để, cuộc khủng hoảng đã tác động mạnh mẽ vào các tầng lớp bình dân (đối tượng đầu tiên của nạn thất nghiệp đại trà và dài hạn), làm giảm sức mua của tầng lớp này. Các giai cấp trung lưu dường như ít chịu ảnh hưởng, nhưng viễn tượng tương lai của họ cũng như của con cái họ bị khựng lại, trong khi các gia đình giàu càng giàu thêm. Những bất bình đẳng ngày một nặng hơn, khiến cho “khế ước xã hội” suy yếu đi, gây ra sự phẫn nộ trong một bộ phận dân chúng. Dưới đây là một vài con số:

– Trong mười năm, từ 2004 đến 2014, số người nghèo, nghĩa là những người sống với 50% thu nhập trung vị, nghĩa là dưới 848 EUR/tháng (gồm cả trợ cấp xã hội, và đã trừ thuế), đã tăng gần một triệu người, đưa tỉ số người nghèo ở Pháp lên 8,1% dân số (5 triệu người, trong đó 1,2 triệu là trẻ em và vị thành niên). Tệ hơn nữa, giữa năm 2003 và năm 2014, lớp 10% dân số nghèo nhất, mãi lực mỗi tháng mất đi 30 EUR (tính theo UC – tiền tệ tính theo giá “so sánh”). Kết quả là mãi lực trung bình xuống tới mức 658 EUR tính theo UC. M. Maurin, giám đốc Đài quan sát, nhận định: “Từ Thế chiến lần thứ Nhì đến nay, chưa bao giờ có sự giảm sút như vậy. Tất nhiên không phải là suy sụp, nhưng sự giảm sút này góp phần vào sự bực tức trong thành phần dân chúng này, thể hiện trong kết quả các cuộc bầu cử”.

– Chênh lệch giữa 10% dân số giàu nhất và 10% nghèo nhất là 7 :1, và nếu xét tới cả di sản – Piketty coi đó là một thứ tư bản, một lợi tức tích luỹ ở ngoài tầm với của những người “ở dưới cùng” – thì sự bất bình đẳng còn tăng lên gấp bội : 10% giàu nhất, với một gia sản thô là 1,25 triệu EUR, có trong tay 630 lần 10% nghèo nhất, với số tiền tiết kiệm trung bình là 2 000 EUR. Thêm vào đó, giá nhà thuê tăng lên càng làm sự chênh lệch lớn hơn : quỹ nhà ở chỉ chiếm 13% ngân sách của người giàu, nhưng lên tới 31% ngân sách người nghèo (tăng 6% từ 2001 đến nay).

– Đó là chưa nói tới cái gọi là “tối ưu hoá tiền thuế” hay, huỵch toẹt hơn, sự trốn thuế. Ít ai biết rằng chấp nhận đóng thuế nằm trong Tuyên ngôn quyền con người và quyền công dân năm 1789 (điều 14), bởi vì nhờ thuế mà thực hiện được khế ước xã hội. Cho nên, một khi mà những kẻ khá giả muốn “li khai”2 (nói như đầu đề một cuốn sách gây chấn động) với cộng đồng xã hội bằng cách trốn không đóng thuế, thì làm sao đòi hỏi những người nghèo khó nhất phải làm tròn nghĩa vụ công dân? Cũng như làm sao chê trách khi họ muốn nhận được sự đoàn kết của cộng đồng và những phúc lợi của “Nhà nước ban phát” (đòi thêm phương tiện chuyên chở công cộng, nhà trường, nhà thương…), lại còn biểu tình chống quá nhiều thuế má (xem bảng 2 phải). Còn những kẻ phá phách cướp hôi trong các cuộc biểu tình, phần nào người ta hiểu được là chúng muốn kết thúc thế giới hiện hữu hơn là kéo dài vô hạn định một thế giới như vậy.

