02/08/2015

MỘT LUẬN CƯƠNG KHAI SÁNG

Đọc luận cương chính trị KHAI SÁNG KỶ NGUYÊN THỨ HAI

của Tập hợp dân chủ đa nguyên

Phạm Đình Trọng

Trong lịch sử Việt Nam cận đại đã từng có bản Luận cương chính trị đưa Việt Nam vào vòng xoáy bạo lực tàn bạo, vào bóng tối Cộng sản triền miên suốt gần một thế kỷ và khởi đầu là cuộc bạo loạn Xô viết Nghệ Tĩnh tàn khốc tháng chín năm 1930. Đó là bản Luận cương chính trị “Cách mạng Tư sản Dân quyền” của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Trần Phú.

Với luận cương “Cách mạng Tư sản Dân quyền” được triển khai thực hiện bằng cuộc bạo loạn dựng lên chính quyền Xô Viết ở vài huyện thuộc hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh mà việc làm đầu tiên của nó là quyết liệt phát động cuộc trả thù giai cấp đẫm máu: Trí – Phú – Địa – Hào đào tận gốc, trốc tận rễ. Những cương lĩnh, những nghị quyết mang hồn “Luận cương Cách mạng Tư sản Dân quyền” nối tiếp đến tận ngày nay, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê nin, kiên trì sử dụng bạo lực chuyên chính vô sản để khống chế, cai trị dân tộc, dân tộc Việt Nam hiền hòa đã bị đẩy vào những cuộc đấu tố, chém giết, hành hình, thủ tiêu, truy bức triền miên.

Từ những cuộc đấu tố, truy bức, giết hại tầng lớp trên trong xã hội, giết hại những người giàu có của cải, giàu có trí tuệ trong Xô Viết Nghệ Tĩnh, trong Cải cách ruộng đất, trong Nhân Văn Giai phẩm và trong Xét lại chống đảng đến những điều luật vi hiến 79; 88; 258 trong Bộ luật Tố tụng hình sự, kết tội, bỏ tù những tiếng nói trung thực, đất nước Việt Nam đã bị nhấn chìm trong bóng tối bạo lực chuyên chính vô sản suốt gần một thế kỷ. Người dân bị tước đoạt những quyền con người, quyền công dân cơ bản. Cuộc sống điêu linh trong chồng chất oan khiên. Đất nước trì trệ, lạc nhịp với thời đại văn minh và tụt lại sau ngày càng xa trong tiến trình đi tới tương lai của loài người.

Nhưng với quy luật vận động không ngừng, trong xã hội cũng như trong tự nhiên không có gì là vĩnh viễn, bất biến. Có đêm thì phải có ngày. Có Luận cương chính trị đưa dân tộc Việt Nam vào đêm tối bạo lực thì sẽ có Luận cương khai sáng đưa dân tộc Việt Nam từ đêm dài Cộng sản ra ánh sáng văn minh. Luận cương đó chính là đề án chính trị Khai sáng kỷ nguyên thứ hai của Tập hợp dân chủ đa nguyên.

Luận cương khai sáng, rút gọn từ Khai sáng kỷ nguyên thứ hai, là một đề án chính trị sắc sảo, thấu đáo. Đó thực sự là cương lĩnh của một đảng chính trị cứu nước, là đề cương tranh cử người đứng đầu nhà nước của đất nước Việt Nam dân chủ.

Với số dân đứng hàng 14 thế giới, với một dân tộc thông minh, cần mẫn hàng đầu thế giới, với địa lý tự nhiên và địa chính trị của một nước lớn, giàu mạnh, nhưng Việt Nam hiện nay vẫn là nước nghèo hèn, lạc hậu nhất thế giới, và lịch sử Việt Nam đến nay chỉ là lịch sử nô lệ. Độc lập chỉ là thay nô lệ bên ngoài bằng nô lệ bên trong. Và nô lệ bên trong tàn bạo nhất, khắc nghiệt nhất, tệ hại nhất nhưng cũng tinh vi nhất chính là nô lệ ý thức hệ Cộng sản. Đó là thực trạng của xã hội Việt Nam. Luận cương khai sáng là cương lĩnh dẫn dắt người dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành lại quyền làm chủ đất nước, đưa dân tộc Việt Nam từ bóng đêm nô lệ ra ánh sáng tự do.

Luận cương khai sáng chỉ ra hai trở ngại lớn nhất đi tới dân chủ, giành lại quyền làm chủ đất nước cho người dân là:

Một, để duy trì độc tài, nhà nước Cộng sản dám làm tất cả, dám thực hiện cả những tội ác lớn nhất: Tàn phá đất nước. Vứt bỏ lợi ích dân tộc. Nô lệ nước ngoài. O bế, dung túng cho đám quan chức tham nhũng để buộc chặt họ với nhà nước độc tài tham nhũng, đồng nhất họ với thể chế độc tài tham nhũng. Đàn áp dã man, tàn bạo những tiếng nói đòi tự do, dân chủ, những hoạt động chống nô lệ, Bắc thuộc.

Hai, người dân đau đớn nhìn tấm gương những người đấu tranh cho dân chủ bị nhà nước Cộng sản độc tài đàn áp tàn bạo, cả gia đình họ bị trả thù hèn hạ, bị tước nguồn sống, tước quyền mưu sinh, dù yêu nước, thương nòi, số đông người dân cũng đành buông xuôi, thờ ơ với vận nước, buông xuôi với vận mệnh của chính họ, vận mệnh của cả gia đình họ.

Chỉ ra hai trở ngại lớn đó, trở ngại từ nhà nước độc tài và trở ngại từ chính người dân an phận, buông xuôi, Luận cương khai sáng còn chỉ ra những làn sóng dân chủ dồn dập xô tới, từ làn sóng dân chủ đầu tiên là Cách mạng Hoa Kỳ năm 1776 và Cách mạng Pháp năm 1789 đến làn sóng dân chủ thứ tư diễn ra đầu thế kỷ 21 ở các nước độc tài, kinh tế đang khốn cùng phải mở cửa làm ăn đón kỹ thuật và đồng vốn tư bản từ các nước phát triển cũng là các nước dân chủ. Dân chủ phát huy tài năng, trí sáng tạo vô tận của người dân. Kinh tế phát triển luôn đi cùng với dân chủ phát triển. Dân chủ là một trong những yếu tố không thể thiếu để phát triển kinh tế lành mạnh và bền vững. Đón kinh tế tư bản vào đất nước cũng là đón ngọn sóng dân chủ đến với đất nước. Những làn sóng dân chủ đó đã giải phóng từng mảng nhân loại khỏi bóng tối độc tài. Đến làn sóng dân chủ thứ tư chỉ còn vài nước độc tài lẻ loi thì không thể cưỡng lại được Kỷ nguyên dân chủ xán lạn đang mở ra trước cả loài người.

Vị thế địa chính trị của Việt Nam và thời điểm bản lề đang xoay chuyển của một thế giới mới cũng thúc đẩy Việt Nam phải đón nhận ngọn sóng dân chủ đang ào ạt xô tới.

Là láng giềng, sông chung dòng, núi liền dải với đất nước Tàu Cộng mà nhà nước Tàu Cộng từ ngàn đời xưa đến tận hôm nay chưa bao giờ nguôi tham vọng xâm lược bành trướng “bình thiên hạ”. Nhất là ngày nay nhà nước Tàu Cộng dưới chính thể Cộng sản tham tàn sau mấy chục năm thí bỏ cả những chuẩn mực đạo đức cơ bản, tối thiểu của con người, của xã hội, thí bỏ cả môi trường sống của đất nước, cố sống cố chết làm giàu đã trở thành nước có sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự ở tốp đầu thế giới thì cuồng vọng “bình thiên hạ”, thống trị thế giới lại càng điên cuồng.

Định mệnh đặt Việt Nam liền kề lò lửa chiến tranh Tàu Cộng, liền kề vực thẳm lòng tham Tàu Cộng, lòng tham lãnh thổ, lòng tham quyền lực thống trị thiên hạ, cai trị cả loài người. Ngày nay lòng tham đó đang tập trung hướng xuống Đông Nam Á. Việt Nam không những chốt chặn ngay cánh cửa mở xuống Đông Nam Á mà Việt Nam còn nêu tấm gương ngàn năm bất khuất trước bạo lực xâm lăng của Tàu Cộng. Vì thế, muốn khuất phục thế giới, khởi đầu bằng khuất phục Đông Nam Á, trước hết Tàu Cộng phải khuất phục Việt Nam. Và Tàu Cộng đang thực hiện khá thành công từng bước khuất phục Việt Nam, nô dịch Việt Nam bằng ý thức hệ Cộng sản và bằng tiền bạc mua chuộc, sai khiến những người nắm quyền lực trong nhà nước Cộng sản Việt Nam.

Ý thức hệ Cộng sản là hệ thống học thuyết dùng bạo lực chuyên chính vô sản nô dịch người dân, một thứ nô lệ nội tại. Đảng Cộng sản Việt Nam mang ý thức hệ nô lệ, chư hầu nước ngoài đó, mang học thuyết bạo lực đấu tranh giai cấp tội ác từ xứ người về nô dịch chính người dân Việt Nam, thứ nô lệ độc ác, mất tính người nhất trong các chế độ nô lệ đã có trong lịch sử loài người. Mọi việc đã có Đảng và nhà nước lo, người dân bị tước quyền làm chủ đất nước, làm chủ chính số phận con người của mình. Người dân.chỉ còn là công cụ trong tay nhúm người có quyền lực trong Đảng Cộng sản. Khi nhúm người đó đã bị ý thức hệ Cộng sản cột chặt vào Tàu Cộng và bị quyền lực đồng tiền của Tàu Cộng sai khiến thì người dân từ nô lệ Cộng sản trong nước trở thành nộ lệ Cộng sản nước ngoài, từ nô lệ Việt Cộng trở thành nô lệ Tàu Cộng chỉ còn là vấn đề thời gian.

Số đông người Việt còn chưa nhận ra thân phận nô lệ nội tại vô cùng tinh vi, nô lệ Việt Cộng, nhiều người còn vui sướng, hãnh diện trong thận phận nô lệ đó. Nhưng khi từ nô lệ trong nước chuyển thành nô lệ nước ngoài, nhất là nô lệ Tàu Cộng, thì người dân mang dòng máu Việt Nam không ai còn có thể u mê, mơ hồ nữa. Chỉ còn những kẻ bán linh hồn cho Tàu Cộng để giữ quyền lực mới u mê đến nỗi hốt hoảng lo lắng: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc”.

Chính sự thức tỉnh của người dân trước hiểm họa Bắc thuộc sẽ là những ngọn sóng lừng, là bão táp của biển nhân dân đấu tranh đòi dân chủ, giành quyền làm chủ đất nước.

Vì không thể phó mặc số phận đất nước, phó mặc sự sống còn của dân tộc cho những người đã đặt lợi ích tội lỗi của đảng phái, phe nhóm và đặt lợi ích bất lương của cá nhân họ lên trên lợi ích thiêng liêng của đất nước, của dân tộc.

Vì chỉ có dân chủ mới huy động được sức mạnh vô tận của nhân dân hôm nay và sức mạnh tinh thần của cả dân tộc trong quá khứ đã làm nên lịch sử oai hùng Việt Nam, mới gắn kết dân tộc thành một khối bền vững chống giặc cướp nước, bảo vệ những giá trị Việt Nam như lịch sử Việt Nam đã nhiều lần chứng minh.

Một thời hệ thống tuyên truyền Cộng sản thường khếch đại sức mạnh thời đại ba dòng thác cách mạng. Nhưng thời sức mạnh bạo lực của đám đông, của cuồng tín, sức mạnh tàn phá của những dòng thác cách mạng vô sản thế giới nhấn chìm loài người vào biển máu và nước mắt đã vĩnh viễn qua rồi. Văn minh đã thắng bạo tàn. Thành trì của bạo lực cách mạng thế giới đã sụp đổ. Cả hệ thống thế giới tồn tại bằng bạo lực chuyên chính vô sản đã tan chảy như bọt xà bông là một tất yếu lịch sử đã diễn ra bất ngờ và mau lẹ. Dân chủ và quyền con người đã trở thành giá trị phổ quát không thể thiếu của xã hội loài người hôm nay.

Cách mạng Hoa Kỳ 1776 và Cách mạng Pháp 1789 đã đơm hoa kết trái. Dân chủ phát huy sức sáng tạo vô tận của con người tạo ra nối tiếp những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật kì diệu, đưa con người bước những bước dài tới cuộc sống giàu sang. Hoa Kỳ và các nước công nghiệp phát triển đã trở thành thành trì của dân chủ, có tiếng nói đầy sức nặng trong mọi vấn đề, mọi sự kiện liên quan đến số phận hành tinh, số phận các cộng đồng dân tộc. Tiếng nói đó đã liên tiếp cất lên hối thúc, đòi hỏi dân chủ, nhân quyền cho người dân Việt Nam trong chế độ độc tài Cộng sản. Nhất là ngày nay khi Hoa Kỳ đã xoay trục sức mạnh Hoa Kỳ, xoay trục vai trò cáng đáng của Hoa Kỳ với các vấn đề quốc tế về châu Á – Thái Bình Dương thì dân chủ và nhân quyền cũng là tiêu chí không thể thiếu mà Hoa kỳ đòi hỏi ở châu Á – Thái Bình Dương. Đòi hỏi dân chủ, nhân quyền chính là đòi hỏi của thời đại hôm nay, như đòi hỏi bạo lực của thời cách mạng vô sản, của thời độc tài Cộng sản.

Dù nhận định “Dân tộc ta đang sống một trong những thử thách lớn nhất từ ngày dựng nước nhưng đồng thời triển vọng tháo bỏ ách độc tài và mở ra kỷ nguyên dân chủ cũng lớn như chưa bao giờ thấy”, T47. Nhưng Luận cương khai sáng còn nhắc nhở “Trong một bối cảnh quốc tế thuận lợi, thực trạng của chúng ta rất bi đát và tương lai của Việt Nam rất bấp bênh”, T47.

Những bi đát và bấp bênh:

. Khi một nước chậm tiến bước vào kinh tế thị trường, hội nhập với đời sống kinh tế thế giới thì sự thành công hay thất bại chủ yếu là ở chỗ có tạo ra được hay không một lớp doanh nhân chân chính. Sự thực không thể chối cãi là mở cửa về kinh tế nhưng vẫn khép kín về chính trị đã chỉ tạo ra phần lớn những doanh nhân chụp giật, làm giàu nhờ ăn chia với quyền lực chính trị và kinh doanh bất chính.

. Sự duy trì ngoan cố chế độ độc tài toàn trị nhân danh một chủ nghĩa đã bị lên án như một tội ác, những vi phạm trắng trợn về nhân quyền và dân quyền, tệ quan liêu và tham nhũng, sự từ chối những cải tổ cần thiết, cách cư xử thô thiển trong những quan hệ quốc tế, sự lệ thuộc ngày càng chặt chẽ và toàn diện vào Tàu Cộng khiến Việt Nam ngày càng yếu kém và chìm sâu vào thế cô lập bi thảm trong thời đại toàn cầu hóa.

. Nền công nghiệp non trẻ cần được những tài năng và tâm huyết chăm lo để bứt lên thì lại bị quản lý quá yếu kém, vô trách nhiệm, bị cạnh tranh bất chính của hàng nhập lậu chủ yếu từ Tàu Cộng. Thiết bị sản xuất lỗi thời, kể cả những thiết bị mới mua bởi các quan chức tham nhũng. Các doanh nghiệp nhà nước được coi là chủ đạo của nền kinh tế và được sử dụng nguồn lực lớn của đất nước lại cũng là những doanh nghiệp bệnh hoạn, thua lỗ triền miên do lãnh đạo vừa bất tài vừa tham lam được giao chức theo phe nhóm hoặc chạy chọt, mua bán.

. Tài sản quốc gia bị các nhóm lợi ích xâu xé. Lợi tức quốc gia quá thấp lại phải oằn vai gánh quá nặng chi phí bộ máy Đảng cồng kềnh và bộ máy công cụ khổng lồ bảo vệ Đảng khiến giáo dục và y tế bị bỏ rơi dài dài. Giáo dục và đào tạo hoàn toàn không có khả năng chuẩn bị cho tuổi trẻ trong cuộc cạnh tranh với thế giới. Để được hưởng một nền giáo dục lành mạnh, đúng đắn, tuổi trẻ phải tìm mọi cơ hội ra nước ngoài, tạo lên dòng người tị nạn giáo dục đông đúc, hối hả như dòng người tị nạn nhân quyền, bỏ nước đi tìm tự do kéo dài suốt trong lịch sử tồn tại của nhà nước Cộng sản. Tình trạng của đại đa số các bệnh viện Việt Nam là một sự hổ nhục và một tội ác.

. Tài nguyên quý nhất của đất nước là con người bị xuống cấp một cách thê thảm. Con người ngày càng rời xa các giá trị đạo đức căn bản. Gian manh, dối trá, lừa đảo, bạo lực trở thành chuyện thường ngày trong đời sống xã hội.

. Tham nhũng ngang nhiên và tràn lan đang hoành hành tàn phá đất nước, tàn phá đạo lý, tàn phá các mối quan hệ xã hội. Tham nhũng giao những vị trí quan trong cho những kẻ bất tài, Tham nhũng vơ vét bòn rút kiệt quệ tài nguyên, ngân sách đất nước, khoét sâu hố ngăn cách giàu nghèo. Đội ngũ quan chức tham nhũng sống đế vương trên sự nghèo khổ, khốn cùng của số đông người dân lương thiện. Dự án Bôxít Tây Nguyên và dự án điện hạt nhân đều phi kinh tế và đe dọa sự sống còn của đất nước nhưng vẫn được áp đặt cũng vì tham nhũng

Thực trạng đen tối đó dẫn đến hai hiểm họa:

. Môi trường sống, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bị tàn phá, ô nhiễm nặng nề. Tài nguyên bị đào bới, bị rút ruột vô tội vạ. Đất nước bị tàn phá tan hoang. Đời sống văn hóa, nền tảng đạo đức xã hội bị giết chết trong dối trá và bạo lực.

. Không còn chủ quyền trên thực tế. Tuyên bố chung Việt – Trung ngày 21-06-2013 cho thấy chính quyền Cộng sản đã ký rất nhiều thỏa hiệp ngầm đặt Việt Nam trong thế khống chế của Tàu Cộng. Chấp nhận thăm dò chung dầu khí, thực tế là để Tàu Cộng thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cũng là để Tàu Cộng đưa người vào làm chủ vùng biển cửa ngõ mở ra thế giới của Việt Nam, như đã cho Tàu Cộng đưa người vào làm chủ mảnh đất hiểm yếu chiến lược Tây Nguyên, làm chủ vùng đất, vùng biển Vũng Áng, cắt đôi đất nước Việt Nam chỗ eo đất hẹp Hà Tĩnh. Để Tàu Cộng huấn luyện và đào tạo sĩ quan quân đội và công an Việt Nam. Đến công việc ngoại giao của nhà nước Việt Nam cũng phụ thuộc vào Tàu Cộng khi Tuyên bố chung Việt – Trung cam kết tham khảo Tàu Cộng nghĩa phải là nhận chỉ thị của Thiên Triều trong quan hệ đối ngoại.

Dân tộc Việt Nam đã tới giới hạn của sự chịu đựng. Đất nước Việt Nam đã tới giới hạn của sự nhẫn nhục. Hiện trạng đen tối này còn tiếp diễn, dải đất gấm vóc hình chữ S bên bờ tây Thái Bình Dương sẽ không còn mang tên Việt Nam nữa, dân tộc Việt Nam văn hiến sẽ bị xóa sổ, bị đồng hóa vào văn hóa Trung Nguyên phương Bắc. Luận cương khai sáng là kế sách giữ nước, giữ tên Việt Nam trên bản đồ thế giới, đưa dân tộc Việt Nam từ đêm tối độc tài ra ánh sáng tự do, từ kỷ nguyên nô lệ đến kỷ nguyên dân chủ.

Phải nhìn nhận đúng hiện thực đất nước mới có kế sách đúng đắn nhưng những Báo cáo chính trị của các kỳ đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền đều viết bằng cảm hứng ngợi ca sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng, với ngôn từ khoa trương, đại ngôn, đều vô cảm với thân phận nô lệ thống khổ của người dân nên đều né tránh hiện thực, không dám nhìn vào hiện thực đau đớn, tủi nhục của người dân, mất mát lớn lao của đất nước. Đề án chính trị Luận cương khai sáng là sản phẩm của một tư duy khoa học mẫn cảm, trung thực, của một trí thức thông tuệ đã tiếp cận được đầy đủ hiện thực đen tối đó. Nhưng cũng chính vì sự thông tuệ của người sống ở thủ đô ánh sáng, ở một trung tâm phát triển của châu Âu, nơi có mặt bằng dân trí khá cao mà đôi chỗ Đề án chính trị công phu này còn thiếu sự bình dị, dễ hiểu với nhận thức, trình độ dân trí trong nước.

Luận cương khai sáng thực sự là một đề án hành động. Hành động cần cụ thể. Nhưng luận cương mang tên Khai sáng kỷ nguyên thứ hai chữ nghĩa triết học quá, như một lí thuyết triết học nên ít thu hút được sự quan tâm của đời sống chính trị đang sôi động trong nước. Bình dị, thiết thực hơn, chẳng hạn như Đi tới kỷ nguyên dân chủ, hoặc Việt Nam – Con đường dân chủ hóa có lẽ gần gũi hơn, sẽ được sự đón nhận mặn mà hơn.

Có những nội dung quan trọng sẽ có nhiều ý kiến khác nhau cần được có đề mục riêng để luận bàn thỏa đáng như tên gọi nhà nước Việt Nam. Một thực tế phải nhìn nhận là còn rất nhiều người Việt Nam vẫn luyến tiếc, vẫn muốn níu kéo về hiện tại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của nhà nước Cộng sản Hồ Chí Minh và cũng còn rất nhiều người Việt Nam muốn có lại tên nước Việt Nam Cộng hòa thân thương của một thời lịch sử gắn bó với họ bằng máu, mồ hôi và nước mắt của chính cuộc đời họ. Nhưng trong chương VI, Thể chế, Hiến pháp Cộng hòa Việt Nam bàn về chế độ chính trị và Hiến pháp của nhà nước Việt Nam dân chủ, tên nước Cộng hòa Việt Nam được áp đặt, không một lời lí giải. Tên nước Cộng Hòa Việt Nam xứng đáng có một đề mục riêng để lí giải, thuyết phục như chế độ chính trị và Hiến pháp Cộng Hòa Việt Nam.

Luận cương có mạch văn sáng sủa, mạch lạc nhưng vì những ý tứ dồn dập, đôi chỗ luận cương chỉ quan tâm đến tuôn xả những ý tứ căng đầy mà sa vào văn nói: “Tản quyền có những ưu điểm rõ rệt: nó khuyến khích sinh hoạt chính trị tại các địa phương, nó đem dân chủ tới mọi nơi với mọi người, nó tránh được những đường dây hành chính dài và phức tạp cho sinh hoạt thường ngày với hậu quả là sự tập trung quá đáng dân số vào những thành phố lớn, nó kích thích sinh hoạt văn hóa và báo chí địa phương, nó cho phép mỗi địa phương chọn lựa công thức sinh hoạt phù hợp nhất với đặc tính của mình và nhờ đó mà phát triển”, T. 177. Văn nói chỉ cốt diễn đạt hết ý mà không quan tâm đến câu. Chỉ có văn viết mới dành mối bận tâm hàng đầu đến tổ chức câu làm sáng rõ ý. Nói theo mạch, viết theo câu, là văn nói nên cả đoạn dài trên là một câu dồn dập nhiều ý nhỏ. Với văn viết, mỗi ý nhỏ phải là một câu. Ngắt câu, xuống dòng, thay từ “nó” bằng gạch đầu dòng sẽ chuyển từ văn nói rườm rà, lê thê, các ý nhỏ dồn dập chồng lấp nhau thành văn viết gọn gàng, khúc chiết, dễ nắm bắt. Văn nói của không gian. Văn viết của thời gian. Luận cương là tuyên ngôn của một lực lượng chính trị. Lực lượng chính trị đó nói tiếng nói của Nhân dân, của thời đại thì Luận cương đó chính là Tuyên ngôn của Nhân Dân, của lịch sử, còn mãi với thời gian.

Là cương lĩnh của một đảng chính trị hoặc một đội ngũ trí thức chính trị thì Luận cương khai sáng đúng đắn, cần thiết này sẽ mau lẹ đi vào đời sống chính trị đất nước. Trong nhà nước độc tài Cộng sản không thể tồn tại một đảng chính trị thực sự theo đuổi lý tưởng dân chủ. Trong nhà nước độc tài đó cũng không thể có một đội ngũ trí thức chính trị mà chỉ có lác đác vài cá thể trí thức chính trị lẻ loi, lạc lõng, đơn độc. Vì thế sứ mệnh lịch sử đầu tiên của Luận cương khai sáng chính là thức tỉnh những trí thức yêu nước và tập hợp họ lại thành đội ngũ trí thức chính trị và đội ngũ trí thức chính trị đó sẽ đưa Luận cương khai sáng vào đời sống chính trị đất nước, đưa đất nước Việt Nam thân yêu từ bóng đêm nô lệ độc tài ra ánh sáng dân chủ, phát triển.

P.Đ.T.

Tác giả gửi BVN