Một lần nữa nhìn lại về Chủ nghĩa Cộng sản*

Tino Cao 

Bi kịch lớn nhất của chủ nghĩa cộng sản trong lịch sử không phải chỉ ở chỗ nó đã thất bại về mặt kinh tế ở nhiều nơi hay vì nó sản sinh ra những bộ máy đàn áp khét tiếng. Bi kịch sâu hơn nằm ở việc nó từng đánh động nơi con người một nhu cầu chính đáng về công bằng, phẩm giá và giải phóng, nhưng lại nhiều lần chuyển hóa nhu cầu ấy thành những hình thức quyền lực có khả năng chà đạp chính con người nhân danh tương lai của con người.

Nhìn từ biến động Cuba trong mấy ngày qua, điều đáng chú ý nhất có lẽ không phải chỉ là hình ảnh một quốc gia chìm trong bóng tối vì hệ thống điện quốc gia sụp đổ hay những cuộc biểu tình bùng lên trong cảnh thiếu điện, thiếu nhiên liệu và thiếu lương thực. Theo ý kiến của tôi, lịch sử dường như một lần nữa đặt lại trước mắt chúng ta một câu hỏi đã cũ: Vì sao một học thuyết xuất phát từ lời hứa về công bằng, giải phóng và xóa bỏ áp bức giai cấp lại nhiều lần, trong thực tế lịch sử, kết tinh thành những bộ máy quyền lực có xu hướng độc quyền, cưỡng bức và khép kín?

Trong ngày 16 tháng 3 hôm nay, Reuters và AP đều ghi nhận Cuba rơi vào một đợt mất điện diện rộng trên toàn quốc, tiếp nối nhiều tháng khủng hoảng năng lượng, trong khi các cuộc biểu tình và bất ổn hiếm thấy đã xuất hiện ở một số địa điểm trước đó vài ngày. Những dữ kiện ấy chưa cho phép kết luận rằng chế độ cộng sản ở Cuba sắp sụp đổ theo nghĩa trực tiếp của chữ “sụp đổ”. Nhưng chúng cho thấy một điều đáng chú ý hơn: một mô hình chính trị có thể tồn tại rất lâu trong khó khăn, cho đến khi những khủng hoảng vật chất tích tụ đủ lớn khiến người dân bắt đầu đặt câu hỏi về chính những điều họ từng được yêu cầu tin vào. Khi đời sống thực tế ngày càng xa rời những gì hệ thống nói về chính nó, lòng tin và sự đồng thuận trước đó sẽ biến thành nỗi nghi ngờ. Và khi nền tảng đó suy yếu đến mức không còn giữ được nữa, những lí tưởng từng được dùng để biện minh cho tính chính danh của quyền lực sẽ quay ngược chống lại chính nó, làm lộ ra một cơ chế cai trị mà, nói theo ngôn ngữ của chính nó, là đã trở nên “phản động” – tức là đánh mất khả năng thuyết phục ngay từ nền tảng đạo đức.

Xin quay lại điểm xuất phát của vấn đề. Ở bình diện tư tưởng, chủ nghĩa cộng sản của Marx không bắt đầu như một thứ học thuyết chỉ nhằm dựng lên một bộ máy chuyên chế. Nó khởi sinh bằng lý thuyết phê phán đạo đức, kinh tế và lịch sử đối với xã hội tư bản hiện đại. Marx nhìn thấy trong chủ nghĩa tư bản một trật tự sản xuất tạo ra của cải khổng lồ nhưng đồng thời cũng sản sinh sự tha hóa, bất bình đẳng và tình trạng con người bị tước mất quyền làm chủ đời sống lao động của mình. Trong viễn tượng ấy, xã hội cộng sản được hình dung như một xã hội không còn phân chia giai cấp, nơi những hình thức tha hóa có tính hệ thống sẽ bị xóa bỏ. Stanford Encyclopedia of Philosophy khi tổng kết Marx cũng nhấn mạnh rằng trong viễn tượng của ông, một xã hội cộng sản tương lai là xã hội không còn những cấu trúc tha hóa mang tính hệ thống gắn với xã hội phân chia giai cấp. Nói cách khác, trên nguyên tắc, hạt nhân ban đầu của học thuyết này quả thật có một sức hấp dẫn đạo đức rất lớn: nó hứa hẹn trả lại phẩm giá cho con người bằng cách xóa bỏ nền tảng vật chất của bóc lột. Nhiều người có thể xem chủ nghĩa cộng sản như một lời mời gọi đi về phía công bằng triệt để. Nhưng chính chỗ ấy lại nảy sinh vấn đề: từ một lý tưởng đạo đức về giải phóng con người đến một thiết chế chính trị cụ thể là cả một khoảng cách vời vợi, và Marx để lại khá nhiều khoảng trống ở đúng cái điểm bản lề đó. Ông nói nhiều về sự xóa bỏ xã hội cũ nhưng không đưa ra một lý thuyết khả thi, chi tiết và có tính tự giới hạn đủ mạnh về việc quyền lực cách mạng sẽ được kiểm soát như thế nào trong giai đoạn chuyển tiếp. Chính khoảng trống ấy về sau trở thành một cửa ngõ để bạo lực chính trị bước vào dưới danh nghĩa lịch sử với cái tên gọi m miều: “bạo lực cách mạng”. 