– Vẫn liên quan tới thuế, Đài quan sát bất bình đẳng nêu rõ một nghịch lý: người ta vẫn thường cho rằng nước Pháp đứng đầu về tái phân phối và Hoa Kỳ là vô địch về bất bình đẳng, song một nghiên cứu mới đây của WIL (Phòng thí nghiệm thế giới về bất bình đẳng) tiến hành chung với IPP (Viện chính trị công cộng) đưa tới kết luận như sau, tuy hệ thống tái phân phối của Pháp bình đẳng hơn, nhưng thua hệ thống Mỹ về hiệu quả. Không đi vào chi tiết, có thể tóm tắt vào một nguyên nhân cơ cấu: cách đánh thuế thu nhập của Pháp là tăng tiến (thu nhập càng lớn thì tỉ suất thuế càng cao), nhưng tổng số thuế thu nhập chỉ đạt 4% của GDP toàn quốc, trong khi ở Mỹ là 10%. Còn thuế tỉ lệ như CSG (thuế xã hội tổng quát hoá) hay thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng TVA (khoản này lớn gấp đôi thuế thu nhập), hoặc các loại thuế nhiên liệu, thuốc lá ở Pháp nặng hơn ở Mỹ rất nhiều. Mà thuế gián thu lại là thứ thuế bất công nhất, vì các gia đình thu nhập thấp phải chi tiêu phần lớn ngân sách của mình cho những khoản chịu thuế gián thu, nghĩa là một phần lớn thu nhập của họ bị thuế lấy đi. Đó chính là vấn đề mà phong trào Áo Vàng tố cáo quyết liệt.

– Để bổ sung bức tranh toàn cảnh này, cũng nên nói tới báo cáo thường niên của ngân hàng Thuỵ Sĩ Crédit Suisse về tài sản trên thế giới (ngày 18.10.2018). Báo cáo cho biết: từ giữa năm 2017 đến giữa năm 2018, tức là năm đầu tiên của nhiệm kỳ Emmanuel Macron, có thêm 259 000 hộ gia đình Pháp trở thành triệu phú. Trong cùng thời gian ấy, chỉ có Mỹ là “hơn”. Có nhiều nhân tố giải thích sự việc này: giá bất động sản tăng, lợi tức đầu tư tăng, đồng Euro ổn định, không khí kinh doanh khả quan. Vẫn theo Crédit Suisse, hiện nay Pháp đứng hàng thứ 5 toàn cầu về số triệu phú (2,5 triệu hộ); chân trời 2023 còn tươi sáng hơn : 3 triệu. Danh hiệu “tổng thống của những người (rất) giàu” ám chỉ ai nhỉ ?

