18/03/2013

Góp ý sửa đổi Hiến pháp theo quan điểm của giáo huấn xã hội Công giáo

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng

(Thư ký Ủy ban Công lý Hòa bình trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam)

clip_image002Trong sứ điệp Mùa Chay 2013, Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đã khẳng định: “Mối tương quan với Thiên Chúa phải là ưu tiên hàng đầu, và bất kỳ sự chia sẻ đích thực về của cải nào khác, theo đúng tinh thần của Phúc Âm, phải được ăn rễ sâu trong đức tin” (Tiếp kiến chung 25-04-2012). Thực tế, đôi lúc chúng ta có xu hướng giản lược thuật ngữ “đức ái” xuống thành tình liên đới hoặc đơn giản chỉ là hoạt động trợ giúp nhân đạo. Thế nhưng, điều quan trọng cần nhớ rằng công việc bác ái lớn nhất chính là việc truyền giảng Tin Mừng, nghĩa là “sứ vụ Lời”. Không có hành động nào bác ái hơn và từ thiện hơn là hành động nuôi dưỡng tha nhân bằng Lời Chúa và sẻ chia với họ những tin vui của Phúc Âm, dẫn dắt họ đi vào mối tương quan với Thiên Chúa: rao giảng Tin Mừng chính là sự thăng tiến nhân bản cao cả nhất và đầy đủ nhất. Trong thông điệp Phát Triển Các Dân Tộc (Populorum Progressio), vị tôi tớ Chúa, Đức Phaolô VI viết rằng việc công bố về Đức Giêsu Kitô là sự đóng góp đầu tiên và quan trọng nhất cho sự phát triển. Chân lý căn bản về Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta, đã được minh thị và được công bố, là điều sẽ mở đời sống chúng ta ra đón nhận tình yêu này, và làm cho sự phát triển toàn diện của nhân loại và của mỗi người trở nên khả thi (x. Bác ái trong Chân lý, số 8)”.

Theo ý của Đức Thánh Cha, sống đức tin, thực thi đức ái chính là việc thực thi sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Qua sứ vụ này, người môn đệ thể hiện trọn vẹn và cao cả nhất tình yêu dành cho tha nhân, vì rao giảng Tin Mừng chính là sự thăng tiến nhân bản cao cả nhất và đầy đủ nhất. Do đó, khi Giáo Hội Việt Nam rao giảng Tin Mừng trên quê hương đất nước mình thì cũng phải làm sao mang lại cho quê hương, cho dân tộc, cho mọi anh chị em đồng bào mình sự thăng tiến nhân bản cao cả nhất và đầy đủ nhất; góp phần tích cực làm cho sự phát triển toàn diện của nhân loại, của đất nước và của mỗi người trở nên khả thi.

Với tinh thần như thế, người Công giáo và Giáo Hội Công giáo Việt Nam, đứng trước những vấn đề của quê hương đất nước hiện nay, không thể có thái độ bàng quan, thờ ơ, nhưng phải nhập cuộc với tất cả tinh thần trách nhiệm của người môn đệ Đức Kitô. Vì thế, nhân dịp Nhà nước kêu gọi mọi công dân đóng góp vào việc sửa đổi hiến pháp, là thời điểm thuận tiện để Giáo Hội nói lên tiếng nói của mình, trình bày quan điểm của giáo huấn xã hội Công giáo, như là một đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của quê hương đất nước, cũng là dịp để minh chứng cho xã hội thấy người Công giáo Việt Nam đang nỗ lực sống lời huấn dụ của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI: “Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc qúi trọng công ích,” anh chị em phải chứng tỏ rằng: là người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt.”

Chính vì vậy, khi Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) hay mọi Kitô hữu nói lên tiếng nói của mình góp ý sửa đổi Hiến pháp theo lời kêu gọi của Nhà nước thì không chỉ với tư cách của người công dân có trách nhiệm với Đất nước mà còn với tư cách của người môn đệ Đức Kitô đang thực thi sứ vụ Lời của mình. Ý thức như thế, các góp ý đều đi đúng đường lối Tin Mừng và giáo huấn xã hội của Giáo hội. Chúng ta sẽ thấy rõ điều đó khi đọc các góp ý sửa đổi Hiến pháp của HĐGMVN dưới lăng kính Tin Mừng và giáo huấn xã hội của Giáo hội.