Bước ngoặt quyết định xảy ra khi học thuyết ấy đi từ những luận đề triết học sang phương thức giành chính quyền. Lenin, với tư cách nhà cách mạng, đã thực hiện một hành động có ý nghĩa lịch sử cực lớn: ông biến một lý thuyết phê phán xã hội thành một học thuyết tổ chức quyền lực. Hạt nhân của biến đổi này nằm ở ý niệm đảng tiên phong. Britannica tóm lược khá rõ rằng theo Lenin, đảng phải là một tổ chức có k luật cao, tập trung, gồm những người cách mạng chuyên nghiệp, làm người hướng dẫn, người lãnh đạo và người phát ngôn cho lợi ích chân chính của giai cấp vô sản. Bề ngoài, đó chỉ có vẻ như một giải pháp chiến lược để chống lại một nhà nước đàn áp mạnh hơn. Nhưng về thực chất, đã diễn ra một sự chuyển dịch căn bản: lịch sử không còn được đặt trong tay giai cấp như một lực lượng xã hội sống động mà được trao cho đảng Cộng sản với tư cách “đảng tiền phong của giai cấp công nhân” – một lực lượng tự nhận mình nắm giữ sự hiểu biết đúng đắn nhất về ý nghĩa và hướng đi của lịch sử. Từ khoảnh khắc đó, quyền lực không còn cần được duy trì bằng sự đồng thuận liên tục của xã hội; nó được biện minh bằng một khẳng định rằng đảng biết rõ con đường của lịch sử hơn chính xã hội mà nó cai trị. Một khi đã tự nhận cho mình địa vị người sở hữu chân lý lịch sử, đảng không còn là một tác nhân chính trị có thể bị chất vấn bình thường mà trở thành một thực thể gần như siêu nghiệm trong cấu trúc chính trị. Mọi đối lập khi đó không chỉ là bất đồng mà bị diễn giải như phản động, phản lịch sử hoặc phản cách mạng. Đây là một bước ngoặt có ý nghĩa quyết định bởi từ đây hạt mầm của chế độ độc đảng bắt đầu có cơ sở lý luận của nó.

Bi kịch của nhiều chế độ Cộng sản thật ra không thể chỉ giải thích bằng đạo đức cá nhân của những nhà lãnh đạo xấu xa, dù nhân tố ấy không phải không có. Vấn đề lớn hơn nằm ở kết cấu. Khi một đảng tự cho mình là người mang chân lý của lịch sử thì việc tập trung hóa quyền lực sẽ không còn xuất hiện như một tai nạn hay một sự lạm quyền đáng xấu hổ nữa mà sẽ được trình bày như một yêu cầu tất yếu của cách mạng. Đó là chỗ mà lý tưởng bình đẳng bắt đầu bị đảo ngược ngay trong logic của nó. Bởi muốn xây dựng một xã hội không còn áp bức, đảng cho mình quyền sử dụng những hình thức áp bức tạm thời; muốn giải phóng tương lai, nó cho phép mình cưỡng bức hiện tại; muốn thủ tiêu bất công, nó tập trung những công cụ quyết định đời sống xã hội vào tay một trung tâm duy nhất. Chính ở đây nảy sinh điều mà nhiều nhà phê phán gọi là nghịch lý nội tại của chủ nghĩa Cộng sản hiện thực. Nó tuyên bố xóa bỏ thống trị nhưng lại chỉ có thể vận động hệ lý luận ấy bằng cách mở rộng quy mô thống trị. Trong nhiều trường hợp, chuyên chính vô sản trên thực tế đã không dẫn đến tiêu vong của nhà nước như lý thuyết mà dẫn đến phình nở cực đại của nhà nước. Bộ máy thay vì teo lại đã ăn sâu hơn vào toàn bộ kết cấu xã hội: kinh tế, giáo dục, báo chí, công đoàn, văn hóa, học thuật, ký ức lịch sử, thậm chí cả ngôn ngữ đạo đức thường nhật. Ở điểm này, khoảng cách giữa lý tưởng và hiện thực không còn là một chênh lệch nhỏ nữa mà trở thành sự đảo ngược gần như toàn diện.