Chính Macron là người, thay vì bắt đầu nhiệm kỳ bằng cách giảm bớt bất công, đã không ngần ngại làm tăng những bất bình đẳng bằng cách khởi động “chính sách kích cung”, bào mòn các hợp đồng có hỗ trợ, trợ cấp về nhà ở cho cá nhân (APL), lương hưu (bắt đóng thuế CSG). Cũng phải nói các biện pháp này có nêu trong chương trình tranh cử của ông. Nhưng “tội tổ tông” cũng là ở đó. Với việc đánh thuế lợi tức tư bản theo một mức duy nhất (thấp) – gọi là flat tax, thay thuế tài sản ISF – đặt ra từ thời thủ tướng Rocard năm 1989 dưới tên tắt IGF – bằng thuế đánh vào bất động sản IFI không mang lại nhiều tiền (xem bảng so sánh, hình 3), Macron hình thành một trong những rường cột của chính sách “vì tăng trưởng”. Dành ưu tiên cho “đầu tư sản xuất” thay vì “cổ tức” bất động sản, mục đích của chủ trương này là khuyến khích người có của đầu tư thêm vào nền kinh tế, với hi vọng trung hạn sẽ tạo ra thêm công ăn việc làm. “Lợi nhuận hôm nay là đầu tư cho ngày mai, tạo ra công việc cho ngày kia”, đó là thần chú của tổng thống, người đã đề ra thuyết “người cầm đầu dây leo núi” (ưu đãi người leo trước để kéo những người leo sau). Còn dám chê “thuyết nước chảy từ trên xuống (mưa móc)” mà thực chất cũng y hệt ! Một thứ lí thuyết mơ hồ, bá láp, đã xuất hiện ở Mỹ từ những năm 1930, sau cuộc Đại khủng hoàng, để choàng áo “xã hội” cho chủ nghĩa liberal kinh tế. Sau Thế chiến II, nó đã bị lu mờ trước các chủ trương của Keynes, chẳng ai nói tới… cho đến lúc kết thúc “Ba mươi năm vinh quang”, mới lại tái xuất giang hồ dưới dạng bình dân hoá và bóp méo những luận điểm của John Rawls trong tác phẩm về đạo đức học A Theory of Justice (1971). Năm 1981, chính tay Giám đốc Ngân sách Hoa Kỳ đã đề thuyết bằng câu nói xanh rờn: “Giảm bớt thuế cho những nấc thu nhập cao, cho những cá nhân giàu có nhất, cho các doanh nghiệp lớn nhất, và để cho thành quả tốt đẹp “tưới” xuống toàn bộ nền kinh tế, nhờ đó mà mọi người được hưởng mưa móc”. Giáo sư A. Parienty đã chỉ rõ rằng cái mệnh danh là lí thuyết đó chỉ là sự tin tưởng vào dăm ba liên hệ cơ học lờ mờ, hoàn toàn không có cơ sở lý luận, không luận chứng khoa học, đã bị các nhà kinh tế học bác bỏ, bị thực tế phủ nhận, nhưng nó đã trở thành một huyền thoại, nghĩa là một huyễn tưởng mà một số người tin như thật, một số khá đông để niềm tin của họ củng cố lẫn nhau. Khổ một nỗi là lời nói của những “tín đồ” này lại lọt tai những nhà lãnh đạo có quyền quyết định. Đó là căn nguyên cơn ác mộng “tân liberal” hoành hành trên thế giới suốt ba mươi năm qua. Ví dụ cụ thể là chính sách thuế của Macron, “đồng thanh tương khí” một cách lạ lùng với chính sách của Trump ở Mỹ. “Trò đùa tàn ác” này đã được mổ xẻ tinh tế trong cuốn sách của Piketty (xem chú thích 1). Nhưng đối với người dân đóng thuế bình thường, không được đào tạo về kinh tế học, thì chỉ cần vạch trần cái “tam đoạn luận” khởi điểm của thuyết “mưa móc”, như A. Parienty đã làm: “Tiền đem cho người giàu, lấy ở đâu ra ? Giảm thuế này, chẳng lẽ không tăng thuế khác sao? Đó chính là đề tài cuộc tranh luận hiện nay ở Pháp về những món “quà thuế” mùa thu 2017 mà Emmanuel Macron và chính phủ của ông đã mang tặng những người được thụ hưởng cuộc cải cách thuế đánh vào gia sản và việc giảm bớt thuế đánh vào thu nhập từ tư bản. Để có được món quà này, các vị đã chẳng buộc phải tăng thuế CSG, tăng thuế xăng dầu, thuốc lá, nghĩa là những thứ thuế chủ yếu đổ lên đầu người nghèo? Kết quả là mãi lực của giới trung lưu và giới bình dân được chuyển sang cho những tầng lớp khá giả. Với hi vọng giả định là nó sẽ thúc đẩy tăng trưởng. Trong khi chờ đợi, tỉ số tăng trưởng vẫn tiếp tục ỉu xìu” (Télérama, 06/12/2018).