1. Khởi đi từ nền tảng Kinh Thánh và giáo huấn xã hội của Giáo Hội

“Ngày Sabbat làm ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabbat”. (Mc 2, 23-28)

Lời khẳng định này của Chúa Giêsu đã xác định cho mọi người thấy rõ : luật lệ là vì con người, là để giúp con người sống chứ không phải để đàn áp và giết chết con người; luật lệ chỉ có ý nghĩa và giá trị khi nó là một biểu lộ của tôn trọng và yêu thương đối với con người; trái lại, tất cả những luật lệ nào đi ngược lại với sự sống và tình yêu, đều là những luật lệ bất công. Giáo huấn xã hội của Giáo hội đã tiếp bước tinh thần của Tin Mừng đặc biệt đề cao phẩm giá con người và yêu cầu không bao giờ được sử dụng con người như phương tiện của bất cứ mục tiêu chính trị hay cơ cấu trần thế nào. Con người luôn phải là mục đích của tất cả các chương trình kinh tế, xã hội, chính trị. Bởi vậy, trật tự xã hội và tiến bộ của nó phải luôn luôn nhằm lợi ích của các nhân vị, bởi vì, trật tự của muôn vật phải lệ thuộc vào trật tự của các nhân vị, chứ không ngược lại. Điều này chính Chúa Giêsu đã ám chỉ khi Người nói rằng ngày Sabbat được lập ra vì con người, chứ con người không phải vì ngày Sabbat. Trật tự này phải phát triển phải phát triển mỗi ngày một hơn, phải đặt nền tảng trên chân lý, xây dựng trong công bình, nuôi sống nhờ tình yêu, phải dần dần tìm được trong tự do mỗi ngày mỗi hợp với con người hơn. Để chu toàn được những điều trên, phải có sự đổi mới tâm thức và những thay đổi sâu rộng trong xã hội. (x. GS, số 26).

Sắc lệnh về Truyền Giáo đặc biệt khuyến khích các tín hữu chu toàn trách vụ công dân trong môi trường văn hóa xã hội của mình: “Kitô hữu đến từ mọi dân tộc kết hợp thành Giáo hội, không phân cách với người khác về quốc gia, về ngôn ngữ, cũng như về cách thế sống, do đó, họ phải sống cho Thiên Chúa và Đức Kitô theo tập tục và đường lối xử sự của dân tộc mình, với tư cách là công dân tốt họ phải phát triển một cách thực sự và hữu hiệu lòng ái quốc.” (Sắc lệnh Truyền Giáo số 31). Sự khuyến khích này bao hàm một sự hội nhập thực sự của nếp sống Tin Mừng vào trong những giá trị cao qúi của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, đồng thời, thúc đẩy người Kitô hữu biết dùng những giá trị Tin Mừng để thể hiện lòng ái quốc và cộng tác với mọi thành phần khác trong cộng đồng quốc gia, dân tộc để xây dựng và phát triển quê hương đất nước mình. Nói cách khác, Kitô hữu phải sống tinh thần dấn thân phục vụ của Tin Mừng ngay tại quê hương xứ sở, ngay tại môi trường sống và làm việc của mình.

2. Những ý kiến đóng góp vào việc sửa đổi Hiến pháp theo giáo huấn xã hội Công giáo

Theo tinh thần Tin Mừng và giáo huấn xã hội của Giáo Hội, dựa trên bối cảnh xã hội Việt Nam hôm nay, cũng như đòi hỏi căn bản của một xã hội dân chủ, tôn trọng quyền con người thì Hiến pháp cần phải bảo đảm những yếu tố:

2.1. Tôn trọng phẩm giá con người

Có thể khẳng định không sợ sai lầm con người là trung tâm là nền tảng của xã hội. Tất cả vì con người, phục vụ con người. Bởi vì con người là hình ảnh sống động của chính Thiên Chúa. Hình ảnh này được làm sáng tỏ, sâu sắc hơn nhờ Đức Kitô nhập thể làm người, Người là hình ảnh tuyệt hảo của Thiên Chúa vô hình (x. Cl 1,15). Nhờ Người, con người đã được nâng lên thành con Thiên Chúa (x. Gl 1,4-5). Như thế, con người được Thiên Chúa sáng tạo và cứu độ đã mang một phẩm giá rất cao trọng trong vũ trụ vạn vật, trước mặt Chúa và trước mặt nhau: Con người là hình ảnh, là con Thiên Chúa. Toàn bộ đời sống xã hội đều là sự biểu hiện của một nhân vật chính không thể lầm lẫn được, đó chính là con người. Con người nên và phải luôn luôn là chủ thể, là nền tảng và là mục tiêu của đời sống xã hội. Nguồn gốc của đời sống xã hội là chính con người, xã hội luôn phải nhìn nhận con người là chủ thể tích cực và hữu trách của mình, mọi biểu hiện của xã hội luôn phải qui hướng về con người (TLHTXHCG, Số 106). Do đó, nguyên tắc tôn trọng phẩm giá và quyền con người đi theo phẩm giá ấy là nguyên tắc tối thượng trong mọi quan hệ xã hội cũng như việc điều hành xã hội. Không thể dung túng, thừa nhận một thể chế xã hội, một hoạt động xã hội, một nghề nghiệp hàm chứa hay tạo nên sự bất công, bất bình đẳng gây tha hóa, chà đạp nhân phẩm của con người. Con người là chủ thể tự do, là mục đích của mọi chương trình xã hội. Do đó, luật phải vị nhân sinh. Hiến pháp là văn bản pháp lý cao nhất, là mẹ của mọi lề luật quốc gia thì điều cơ bản của Hiến pháp phải căn cứ trên quyền lợi của người dân, phải do dân và vì dân. Hiến pháp cần xác định mục tiêu trước hết là để bảo đảm sự an toàn, tự do và hạnh phúc của mọi người dân. Về điểm này, Hiến pháp cần phải theo đúng tinh thần của Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền năm 1948 và các hiệp ước nhân quyền của quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Giáo Hội qua việc đánh giá cao bản Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1948, theo đó đã minh định rõ ràng mọi nền luật pháp phải phục vụ con người và do con người quyết định, đó là quyền tự do mà tiên quyết không ai, không tổ chức nào có quyền định đoạt thay cho họ (TLGH số 152 và Tuyên ngôn Nhân quyền điều 21).

2.2. Quyền tư hữu

Nhờ lao động và nhờ tận dụng khả năng trí tuệ, người ta có khả năng thống trị trái đất và biến nó thành nơi ở thích hợp. Bằng cách đó, con người biến một phần trái đất thành của mình, đây chính là nguồn gốc của tư hữu. Nhờ tư hữu và các hình thức khác trong việc làm chủ của cải cách cá nhân, con người đã bảo đảm cho mình có một không gian hết sức cần thiết để thực hiện sự độc lập cho cá nhân và gia đình, có thể coi đó là sự nối dài tự do cá nhân của con người, thúc giục con người thi hành trách nhiệm, và là một trong những điều kiện để có được sự tự do dân sự. Tư hữu chính là một yếu tố căn bản làm nên chính sách kinh tế và xã hội thực sự dân chủ; đó cũng là một bảo đảm để có một trật tự xã hội đúng đắn. Cần phải tránh được tình trạng phải chấp nhận những hình thức “làm chủ một cách chung chạ và hỗn độn” (TLGH số 176) như thực tế Việt Nam hiện nay, cụ thể quyền sở hữu đất đai rất hàm hồ, ngầm chứa nhiều nguy cơ gây thiệt hại nặng nề cho người dân và gia tăng khả năng mang lại ích lợi to lớn cho những nhóm đặc quyền, đặc lợi từ đó dẫn đến bất ổn, bất an cho xã hội.

2.3. Quyền tự do dân chủ trong việc bầu chọn chính quyền

Chủ thể của quyền hành chính trị là chính nhân dân, được nhìn nhận cách tổng quát như những người đang nắm chủ quyền. Dưới những hình thức khác nhau, nhân dân chuyển việc thi hành chủ quyền đó cho những người được họ tự do chọn lựa làm đại biểu cho mình, những vẫn giữ được quyền là bày tỏ chủ quyền của mình mỗi khi đánh giá công việc của những người có trách nhiệm lãnh đạo, đồng thời, thay thế những người ấy nếu họ thi hành vai trò của mình không thoả đáng. (TLGH số 395) Do đó, Hiến Pháp phải thể hiện được quyền tự do của người dân có quyền chọn lựa ai, đảng phái nào lãnh đạo Đất nước. Không thể chấp nhận một cách tiên thiên, cố định một đảng phái, một nhóm người nào là lãnh đạo duy nhất qua mọi thời.

2.4. Không chính trị hóa quân đội (hay không đảng phái hóa quân đội)

Những đòi hỏi của việc phòng thủ hợp pháp cho phép các quốc gia có những lực lượng vũ trang. Các hoạt động của những lực lượng này nhằm phục vụ hòa bình và gắn liền với nghĩa vụ bảo vệ người vô tội không có khả năng tự bảo vệ mình trước những hành vi xâm lược (TLGHXH số 502 & 504). Vì thế, quân đội có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, không được dùng quân đội vào những mục tiêu đàn áp, cưỡng ép nhân dân để phục vụ cho một ích lợi nào đó của chính quyền hay một ích lợi chính trị. Quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, đứng ngoài đảng phái chính trị.

Một bản Hiếp pháp luôn bao gồm nhiều lãnh vực, nhiều vấn đề và thực sự là gốc cho nền pháp trị của quốc gia. Những góp ý trên đây thiết tưởng là căn bản để xây dựng bản Hiến pháp cần thiết cho Việt Nam, nhất là với bản Hiến pháp hiện nay quá bất cập, nhiều thiếu sót và thiếu hẳn các yếu tố gốc, yếu tố nền tảng.

L. Q. T.

Nguồn: http://conglyvahoabinh.org/?p=3256