Hannah Arendt là một trong những người đã cung cấp ngôn ngữ sắc bén để mô tả kiểu đảo ngược ấy. Stanford Encyclopedia of Philosophy nhắc lại rằng The Origins of Totalitarianism của bà là công trình lớn nghiên cứu về các chế độ Đức quốc xã và Stalin, đặt ra tranh luận rộng lớn về bản chất của hiện tượng toàn trị. Điều quan trọng ở Arendt không phải là mọi chi tiết trong mô hình của bà đều bất khả tranh cãi mà là bà giúp cho thấy một cơ chế, ở chỗ, khi một chế độ không chỉ muốn cai trị hành vi mà còn muốn độc quyền diễn giải thực tại, khi nó không chỉ đàn áp đối thủ mà còn tìm cách biến mọi lĩnh vực của đời sống thành khu vực kiểm soát của ý thức hệ, thì lúc đó ta đã đi xa ra khỏi lãnh địa của chuyên quyền thông thường để bước vào một hình thức quyền lực độc tài toàn diện hơn. 

Chủ nghĩa Cộng sản trong các hiện thân Stalinist của nó biểu lộ chính khuynh hướng ấy. Lịch sử bị biến thành định mệnh có sẵn, đảng trở thành người duy nhất đọc được định mệnh ấy và xã hội phải được uốn nắn để phù hợp với câu chuyện lớn của lịch sử. Từ đó, “bạo lực cách mạng” không còn được xem như bạo lực thuần túy; nó trở thành công cụ giáo dục lịch sử, phẫu thuật xã hội, thậm chí là một công cụ thanh lọc. Một khi quyền lực tự hiểu mình như người thi hành mệnh lệnh của lịch sử, nó rất dễ đánh mất cảm thức về giới hạn đạo đức. Bởi đối với nó, nạn nhân cụ thể của hiện tại chỉ là cái giá nhỏ phải trả cho một tương lai lớn lao hơn. Và chính chỗ ấy, lịch sử thế k 20 đã lấp đầy những hố chôn người. 

Một phê phán khác, rất quan trọng vì xuất phát từ bên trong thế giới Cộng sản chứ không từ bên ngoài, là Milovan Djilas. Britannica tóm tắt lập luận nổi tiếng của The New Class: Tầng lớp Cộng sản cầm quyền ở Đông Âu trên thực tế không khác bao nhiêu so với các giai cấp thống trị mà họ từng lên án, chỉ khác ở chỗ họ chiếm hữu quyền lực thông qua độc quyền hành chính và kiểm soát nhà nước hơn là qua sở hữu tư bản tư nhân theo nghĩa cổ điển. Đây là một trực giác cực mạnh về mặt xã hội học. Chủ nghĩa Cộng sản không nhất thiết xóa bỏ giai cấp; trong nhiều trường hợp, nó chỉ thay đổi hình thức của giai cấp thống trị. Nếu trong chủ nghĩa tư bản cổ điển, quyền lực thường gắn chặt với quyền sở hữu tài sản tư nhân thì trong các chế độ Cộng sản hiện thực, quyền lực gắn với khả năng tiếp cận bộ máy phân phối, hệ thống đặc quyền, cơ hội quyết định và kiểm soát nguồn lực của toàn xã hội. Kết quả là xuất hiện một tầng lớp mới: Không cần đứng tên nhà máy như nhà tư bản thế k 19 nhưng lại nắm trong tay nhà máy thông qua nhà nước; không cần sở hữu báo chí như một ông trùm truyền thông nhưng quyết định được điều gì được phép nói; không cần có bất động sản mang tên cá nhân thật nhiều nhưng sống trong một mạng lưới ưu đãi mà phần còn lại của xã hội không bao giờ được chạm đến. Tầng lớp ấy là một quý tộc hành chính mới. Và khi đã hình thành như thế, nó có lợi ích riêng của nó, bản năng tự vệ riêng của nó, ngôn ngữ đạo đức giả riêng của nó. Từ đây, lời hứa xóa bỏ giai cấp trở thành một huyền thoại chính danh hóa cho một hình thức tái cấu trúc giai cấp khác kín đáo hơn nhưng không kém hiệu lực. 