Chính quyền dự trù tới năm 2020 sẽ làm báo cáo đánh giá, và nếu kết quả không như mong muốn thì sẽ điều chỉnh. Nhưng cho đến nay, uỷ ban đánh giá (gồm một số đại biểu quốc hội và đại diện Toà kế toán) mà nhiệm vụ là ngay từ “tháng 9-2019”, sẽ phải sơ kết… vẫn chưa được thành lập. Chẳng cần sơ kết, cái giá phải trả của chính sách thuế này, ngay từ đầu, đã khá rõ ràng : cho năm 2018, Nhà nước thất thu 3,2 tỷ EUR, thậm chí 4,5 tỷ nếu tính cả “flat tax”, tức là một nửa tổng số giảm thuế năm 2018. Ngay từ đầu, chính quyền biện bạch huỷ bỏ ISF vì nó ít hiệu quả mà lại thúc đẩy người ta tuồn tư bản ra nước ngoài. Điều này, một số nhà kinh tế học, như Piketty và nhóm của ông, đã đưa ra những số liệu để bác bỏ thẳng thừng. Theo Piketty (xem ở đây), “từ năm 1990 đến nay, người ta ghi nhận số người khai thuế ISF và tổng số gia sản chịu thuế ISF đã tăng vọt và tiếp tục tăng. Các mức độ gia sản lớn nhỏ đều tăng, nhất là con số những gia sản lớn, số gia sản tài chính và tổng số của cải tài chính lại tăng nhanh hơn các gia sản bất động sản, và tổng số gia sản bất động sản tăng nhanh hơn hẳn tổng sản lượng GDP và khối lượng lương bổng (…). Tính chung, từ 1990 đến 2017, tổng số thuế ISF đã tăng gấp hơn 4 lần: từ 1 tỷ lên hơn 4 tỷ, trong khi GDP chỉ tăng gấp đôi. Được như vậy mặc dầu trong thời gian ấy, những người đóng thuế ISF đã được nhiều biện pháp bớt thuế, miễn thuế, định “trần” tối đa, và mức gia sản thấp nhất phải đóng thuế, năm 1990 được quy định là 0,6 triệu EUR dần dần được tăng lên thành 1,3 triệu EUR (từ năm 2012) – sau khi bớt 30% trị giá cơ ngơi nhà ở chính. Với một bộ máy hành chính hoàn thiện hơn [hiện nay công tác kiểm tra rất thiếu], thuế ISF có thể mang lại 10 tỷ EUR ngay từ bây giờ” (x. hình 4).

h4

CHÚ GIẢI Biểu đồ hình 4:

- Đường biểu diễn màu đỏ, từ 1990 đến 2017 : thuế ISF đã thu được.

- Từ 2018 về sau :

- Đường xanh lá cây : thuế thu được nếu vẫn duy trì ISF (giả thiết cao, theo xu hướng những năm 1990-2007)

- Đường đỏ : (giả thiết trung gian, theo xu hướng 2000-2017)

- Đường xanh lơ : (giả thiết thấp, theo xu hướng 2005-2017)

- Đường da cam : thuế thu được sau cuộc cải cách của chính quyền Macron

Nhìn cảnh tượng Macron bây giờ phải vét đáy ngăn kéo tủ để tìm cho ra mấy tỷ bạc, thì nói đến “tội tổ tông” thật quá đúng. Sự “vô ý thức giai cấp” của tân tổng thống hiện ra lồ lộ giữa thanh thiên bạch nhật khi dư luận dân chúng ngày càng quyết liệt đòi hỏi phải có những biện pháp xã hội mới để điều chỉnh chủ nghĩa tư bản trước những nguy cơ nảy sinh từ những bất bình đẳng chồng chất, từ tâm trạng bị bỏ rơi của các tầng lớp bình dân. Ngay những người ủng hộ Macron cũng phải than thở: “Việc cải tổ thuế ISF cắm rễ vào nhiệm kỳ 5 năm của tổng thống một cảm nhận về bất công. Biểu tượng ISF hết sức tiêu cực đang làm thư hoại nhiệm kỳ này”. Chắc họ không quên rằng năm 1986, Jacques Chirac khi làm Thủ tưởng, đã bãi bỏ thuế IGF (đánh vào những gia sản lớn), và hai năm sau thua đậm trong cuộc tranh cử Tổng thống. Và Nicolas Sarkozy đã tụt dù trong các cuộc thăm dò dư luận sau khi ông ta bày ra những cái “khiên chống đỡ thuế má” (cho nhà giàu) ngay khi mới lên làm Tổng thống năm 2007, và ngay từ đó, đã được gọi tên là “Tổng thống của người giàu”. Lịch sử thường có tật cà lăm!

Nhân dân đối nghịch dân chủ?

