21/04/2013

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi: TRĂN TRỞ VỀ THẾ HỆ TIẾP NỐI

Bài phỏng vấn của Ánh Hường

clip_image002

Tháng Năm 2012, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi có chuyến công tác từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Một buổi sáng đẹp trời, ông ghé thăm tòa soạn tạp chí Kiến thức ngày nay – tờ báo mà ông gắn bó cộng tác từ những số đầu tiên. Với tình thân hữu đó, ông dành cho phóng viên ít phút quý báu của mình để chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn, trăn trở của ông ở tuổi 75, khi nhìn về chặng đường lao động trí tuệ hơn 50 năm với những thành quả giá trị được ghi nhận.

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi còn quá trẻ, khỏe so với tuổi của mình. Phía sau cặp kiếng là ánh nhìn luôn tin yêu vào cuộc sống và đầy ắp những tâm huyết, lý tưởng cho công việc. Dường như tuổi tác không mấy tác động tới tư duy cũng như sức làm việc bền bỉ của ông. Cả cái cách mà ông nhìn về tôi – một cô phóng viên trẻ – ông luôn tin vào sức bật của giới trẻ, như chính những bậc thầy ngày xưa đã tin ông, để ngày nay, chúng ta biết đến một tên tuổi trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, văn học cổ Việt Nam.

clip_image004

GS. Nguyễn Huệ Chi (bên trái) cùng PGS. Trần Hữu Tá (giữa) đến thăm tạp chí Kiến thức ngày nay ngày 16-5-2012. Người ngồi bên phải là nhà văn Vu Gia

Thưa Giáo sư, trong các công trình nghiên cứu của ông, người đọc thấy ông có quan tâm đến văn hóa, văn học Trung Quốc?

Tôi là nhà nghiên cứu Văn hóa học, Văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc. Sở dĩ có cả Trung Quốc vì văn học và văn hóa Việt Nam đã có một thời gian rất dài chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc. Từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Tàu qua 1.000 năm Bắc thuộc, dù không muốn văn hóa Trung Hoa vẫn đóng vai trò chi phối đối với chúng ta bên cạnh việc họ cũng nhạy bén tiếp thu và “Hán hóa” vô số các tinh hoa lâu đời của Việt Nam và của các dân tộc phía Nam Trường Giang cũng như phía Tây, phía Bắc mà họ ngoạm dần lãnh thổ và đồng hóa một cách giai giẳng. Bởi thế, mình đang là một nước Đông Nam Á dần dà phải ngoảnh mặt lại để thành một nước trong khu vực Đông Á. Cái cưỡng bức ấy trong 1.000 năm trở thành tự nguyện, để rồi đến thời tự chủ thì quan hệ giữa văn hóa Việt Nam và Trung Quốc đã nghiễm nhiên là quan hệ phối thuộc giữa “ngoại vi” và “trung tâm”. Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam là 3 nước nằm trong vùng văn hóa Đông Á này. Nhưng trước sau thì mình vẫn là một nước Đông Nam Á, nên đồng thời vẫn mang nền văn hóa Đông Nam Á trong mình, cái cốt lõi mình không hề mất đi. Chính vì vậy, Việt Nam có hai nguồn ảnh hưởng: nguồn ảnh hưởng từ Ấn Độ, các nước Đông Nam Á sang và nguồn ảnh hưởng khác từ phía Bắc xuống. Trong người chúng ta có hai nền văn hóa thế đấy, nên muốn nghiên cứu văn hóa Việt Nam, nhất là thời kỳ cổ cho sâu, cho hay thì đương nhiên ngoài cái vốn bản địa, không thể không hiểu biết cặn kẽ văn hóa, văn học Trung Quốc.

Nghiên cứu văn học cổ là một lãnh vực rất khó, đặc biệt đối với những người trẻ. Được biết, năm 21 tuổi, ông đã được Viện trưởng Viện Văn học Giáo sư Đặng Thai Mai giao nhiệm vụ này. Đó là trách nhiệm quá sức đối với một thanh niên vừa mới chân ướt chân ráo rời khỏi ghế nhà trường. Hẳn ông đã có một niềm tin vững vàng vào bản thân ngay từ bấy giờ?

clip_image006

Nguyễn Huệ Chi lúc còn là sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội (1958)

Lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi chuyên nghiên cứu giai đoạn văn học 1932 - 45. Thích thì lại thích Tự lực văn đoàn. Thời sinh viên, tôi đã có vài bài viết khá có tiếng tăm có liên quan đến văn chương thời đoạn ấy. Ra trường, đinh ninh là mình sẽ được đi theo ý thích. Nhưng khi mới chân ướt chân ráo về Viện, tôi được gọi vào phòng riêng của Viện phó, lúc bấy giờ là nhà phê bình Hoài Thanh, ông nhẹ nhàng hỏi tôi thích mảng nào. Tôi trả lời thành thật là mình đang theo đuổi giai đoạn 32 - 45. Khi ấy, sắc mặt ông hơi trầm xuống. Im lặng một lúc sau, ông mới nói với tôi:“Ở một nước như nước mình, các “núi lớn” chính là thuộc về chặng đường văn học cổ. Những đỉnh cao như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... là những đỉnh không bao giờ với tới. Văn học hiện đại đến nay cũng chưa hề theo kịp. Mình làm công việc nghiên cứu này là làm khoa học, chứ không phải làm sáng tác. Mà đã làm khoa học thì sự hiểu biết phải rất rộng… Thế thì được đi vào những đỉnh cao như thế mới là triển vọng lớn cho những người trẻ. Nếu như đi vào những giai đoạn khác thì rất nhiều người có khả năng đi, cần gì đến mình nữa. Ở Trung Quốc, nếu ai được phân công nghiên cứu về các thi hào như Lý Bạch, Đỗ Phủ hay những nhà thơ nhà văn các thời đại tương tự thì người ta cho là một phần thưởng mà mình không dám mơ. Trong khi mình cứ mải mê với Tự lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao... dẫu có giỏi đến mấy rồi cũng chẳng tiến xa bao nhiêu. Thế mà, nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam một thời kỳ rất dài đã bị bỏ trống khá nhiều. Những mảng lớn còn trống ấy cần có những thanh niên xông xáo, có chí, có tài. Người chúng tôi nhắm tới chính là anh”. Tôi nghe cũng bùi tai và cảm động nhưng vẫn xin về suy nghĩ. Lúc bấy giờ, người bạn thân học cùng khóa với tôi là Phong Lê, anh ấy được phân vào giai đoạn hiện đại nên rất muốn tôi đi vào giai đoạn 32 - 45 để cả hai có sự liên kết với nhau trong công việc. Vì thế mà khi tôi vào phòng gặp Viện phó, Phong Lê đứng ở ngoài cửa phòng chờ đợi. Khi tôi đi ra, nhìn vẻ mặt trầm ngâm của tôi là Phong Lê hiểu ra ngay. Tuy nhiên, cậu ta cũng lặng thinh chứ không tỏ thái độ gì khiến tôi mất tự chủ. Sau vài đêm suy nghĩ, mấy hôm sau, tôi quyết định nhận lời ông Hoài Thanh. Vẫn biết là rất khó nhưng tuổi trẻ mà, tôi cũng muốn thử xông vào lãnh vực khó một cái.

Được biết, Giáo sư chính là học trò cưng của cụ Cao Xuân Huy, là một nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông, từng được gọi là “nhà Đạo học”. Ông được thừa hưởng gì từ bậc thầy tài năng này?

Viện trưởng Đặng Thai Mai ngày ấy rất tâm đắc với lớp trẻ, khi vào làm ở đây, ông theo dõi tôi từng tí một nên tôi tiến khá nhanh. Đến khoảng gần giữa những năm 60, sau ba, bốn năm làm việc tại Viện nghiên cứu, Viện trưởng gọi tôi vào phòng, bảo: “Cháu viết bài thì được đấy nhưng chỉ viết bài với vốn liếng nhà trường và ba năm Trung văn như thế là không đi xa nổi đâu. Bây giờ cháu phải theo ngay một lớp Đại học Hán học để có vốn liếng Hán học thật dày, thật sâu. Và phải học tiếng Pháp nữa. Có như thế mới làm được nhiều việc lớn”. Thế rồi ít lâu sau, cụ xin Thủ tướng Chính phủ cho mở một lớp Đại học Hán học (nghe nói việc mở lớp học này vốn do gợi ý của Cụ Hồ trước cả ông Phạm Văn Đồng).

clip_image008

Nguyễn Huệ Chi lúc học Đại học Hán học tại nơi sơ tán ở Hà Bắc (1967)

Tôi là sinh viên được chọn thẳng vì đã tốt nghiệp Đại học Khoa Ngữ văn trước đó. Khi ấy, tôi đã có khá nhiều bài viết được công bố trên các báo và đã được giới chuyên môn xa gần để ý. Cũng từ lớp Hán học này, tôi đã được đào tạo bởi những bậc thầy như Cao Xuân Huy. Nam Trân, Phạm Thiều, Phạm Phú Tiết, Đỗ Ngọc Toại... có thể nói Cụ Huy là linh hồn của lớp học, là người rất uyên bác và đặc biệt quan tâm đến những người trẻ có tâm huyết. Sau một thời gian gắn bó, cụ đã truyền lại cho tôi tất cả những kinh nghiệm, những kiến thức quý báu để mong tôi vượt được lên mình. Ngoài những buổi học ở trường, cụ còn chủ động gọi tôi đến nhà trao đổi thêm. Cụ xem tôi như một người con, người bạn vong niên, sẵn sàng chia sẻ những tâm tư về cuộc đời, về hoài bão mà cụ từng đeo đuổi. Thậm chí tất cả những gì cụ viết, cụ đều trao cho tôi, bao gồm những nghiên cứu về Lão giáo, Lão Tử, về tư tưởng phương Đông đối sánh với phương Tây... Từ đó, vốn liếng của tôi ngày một khá thêm lên. Đó là vốn kiến thức và vốn sống quý giá mà tôi may mắn nhận được từ cụ. Đến cuối năm 68, tôi tốt nghiệp loại ưu. Có 5 người trong diện này mà nay chỉ còn lại ba là anh Ngô Thế Long, tôi và PGS Trần Thị Băng Thanh, người nhiều năm làm phó cho tôi ở Ban văn học Cổ cận đại Viện Văn học.

Từ bệ phóng đó, Giáo sư đã tổ chức và thực hiện thành công bộ sách Thơ văn Lý – Trần, gây được tiếng vang và trở thành tài sản có giá trị rất lớn trong nền văn học nước nhà?

