03/09/2015

Biển Đông – Cuộc tranh giành quyền lực ở châu Á (Kỳ 19)

Bill Hayton

Phan Văn Song dịch

Hoàng Việt hiệu đính

Chương 8 (tiếp theo)

Định hình chiến trường:

Các vấn đề quân sự

(Shaping the Battlefield: Military Matters)

Một đại đội lính thuỷ đánh bộ Mỹ lẫn mình trong hàng cây: một phần để ngụy trang, một phần để được che mát. Nhiệt độ mùa khô đã đang tăng lên, và bị đè nặng bởi gánh nặng chiến trường của họ, họ vui mừng có được cơ hội để nghỉ ngơi. Lính thuỷ đánh bộ Thái, quen với cái nóng và bụi cát phần đất này của Đông Nam Á nấp gần đó. Từ trên cao, thung lũng trông có vẻ xanh nhưng ở bên dưới phong cảnh khô cằn. Một vài cây cao che giấu sự khô hạn. Bên dưới các cành cây, cỏ mùa vừa qua đã biến thành mồi lửa. Ruộng lúa nứt nẻ chờ mưa tới, chủ ruộng đã đi khỏi từ lâu. Ngay cả chim chóc cũng lẩn đi, hoảng hốt bởi chuyển động chiến thuật trên mặt đất. Chúng vỗ cánh bay lên vách đá lởm chởm đá vôi cao chế ngự sàn thung lũng bằng phẳng. Tất cả đều im lặng.

Một cặp máy bay rú trên đầu lính thuỷ đánh bộ: F–16 của Thái. Mục tiêu của họ đặt tại chân của những vách đá đó. Những người điều khiển không lưu tiến tới hướng dẫn chúng bay vào, dùng laser tô màu các mục tiêu và chờ đợi khi những quả bom 500 pound rơi đi từ bụng của máy bay phản lực. Mọi người trong thung lũng sắp biết được ý nghĩa thực sự của từ ‘va đập’. Một ánh chớp lửa da cam ngắn và trong vài giây không rõ việc đánh bom trúng mục tiêu hay không nhưng khi âm thanh của vụ nổ bay đến quả thật dữ dội: muốn vỡ màng nhĩ ngay cả đối với những người xa bên ngoài vòng đai an toàn. Khi cột khói vươn cao hơn, tới phiên máy bay thứ hai thả bom, thậm chí gần với các vách đá hơn: một ánh chớp và một tiếng sét đinh tai. Sau đó, hai chiếc FA–18 của Mỹ tham gia: thêm hai quả bom 500 pound nữa. Mục tiêu đã bị xóa sạch.

Xa ngoài tầm mắt, pháo gầm lên. Nửa phút sau đạn pháo đâm sầm vào các gờ giữa chừng của vách đá, bắn các mảnh đá đỏ và mảnh đạn nóng xuyên qua rừng. Mục tiêu đã được điều chỉnh và đạn pháo bay tới nhiều hơn: nhiều mảnh đạn và khói hơn. Sau đó, việc bắn phá ngưng lại và lính thuỷ đánh bộ đã được lệnh di chuyển. Lính Thái vượt lên dẫn trước, di chuyển một cách thận trọng xuyên qua cây cối và các cánh đồng phía sau hàng rào chặn của đạn súng cối. Họ tiến đến một vị trí bắn dự định trước và nã các tràng đạn tự động. Lính Mỹ di chuyển cách một vài trăm mét về một bên và tham gia trận chiến. Một cặp xe bọc thép chặn bước tiến của họ, nhưng các lính thủy nâng tên lửa AT–4 lên vai. Hai quả tên lửa [rocket] bay vào từng mục tiêu và lính thuỷ đánh bộ có thể di chuyển qua các đống lửa cháy rực, nã đạn vào cây cối khi họ vận động tới mục tiêu cuối cùng. Nhiệm vụ hoàn thành. Cao trên đồi đối diện, được che trong trạm quan sát và được cung cấp đầy đủ nước đóng chai ướp lạnh, khán giả gồm các loại chỉ huy hoan nghênh những nỗ lực của binh lính họ trên mặt đất.

Trận đánh đã thiếu một điều duy nhất: kẻ địch. Không ai bắn trở lại, những vách đá trống rỗng không có quân nổi dậy và hai xe bọc thép vốn là xe hơi cũ. Nhưng mọi thứ đã được thả xuống hay bắn ra là thật sự gây chết chóc, vì đây là một CALFEX – tập trận bắn đạn thật vũ khí hỗn hợp [Combined Arms Live Fire Exercise] – một cơ hội để thực hành những gì lính thủy đánh bộ gọi là ‘đầu đạn trên trán’ [warheads on foreheads]. Một CALFEX, theo định nghĩa, là một sự thể hiện niềm tin to lớn. Chỉ huy đặt mạng sống của đơn vị mình trong tay của các phi công và xạ thủ từ quân đội nước khác. Một quả bom hoặc một quả pháo đánh nhầm chỗ có thể là một thảm họa. Một vài giờ đó ở dải đất xa xôi của tỉnh Lop Buri thể hiện sự gắn bó với nhau của liên minh quân sự giữa Mỹ và Thái Lan.

Trận tấn công kết hợp là phần cuối cùng của phiên bản ‘Cobra Gold’ [Rắn hổ mang Vàng] năm 2012 – cuộc tập trận đa quốc gia lớn nhất Châu Á. Bảy nước đã góp vào hơn 9000 nhân sự: 5300 từ Mỹ, 3600 từ Thái Lan và 300 từ Hàn Quốc. Trong một cuộc phô diễn về những cách mà những căng thẳng trong khu vực đang buộc các nước Đông Nam Á phải che chắn vốn liếng an ninh của họ, Malaysia và Indonesia lần đầu tiên tham gia đầy đủ, dù với số lượng nhỏ. Hai nước này cùng Singapore và Nhật Bản đã từng cử tới khoảng 70 binh sĩ. Cobra Gold lúc khởi đầu chỉ là một sự kiện song phương Mỹ – Thái vào năm 1982 nhưng đã dần dần thu hút nhiều quốc gia từ khắp nơi trên khu vực và xa hơn nữa. Năm 2012 đã có các quan sát viên ở các nơi ở xa hơn như Sri Lanka và Mozambique. Quân đội Trung Quốc cũng đã chấp nhận lời mời đến quan sát. Có một lý do để người Mỹ muốn họ có mặt ở đó.