Sau khi tạo dáng “kiên định lập trường”, rồi chạy đua với đồng hồ, rồi cù cưa, cuối cùng tới chiều hôm trước “hồi V”, Macron đã phải nhượng bộ. Trong một cuộc xung đột kiểu này, càng cù cưa kéo dài, thì danh sách những yêu cầu càng dài ra và đa dạng lan tràn như vi-rút. Trong cuốn sổ những yêu sách thượng vàng hạ cám, chính quyền đã lúng túng và vội vã cho ưu tiên là nhân nhượng về “mãi lực”. Nhìn toàn cục, sự nhượng bộ không nhỏ và khá tốn kém, ước tình tối thiểu là 10 tỷ EUR, nghĩa là ngân sách nhà nước sẽ bội chi lớn, vượt quá mức trần 3% GDP vốn được coi là bất khả vi phạm. Nhưng về mặt cá nhân, những người thụ hưởng vẫn có thể bĩu môi: những người lương thấp được thêm 100 EUR, người về hưu thu nhập thấp hay trung bình được giảm đóng góp CSG, giờ làm thêm được miễn thuế, các doanh nghiệp được kêu gọi tự nguyện ban phát (tuỳ hỉ) tiền thưởng cuối năm… Về mặt công bằng thuế khoá và bình đẳng xã hội – khẩu hiệu đấu tranh chủ chốt của Áo Vàng – như thế rõ ràng chưa đủ. Ai sẽ trả tiền ? Không phải là giới chủ doanh nghiệp và giai cấp trên: chính quyền không chủ trương tăng thuế thu nhập cao hay tăng phần đóng góp của giới chủ. Như vậy sẽ đổ lên đầu người đánh thuế phó thường dân, ngay từ bây giờ, và lên đầu con cháu họ trong tương lai (sẽ phải trả nợ). Về mặt biểu tượng, chính quyền Macron không chịu trở lại thuế ISF. Mà dẫu muốn cũng chẳng dám. Một khi đã đâm lao, khởi động cái gọi là start up nation (quốc gia khởi nghiệp) bằng một loạt biện pháp giảm thuế, nới lỏng luật lao động, thì chỉ cần lùi lại một bước nhỏ, thậm chí chù chừ tí chút cũng không được, vì sẽ đánh mất sự tin cậy của “các nhà đầu tư”. Nói khác đi, mảnh đất tự do hành động của Macron từ nay bị thu hẹp. Chàng muốn làm Jupiter, một đấng Thiên tử, kiệm lời, nhưng mỗi lời phán ra là sấm sét rền vang. Trị vì trực tiếp, từ ngôi cao, vượt qua đầu mọi cấp trung gian (như công đoàn hay các cơ quan định chế), quyết định một loạt cải cách như một tổng tư lệnh tiến hành một trận đánh thần tốc: ban hành đạo dụ về lao động, cắt giảm các khoản thu của các cấp chính quyền địa phương, xiết chặt ngân sách y tế, bãi bỏ thuế ISF… Lối cai trị theo chiều thẳng đứng này bỗng bị hụt hẫng khi phong trào “Áo Vàng” phát triển thiên biến vạn hoá theo chiều ngang. Nhà chính khách tay mơ bỗng vấp phải khó khăn khi muốn thực thi quyền hành dân chủ. Tại Pháp cũng trên trên bình diện quốc tế, “hôm nay là ngày đầu tiên trong phần còn lại của cuộc đời3” Tổng thống.