Thời đại Lý – Trần là một thời kỳ hết sức rực rỡ. Tính từ năm 938, khi Ngô Quyền giành độc lập, cho đến năm 1418 là năm Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, quân dân ta đã đánh thắng oanh liệt giặc Nam Hán và giặc Tống bốn trận lớn, và cũng đánh thắng giặc Nguyên Mông dũng mãnh bậc nhất thế giới đến ba phen. Đây là một thời kỳ nhân ái, nhân hậu, có hiện tượng nhường chức chưa từng thấy của Lý Thường Kiệt cho nguyên Tể tướng Lý Đạo Thành mà trước đó bằng thế và lực đang lên, ông đã mượn tay Hoàng hậu Ỷ Lan hạ bệ; có Hội nghị Bình Than và Hội nghị Diên Hồng; có sơ khởi của tinh thần dân chủ; có nhân bản của Phật giáo… Là một thời kỳ rất đẹp như thế nhưng di sản lại không còn bao nhiêu. Cho nên thật đáng tiếc nếu như nền văn học của hơn 5 thế kỷ này, vì lý do gì đó mà không khôi phục và bảo tồn được. Viện Văn học muốn thành lập một nhóm Lý – Trần để làm thế nào công bố cho được một bộ sách văn học thời Lý – Trần đang bị trống. Thế là cử tôi làm Nhóm trưởng của Nhóm Lý – Trần. Đây là gánh nặng quá lớn vì khi ấy tôi mới 27 tuổi. Mà việc này đúng ra giao cho nhà thơ Nam Trân, thầy giáo của tôi đảm nhiệm, vì ông ấy đã có công duyệt lại một số tư liệu trong thư viện từng được hai dịch giả Nguyễn Đức Vân và Đào Phương Bình sưu tầm và dịch trước đó. Nhưng ông đã mất đột ngột vào năm 1967 nên cuối cùng đành “bắt nghé làm trâu”. Thấy tôi còn chần chừ, một lần GS Đặng Thai Mai gọi tôi đến nhà chơi, cụ nhờ tôi đọc lại cho cụ nghe một bài cụ viết về văn học cổ Việt Nam để sang Viện Hàn lâm khoa học Đông Đức trình bày – lúc ấy, giọng đọc của tôi tương đối tốt. Đến tận khi ra về, cụ mới nói với tôi: “Bố đã làm công trình Việt Nam cổ văn học sử thì con làm Lý Trần là đúng rồi, còn gì mà “lầu bầu” nữa?”. Phải đến giây phút đó tôi mới biết mục đích cụ gọi tôi đến nhà là để kín đáo đả thông tư tưởng cho tôi. Với lòng tin yêu của cụ, tôi không còn lý do nào để từ chối, đành cùng bạn bè lao vào công trình nghiên cứu lớn này. Đến năm 1977 thì Tập I được phát hành.

Trong 8 năm để cho ra đời Tập I Thơ văn Lý – Trần, ngoài vốn tài liệu ít ỏi trong thư viện, và bản dịch của các bậc tiền bối, Giáo sư làm thế nào để thu thập thêm những tài liệu bên ngoài khác?

clip_image010

Tại phòng khách tạp chí Kiến thức ngày nay

Tôi cùng một số cộng sự do chính tôi tuyển chọn, gồm những người sau này trở thành Phó Giáo sư như Đỗ Văn Hỷ, Trần Băng Thanh, Phạm Tú Châu..., chúng tôi thừa hưởng bản dịch của các cụ Trong Tổ Hán Nôm để lại, nhưng theo yêu cầu của Viện, để xử lý những bản dịch ấy thì phải đối chiếu lại với bản gốc, khảo đính kỹ lưỡng, đồng thời cùng nhau đi khắp nơi để sưu tầm thêm. Thuở ấy chúng tôi hăng lắm. Có thể nói, suốt thời gian mấy chục năm, dấu chân của chúng tôi đã in hầu khắp trên địa bàn của nước Đại Việt thời xưa. Kể từ biên giới phía Bắc và phía Tây cho đến Đèo Ngang. Chỉ cần nghe ở đâu có bia hay có sách Hán Nôm cổ còn lưu giữ là chúng tôi đánh đường tìm đến, bất kể núi cao hay rừng thẳm (như có lần – 1970 – chỉ có mấy anh chị em mà hì hục dập tấm bia Lý giữa rừng Tuyên Quang đến gần sáng mới xong; có lần – 1992 – trèo lên Ngọa Vân Am, cả mấy anh chị em phải ngủ lại một đêm trên đỉnh núi cao tít cùng một vị sư và vài chú tiểu, họ đốt lửa xung quanh để đề phòng thú dữ cho mình). Những tấm bia mà chúng tôi tìm được đều có văn chương cực hay. Ngoài các triết thuyết Phật giáo uyên thâm, chúng còn xây dựng được những chân dung văn học cô đọng nhưng phong phú màu sắc và giàu tính nghệ thuật. Ví dụ như chân dung Lý Thường Kiệt trong bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng. Hay ở chỗ, bia thì nằm trong chùa, nhưng lại tập trung soi rõ một chân dung nhân vật ngoài đời, lấy công tích làm “việc đời” của nhân vật để coi là “việc đạo”, thừa nhận đấy là công tích của nhà Phật – cái cách hoán chuyển tinh tế ấy giữa đạo và đời tạo nên hứng thú thẩm mỹ. Công lao lừng lẫy giúp nước của Lý Thường Kiệt như phá Tống bình Chiêm đều được đưa vào tấm bia và được đúc kết thành một bài văn rất hay. Cho nên những di sản đó hầu hết đều là các kiệt tác văn học đương thời và tìm ra được chúng phải coi là những kỳ tích. Tôi cùng các cộng sự không ngần ngại đi khắp nơi để tìm kiếm, từ năm này đến năm khác. Ngày đó, phương tiện đi lại rất khó khăn, gặp đâu ngủ đó, rất cực nhọc vất vả nhưng cũng để lại nhiều kỷ niệm khó quên.

Đó là những kỷ niệm gì, thưa Giáo sư?