Ở một hướng phê phán khác nữa, Hayek đẩy vấn đề sang bình diện cấu trúc kinh tế của quyền lực. Hayek lập luận trong The Road to Serfdom rằng một khi nhà nước cố gắng điều hành toàn bộ nền kinh tế bằng kế hoạch tập trung thì việc sử dụng cưỡng bức sẽ không còn là ngoại lệ mà trở thành điều khó tránh khỏi, dù những người ủng hộ hệ thống ấy thường không muốn thừa nhận điều đó. Ở đây, có thể không cần đồng ý hoàn toàn với Hayek mới thấy được sức mạnh của câu hỏi ông nêu ra. Một nền kinh tế càng được tổ chức theo lối chỉ huy tập trung từ một đỉnh quyền lực thì câu hỏi ai quyết định phân bổ hàng hóa, lao động, ưu tiên đầu tư, giá cả, nhu cầu xã hội sẽ càng trở nên mang tính chính trị tuyệt đối. Khi mọi đầu vào sinh kế đều lệ thuộc vào trung tâm, trung tâm ấy sẽ nắm không chỉ kinh tế mà cả điều kiện tồn tại của con người. Trong hoàn cảnh đó, bất đồng chính trị rất khó còn là một quyền trừu tượng được ghi trong hiến pháp; nó trở thành rủi ro vật chất cụ thể: mất việc, mất tem phiếu, mất nhà, mất cơ hội học hành, mất sự an toàn xã hội. Chính vì vậy, ngay cả khi bỏ qua những luận điểm có màu sắc ý thức hệ nhất của Hayek, người ta vẫn phải công nhận rằng kế hoạch hóa cực độ dễ tạo nên một cấu trúc trong đó tự do chính trị bị bóp nghẹt không chỉ bằng cảnh sát và nhà tù mà còn bằng quyền kiểm soát các mạch sống vật chất. Tuy nhiên, về mặt học thuật, cũng cần nói thêm cho công bằng là từ luận đề này đến kết luận cho rằng mọi hình thức can thiệp kinh tế của nhà nước đều dẫn tới nô dịch là một bước nhảy không hoàn toàn tất yếu. Nhà nước phúc lợi ở nhiều nền dân chủ đã cho thấy không phải bất cứ sự can thiệp hay tái phân phối nào cũng tất yếu biến thành toàn trị. Nhưng phê phán của Hayek vẫn giữ nguyên giá trị cảnh báo ở điểm mấu chốt: khi kế hoạch hóa kinh tế đi liền với độc quyền chính trị và sự vắng mặt của kiểm soát dân chủ, nó sẽ mở rộng rất nhanh quyền lực cưỡng bức của trung tâm cai trị.

Cuba là một phòng thí nghiệm đặc biệt để nhìn toàn bộ câu chuyện ấy, bởi đây không phải trường hợp đơn giản của một nhà nước Cộng sản nghèo nàn ngay từ đầu mà là một chế độ cách mạng từng sở hữu một hào quang biểu tượng rất mạnh trong thế k 20. Sau năm 1959, chế độ của Fidel Castro không chỉ được nhiều người ủng hộ như một chính quyền chống Batista; nó còn được lãng mạn hóa như hiện thân của độc lập dân tộc, chống đế quốc và công bằng xã hội ở M Latinh. 