Dầu sao, thất bại một nửa của phong trào “Áo Vàng” cũng đặt ra một vấn đề thực chất. Tại sao nó không liên kết được các sự bất mãn, không tạo ra được sự “hội tụ các cuộc đấu tranh” mặc dầu đã có nhiều dạng thức sáng tạo và được dư luận ủng hộ ? Ở các trường trung học, chỉ dấy lên được vài làn sóng nhỏ, các trường đại học gần như yên ắng, giới công nhân hầu như hoàn toàn vắng bóng (năm 1968, chính quyền chỉ chao đảo khi các công đoàn tham gia đấu tranh cùng với sinh viên và khởi động cuộc tổng đình công). Câu hỏi đầu tiên phải đặt ra là: quy mô của phong trào “Áo Vàng” có thật sự tương ứng với tiếng vang của nó trên báo chí không? Người ta quên rằng trong mùa thu náo nhiệt này đường phố diễn ra rất nhiều cuộc biểu tình tuần hành: người bảo vệ môi trường, công chức, giáo giới, phong trào phụ nữ chống bạo hành hiếp đáp #NousToutes (nối dài #MeToo)… Hồi I “Áo Vàng” đúng là đã đạt đỉnh cao trong mùa thu, nhưng sau đó, phong trào giảm sút liên tục: hồi I có 300 000 người biểu tình trên cả nước, hồi V chỉ còn 65 000. Ở Paris, cùng ngày 24 tháng 11, có 8 000 Áo Vàng, 12 000 #NousToutes! Phải chăng số người ủng hộ tỉ lệ nghịch với số người tham gia? Nói một cách nghiêm túc, sức mạnh của phong trào “Áo Vàng” ít dựa vào số lượng mà vào tác động của nó trên báo chí, vào hình thức hành động mà họ đã sáng tạo ra: chiếm đóng những trạm thu tiền trên xa lộ, và các bùng binh ngã tư giao thông, tức là công sức tối thiểu tạo ra sự hiển hiện tối đa. Trước đây, “Occupy Wall Street” (ở New York) hay “Nuit Debout” (ở Paris) đã tạo ra hiệu ứng tối đa bằng cách kết hợp việc chiếm đống một địa điểm đầy sức biểu tượng (phố Wall ở New York, quảng trường Cộng hoà ở Paris) với sức lan toả của mạng lưới internet và các mạng xã hội. “Áo Vàng” đã phát huy hiệu ứng ấy gấp mười, kết hợp mạng lưới giao thông trên toàn lãnh thổ với mạng lưới ảo của internet, Facebook, Tweeter…

h6

Nhưng mặt trái của sự “nhân bản” này là sự phân tán thành những đám “mây vàng”, bị đe doạ bởi tính bất ổn định của mọi vận động kiểu Brown. Như J. Fenoglio nhận xét trên báo Le Monde số đề ngày 03/12/18: “Những yêu sách họ đưa ra chồng chất lên nhau, cuối cùng đã tự triệt tiêu vì cái nọ mâu thuẫn với cái kia, những phát ngôn viên vừa xuất đầu lộ diện là bị tước mất danh nghĩa, tranh luận triền miên với nhau dẫn tới tình trạng là không nghe nhau nói và không nghe thấy chính quyền đề nghị những gì”. Cuộc nổi dậy đa thức đa âm này đúng là mới về hình thức, nhưng thiếu ý tưởng chủ đạo và dự phóng tương lai. Người ta không thể tiến lên nếu không định hướng và đưa ra những điều nghĩa lý. Thành thử sau một bàn ping pong rất ấn tượng được truyền hình trực tiếp, giữa một bên là nhân dân không có người đối thoại, rồi bên kia là một Tổng thống không có bên đối tác thương lượng, dường như một gói quà 10 tỷ EUR từ trên cao bỗng rơi xuống, để đáp ứng (hay không đáp ứng được) những yêu cầu bất khả phân biệt.