Trong một lần được mời về khảo sát ở Đông Triều vào năm 1992, chúng tôi tìm ra nhiều di tích quý giá đang mai một, như mấy chữ Hán rất lớn “Thiên Long uyển” khắc trên một hòn núi đá ở xã Yên Đức gần con sông chạy dọc theo dãy núi đá Tràng Kênh thông vào sông Bạch Đằng, gần bên cạnh lại phát hiện ra một tấm bia của Đỗ Khắc Chung soạn trước khi mất, nói rõ mình xin trả khu đất này lại cho con cháu hoàng tộc nhà Trần, và gần đó có một địa điểm còn mang tên Đồn Canh. Đây là một vùng đất rộng rãi, trước kia nghe nói là rừng sồi mới bị chặt để trồng sắn từ năm 1977. Nhìn từ xa thấy rõ có ba đợt từ thấp lên cao, dưới là đền, lưng chừng là chùa, trên cao nhất là miếu thờ Đạo giáo nhưng tất cả cũng đều đã bị phá từ năm 1977. Ngắm nhìn quang cảnh ấy, và suy tính độ dài từ đấy đến sông Bạch Đằng, tôi bỗng dự đoán ra một điều nếu được xác minh cặn kẽ thêm thì sẽ là một căn cứ quan trọng để biết hoạt động của hai vua Trần trong chiến dịch Bạch Đằng năm 1288: hai vua không đich thân áp sát nơi mũi tên hòn đạn mà trú ngụ tại đây, một đại bản doanh rất an toàn, các phía đều có núi che chắn, và từ đây mà chỉ huy chiến dịch ở tầm xa, hoặc cũng có thể đây là nơi ém một mũi quân quan trọng của Trần Quốc Tuấn do đích thân hai vua Trần chỉ đạo. Nếu không phải thế thì sẽ rất khó giải thích ai khắc chữ “Thiên Long uyển” vào núi? Một vị quan nào mà dám làm thế ư, sẽ mất đầu như chơi, vì đây là “vườn Nghìn Rồng” kia mà. Cho đến nay, tuy phát hiện đã lâu, chúng tôi vẫn chưa công bố di tích này trên bất kỳ một tờ báo nào.

clip_image012

Mấy chữ “Thiên Long uyển” khắc trên núi đá do Đoàn khảo sát của GS Nguyễn Huệ Chi phát hiện tại Yên Đức năm 1992. Ảnh Văn Anh.

Cũng trong lần khảo sát Đông Triều năm ấy, khi vừa chân ướt chân ráo về đến UBND huyện, mới được chừng đâu vài tiếng đồng hồ, chưa kịp trao đổi kế hoạch với các vị lãnh đạo ở đây thì đã nghe ngoài cổng huyện có tiếng xôn xao. Hóa ra không biết ai mách mà người dân thị trấn Đông Triều biết tin có đoàn cán bộ Viện Văn học về địa phưng nên kéo nhau đến xin được gặp gỡ. Đang nhìn nhau ngạc nhiên không biết họ gặp về việc gì thì bỗng ông Phó chủ tịch huyện tên Ch. ở đâu vội vã đi vào, mặt mày không lấy gì làm tươi tỉnh. Ông ta hạ giọng nói với tôi và chị Băng Thanh: “Xin các GS đừng ra gặp dân. Ngày mai các GS yêu cầu đi khảo sát bất kỳ đâu chúng em sẽ xin phục vụ đến nơi đến chốn”. Chúng tôi không biết nói gì hơn là đành gật đầu chấp nhận, bởi mình về khảo sát địa bàn Đông Triều không phải tự ý hay do quyết định của Viện mà do chính Tỉnh ủy Quảng Ninh mời về. Vậy thì mình phải nghe lời họ chứ chống lại sao được. Mặc dầu đành ngồi yên trong phòng khách không ra, trong đầu tôi cứ vương vấn với ý nghĩ: chắc phải có việc gì hệ trọng liên quan tới một di tích lịch sử nào người dân mới tìm đến mình tha thiết như vậy. Vài hôm sau thì mới vỡ lẽ: ngôi đền Trạo Hà ở ngay giữa thị trấn Đông Triều, nơi thờ một vị tướng Tây Sơn chết năm 1788 mà điều đặc biệt hơn mọi ngôi đền khác là phần mộ hoành tráng còn tồn tại ngay giữa đền với ba đạo sắc khắc trên ba phiến đá trắng dài rộng, hợp thành ba mặt của mộ, một đạo của Nguyễn Nhạc, một đạo của Nguyễn Huệ vào thời vị tướng còn sống và một đạo sắc truy phong của Quang Toản, chữ đẹp và sắc nét như chỉ mới khắc đâu hôm kia hôm qua. Nhưng cái điều “sinh sự” là ở chỗ này: đình Trạo Hà tọa lạc trên một khuôn viên rất rộng, lại ở ngay giữa ngã ba thị trấn, vì thế những người cầm quyền địa phương bỗng đâm ra tiếc rẻ, phải tìm cách... “xén” bớt đi, nay khoảnh này mai khoảnh kia, để còn có đồng ra đồng vào, thành thử họ cứ nấn ná chùng chình không muốn xếp hạng cho di tích mà họ thừa biết là vô cùng quý giá... Có lẽ không cần nói tiếp thêm nữa làm gì vì ai chẳng rõ, cho đến nay đâu đâu cũng thế thôi, đất đai vẫn là một vấn nạn mà trên khắp cả nước, chúng ta đang ngày càng phải đối diện với nó một cách tồi tệ. Lần ấy chúng tôi chỉ biết nén nỗi tiếc xót vào lòng, nhìn những mảnh vỡ vương vãi giữa đền của hoành phi câu đối bằng đá trắng, cũng hết sức tinh xảo, nói như đùa với lãnh đạo huyện Đông Triều: “Các cậu xoay xở kiểu ấy thì tội nghiệp cho di tích quá đi”. Cũng chẳng biết đến nay số phận đình Trạo Hà đã như thế nào rồi.