Cobra Gold có ba phần tách biệt: huấn luyện tại chỗ như CALFEX, ‘luyện tập chỉ huy’ hoặc CPX [command post exercise] cho sĩ quan cấp cao, và một chương trình ‘trái tim và khối óc’ cho cộng đồng địa phương. Điều đáng lưu ý nhất về Cobra Gold là nó là ít được lưu ý. Mỗi năm hàng ngàn lính Mỹ đi tới nhiều khu vực của Thái Lan, thực tập đánh trận thực tế với các đồng minh và đối tác, bắn vỡ các thứ không chút xúc cảm. Báo chí có mặt ở cuộc tấn công bãi biển hàng năm và chụp hình cảnh lính thủy đánh bộ uống máu rắn trong quá trình huấn luyện trong rừng. Toà đại sứ Mỹ ra thông cáo báo chí về việc có bao nhiêu trường học, trại trẻ mồ côi và bệnh viện được lực lượng ‘con tim và khối óc’ xây dựng hoặc cải tạo và sau đó tất cả mọi người đều lại ai về nhà nấy cho tới cho đến tháng 2 năm sau. Mọi thứ đó để làm gì?

CPX diễn ra cách chỗ trận chiến giả 150 cây số, trong khung cảnh thoải mái hơn nhiều ở Trại Suranaree, tại vùng ngoại ô của thành phố ít được chú ý Nakhon Ratchasima. Tôi đã chuẩn bị làm việc trong điều kiện xấu nhưng phát hiện ra rằng những chiến binh đánh nhau với máy tính và điện thoại, ở trong khách sạn và ăn trong nhà hàng. Ngôn ngữ chung là tiếng Anh, điều đó có nghĩa là tất cả mọi người có thể giao lưu với nhau, và sau một ngày chơi trò chiến tranh đã có nhiều cách khác để tiếp tục chơi. Không phải không có lý do mà một số cựu chiến binh đã gọi cuộc tập trận này là ‘Cobra Golf’ [sân golf rắn hổ mang]: có một sân ở căn cứ bộ binh và một sân tại các căn cứ không quân ở ngay bên cạnh.

Công việc của CPX được thực hiện bên trong tòa nhà trắng hai tầng dành làm nơi ăn nghỉ của sĩ quan. Tầng dưới, một giảng đường đã được biến thành một COC – Combat Operations Centre [Trung tâm điều hành tác chiến] – với hơn một trăm chỗ làm việc: ghế nhựa trắng với bàn xếp trước các máy tính xách tay được nối vào COWAN – Combined Operations Wide Area Net Work [mạng vùng rộng hoạt động tổng hợp] là nền tảng của toàn bộ hoạt động. Tất cả các bài luyện tập quân sự đều có một kịch bản nhưng kịch bản của Cobra Gold là một trong những kịch bản công phu nhất. Chúng diễn ra trên một đảo tưởng tượng ở giữa Thái Bình Dương, cùng kích thước và hình dạng đúng như bờ biển phía Tây của Mỹ. Các thị trấn và thành phố nằm đúng ngay những địa điểm đó và thậm chí có cùng tên. Đảo Pacifica trải dài từ Bắc Seattle tới Nam San Diego và các thành phố nội địa xa xôi như Salt Lake City và Albuquerque cũng có tên. Sự khác biệt chính là Pacifica bị phân chia thành hai phía giữa những kẻ làm điều ác ở bang Arcadia phía Bắc và những người tốt bụng ở nước láng giềng Kuhistan và bốn quốc gia nhỏ hơn: Isla del Sol (vùng khô cằn Baja California), Mojave, Sonora và Tierra del Oro. Làm phức tạp thêm tình hình là sắc dân Arcadia sống ở Kuhistan và một loạt các khó khăn khác của khu vực.

Các kịch bản thay đổi. Năm 2012, Arcadia đã tấn công Kuhistan và các lực lượng đa quốc gia đã có ý định đẩy lùi họ trở lại. Theo lời của quyền Tham Mưu Trưỏng CPX, đại tá bộ binh Mỹ Dave Parker, ‘một kịch bản tiến hành chiến tranh cao cấp – thực thi hòa bình’. Parker nói thẳng như ruột ngựa. Tôi đặt ra cho ông câu hỏi mà các nhà báo Trung Quốc nêu ra về việc liệu bài luyện tập này có nhằm vào đất nước của họ không. ‘Tất nhiên là họ phải quan tâm khi họ đi vào một Trung tâm tác chiến hỗn hợp và họ nhìn thấy người Malaysia đang ngồi bên cạnh người Singapore, ngồi bên cạnh người Thái, Indonesia, Hàn Quốc và Mỹ – hiển nhiên là họ sẽ có một quan ngại nào đó rằng chúng tôi có quan hệ với nhau và rằng chúng tôi đều có thể tập hợp với nhau thành một lực lượng đa quốc gia – và có lẽ họ phải quan ngại về điều đó. Nhưng tôi nghĩ rằng điều quá rõ là chúng tôi có được nhiều quốc gia để có thể hình thành một lực lượng đa quốc gia’.

Bài luyện tập chỉ huy Cobra Gold không phải là luôn luôn về chiến tranh. Bài tập năm 2011 là về trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thảm họa, và năm 2013 cũng như vậy. Nhưng như Parker giải thích, kịch bản gần như là không quan trọng. Điều quan trọng là cách quân đội của các nước khác nhau làm việc với nhau. ‘Chúng tôi đã cắt đi Thủ tục tác chiến tiêu chuẩn [Standard Operating Procedure hay SOP] – SOP của lực lượng đa quốc gia [Multinational Force SOP hay MNF SOP] – vốn được phát triển tại đây ở Thái Bình Dương. Tổ chức làm việc giữ gìn nó – Multinational Planning Augmentation Team [Đội tăng cường hoạch định đa quốc gia] – đóng tại Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương của Mỹ và họ tạo điều kiện cho tất cả 34 quốc gia có tham gia SOP này. Đó là một nhiệm vụ rất lớn và là một tiến trình đang thực hiện’. MNF SOP điều chỉnh cách thức chia sẻ thông tin giữa các tổ khác nhau trong nhóm chỉ huy và cách gửi nó tới các chỉ huy tại mặt trận – từ việc thiết kế các hệ thống máy tính cho tới thứ tự mà các cuộc họp diễn ra. Với nhiệm vụ thường xuyên là người đứng đầu Ban giám đốc Kế hoạch của Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương [PACOM] nên Đại tá Parker biết rõ quá trình này.

Tầm quan trọng của Cobra Gold là cách nó cho phép quân đội nhiều nước của khu vực thực hành làm việc như một đơn vị duy nhất hướng tới một mục tiêu chung – bằng cách sử dụng MNFSOP dưới sự bảo trợ của PACOM. Các bài học học được đã được sử dụng nhiều lần trong thế giới thực: đặc biệt là sau trận sóng thần năm 2004 quanh Ấn Độ Dương, và tại Nhật Bản năm 2011, và sau trận bão Haiyan [Hải Yến] tại Philippines năm 2013. Theo Parker, ‘điều quan trọng nhất của việc này là mối quan hệ mà chúng tội xây dựng với quân đội các quốc gia khác. Hãy giả định rằng chúng ta phải đối phó với một thảm họa thiên nhiên ở Indonesia. Vâng, có một số cá nhân quan trọng từng tham gia vào bài luyện tập này ở đây sẽ giúp chúng tôi bắt đầu quá trình nhanh hơn rất nhiều nhờ các quan hệ mà chúng tôi có được’. Nhưng như Parker nói, kịch bản là không quan trọng – những địa chỉ liên lạc sẽ đúng là hữu ích trong một tình huống xung đột trong tương lai như trong một thảm họa tự nhiên.

PACOM có một sự tồn tại kỳ lạ. Ngược lại với tất cả các bộ chỉ huy khu vực khác của Mỹ trên toàn thế giới, nó gần như không làm việc đánh nhau trong khu vực hoạt động của mình từ khi Sài Gòn sụp đổ. Parker thật ra phải cố gắng lắm mới nhớ được lần cuối cùng nó đã tham gia vào một hoạt động quân sự thực tế là khi nào: việc can thiệp khiêm tốn ở Đông Timor vào năm 1999. Thay vào đó PACOM dành nhiều thời gian và công sức vào cứu trợ nhân đạo: ‘Bạn xem có bao nhiêu trận động đất, sóng thần trong khu vực này. Đó không phải là chuyện “nếu như”, mà đó là chuyện “khi nào”’, Parker nói. Nhưng PACOM không chỉ là một cơ quan lập ra để làm việc cứu trợ. Nó dành hầu hết thời gian của mình để chuẩn bị cho các cuộc đối đầu gây biến động lớn có thể xảy ra với Bắc Triều Tiên hay, ngày càng nhiều hơn với Trung Quốc. Hai khía cạnh trong công việc của nó – trợ giúp và tấn công – là hai chức năng không tách rời; chúng là không thể thiếu đối với nhiệm vụ của PACOM: ngăn chặn đối đầu bằng cách chuẩn bị cho đối đầu. Chiến lược này được xây dựng trên ba trụ cột được tuyên bố: ‘xây dựng các quan hệ mạnh mẽ’, ‘duy trì một sự hiện diện an toàn trong khu vực’ và ‘chuyển tãi ý định và quyết tâm một cách hiệu quả’. Cobra Gold có đủ cả ba trụ cột đó. Chính vì vậy mà Trung Quốc đã được mời đến quan sát. Năm 2014 họ còn được cho phép tham gia – nhưng chỉ trong các hoạt động nhân đạo, không phải trong tập trận.

Cách tiếp cận này đã được đặt ở phía trước và ở trung tâm trong ‘Khái niệm Truy cập tác chiến hỗn hợp’, công bố vào tháng 1 năm 2012, như chúng ta đã thấy trước đó. Nó định nghĩa ‘Truy cập tác chiến’ là ‘khả năng triển khai lực lượng quân sự vào một khu vực tác chiến với đầy đủ quyền tự do hành động để hoàn thành nhiệm vụ’. Như trang đầu tiên của khái niệm nêu rõ, cuộc chiến để đánh bại A2 / AD (chiến thuật sát thủ giản của Trung Quốc) bắt đầu nhiều năm trước:

Thách thức cho truy cập tác chiến được xác định chủ yếu bởi các điều kiện hiện có trước khi bắt đầu các hoạt động chiến đấu. Do đó, sự thành công trong chiến đấu thường sẽ phụ thuộc vào những nỗ lực hình thành trước các điều kiện thuận lợi cho truy cập, điều đó đòi hỏi một cách tiếp cận phối hợp liên ngành. Lực lượng phối hợp sẽ cố gắng định hình trước các khu vực tác chiến của cuộc xung đột thông qua một loạt các hoạt động an ninh và can dự như các cuộc tập trận đa quốc gia, các thỏa thuận truy cập và yểm trợ, thành lập và cải thiện các căn cứ ở nước ngoài, định vị trước các nguồn tiếp tế, và triển khai lực lượng ra phía trước.

Nói cách khác, tất cả mọi thứ mà PACOM thực hiện – từ các cuộc tập trận và thăm viếng các cảng cho tới các hoạt động cứu trợ, hội thảo khoa học và các giải đấu golf – là một phần của chiến lược để chống lại bất kỳ nỗ lực đóng biển không cho quân đội Mỹ vào. Nó được gọi là ‘định hình chiến trường’ trước và tất cả đều về các quan hệ.

PACOM cũng dùng cùng cách làm này trên biển. Năm 1995 họ tung ra chương trình CARAT – Huấn luyện và Sẵn sàng Hợp tác trên biển [Cooperation Afloat Readiness And Training], hiện nay lo tổ chức các cuộc tập trận hải quân hàng năm với 7 trong 10 thành viên của ASEAN. Chỉ trong Lào không có biển, Myanmar bị cô lập trước đây và Việt Nam còn thận trọng chưa tham gia. Nhưng Việt Nam hiện nay tiếp đón nhiều chuyến viếng thăm cảng thường xuyên của các tàu của Mỹ và đã bắt đầu tham gia vào cái mà các nhà phân tích mô tả như các hoạt động ‘kiểu CARAT’. Dần dần họ càng dấn sâu hơn quan hệ với PACOM. Tháng 6 năm 2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã bay tới Việt Nam và có bài phát biểu trên một tàu hậu cần USS Robert Byrd của Mỹ, tàu này đang sử dụng các cơ sở sửa chữa tàu biển tại cảng tự nhiên rộng lớn tại Vịnh Cam Ranh. Nhiều cơ sở trong bến cảng nàyvốn do các kỹ sư Mỹ xây dựng trong thời chiến tranh Việt Nam khi cảng này là một trung tâm lớn về hậu cần của Mỹ. Panetta nồng nhiệt nói về những hi vọng của ông cho việc hợp tác sâu hơn trong tương lai.[1]

PACOM không cần nhiều căn cứ lớn để bắt đầu định hình chiến trường; nó chỉ cần truy cập. Các chỉ huy Mỹ đã học được bài học kinh nghiệm chua xót rằng việc có số lượng lớn các nhân viên quân sự đóng tại các xã hội châu Á có thể là có vấn đề. Phản kháng của địa phương đối với tiếng ồn máy bay ở căn cứ không quân của Lính thuỷ đánh bộ tại Futenma trên đảo Okinawa luôn là một cái gai thường xuyên ở bên họ, việc một chiếc xe bọc thép của Mỹ cán chết hai nữ sinh tại Hàn Quốc năm 2002 dẫn đến cuộc biểu tình rộng khắp, và sự căm giận trước cách lính Mỹ đóng ở Philippines cư xử với phụ nữ địa phương là một cuộc tranh luận chủ chốt đằng sau việc đóng cửa căn cứ hải quân Subic Bay. Nhiều ký ức ăn sâu. Tháng 10 năm 2013, một đề xuất xây dựng một căn cứ mới ở Oyster Bay trên đảo Palawan ở Philippines – mà Hải quân Mỹ sẽ có quyền truy cập – được công bố. Phản ứng tức thì từ bốn trong số năm lãnh đạo xã địa phương là phản đối vì họ sợ rằng nó dẫn tới sự gia tăng tệ nạn mại dâm. Tình cảm chống Mỹ ở địa phương dường như tăng lên khi có nhiều người Mỹ mặc quân phục ở xung quanh hơn. Một ‘dấu ấn’ nhỏ của quân đội Mỹ góp phần giữ cho những sự cố này ở mức tối thiểu trong khi cũng tiết kiệm hàng tỷ đô la.

Ngay cả ở nơi mà Mỹ không có căn cứ, họ cũng có một hình thức hiện diện khác. Tại Singapore, Nhóm Hậu cần của PACOM, cơ sở Tây Thái Bình Dương cho các bài tập CARAT và là một yếu tố quan trọng trong việc tái cân bằng của Mỹ – đặt bên trong bến cảng hàng hóa dân sự tại Sembawang trong một khu vực an toàn được quân đội New Zealand quản lý theo Thoả thuận Quốc phòng của Năm Cường quốc. Chỉ có khoảng 150 nhân viên quân sự và 150 nhà thầu dân sự đóng thường trực ở đó.[2] Cảng hải quân của Singapore tại Changi là cơ sở khu vực cho hai (cuối cùng bốn) tàu chiến ven biển [littoral Combat Ship] thế hệ mới, được thiết kế để phô ra cờ Sao Sọc ở vùng Biển Đông Nam Á, nhưng thủy thủ của tàu không được phép sống trên bờ. Ngay cả khi ở cảng họ vẫn phải ngủ trên tàu dù họ được tự do rời khỏi căn cứ lúc ngoài giờ). Có thể không có căn cứ lớn nào ở Philippines nữa nhưng Hiệp định Tương trợ Hậu cần cho phép việc tiếp tế nhiên liệu, tái trang bị, cho quân trú chân và các sắp xếp vận chuyển. Ở Darwin thuộc Bắc Australia, sự hiện diện của 2500 lính thuỷ đánh bộ Mỹ không được mô tả như là ‘thường trực’ vì cứ 6 tháng lại luân chuyển sang căn cứ khác. Do vậy căn cứ này sẽ không phát triển các loại cơ sở hạ tầng cho một cộng đồng ổn định như đã từng tồn tại ở Philippines hay vẫn còn tồn tại ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam. Nhưng vào lúc có khủng hoảng thì tàu chiến, máy bay, đạn dược, vật tư và nhân viên sẽ chuyển tới qua các các cơ sở này cho phép Mỹ triển khai sức mạnh thẳng vào trung tâm của khu vực. Chính vì thế việc ‘tiếp cận’ là rất quan trọng.

Chính phủ Đông Nam Á chào đón ‘dấu ấn’ hơi nhẹ này của Mỹ trong khu vực. Nó vừa đủ lớn để cho thấy quyết tâm chính trị của Washington vẫn tiếp tục nhưng cũng vừa đủ nhỏ để làm giảm nguy cơ gây rối rắm về chính trị. Cơ sở hậu cần thu hút ít thu hút sự chú ý hơn các căn cứ quân sự và ít có khả năng kích động những lời chỉ trích từ các cường quốc ganh tị bên ngoài hay phong trào chống đối bên trong các nước. Nhưng sự hiện diện nhẹ hơn cũng tạo ra lo lắng. Trong nhiều thập kỉ, các nước Đông Nam Á dựa vào Hoa Kỳ để duy trì an ninh trên biển trong vùng lân cận của mình. Philippines đã làm như vậy một cách rõ ràng và những nước khác ngầm như vậy – ngay cả Việt Nam, sau khi Liên Xô sụp đổ. Khi cắt giảm ngân sách lờ mờ hiện ra ở Washington, chính phủ các nước trong khu vực đã nhận ra rằng họ không thể mong đợi Hải quân Mỹ làm nhiều như đã từng làm. Chắc chắn Hải quân Mỹ sẽ không bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của họ ở Biển Đông. Họ phải tìm các phương sách khác thay thế – và đó là thời điểm bùng nổ cho các nhà sản xuất vũ khí.