Cuối cùng, người ta nhận thấy phong trào “Áo Vàng” chỉ đoàn kết và rõ ràng trên vế xã hội – cập nhật hoá sức mua cho những người lao động nghèo khó. Trên vế chính trị là cả một dòng lũ, lẫn lộn sự căm thù đối với Macron-1 với giận hờn các nhà báo (thực ra là đồng minh khách quan), sự tẩy chay các công đoàn (cũng chính đáng không thua – nếu không nói là hơn – phong trào “Áo Vàng”) và bác bỏ mọi định chế hiện tồn, thậm chí phỉ báng các đại biểu dân cử tới mức độ không thể chấp nhận: “Sự phản đối không nhắm vào các giai cấp bên trên (những người “Áo Vàng” không hề đả động tới, coi đó không phải là kẻ xấu kẻ thù) mà lại nhắm vào các đại biểu dân cử, với những câu chữ hung hãn, lăng nhục, vu khống. Làm như những đại diện quốc dân, bị phỉ báng liên tục, bỗng nhiên đã biến thành những con quỷ dữ hút máu người, trở thành bọn quý tộc khinh mạn, một đẳng cấp ký sinh trùng. Không có sự nhầm lẫn đối tượng nào nguy hại hơn (…) Người nào có chút ít hiểu biết về nhịp sống hằng ngày của một đại biểu dân cử bình thường, biết làm tròn bổn phận của mình – họp nghị viên trong tuần, tiếp cử tri ngày thứ Bảy, dự các buổi khai mạc và các lễ nghi ngày Chủ nhật – đều biết rằng họ không ngồi chơi thụ hưởng thù lao dân biểu. Vậy mà người ta lại la ó các đại biểu quốc hội mà không đá động gì tới giới chủ nhân doanh nghiệp. Một định hướng chính trị kỳ quặc!” (Laurent Joffrin, Libération, 17/12/18). Hiển nhiên là có sự trở về phong trào Poujade xa xưa, thậm chí còn đi quá đà với khẩu hiệu thời thượng RIC, tức là “trưng cầu dân ý do công dân chủ động khởi xướng”. Khẩu hiệu này được tung ra trên bậc tam cấp của nhà hát lớn Opéra, từ cửa miệng của hai “phát ngôn viên”, một trong hai là một đồ đệ nổi tiếng của “thuyết âm mưu”, người kia là một thứ Jeanne d’Arc dương cao ngọn cờ chống thuế. Thành công mĩ mãn và tức thời: RIC đã trở thành khẩu hiệu thống nhất “Áo Vàng”, được báo chí (khao khát viết tiếp câu chuyện nhiều kỳ vừa thất bại với hồi V) khuếch âm trên mọi báo đài. Nhưng phải đi vào thực chất vấn đề và nói thật nói thẳng đôi điều. Dân chủ trực tiếp, dưới dạng thuần tuý nhất, là điều không thể thực hiện trong một xã hội hiện đại: dưới thời Cổ Hy Lạp, công dân thành Athènes có thể ngồi ở hội trường agora để thảo luận và quyết định mọi vấn đề của thành phố. Điều đó không thể nào thực hiện trong một nước đông gấp triệu lần, chính thể dân chủ chỉ có thể tồn tại dưới dạng thức đại nghị. Cả vấn đề do đó là phương thức đề cử đại diện và phương pháp kiểm tra sự đại diện. Từ khi chế độ dân chủ ra đời đến nay, người ra đã thảo luận và thử nghiệm các giải pháp khả dĩ (và… bất khả). Trong trường hợp chế độ Đệ ngũ Cộng hoà hiện nay ở Pháp, hiển nhiên và cấp thiết là phải cải thiện quy trình đại diện, sửa đổi những khía cạnh mang tính quân chủ, giảm bớt tác dụng bóp méo của đầu phiếu đa số. Nhưng cả vấn đề là làm thế nào ? Chẳng lẽ lấy khán đài TV thay thế nghị trường Quốc hội? Nếu lấy số người bấm nút like hay not like như trên Facebook để biểu quyết, hoàn toàn dự theo cảm tính và xung động tức thời, thì chẳng phải là dân chủ, mà là mị dân. Laurent Joffrin đã đưa ra một ví dụ giả định cho thấy sự bất khả của “bài toán RIC”: ta thử tưởng tượng ba cuộc trưng cầu dân ý nối tiếp nhau. Cuộc đầu đề nghị giảm thuế. Quá được lòng dân: đa số tán thành. Cuộc nhì: cải tiến các dịch vụ công cộng bằng cách tăng ngân sách chi tiêu. Trúng ý dân quá: thông qua. Cuộc ba: giảm bội chi ngân sách. Vẫn trúng ý dân: thông qua. Câu hỏi tiếp theo: lây tiền ở đâu?