Lại có lần chúng tôi được mời tham dự một cuộc hội thảo khoa học ở Thanh Hóa vào năm 1974, có một người đến nói với tôi: “Cách đây khoảng 100km, có một tấm bia to lắm. Không biết bia thời nào, các ông cứ đi coi thử”. Tôi gọi ngay hai cộng sự của mình lén bỏ cuộc họp để lên đường đi gấp. 3 chiếc xe đạp thì mượn của Ty Văn hóa cũng chẳng mấy khó khăn, và cứ liều lĩnh mà đi theo hướng người thông báo mách cho mình, chứ cũng không có bất cứ một thông tin cụ thể nào khác. Đi ròng rã 3 ngày trời, vừa đi vừa hỏi thăm xem địa phương có bia cổ không. Rất nhiều người nhiệt tình bảo có, dắt chúng tôi đến nhưng đến nơi thì hóa ra chỉ là bia liệt sĩ. Chúng tôi tiếp tục đi đến một vùng cách Sầm Sơn khoảng 20km, thuộc một nơi trồng lạc rất lớn của địa phương. Dân ở đây bảo có một tấm bia trong vùng trồng lạc này. Khi đến nơi thì quả thật có một tấm bia rất lớn. Vào đọc mới phát hiện đây là tấm bia quá hay. Kể chuyện về một ông Hào trưởng tên Lê Công Mạnh. Khi Toa Đô mang quân từ Chiêm Thành ra để phối hợp với quân của Thoát Hoan, là một người yêu nước, ông ta đã mộ dân chúng địa phương, hình thành một đội quân chặn đánh y. Toa Đô bị hoảng hồn vì không ngờ có một đám “hương binh” dám đột kích bất thình lình như thế. Từ đó, tiếng tăm của ông Hào trưởng trở nên vang động khắp vùng. Khi nhà Trần thu phục được giang sơn liền phong tước cho ông và cho hẳn một khoảnh đất lớn làm phong ấp. Đến khi ông chết, nhân dân đã dựng chùa cùng với tấm bia này để ghi ơn. Sau khi hay tin có đoàn đi tìm bia, một ông Bí thư Đảng ủy xã chạy đến, hỏi chúng tôi trên tấm bia đó viết gì. Tôi thuật lại đại ý bài văn, ông Bí thư tỏ ra rất biết ơn vì nếu chúng tôi không kịp thời đến đây, họ đã cho đập bia để dành phần đất trồng lạc. Tôi mới nói: “Cả mấy trăm năm trời, cả cái đất Thanh Hóa này chỉ còn một ông Hào trưởng lừng lững còn tồn tại, tất cả đã chìm hết xuống lòng đất. Nếu các anh mà đập đi, con người lừng lững này cũng sẽ mất luôn. Nên tôi mong các anh suy nghĩ lại”.

Mãi đến năm 1994, tôi được đi nghỉ mát cùng cơ quan ở Sầm Sơn. Tình cờ một buổi tối, có người đến hỏi: “Ở đây có ai là Giáo sư Nguyễn Huệ Chi không?”, tôi đi xuống, vị khách đó bắt tay mừng rỡ: “Chúng tôi biết ơn Giáo sư nhiều lắm. Sáng mai, chúng tôi mời Giáo sư về thăm lại tấm bia mà ngày xưa, Giáo sư đã phát hiện và lên tiếng bảo vệ nó”. Sáng hôm sau tôi đến nơi và quá xúc động, vì vùng đất trồng lạc ngày đó đã được xây dựng thành một khu vườn có ngôi chùa khang trang, bên trong vườn là tấm bia được đặt trên bệ cao và che bằng nhà mái cong khá kiên cố. Từ đấy, nơi đây trở thành một địa điểm cho khách đến tham quan.

Câu chuyện về những kỷ niệm trong công việc của ông hiện lên thật rõ nét, gây cho tôi một ấn tượng không thể nào quên. Tôi chợt nghĩ, chỉ có những người thật sự tâm huyết, thật sự dấn thân, hết mình với sự nghiệp thì mới nhận lại được những niềm vui còn trào ra từ khóe mắt mỗi khi hồi tưởng về những việc mình đã trải, đã làm.

Có một người cha là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nổi tiếng: Giáo sư Nguyễn Đổng Chi, thời trai trẻ, ông đã học được những điều gì ở người cha đáng kính ấy?

Tôi được sinh ra trong một gia đình Nho học yêu nước. Ông tôi, bác tôi, bố tôi, anh tôi, đều là những người có để lại ít nhiều truyền thống cho con cháu. Những gì tôi học ở bố tôi thì nhiều. Ông dạy tôi làm luận từ thời còn bé tí và ra những đề bài hóc búa cho tôi, chẳng hạn tôi còn nhớ một đầu đề ông bắt tôi làm năm học lớp Nhất: “Hãy kể lại câu chuyện một hôm em đi cắt tóc bị người thợ cạo vô ý làm chảy máu ở đầu và nói lên cảm nghĩ của mình”. Tôi làm bài này không chỉ được bố khen mà một hôm chú tôi nhân đi công tác ghé thăm (bấy giờ chúng tôi ở với bố tại cơ quan của bố đóng ở Nam Đàn, Nghệ An), vô tình thấy bài luận lấy ra đọc, đọc xong quá ngạc nhiên, sau đó nói với bố tôi: “Cái thằng này đã bị thợ cúp làm chảy máu lần nào chưa mà viết tinh quái đến thế. Giỏi quá!”. Bố tôi còn dạy chữ Hán và tiếng Pháp rẩt sớm cho anh em chúng tôi. Bên cạnh khối lượng kiến thức mà ông có, ông là một người cha biết cách gần gũi các con. Khi tôi đã lớn, ông tôn trọng mọi quyết định của con và bất cứ chuyện gì về học thuật hay những “sự cố” ông gặp trong đời, ông đều đem ra bàn bạc với tôi. Sau này, có con, tôi cũng áp dụng cách xử sự ấy. Bây giờ, tôi và con trai có thể ngồi với nhau tâm sự thâu đêm như hai người bạn.