Cuba quả thật đã có những thành quả mà ngay cả những người phê phán gay gắt nhất cũng khó phủ nhận hoàn toàn, đặc biệt trong giáo dục và y tế công cộng. Nhưng vấn đề của phân tích là không được dừng ở những thành tích xã hội được trưng bày như huy chương chính danh. Britannica cho thấy sau cách mạng, đảng Cộng sản Cuba giữ vai trò chính trị thống trị và nhà nước Cuba tự mô hình hóa theo các nước khối Xô viết; đồng thời Cuba trong nhiều thập niên phụ thuộc rất lớn vào viện trợ, dầu mỏ và thị trường ưu đãi từ Liên Xô. Sau khi Liên Xô tan rã, nền kinh tế Cuba bước vào thời k khủng hoảng sâu sắc vì mất chỗ dựa chiến lược đó. Điều này có ý nghĩa rất lớn. Nó cho thấy cái gọi là ổn định của mô hình Cuba trong nhiều thập niên không thể tách khỏi mạng lưới nâng đỡ địa chính trị của khối Xô viết. Một hệ thống nếu chỉ có thể duy trì các cam kết xã hội cơ bản của mình nhờ trợ lực quy mô lớn từ bên ngoài thì bản thân nó đã bộc lộ tính mong manh nội tại. Sự bền vững không chỉ là khả năng tồn tại khi còn được bơm nguồn lực mà là khả năng tự tái tạo trong điều kiện bình thường hóa lịch sử. Cuba sau 1991 đã sống trong cái bóng dài của câu hỏi ấy, và cuộc khủng hoảng điện, nhiên liệu, lương thực trong những năm gần đây chỉ là phần dễ thấy của một vấn đề căn cơ hơn rất nhiều. 

Bởi thế, biến động Cuba hôm nay không nên được nhìn theo lối báo động giật gân rằng chỉ vài ngày nữa một chế độ sẽ đổ sập như một bức tường mục. Cách suy luận ấy vừa chính trị hóa quá mức dữ kiện hiện thời vừa làm nghèo đi ý nghĩa của phân tích. Điều quan trọng hơn là thấy rằng khủng hoảng vật chất ở Cuba đang phơi bày mô thức quen thuộc của các chế độ Cộng sản hiện thực: khi tính hiệu quả kinh tế suy kiệt, tính chính danh cách mạng trở thành lỗi thời, còn các kênh điều chỉnh quyền lực từ dưới lên gần như vắng mặt… thì hệ thống rất dễ rơi vào trạng thái tê liệt. Nó không sụp ngay, nhưng mỗi cú sốc lại bóc đi thêm một lớp huyền thoại. Trong một nền dân chủ, khủng hoảng điện diện rộng hay đứt gãy cung ứng kéo dài có thể dẫn tới thay đổi chính phủ, thay đổi chính sách, điều trần quốc hội, bầu cử trừng phạt, báo chí độc lập điều tra. Trong một chế độ độc đảng, các cơ chế ấy bị triệt tiêu hoặc không tồn tại, mọi thất bại của hệ thống không còn được hấp thụ thông qua cạnh tranh chính trị mà bị dồn nén lại thành sự bất mãn tích tụ. Càng kéo dài, sự bất mãn ấy thì càng hủy hoại nền tảng đạo đức của quyền lực. Khi người dân phải sống nhiều giờ trong bóng tối, khi thuốc men, thực phẩm, nhiên liệu trở thành câu chuyện triền miên thì những khẩu hiệu về lịch sử và cách mạng bắt đầu mất hết khả năng cứu vãn. Đến lúc ấy, điều khủng hoảng không phải chỉ là hạ tầng điện lực mà là chế độ. 

Tôi muốn trở lại với câu hỏi có phải Cộng sản thối nát không. Nếu dùng ngôn ngữ phân tích thay cho ngôn ngữ lên án, ta có thể nói thế này: Vấn đề của chủ nghĩa Cộng sản hiện thực không phải là sự thối nát theo nghĩa đạo đức thông thường, dù tham nhũng, đạo đức giả và đặc quyền là những hiện tượng có thật trong các thể chế Cộng sản. Vấn đề sâu xa hơn nằm ở chỗ nó tạo ra một hệ thống quyền lực rất dễ bị tha hóa biến chất, bởi nó tập trung vào một trung tâm chính trị duy nhất ba thứ lẽ ra phải có khoảng cách với nhau: quyền diễn giải chân lý lịch sử, quyền cưỡng bức bằng nhà nước và quyền phân phối nguồn sống vật chất. Khi ba quyền năng ấy chập vào một, nguy cơ tha hóa không còn là ngẫu nhiên mà trở thành xu hướng tất yếu. Một đảng được xem là đại diện duy nhất của lịch sử sẽ rất khó chấp nhận kiểm soát từ bên ngoài. Một nhà nước nắm trọn các mạch phân phối kinh tế sẽ rất khó không biến ân huệ thành công cụ cai trị. Một ý thức hệ hứa hẹn tương lai cứu rỗi sẽ rất dễ xem đau khổ hiện tại của con người cụ thể chỉ là chi phí phải trả. 