**********

Khi James Hilton xuất bản cuốn tiểu thuyết Himalayan Heaven (Thiên đuờng Himalaya) vào năm 1933, chúng ta có thể chắc chắn rằng ông không thể nào biết nó sẽ cho ra một cái tên cho cuộc tụ tập không chính thức phúc hợp công nghiệp - quân sự của châu Á. Nhưng 69 năm sau khi cuốn Lost Horizon (Chân trời đánh mất) của Hilton giới thiệu cho chúng ta lần đầu thiên đường núi xanh tươi của ông thì các vị tướng và các nhà ngoại giao tìm kiếm con đường khai sáng họp nhau lần đầu tiên tại ‘Đối thoại Shangri-La’ [Shangri-La là một thung lũng tưởng tượng, gần như địa đàng trong vùng Himalaya trong cuốn Lost Horizon – ND]. Cái tên mời gọi một tầm nhìn về một cuộc gặp gỡ chưa từng có của nhiều bộ óc, một tiếng thì thầm của những người hành hương trong một bầu không khí thơm nồng làm đầu óc mở rộng.

Nhưng Shangri-La đã đi một chặng đường dài từ khi Hilton lần đầu khêu nó lên từ những chuyến lang thang của ông trên Himalaya. Nó bắt đầu cuộc hành trình vào cuối những năm 1960 khi nhà kinh doanh Malaysia gốc Hoa Robert Kuok (郭鹤年: Quách Hạc Niên) làm đảo lộn thị trường đường thế giới. Với tình cảm chống Trung Quốc tăng cao ở Malaysia, Kuok tìm kiếm một nơi an toàn hơn cho một số tài sản của ông bằng việc mua bất động sản ở nước láng giềng Singapore. Và vào năm 1971, Shangri-La đã có hình hài cụ thể lần đầu tiên, không phải dưới dạng một tu viện Tây Tạng nhưng dưới dạng một khách sạn 24 tầng sang trọng. Có rất nhiều người tìm tới cách nhìn của ông về vẻ đẹp đến nỗi ông đã bung ý niệm này ra khắp châu lục. Hiện có 72 khách sạn Shangri-La ở khắp châu Á: niết bàn dành sẵn cho các giám đốc điều hành kinh doanh.

Bước tiếp theo trong sự biến đổi của Shangri-La nổi lên từ một cuộc thảo luận giữa một nhóm chuyên gia tư vấn an ninh của Anh, Viện Quốc tế Nghiên cứu Chiến lược (IISS), và Chính phủ Singapore. Họ cảm nhận rằng Châu Á cần một địa điểm mà ở đó nước này có thể nói chuyện hòa bình (hoặc chuyện ngược lại) cùng nước khác thoải mái – khách sạn Shangri-La. IISS sẽ lo liệu danh sách khách mời, chính phủ Singapore sẽ bố trí về an ninh, và các nhà tài trợ sẽ chi trả cho mọi thứ khác. Singapore và IISS sẽ có được danh tiếng; các bộ trưởng sẽ nhận được một vài phút được chú ý; và các nhà tài trợ rất nhiều cơ hội để bắt tay [quan hệ làm ăn].

Vì vậy, cứ mỗi tháng 6 kể từ năm 2002, Đối thoại Shangri-La lại đến với Singapore. Mọi thứ đều rất trang nhã. Không có còi rú ầm ĩ hay các đoàn xe dài và hầu như không có đường bị đóng. Các chỉ dấu duy nhất cho biết có một cuộc họp mặt quốc tế đang diễn ra là các dây cao su nhỏ niêm nắp miệng cống và các hộp thư bị bọc trong bao plastic – cả hai đều nhằm ngăn chặn việc đặt chất nổ bên trong một khu của khách sạn. Bên trong tòa nhà, bảo mật chỉ ở mức dè chừng. Một khi đã qua các máy dò kim loại, khách được tư do gặp gỡ với các bộ trưởng và các tướng tá. Dễ dàng bỏ sót các anh chàng Gurkhas [người Nepal] lực lưỡng lẫn vào màu xám than của bộ đồng phục của họ. Chỉ có cái hộp cầm theo dài quá khổ mới làm họ lộ ra, kích thước hộp vừa vặn để che giấu khẩu tiểu liên của họ: đó là an ninh quý ông. Đây là khách sạn Shangri-La thế kỷ 21, ở đó những thanh niên từ vùng Himalaya trông coi việc bảo vệ thân cận.

Đối với những người đi tìm sức mạnh, Đối thoại năm 2012 có khá nhiều ưu đãi của các nhà tài trợ: Boeing (nhà sản xuất của các máy bay trực thăng Apache, máy bay chiến đấu F / A–18 , máy bay vận tải C–17 , và tên lửa chống tàu Harpoon cùng các sản phẩm khác), EADS (có danh mục của riêng họ bao gồm máy bay trực thăng Cougar, máy bay chiến đấu Typhoon, máy bay vận tải A400M và tên lửa chống tàu Exocet, Mitsubishi (tham gia năm tháng sau khi chính phủ Nhật Bản nới lỏng lệnh cấm xuất khẩu quân sự), trụ sở tại Singapore của ST Engineering (nhà sản xuất của mọi loại xe địa hình Bronco, tên lửa chống tăng MATADOR và các tàu tuần tra Fearless) và hai cộng tác viên không thuộc công nghiệp quốc phòng: tờ báo Asahi Shimbun của Nhật Bản và Quỹ MacArthur của hai nhà giàu vượt bậc John D. và Catherine T. Nếu cho rằng sáu nhà tài trợ chia đều nhau trong việc chi trả công khai và MacArthur Foundation tuyên bố rằng mức tài trợ của họ lên tới $250000 thì có vẻ hợp lý để giả định rằng toàn bộ chi phí cho sự kiện hai ngày này chắc hẳn hơn $1.5 triệu. Một người trong cuộc cho rằng con số có thể là gần $ 4 triệu.

Boeing rõ ràng cảm thấy rằng cái họ thu được xứng đáng với đóng góp bỏ ra: năm 2012 là năm thứ mười của họ trong tư cách nhà tài trợ. Không khó để hiểu lý do. Với rất nhiều đấu thủ chủ chốt ở trong cùng một khách sạn, các cơ hội kết nối là rất lớn. Trong Đối thoại năm 2012, Dennis Muilenburg, người đứng đầu của Boeing Defense, Space Security [Quốc Phòng và An ninh Không gian], đã sắp xếp họp được với 13 bộ trưởng quốc phòng khác nhau: tất cả đều là khách hàng tiềm năng. Đó đều là các cuộc trao đổi quan trọng cho công ty của ông. Trong cuộc phỏng vấn với phóng viên, ông tiết lộ rằng doanh số bán cho nước ngoài hiện chiếm một phần tư doanh thu đơn vị của ông. Với chi tiêu quốc phòng của Mỹ và châu Âu bị cắt giảm, châu Á đang trở thành một thị trường quan trọng. Tháng 6 năm 2012 Boeing Defense chỉ có một khách hàng tại khu vực Đông Nam Á: Singapore. Nhưng với tất cả các nước trong khu vực ngày càng giàu hơn và lo lắng về an ninh, đây là nơi mà sự đe dọa và cơ hội gặp gỡ nhau.

Đó là lý do tại sao rất nhiều người đến với Đối thoại mỗi năm. Trọng tâm của công chúng có thể là diễn văn của các tên tuổi lớn, nhưng, như một thành viên của phái đoàn Canada tâm sự trong thang máy, ‘các cuộc họp song phương mới thực sự là nơi có hành động.’ Không nhiều người đến với hội nghị năm 2012 để nghe Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ấn Độ thảo luận về thời điểm chuyển đổi trong tư duy chiến lược của Châu Á hoặc đồng nhiệm Campuchia ông dành chỉ 60 từ cho tranh chấp biên giới của nước ông với Thái Lan (vốn đã dẫn hai nước đến đỉnh điểm chiến tranh năm trước) trong một bài phát biểu về sự ổn định trong khu vực. Không, điểm quan trọng của Đối thoại, như hầu hết những người tham dự của nó quan tâm, là những gì diễn ra ở chỗ tư riêng.

Trò chơi này đã ló dạng phần nào vào cuối phát biểu của Leon Panetta. Đây là bài phát biểu mà tất cả mọi người đều muốn nghe. Phòng họp đông như nêm, hơn 500 người ngồi ở các hàng ghế nghe chăm chú và nhiều người nữa đứng vòng quanh các bức tường khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ giải thích việc Mỹ chuyển trục sang châu Á thực sự có ý nghĩa là gì. Nó sẽ trở thành tiêu đề lớn cho báo chí khắp nơi. Nhưng ngay trước khi phần của ông kết thúc, hai nhóm người mặc quân phục đứng dậy bỏ đi. Các đoàn đại biểu của Đức và Việt Nam đã lên lịch họp song phương để thảo luận về hợp tác quân sự – và điều đó là quan trọng hơn nghe vài phút cuối của ông Panetta. Bước ra ngoài để dự một cuộc thảo luận ngoài khuôn khổ. Đó chỉ là cuộc họp riêng đầu tiên. Còn tất cả, theo một thành viên của đoàn đại biểu của họ, đoàn Việt Nam đã xoay xở có 12 cuộc họp song phương chính thức trong thời gian còn ở lại vào cuối tuần.

Năm 2012 là có ý nghĩa cho quân đội các nước Đông Á. Lần đầu tiên trong lịch sử gần đây, ngân sách của họ lớn hơn ngân sách các thành viên châu Âu của NATO.[3] Điều này chủ yếu là do cắt giảm ở châu Âu nhưng cũng do các nước Đông Á đã chi cho các lực lượng vũ trang hơn 7,8 % so với năm 2011; tổng cộng là $301.tỉ, theo Viện nghiên cứu và Hòa bình Quốc tế Stockholm. Trung Quốc chiếm tới 55 % trong tổng số đó. Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan gộp chung chiếm thêm 33 % nữa. Qua so sánh, các nền kinh tế nhỏ hơn, nghèo hơn ở Đông Nam Á chi tiêu rất ít cho quốc phòng. Ngân sách quân sự gộp chung của 5 nước Đông Nam Á có tranh chấp Biển Đông – Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam – chỉ chiếm 6 % của tổng số khoảng $18 của Đông Á. Con số đó gần bằng của Thổ Nhĩ Kỳ.

Hai nước có quân đội tinh vi nhất trong khu vực, Singapore và Thái Lan, chiếm hầu như tất cả các phần còn lại. Nhưng chi tiêu ngày càng tăng nhanh. Năm 2012, chi tiêu của Việt Nam đã tăng 20 %, Philippines 10 %, Indonesia 16 % và Singapore 5 %. Malaysia và Brunei thì giảm nhẹ, nhưng chỉ vì họ đã có con số cao trong năm 2011. Đây là những thị trường hấp dẫn cho các nhà sản xuất vũ khí tìm cách để bù đắp khoảng 11 % cắt giảm chi tiêu trong các thành viên châu Âu của NATO kể từ năm 2006.

Sau giờ làm việc, tại nhiều quán bar khách sạn Shangri-La, đại diện của các nhà sản xuất vũ khí cụng li đùa bỡn rằng lãnh đạo Trung Quốc đã giúp họ đạt được chỉ tiêu bán hàng. Nếu mối quan tâm của Mỹ về truy cập khiến Trung Quốc quan ngại về an ninh thì việc Trung Quốc đẩy mạnh an ninh lại làm dấy lên nỗi sợ hãi của mọi nước khác về mất an ninh.

Cuối năm 1992, không lâu sau khi Trung Quốc thông qua luật về lãnh thổ đưa ra yêu sách đối với cho các nhóm đảo ở Biển Đông và nhượng quyền khai thác dầu mỏ ngoài khơi bờ biển Việt Nam cho Crestone (xem chương 5), Indonesia đáng để ý mua một phần ba Hải quân Đông Đức cũ: tổng cộng 39 tàu bao gồm tàu khu trục, tàu đổ bộ và tàu quét mìn.[4] Những tàu đó hiện nay đã lỗi thời, 6 tàu chiến lớn nhất của nước này cũng thế: các tàu khu trục nhỏ trước đây của Hà Lan đã 60 tuổi. Hải quân Indonesia ngày càng giảm đi khả năng bảo vệ đất nước hơn, thậm chí khi các vụ xâm nhập của tàu Trung Quốc tăng lên. Tàu hiện đại các cỡ của họ chỉ là 4 tàu hộ tống do Hà Lan đóng và 5 tàu đổ bộ do Hàn Quốc đóng. Còn lại hải quân của họ gồm khoảng 50 tàu tuần tra và 4 tàu tên lửa nhỏ. Đối với một đất nước có 13000 đảo, Indonesia dường như đặt ưu tiên tương đối thấp cho lực lượng hải quân của mình. Đất nước này không có hệ thống cảnh báo sớm trên không, không có chuyến bay tiếp nhiên liệu trên không để trợ giúp tuần tra tầm xa trên biển và chỉ có các hệ thống chỉ huy và điều khiển thô sơ.[5] Lý do duy nhất mà họ có được hệ thống giám sát hàng hải tích hợp của hệ thống radar ven biển và trên tàu là do Mỹ chi cho, bề ngoài là để chống lại ‘cướp biển, đánh bắt trái phép, buôn lậu và khủng bố’, theo lời của Bộ Ngoại giao Mỹ.[6]

Quân đội Indonesia nổi tiếng là tham nhũng và việc mua sắm vũ khí của họ không tương quan thật tốt với những thách thức tiềm năng mà họ có thể phải đối mặt. Tháng 8 năm 2013 họ đã đồng ý mua 8 máy bay trực thăng Apache tấn công (từ Boeing) với giá $500 triệu. Năm 2012, họ mua 103 xe tăng chiến đấu chủ lực thừa của Đức. Không rõ mỗi thứ trong hệ thống này nhằm mục đích gì. Chắc chắn chúng sẽ không giúp bảo vệ yêu sách biển. Kế hoạch đầu tư quy mô lớn khí tài hải quân hiện đại đã nhiều lần bị trì hoãn hoặc tạm dừng vì vấn đề ngân sách. Indonesia đã có ý định mua tàu ngầm mới của Nga nhưng đã buộc phải mua một tàu Hàn Quốc rẻ hơn thay vào. Ba chiếc đang được đóng tại thời điểm viết bài và có đàm phán mua thêm. Kế hoạch mua một tàu khu trục cũ của Nga và ba tàu tuần tra ngoài khơi của Brunei đã bị hủy bỏ. Tuy nhiên, những lo ngại về tham vọng của Trung Quốc trên biển cuối cùng đã thúc giục chính phủ Indonesia đi vào hành động và bây giờ họ bắt đầu mua một số tàu thuyền nhỏ hơn và trang bị chúng với tên lửa chống hạm mới, bao gồm Exocet (được EADS đóng), Yahont của Nga và, C–802 trớ trêu là do Trung Quốc thiết kế nhưng đóng tại chỗ.

Philippines, một lần nữa, nói về hiện đại hóa quân sự của mình, như họ từng nói cứ mỗi vài năm chỉ để khám phá rằng tiền của đã bị lãng phí. Quân đội Philippines hiện đang trong tình trạng tồi tệ hơn so với năm 1995 khi Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng và An ninh Quốc gia Thượng viện, Orlando Mercado, nói với Tạp chí Kinh tế Viễn Đông, ‘chúng tôi có một lực lượng không quân không thể bay và một lực lượng hải quân không thể đi ra biển’.[7] Hai tàu lớn nhất của hải quân là tàu cũ của Tuần duyên Mỹ, và tàu lớn kế tiếp là từ thời Thế Chiến thứ hai và hầu hết số còn lại là các tàu tuần tra nhỏ hết hạn dùng của Anh hay Hàn Quốc. Các tranh luận về việc mua tàu đổ bộ và tàu khu trục mới đã diễn ra trong nhiều năm nhưng vẫn chưa có giải pháp tại thời điểm viết sách. Nhật Bản đã cho Philippines vay $184 triệu để mua 10 tàu tuần duyên mới, nhưng sẽ là tàu dân sự chứ không phải quân sự. Không quân có một vài máy bay trực thăng và máy bay vận tải; còn máy bay phản lực chiến đấu cuối cùng thì hết hạn sử dụng vào năm 2005. Một kế hoạch trị giá $ 415 triệu mua 12 máy bay chiến đấu mới FA–50 từ Hàn Quốc đã được công bố nhưng sẽ phải mất nhiều năm trước khi các phi công sẵn sàng lái chúng cho các nhiệm vụ chiến đấu. Tháng 5 năm 2014, như một dấu kết thúc cho thỏa thuận đó, Hàn Quốc tuyên bố sẽ tặng một tàu hộ tống nhỏ 30 tuổi cho Philippines.

Malaysia đã chi tiêu tiền một cách chiến lược hơn trong một khoảng thời gian dài và đã xây dựng một đội tàu tuần tra cho tuần duyên và các tàu lớn cho hải quân. Bây giờ họ có hai tàu ngầm do Pháp đóng nằm tại Kota Kinabalu trên đảo Borneo gần các mỏ dầu ngoài khơi của họ. Tháng 10 năm 2013, bảy tháng sau cuộc tập trận hải quân lớn của Trung Quốc gần Bãi ngầm James, Malaysia công bố kế hoạch thành lập một sư đoàn lính thuỷ đánh bộ mới sẽ đóng ở chỗ bờ biển phía các tàu ngầm, tại Bintulu, cảng gần bãi ngầm này nhất. Các lính thuỷ đánh bộ sẽ cần một kho các trang bị mới, trong đó có ít nhất một tàu đổ bộ, nhiều xe lội nước và máy bay trực thăng mới. Malaysia phải đối mặt với một đe dọa tiềm năng trong khu vực: yêu sách lãnh thổ dai dẳng đối với Sabah từ con cháu của Quốc vương Sulu, người đã tung ra một cuộc xâm lược nhỏ vào đầu năm 2013, giết chết 15 người Malaysia, nhưng điều đó không giải thích lý do tại sao họ lại mua tàu ngầm.

Việt Nam chi về quân sự ít hơn Malaysia rất nhiều nhưng tập trung vào phiên bản ‘sát thủ giản’ của chính họ: thiết bị rẻ hơn với khả năng gây thiệt hại lên một đối thủ mạnh hơn rất nhiều. Đầu năm 2014 Việt Nam đã nhận được chiếc đầu tiên trong 6 chiếc tàu ngầm mới của Nga. Họ cũng đã mua giàn pháo tên lửa chống tàu trên bờ của Nga và tên lửa đạn đạo do Israel chế tạo với tầm bắn 150 km, và sẽ sản xuất tại chỗ tên lửa chống tàu Uran của Nga. ‘Nếu như có một cuộc chiến tranh nóng lớn xảy đến trong các khu vực tranh chấp thì Việt Nam có lẽ ở vị thế mạnh nhất’, Gary Li lập luận. ‘Hải quân Trung Quốc không có cách nào có thể làm điều đó. Nó quá nguy hiểm. Nếu họ cho một hạm đội tràn xuống chạy ngang qua bờ biển Việt Nam thì về cơ bản đó là một hành lang bắn pháo. Việt Nam có tên lửa Bastion loại mới nhất, tàu ngầm Kilo và tàu tấn công nhỏ. Nếu Việt Nam bị thiệt hại thì họ chỉ cần tung trở về căn cứ. Nếu một tàu Trung Quốc bị hư hỏng thì lại cách căn cứ cả ngàn dặm và họ cũng không có một căn cứ hải quân lớn gần đó.’[8]

Việc mua bán vũ khí tương đối nhỏ trong khu vực Đông Nam Á không kể là ‘chạy đua vũ trang’. Các nước này không thể nào cạnh tranh với các chi tiêu quân sự của Trung Quốc. Nhưng rõ ràng họ đang cố gắng để ngăn chặn hoạt động hải quân không được chào đón bằng cách mua lại các loại vũ khí có thể gây thiệt hại cho một hạm đội mạnh hơn. Khả năng chống trả của họ đối với một hoạt động hải quân phối hợp của Trung Quốc ở Biển Đông là hạn chế nhưng trong hành động chẳng có bên nào muốn nổ súng đầu tiên, việc triển khai đơn giản lực lượng vừa tới mức đe dọa có thể cũng đủ để đảo ngược cán cân, chẳng hạn chống lại một tàu cảnh sát biển Trung Quốc đang cố ngăn cản một giàn khoan dầu trong một khu vực bên trong ‘đường chữ U’. Dĩ nhân, yếu tố chưa biết là Hải quân Trung Quốc sẽ phản ứng ra sao trước một đe dọa cho tàu cảnh sát biển. Nó có thể là bước khởi đầu của một sự leo thang nhanh chóng hướng tới cuộc xung đột mở.

Hoa Kỳ sẽ không đề ra lập trường chính thức về các tranh chấp lãnh thổ. Về các đảo [ở Biển Đông], họ có cùng quan điểm mà Tham mưu trưởng Anh có hồi năm 1950. ‘Quần đảo Trường Sa không có giá trị chiến lược đáng giá... Việc kẻ thù chiếm đóng chúng trong chiến tranh sẽ không là một mối đe dọa chiến lược nghiêm trọng miễn là chúng ta vẫn giữ được quyền kiểm soát Biển Đông,’[9] Nếu khi nào có một cuộc xung đột xảy đến, thì các lô cốt lẻ loi sẽ là các tấm bia cho tên lửa điều khiển từ xa bắn vào. Vấn đề đối với Mỹ là họ có thể nắm quyền kiểm soát Biển Đông trong bao lâu. Hiện nay, mặc dù tất cả các thổi phồng về khả năng lớn mạnh của Trung Quốc, vị trí của Mỹ có vẻ vẫn an toàn. Tuy nhiên, khả năng Trung Quốc sẽ tăng lên theo thời gian và có thể sẽ đến một lúc lãnh đạo Bắc Kinh muốn đẩy bọn xâm lược đế quốc ra khỏi sân sau của mình, cũng giống như Mỹ đã đẩy Anh ra khỏi Biển Caribbea một thế kỷ trước.

Trong giai đoạn này xung đột có nhiều khả năng nổi lên là từ một tính toán sai lầm trong cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và một trong các bên tranh chấp trong khu vực. Chính quyền Trung Quốc sẽ sử dụng sức mạnh quân sự để ngăn chặn trên thực tế việc khai thác dầu và bảo vệ thủy sản ngoài khơi bờ biển của Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines? Những nước này sẽ sử dụng sức mạnh quân sự để bảo vệ yêu sách của mình? Chính phủ Trung Quốc và dân chúng, được khắc sâu từ khi học tiểu học niềm tin rằng ‘đường chữ U’ là của họ không thể tranh cãi và bị khoá kín trong một quyết tâm đối đầu qua lời khoa trương, quả quyết rằng họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc nổ súng? Các nước Đông Nam Á sẽ cố gắng lôi kéo Hoa Kỳ vào? Mỹ sẽ coi các diễn biến đó như là một đe dọa cho quyền ‘tự do đi lại’ của mình và sẽ can thiệp? Còn rất nhiều sự lựa chọn sẽ được thực hiện nhưng chiến trường của Biển Đông đã được định hình.

B. H.

Dịch giả gửi BVN.


[1] US Department of Defense, ‘Media Availability with Secretary Panetta in Cam Ranh Bay, Vietnam’, News Transcript, 3 June 2012. Có thể xem tại http://www.defense.gov/transcripts/transcript.aspx?transcriptid=5051.

[2] ‘SECNAV Visits Logistics Group Western Pacific and Navy Region Center Singapore’, Naval News Service, August 2012; Ian Storey, personal communication, February 2014.

[3] International Institute for Strategic Studies, Military Balance 2013 Press Statement, 14 March 2013. Có thể xem tại http://www.iiss.org/en/about%20us/press%20releases/press%20releases/archive/2013–61eb/march–c5a4/military–balance–2013–press–statement–61a2.

[4] Michael Richardson, Indonesia to Acquire One–Third of Navy of Former East Germany, The New York Times, 5 February 1993.

[5] Benjamin Schreer, ‘Moving beyond Ambitions?’ Indonesias Military Modernisation, Australian Strategic Policy Institute, November 2013. Có thể xem tại https://www.aspi.org.au/publications/moving–bevond–ambitions–indonesias–military–modernisation/Strategy–moving–beyond–ambitions.pdf.

[6] Office of the Spokesperson, US Department of State, ‘DoD–funded Integrated Maritime Surveillance System’, Fact Sheet, 18 November 2011. Có thể xem tại http://www.state.gov/r/pa/prs/ps/2011/11/177382.htm.

[7] Rodney Tasker, ‘Ways and Means: Manila plans an expensive military upgrade’, Far Eastern Economic Review, 11 May 1995, 28.

[8] Phỏng vấn cá nhân. Beijing 8/11/2013.

[9] Stein Tønnesson, ‘The South China Sea in the Age of European Decline’, Modern Asian Studies, vol. 40 (2006), 157.