Thưa Giáo sư, ngoài công việc, cuộc sống gia đình của ông như thế nào?

clip_image014

Nguyễn Huệ Chi cùng vợ chưa cưới, tại Ô Đống Mác Hà Nội năm 1965

Tôi lấy vợ năm 27 tuổi. Bà xã là người cùng học ở lớp đại học Hán học từ 1965. Qua thời gian học chung, chúng tôi phải lòng nhau và nên duyên vợ chồng. Bà ấy hiểu tính tôi là người đam mê công việc nên hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình đi vào những công trình lớn. Phải công nhận đó là một người phụ nữ hiền dịu mà tôi may mắn gặp được. Lúc nào cũng nhận phần thua thiệt về mình.

Giáo sư là người đại diện cho giới trí thức đưa ra kiến nghị của mình khi gặp những vấn đề gây bức xúc trong xã hội, đó là những vấn đề nào và nhận được sự phản hồi ra sao?

Năm 2008, tôi cùng với 6 người bạn văn có lên tiếng kiến nghị không được hủy tập thơ của Trần Dần vừa in xong. Có thể là tập thơ chưa hay, tùy sở thích của từng người đọc nó, nhưng đâu có vấn đề gì để phải hủy nó đi. Đây là cách hành xử theo thói quen cửa quyền vốn có từ lâu, tùy tiện, không có cơ sở, lại để lại một hình ảnh rất phản văn hóa, làm người ta nhớ lại thời CCRĐ hay là mới giải phóng SG. Sau đó 3 ngày có phản hồi, Bộ Thông tin Truyền thông đã dừng lại việc thu hồi và đốt. Ấy cũng là lần đầu tiên kiến nghị dân sự chúng tôi đưa ra được chấp nhận.

Tiếp theo, là kiến nghị về Dự án khai thác Bauxite ở Tây Nguyên năm 2009. Trước đó, vấn đề bauxite đã rộ lên trong giới chính khách, giới khoa học. Đại tướng Võ Nguyên giáp đã viết đến mấy lá thư hết mực can ngăn. Hai hội thảo về bauxite đã được tổ chức, có những người như TS Nguyễn Thành Sơn, nhà văn Nguyên Ngọc tham dự và đều tỏ thái độ phủ định quyết liệt. Nước ngoài cũng có các chuyên gia lên tiếng như Kỹ sư Đặng Đình Cung. Nhưng những dư luận như thế trước sau vẫn chỉ mới khoanh lại trong phạm vi luận đàm giữa các nhà khoa học và các nhà chính trị, trong môi trường. trong môi trường chính thống mà thôi. Đến khi thấy bức thiết quá, nhà giáo Phạm Toàn bàn với tôi, tôi kéo thêm người bạn ít tuổi hơn là GS Nguyễn Thế Hùng, và chúng tôi cùng đề xuất một bản Kiến nghị vào đầu tháng Năm 2009, có tính cách công khai hóa trong dư luận rộng rãi, gửi cho một số bạn bè cũng như trực tiếp mang đến văn phòng Quốc hội, văn phòng Chính phủ và văn phòng Trung ương Đảng. Việc đó lập tức gây nên tiếng vang, chỉ vài ba ngày sau đã có mấy trăm người phản hồi qua thư điện tử, tình nguyện cùng ký tên vào kiến nghị, và số người ký cứ tăng vọt lên, cả trong nước lẫn ngoài nước, cuối cùng con số tăng đến trên 2000. Quả là cả một sự bất ngờ đối với nhiều người, nhất là những người trong chính giới. Có thể nói tác động chủ yếu của bản Kiến nghị này là nó xuất hiện rất đúng thời điểm (sát trước ngày họp Quốc hội, dư luận đang hướng vào nhiều điều bức bối của đất nước, trong đó nổi cộm lên là câu chuyện bauxite), và nhờ ra đời đúng thời điểm nên chính nó đã chuyển một vụ việc từ trong hai cánh cửa của những căn phòng hội thảo quan phương ra giữa đời sống xã hội. Thế là một phong trào dân sự khởi phát lên từ đây, ngày một mạnh mẽ thêm, bạo dạn cứng cỏi thêm. Rôi kế tiếp sau đó, thực tế đất nước lại nảy sinh nhiều biến cố không hay, không tốt cho nhân dân, cho sự tồn vong của dân tộc và quốc gia, trên mảnh đất mà chúng ta đã tốn không biết bao nhiêu xương máu mới giành lại được. Chúng tôi tất nhiên cũng lại phải lên tiếng. Kiến nghị này tiếp kiến nghị kia, mỗi lần đều có hàng mấy ngàn người hưởng ứng, thói quen phản biện hình thành dần trong xã hội như một nếp tư duy mới, thói quen gọi dạ bảo vâng mất đi. “Chân lý ban phát từ trên” không còn là điều nghiễm nhiên phải tuân phục nữa. Đó chính là cái được rất lớn bắt đầu từ kiến nghị của chúng tôi.

Tất cả những ý kiến của chúng tôi đều chân thành. Nếu là một người trí thức có tư cách thì trước thực trạng xã hội ngày càng suy thoái, mình không thể lờ đi, làm ngơ, coi như không biết hoặc vô can. Không thể né tránh những câu hỏi động đến tận sâu thẳm lương tri, những câu hỏi rất nhạy cảm về nhân bản, nhân đạo, về tình nghĩa ruột thịt với đồng bào của mình, với dân tộc mình.

Thời của ông có những bức xúc tương tự như thế?

Thời của tôi thì tất cả mọi người tập trung vào chống Mỹ cứu nước, cho nên, bức xúc xã hội nếu có cũng đặt ra ở đâu đó chứ không tới tầm chúng tôi hiểu. Riêng môi trường tôi làm việc lại khá dân chủ, Viện trưởng cho phép mỗi cán bộ có “khoảng trời” riêng. Thậm chí, khi tập Núi đồi và thảo nguyên (Aitmatov) xuất bản, ngoài xã hội chưa được phép lưu hành nhưng chúng tôi vẫn được đọc. Đọc xong còn tổ chức thảo luận để thoải mái nói lên suy nghĩ của mình. Ngoài ra, chúng tôi vẫn hát nhạc tiền chiến không thấy bị cấm đoán gì. Về phương diện văn hóa, nơi tôi làm việc phải nói là cởi mở, thông thoáng, kể cả chuyện yêu đương – mà tôi cũng từng “đóng một vai” gây nhiều bận tâm cho Viện – miễn là biết dồn tâm sức làm chuyên môn hết mình. Từ môi trường như vậy, tôi lớn lên trong ý thức của một người trí thức tự do.

Nếu được đề xuất cải cách, Giáo sư quan tâm đến điều gì nhất?

Thứ nhất là phải mở rộng dân chủ. Để cho người dân có quyền được phát biểu, tự do ngôn luận, miễn là những lời ấy không đe dọa trực tiếp đến Đảng cầm quyền, như Hiến pháp 1992 hiện đang quy định. Phải bảo đảm thực thi các quyền được ghi trong Hiến pháp một cách thực chất để người dân thấy rõ họ quả thực đã phấn đấu hy sinh suốt bao nhiêu năm để đạt được một mục tiêu có thực dù rất nhỏ, và muc tiêu nhỏ nhoi đó đang trong tầm tay họ chứ không phải đến đời chút chít nào mới sờ thấy.

Thứ hai là người dân được làm ăn sinh sống trên những phương tiện mà mình có, đừng biến sở hữu đất đai thành sở hữu toàn dân, bởi chính sở hữu toàn dân là cơ sở để cho những nhóm lợi ích có cơ hội cướp đất của dân. Chính cướp đất dưới nhiều hình thức là điều kiện làm giàu nhanh nhất ở nước ta lâu nay chứ làm gì mà mới có vài chục năm, bằng lao động chân chính, chúng ta lại có một tầng lớp phất lên như diều vậy. Như thế, cuối cùng nông dân không còn được chút quyền làm người tối thiểu nào nữa. Điều này rất quan trọng, vì nước ta có đến trên 70-80% là nông dân. Một khi nông dân bị đẩy đến bước đường cùng thì nguy cơ là rất lớn.

Giữa buổi nói chuyện, thỉnh thoảng Giáo sư ngả người ra chiếc sofa. Ánh mắt xa xăm nhìn về một nơi vô định. Chợt nhận ra vẻ tiếc nuối hiện lên trên gương mặt có phần mệt mỏi. Tôi đánh liều hỏi:

Với những thành quả đạt được trong hơn nửa thế kỷ cầm bút, hình như Giáo sư vẫn còn điều gì đó nuối tiếc?

Đúng vậy. Tôi nuối tiếc vì mình chưa thực sự đào tạo được vài thế hệ nối tiếp. Trong khi văn học thời Lý – Trần và Văn học Cổ nói chung còn quá nhiều phương diện chưa khai thác hết, như tư tưởng triết học, tư tưởng thẩm mỹ, tinh thần nhân bản, tính dung hợp giữa Nho, Phật, Lão và quan niệm vũ trụ nhân sinh bản địa, rồi sự vận động của các loại hình thể loại… Còn nhiều khía cạnh để nói lắm.

Vì lý do gì mà ông không đào tạo được thế hệ nối tiếp, để phải tiếc nuối?

Câu hỏi của bạn lại khơi dậy trong tôi một nuối tiếc khác. Đó là tôi quá cầu toàn. Cầu toàn nó có hai mặt, lợi và hại. Ngẫm nghĩ về mình thì đến nay tôi đã ít nhiều nhận ra, cố tật cầu toàn của tôi đã phải trả một cái giá không phải là không đắt. Vì cầu toàn quá nên tôi mất rất nhiều thì giờ cho những công việc tỉ mẩn mà không dứt điểm được cái cần dứt điểm. Trong quá trình nghiên cứu bộ Thơ văn Lý - Trần, chỉ cần tôi cảm thấy có một câu, từ nào đó chưa ổn là ngay tức khắc cho ngưng lại. Có khi chỉ vì một vài chữ mà tôi mất cả tháng trời để tìm tài liệu đối chứng lại cho chính xác, cho chỉn chu. Đến khi nào hài lòng hẳn mới thôi. Vì vậy mà tôi mất quá nhiều công sức và thời gian. Thậm chí không còn thời gian cho nhiều việc khác. Hiện tại, có thể gọi thế hệ nối tiếp là những cộng sự rất giỏi của tôi, nhưng có điều, họ cũng đã lớn tuổi. Nữ thì đã về hưu, nam thì còn làm việc nhưng cũng chỉ mấy năm nữa. Tôi muốn có một thế hệ trẻ hơn, ở độ tuổi hai mươi mấy thôi. Tuổi đó họ có thừa nhiệt huyết và có nhiều năm tháng phía trước để thực hiện các công trình dài hơi. Nền văn học nước nhà rất cần đến họ.

Lớp sinh viên bây giờ, nhất là ngành văn, dù có yêu nghề mấy họ cũng thường không làm một nghề, trừ khi nghề đó đảm bảo cho họ một đời sống kinh tế vững vàng. Giáo sư có nghĩ là mỗi thời mỗi khác?

Tôi có hình dung ra điều đó. Bây giờ đồng tiền mất giá quá. Thời của chúng tôi, nhuận bút cuốn Thơ văn Lý – trần Tập I lên tới 5.000đ, riêng phần Khảo luận của tôi đã là 2.500đ. Thời điểm năm 1977, số tiền này có thể mua ngay một ngôi nhà khang trang ở Sài Gòn. Bây giờ Nhà nước trả lương cho một Cử nhân, Kỹ sư mới ra trường may lắm là đủ sống. Một số sinh viên ngành văn mà tôi qien biết hoặc có góp phần đào tạo cũng thế, nhiều người rất giỏi, nhưng họ đều phải làm thêm nghề tay trái để đảm bảo cuộc sống. Ngày đó, lương sau khi hết thực tập của tôi là 64 đồng, mà một bữa ăn chỉ hết 3 hào.

Giáo sư cũng đồng ý với việc rất khó có thế hệ trẻ tiếp nối sẵn sàng dấn thân bỏ ra một đời người để tìm lại những tinh hoa trong nền văn học của ông cha ta trong vòng 5 thế kỷ bị lãng quên kia?

Đối với nhiều lãnh vực nghiên cứu trong khoa học xã hội và nhân văn, thường chỉ duy trì được ở một đất nước có nền kinh tế thật phát triển. Khi mà chi phí đầu tư cho chất xám của những con người sống ở những nước này có thể gọi là đủ bảo đảm về mặt sinh hoạt để họ tập trung làm việc. Nói thế, không có nghĩa là nước ta không đầu tư được. Theo tôi thì Nhà nước cần đưa ra những chính sách cụ thể hơn, ưu tiên hơn. Hoặc có thể cho mở những trung tâm bảo tồn và đi sâu vào vốn cổ văn hóa. Từ các trung tâm này sẽ kêu gọi các nhà hảo tâm đóng góp đầu tư cho việc nghiên cứu của các nhà chuyên môn. Ngay các nước phát triển cũng vậy thôi. Không có Mạnh Thường Quân thì làm văn hóa sao được.

Xem ra ông vẫn còn rất nhiều dự định và kế hoạch cho công việc. Ông tính sẽ làm việc đến năm bao nhiêu tuổi?

Hiện tại tôi còn nhiều công việc phải làm, như hoàn thành tiếp phần cuối bộ Lý – Trần, và một số việc liên quan đến các chuyên khảo còn dang dở. Tôi sẽ cố gắng làm việc trong vòng 10 năm nữa. Sau đó mới nói đến nghỉ ngơi. Ấy là nói nếu Trời để cho mình được sống đến tuổi ấy...

Ông là một trong những cộng tác viên kỳ cựu nhất của báo Kiến thức ngày nay. Lý do gì mà ông chọn Kiến thức ngày nay làm nơi gắn bó lâu dài?

clip_image016

Trước khi giã từ Tòa soạn Kiến thức ngày nay. Chủ biên tờ tạp chí Hàn Tấn Quang đứng giữa

Tôi được Phó giáo sư Trần Hữu Tá giới thiệu với tờ Kiến thức ngày nay ngay từ những số báo đầu tiên mới phát hành. Khi đọc xong ấn phẩm này, tôi cảm thấy thích thú. Không ngờ lại có một ấn phẩm không quá chuyên sâu nhưng giàu kiến thức cho đại chúng muốn hiểu biết đến thế. Đây là một tờ báo dành cho nhiều loại độc giả, từ trung bình trở lên đều đọc được. Đó cũng là lý do tôi chọn tờ báo làm nơi gửi gắm những bài viết ngắn mà mình tâm đắc. Cho đến nay, tôi vẫn gửi đều đặn bài cho báo.

Ông tâm đắc với chuyên mục nào của báo?

Tôi đọc nhiều chuyên mục, cá biệt có số báo không bỏ sót trang nào. Tôi cũng thích chuyên mục “Đọc chuyện đêm khuya”. Ở đó có những truyện dịch về truyền thuyết, truyện ma rất hay. Vì tôi đang viết về lĩnh vực này nên muốn đọc để tiếp cận với hơi hướng văn chương truyền kỳ của thời hiện đại.

Xin cảm ơn ông về những chia sẻ thú vị. Chúc ông sức khỏe để tiếp tục thực hiện những công việc của mình.

Sài thành đã bước vào mùa mưa. Hôm nay cũng là một ngày trời mưa. Tôi kết thúc buổi nói chuyện với Giáo sư và ra về giữa màn mưa trắng xóa. Ông tiễn tôi ra cửa, dáng hao gầy, cặp kiếng trắng bị mờ đục bởi nước mưa, chỉ có giọng nói của ông vẫn chắc khỏe và đầy tin yêu: “Cố lên, cô gái. Còn trẻ phải làm nhiều vào, đừng ngại gì cả nhé!”. Tôi gật đầu, giữ một lời cảm ơn ông chân thành nhất tận sâu trong đáy lòng, về những điều tôi học được ở ông sau buổi trò chuyện này.

clip_image018

Bìa cuốn Gương mặt văn học Thăng Long biên soạn trong

chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội , 2010

Nguồn: Kiến thức ngày nay số 818, ra ngày 10-4-2013

Bản gốc trọn vẹn chưa lược bớt và có bổ sung, hoàn thành tháng 5-2012. Người được phỏng vấn đã soát kỹ lại.