Nói cách khác, khủng hoảng của các chế độ cộng sản không đến từ việc họ phản bội lý tưởng mà đến từ chỗ chính phương thức họ chọn để thực thi lý tưởng ấy đã chứa sẵn trong nó những động lực phản bội. Ở đây, từ “phản bội” không nên hiểu giản đơn như một sa ngã đạo đức tình cờ của vài cá nhân; nó là kết quả của một hình thức tổ chức quyền lực trong đó mục tiêu giải phóng được theo đuổi bằng những công cụ phủ định tự do ngay từ đầu.

Vậy có thể nói sự sụp đổ của các chế độ Cộng sản là tất yếu hay không?

Theo tôi, câu trả lời là không nên biến một khuynh hướng lịch sử thành định luật siêu hình. Lịch sử không phải toán học. Có chế độ đã sụp đổ nhanh như Đông Âu năm 1989, có chế độ tan rã từ bên trong như Liên Xô, có chế độ thích nghi bằng cải cách thị trường nhưng vẫn giữ độc quyền chính trị như Việt Nam hay Trung Quốc. Cái có thể nói chắc hơn không phải là mọi chế độ Cộng sản đều tất yếu sụp đổ vào một thời điểm xác định mà là những chế độ dựa trên độc quyền chân lý, độc quyền tổ chức và độc quyền phân phối sẽ mang trong mình một mâu thuẫn trường k. Chúng cần chứng minh rằng mình giải phóng xã hội nhưng lại phải duy trì những cơ chế kiềm tỏa xã hội để tự bảo tồn. Mâu thuẫn ấy không phải lúc nào cũng lập tức giết chết hệ thống nhưng nó làm hệ thống hao mòn dần khả năng tái sinh. Khi điều kiện bên ngoài còn thuận lợi, nó có thể được che lấp. Khi khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng niềm tin cùng lúc xuất hiện, nó trở thành rạn nứt không thể che giấu. Cuba hôm nay nên được hiểu trước hết như một biểu hiện của sự tự hủy diệt ấy.

Và có lẽ đó là chỗ tôi muốn kết lại bài viết này:  Bi kịch lớn nhất của chủ nghĩa Cộng sản trong lịch sử không phải chỉ ở chỗ nó đã thất bại về mặt kinh tế ở nhiều nơi hay vì nó sản sinh ra những bộ máy đàn áp khét tiếng. Bi kịch sâu hơn nằm ở việc nó từng đánh động nơi con người một nhu cầu chính đáng về công bằng, phẩm giá và giải phóng, nhưng lại nhiều lần chuyển hóa nhu cầu ấy thành những hình thức quyền lực có khả năng chà đạp chính con người nhân danh tương lai của con người. Cuba, trong bóng tối của những ngày này, không chỉ là câu chuyện của một hòn đảo Caribe đang khốn quẫn vì điện, dầu và lương thực. Nó là một tấm gương lịch sử soi lại một lời hứa đã từng mê hoặc hàng triệu người trên thế giới. Tấm gương ấy nhắc rằng không có lý tưởng nào, dù đẹp đến đâu, được miễn trừ khỏi câu hỏi về quyền lực. Và một học thuyết càng tự xem mình là cứu cánh cuối cùng của lịch sử thì càng phải bị chất vấn gay gắt hơn ở cách nó đối xử với tự do, với sự thật và với con người cụ thể trong hiện tại. Khi một chế độ không còn trả lời được những câu hỏi đó ngoài việc lặp lại các công thức cũ, thì sự suy tàn của nó, dù đến nhanh hay chậm, đã bắt đầu từ chính cái diễn ngôn mà nó dùng để tự biện minh.

— tino

Nguồn: FB Tino Cao

* Tên bài do BVN đặt

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn