26/03/2019

Nỗi đau MASAN

Phạm Đình Trọng

Theo dõi cuộc chiến trên truyền thông giữa nước mắm Việt và nước chấm hóa học Masan, tôi thấy các bài viết đã chỉ ra sự mờ ám, gian dối, bất lương của Dự thảo TCVN12607.2019 về quy phạm thực hành sản xuất nước mắm do Cục Chế biến và phát triển thị trường nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngạo ngược trình ra và nhăm nhe thực hiện. Qua đó cũng thấy đươc sự man rợ, mất tính người của những kẻ mưu mô giết hại một nghề tinh của tài hoa Việt Nam, loại bỏ nước mắm Việt ra khỏi đời sống người Việt cho thứ nước chấm hóa học Masan lên ngôi, độc chiếm thị trường, độc quyền trong bữa ăn hàng ngày của người Việt.

Chỉ vậy thôi cũng đã thấy cơ quan nhà nước cộng sản hiện nay được đồng tiền thuế máu, mồ hôi, nước mắt của dân nuôi nấng nhưng đã đốn mạt phản lại dân và cũng cho thấy đội ngữ quan chức đã bị quyền lực đồng tiền của những con buôn bất lương sai kiến như thế nào. Dự thảo về quy phạm thực hành sản xuất nước mắm của Bộ Nông nghiệp cũng tanh tưởi nhức nhối như những BOT trấn lột móc túi người dân của bộ Giao thông mọc lên nhan nhản như phường lục lâm thảo khấu nổi lên thời xã hội nhiễu nhương, mục nát, quan tham là cướp cả đêm lẫn ngày – Thơ Nguyễn Duy.

Chỉ vậy thôi cũng thấy được sự hoành hành của tư bản hoang dã đã tàn phá đất nước Việt Nam, tàn phá lương tâm con người Việt Nam, tàn phá đạo lí xã hội Việt Nam, tàn phá cả những giá trị bền vững và sâu thẳm của nền văn minh lúa nước Việt Nam, nền văn minh từ hạt gạo tạo ra bánh chưng, bành dày, từ con cá biển tạo ra nước mắm. Nước mắm Việt chính là một giá trị đặc sắc của nền văn minh Việt Nam.

Nhưng không chỉ có vậy.

Giết chết nước mắm Việt còn góp công, góp sức vào mưu đồ làm hoang hóa biển Việt Nam, làm cho biển Việt Nam hoàn toàn không còn những cột mốc chủ quyền sống là những con tàu đánh cá của người Việt, không còn bóng một người dân Việt bám biển của cha ông, để biển Việt Nam cho Tàu Cộng làm chủ.

Bóp chết một nghề tinh, nghề chế biến nước mắm của người dân Việt, loại bỏ hương vị nước mắm Việt trong bữa ăn của người Việt bằng quy phạm thực hành sản xuất nước mắm mang số hiệu văn bản nhà nước TCVN 12067. 2019 là thêm một bằng chứng về nhà nước cộng sản ở Ba Đình, Hà Nội không còn là nhà nước của người dân Việt Nam, không còn là nhà nước của đất nước Việt Nam.

Không còn là nhà nước của đất nước Việt Nam, nhà nước đó đã rước giặc Tàu Cộng vào Nhân Cơ, Đắc Nông, vào Tân Rai, Lâm Đồng, rước giặc Tàu Cộng vào Vũng Áng, Hà Tĩnh tàn phá đất nước Việt Nam từ núi cao tới biển sâu.

Không còn là nhà nước của đất nước Việt Nam, nhà nước đó đã rước các nhà đầu tư Tàu Cộng đưa công nghệ lỗi thời, phế thải vào Việt Nam kìm hãm sự phát triển nền kinh tế Việt Nam, đầu độc sự sống trên đất nước Việt Nam, biến đất nước Việt Nam gấm vóc thành bãi rác thải công nghiệp, biến những làng quê thanh bình Việt Nam thành những làng ung thư, biến giống nòi Việt Nam khí phách kiên cường thành giống nòi bệnh tật ốm yếu, vật vờ chờ chết.

Không còn là nhà nước của đất nước Việt Nam, nhà nước đó đã cắt mười lăm ngàn ki lô mét vuông đất biên cương của tổ tiên người Việt, của lịch sử nước Việt dâng cho giặc Tàu Cộng. Nhà nước cộng sản Việt Nam không phải là nhà nước của đất nước Việt Nam đã được dân gian ghi nhận bằng câu thành ngữ mới: Quân đội bám bờ, dân chài bám biển! Dân nuôi quân đội để bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng nhưng quân đội nhà nước cộng sản Việt Nam kiên trì bám bờ, lì lợm bám đất vàng sân bay, mê mải giành giật những mảnh đất vàng của những công trình phát triển đất nước để tướng tá mang những mảnh đất vàng đó ra kinh doanh kiếm lời riêng, bỏ mặc biển Đông của lịch sử Việt Nam cho Tàu Cộng làm chủ.

Dù tàu đánh cá của Tàu Cộng nhiều như lá tre tự do thả lưới buông câu ở biển Đông của tổ tiên người Việt cũng không có bất kì phản ứng nào của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Dù tàu chiến của Tàu Cộng suốt hai mươi bốn giờ trong ngày, suốt ba trăm sáu nhăm ngày trong năm quần đảo trên biển Việt Nam, lùng sục đâm chìm tàu thuyền Việt Nam, giết hại dân đánh cá Việt Nam cũng không gặp bất kì sự ngăn chặn chống trả nào của quân đội Việt Nam.  Nhưng Tàu Cộng vẫn chưa thể thực sự làm chủ biển Đông vì vẫn còn những con tàu đánh cá của dân chài lưới Việt Nam không lúc nào vắng bóng trên biển Đông của tổ tiên người Việt.

Để thực sự làm chủ biển Đông trên thực tế và chứng minh với thế giới rằng biển Đông thực sự đã là của Tàu Cộng, Tàu Cộng đang ráo riết, quyết liệt xóa sạch bóng những con tàu cá Việt Nam trên biển Đông bằng hai đòn độc.

Một là, Tàu Cộng dùng sức mạnh tàu quân sự và tàu dân sự lớn, có vũ trang, có vỏ thép dày đâm chìm tàu cá của dân biển Việt Nam, chôn vùi mạng sống và cơ nghiệp người dân đánh cá Việt Nam xuống đáy biển, gây nỗi kinh hoàng để dân biển Việt Nam không dám ra biển. Tàu của Tàu Cộng đâm chìm tàu cá Việt Nam, giết hại dân biển Việt Nam suốt mấy chục năm nay không gặp bất kì sự ngăn chặn, chống trả nào của quân đội Việt Nam, không có bất cứ phản ứng nào của ngoại giao Việt Nam. Vì vậy trước đây Tàu Cộng chỉ đâm chìm tàu cá Việt Nam vào ban đêm, nay trên biển Đông tàu cá của dân biển Việt Nam dồn dập bị Tàu Cộng hung hãn đâm chìm giữa ban ngày.

Bàn về sự gia tăng mê tín

Nguyễn Đình Cống

Gần đây dân Việt gia tăng mê tín dị đoan đến chóng mặt. Các nhà nghiên cứu  tìm nguyên nhân để có hướng khắc phục. Có thể quy về 3 nguồn :1- Do người dân, 2-Do bộ phận quản lý đền chùa và người hành nghề mê tín, 3- Do sai lầm và yếu kém trong sự lãnh đạo và quản lý của chính quyền cộng sản.

Trong 3 nguồn, nguyên nhân  nào giữ vai trò cơ bản? Có 2 luồng ý kiến khác nhau. Luồng A cho rằng cơ bản là tại dân. Luồng B  quy trách nhiệm chính cho lãnh đạo. Tôi ủng hộ luồng B và tìm ra các nguyên nhân thuộc về tác dụng phụ của đường lối cộng sản.

Tác dụng phụ xẩy ra ngoài ý muốn của chủ thể. Một số thuốc chữa bệnh có tác dụng phụ không mong muốn. Nó dùng để chữa bệnh chỗ này nhưng lại làm hại chỗ khác. Chủ nghĩa cộng sản, ngoài những độc hại thuộc bản chất và những ảo tưởng về một xã hội tốt đẹp nó cũng gây ra lắm tai họa thuộc loại tác dụng  phụ. Gọi là phụ vì các tai họa đó không nằm trong phạm vi mục tiêu, những người CS vẫn rất muốn tránh nhưng không cách gì tránh được, nó cứ tự động xẩy ra. Gọi là phụ nhưng tác dụng lắm khi rất nguy hiểm. Vào tháng 10/2016 tôi đã đăng bài “Tác dụng phụ hay tai họa tất yếu sinh ra từ cộng sản”, vạch ra một số tai họa  như vậy. Tôi cho rằng sự gia tăng mê tín của dân Việt có nguyên nhân trực tiếp chủ yếu  nhất (trong 3 nguồn nguyên nhân) là “Tác dụng phụ của cộng sản”. Và như vậy Đảng và chính quyền phải chịu trách nhiệm chính.

Cộng sản theo duy vật, không công nhận Tâm linh, bài bác tôn giáo, mặc dầu tuyên bố chấp nhận tự do tín ngưỡng. Thế nhưng dưới sự thống trị của CS VN thì mê tín dị đoan lại ngày càng tăng. Phải chăng đó là một nghịch lý.

Tôi đã nhiều lần phân tích nguyên nhân gốc gác, sâu xa  của mọi tai họa. Bài này chỉ đề cập đến 5 nguyên nhân gần, là tác dụng phụ do CS gây ra trong việc phát triển nhanh của mê tín dị đoan (mà chưa bàn đến các nguyên nhân  từ 2 nguồn khác).

  1. Sự bật lại của cấm và phá.

Việc cấm lễ bái, phá đình chùa mà CS thực hiện trước đây  đã đụng chạm đến tâm hồn người Việt. Người ta phát hiện thấy một vài người phá chùa gặp tai họa liền gán cho việc bị báo ứng. Điều đó lan truyền nhanh và rộng làm cho niềm tin vào thần thánh không mất đi mà tăng cao. Về kinh tế, trói buộc mãi không được đành phải mở vào năm 1986. Nhân đà đó dân các nơi khôi phục lại đình chùa, mở lại các lễ hội. Mà thói thường, những  thứ đàn hối, bị uốn càng cong, đến khi được thả nhanh ra nó bật trở lại càng mạnh. Những thứ bị cấm càng gắt, đến khi được tháo cũi sổ lồng thì nó càng phát triển nhanh, nhiều khi lệch lạc mà không cách gì kìm lại được.

Muốn nói gian hãy làm báo Đồng Nai!

Ngô Thị Hồng Lâm

Ngày 21/3/2017 Vừa qua Viện kiểm sát cùng hai cấp toà án tỉnh Đồng Nai đưa ra xét xử vụ án 20 bị cáo can tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”. Trong đó có cựu chiến binh Gạc Ma Nguyễn Văn Đống.

Vụ án đã khép lại, nhưng phán quyết của 2 cấp toà án tỉnh Đồng Nai đã không nhận được sự đồng tình, tâm phục, khẩu phục của tất cả  20 “bị cáo” và của cộng đồng.

Các đương sự có đơn khiếu nại lên Toà án Tối cao xin xét xử Giám đốc thẩm và họ quyết tâm đi tới tận cùng sự thật của vụ án, để đòi lại danh dự của mình đã bị các cơ quan tố tụng ngồi xổm lên luật xét xử không công bằng, vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng hình sự của các bên tham gia tố tụng như:

  • Cố tình bỏ lọt tội phạm.

  • Cố tình không cho đối chất giữa các bên liên quan để xác định trách nhiệm hình sự thuộc về bên nào.?

Sau khi nghiên cứu bản án của ông Nguyễn Văn Đống thấy có nhiều điểm vi phạm nghiêm trọng với luật tố tụng hình sự. Đài CHTV tháng 6/2018 do nhà báo tự do Lê Dũng Vova đã phát sóng nêu ra những điểm trái với luật tố tụng hình sự trong quá trình điều tra và xét xử của vụ án tại địa chỉ:

https://www.youtube.com/watch?v=Xpn2RXXUbAw&feature=share

và sau đó Bloger Ngô Thị Hồng Lâm đã có một bài điều tra thực tế về ông Nguyễn Văn Đống đăng trên báo Bauxite Việt Nam ngày 21/9/2018. Xin đọc tại địa chỉ:

https://zend2.com/open19.php?u=IrWKGElQAXrD757KXb1OoRkeS7HtUsL7gOKAP1fyUO%2BTB6Zw9euI1qX0DyA6H22wqIWcWnIIJeFuC3X5KpKNkt2wmc1sP3hkOC0%3D&b=29

Sau khi bị cộng đồng mạng vạch trần sự sai trái của các cơ quan tham gia tố tụng, nhằm đánh lừa công luận, che lấp đi tội ác và trách nhiệm thuộc về  cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát cùng hai cấp toà tỉnh Đồng Nai, báo Điện tử Đồng Nai - cơ quan ngôn luận, tiếng nói của đảng bộ tỉnh Đồng Nai ngày 30/6/2018 đã đăng bài “Vải thưa không che được mắt thánh” và đài truyền thanh thị xã Long Khánh cùng một số báo khác đưa lại tin từ báo Đồng Nai đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và danh dự của anh Nguyễn Văn Đống.

Đọc tại địa chỉ:

http://baodongnai.com.vn/phapluat/201806/vai-thua-khong-che-duoc-mat-thanh-2900.

Chiến lược bí mật của Trung Cộng để thay thế Mỹ trong vai trò Siêu Cường lãnh đạo thế giới

(The Hundred -Year Marathon: China's secret Strategy to Replace America as the Global Superpower)

Michael  Pillsbury

Lê Quốc

***

Cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Cộọng đã âm ỉ từ lâu trong não trạng của các lãnh tụ CS Trung Cộng, khởi sự từ Mao Trạch Đông và bùng nổ đời thứ V của vương triều đỏ: Tập Cận Bình.

Phía Trung Cộng: Lợi dụng chánh sách sai lầm của nhiều trào Tổng thống Hoa Kỳ, Trung Cộng đã cài một mạng lưới gián điệp khắp các cơ quan trọng yếu của Mỹ: Từ Ngũ Giác Đài, các Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế đến các cơ quan hành pháp, lập pháp, cả đến cơ quan tối cao về chiến lược CSIS (Center for strategic and International studies) hoặc NSA (National Strategic Agency) của Hoa Kỳ.

Giám đốc FBI Christopher Wray cảnh báo: Nguy cơ gián điệp TQ trên khắp 50 tiểu bang của Mỹ - từ lãnh vực nông nghiệp, đến lãnh vực công nghiệp cao, tạo ra mối đe dọa lớn nhứt cho Hoa Kỳ (Báo Business Insider).

Phía Hoa Kỳ: Áp dụng một chánh sách sai lầm là nuôi dưỡng Trung Cộng cho giàu mạnh lên, với hy vọng là khi dân chúng có đời sống khá giả hơn sẽ áp lực làm thay đổi thể chế CS thành chế độ Tự Do Dân Chủ, gia nhập Cộng đồng thế giới. Và TQ sẽ là một thị trường lớn lao 1 tỷ 4 trăm triệu người cho Hoa Kỳ. Nhưng kết quả ngày nay chứng minh Hoa Kỳ đã sai lầm. Hoa Kỳ cũng như các nước Tây phương đã không hiều tường tận người CS - nhứt là Cộng sản Tàu, Cộng sản Á Châu.

Nhân vật khám phá ra đường đi nước bước, chiến lược bí mật kéo dài cả trăm năm của Trung Cộng chính là Tiến sĩ Michael Pillsbury - Giám đốc Viện nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Hudson Institute -  cũng là tác giả quyển sách nổi tiếng "The Hundred - Year  Marathon" do Nhà xuất bản Henry Holt and Co. phát hành năm 2015.

Chiến tranh Mỹ - Trung  đã phát khởi từ não  trạng các lãnh tụ cộng sản

Bản chất của dân du mục Hán tộc là bành trướng lãnh thổ, xâm chiếm nước người. Bản chất  này lại nẩy mầm, sinh sôi nẩy nở trên đất CS, sẽ là một cái họa lớn cho nhân loại. Đức Đạt Lại Lạt Ma nhận xét: "Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh sôi nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời".

Hai khuynh hướng bành trướng của nòi Hán và chiến tranh của  chủ nghĩa CS, sáp nhập với nhau, dưới sự lãnh đạo hiện nay của Đại đế Đỏ Tập cân Bình, đang gây sóng gió khắp thế giới - đặc biệt là muốn soán ngôi Hoa Kỳ. Thử xem lịch sử cận đại của dòng Hán tộc Cộng sản Trung Hoa:

Nhìn lại lịch sử cận đại của Hoa Lục  - dù là thể chế Dân chủ hay Cộng sản - các lãnh tụ đều nuôi mộng làm bá chủ thế giới: - Tôn trung Sơn: Lãnh tụ phát động cuộc Cách mạng Dân chủ, lật đổ vương triều Mãn Thanh, tuyên bố: "Trung Quốc phải chiếm vị trí siêu cường quốc đứng đầu  thế giới".

Mao trạch Đông: Thực hiện bước "Đại nhảy vọt, vượt Anh, đuổi kịp Mỹ":

"Trong vòng 75 năm nữa, TQ có thể bắt kịp và vượt qua Mỹ" (Lưu Minh Phúc (Liu Ming Fu) dẫn từ sách "Giấc mộng Trung Hoa").

Đặng tiểu Bình: "Ẩn mình chờ thời" (Thao quang dưỡng hối): Ẩn mình, che giấu thực lực, để chờ thời cơ chín muồi đứng lên giành vị trí đệ nhứt siêu cường làm bá chù thế giới.

Tập cận Bình - đời thứ năm, kể từ Mao trạch Đông thành lập CHNDTH (1949) theo chủ trương trỗi dậy của Hồ An Cương - Giáo sư Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh) và "Giấc mộng Trung Hoa" của Lưu Minh Phúc. Ông Tập - tại Đại hội ĐCSTH 19 ngày 18-10-2017 - đọc bài diễn văn 3000 từ, dài  3 tiếng, 23 phút, nhắc lại 26 lần từ siêu cường hoặc cường quốc, nhấn mạnh "Giấc mộng Trung Hoa": "Sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa - giấc mơ lớn nhứt của Trung Quốc trong thời kỳ Cận đại là Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc hàng đầu thế giới vào năm 2049".

Ông Tập cận Bình ôm giấc mộng Trung Hoa, với vũ khí "Nhất Đới Nhất Lộ" và chương trình "Made in China 2025" đi chinh phục thế giới.

Bằng chứng rõ ràng và cụ thể: Những lời tuyên bố trên đây của Tôn Dật Tiên và 5 thế hệ CS - kể từ Mao Trạch Đông - chứng minh các ông con Trời - dù Dân chủ hay Cộng sản - đều muốn  xâm lấn các nước khác và đến Tập cận Bình - tham vọng càng lớn hơn gấp bội: Lớn hơn cả Mao, vượt qua Đặng, bỏ đàng sau Giang, Hồ, tàn bạo hơn cà Tần Thủy Hoàng, Ngô Khởi qua cuộc thanh trừng đẫm máu "Đả hổ diệt ruồi", tiếp tục tiêu diệt Pháp Luân Công để bán nội tạng, tàn sát và đồng hoá các sắc tộc Mông, Hồi, Mãn, Tạng và đặt quan Thái thú người Việt để cai trị Việt Nam. Không cần phải che giấu, Chủ Tịch Tập Cận Bình đã công khai ý đồ thực hiện "Giấc mộng Trung Hoa" trong buổi thăm viếng Viện bảo tàng Trung Hoa và trong bài diễn văn đọc tại ĐHĐCS 19 mơ làm bá chủ toàn cầu.

25/03/2019

Một Đà Lạt “thơ mộng” - còn hay mất?

Mai Thái Lĩnh

Bài viết này được công bố lần đầu cách đây 8 năm trên trang Bauxite Vietnam và nhiều trang mạng khác, nhưng do bị “đánh phá” nên ngày nay chỉ còn tồn tại lác đác ở một vài chỗ. Vào lúc viết bài báo này, tôi chưa có điều kiện “nhìn tận mắt” thực tế tại các nước phát triển - vì bị tịch thu hộ chiếu, cấm xuất cảnh (tháng 7 năm 2009). Mãi đến cuối năm 2016, lệnh cấm xuất cảnh mới bị hủy bỏ. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của thân nhân và bạn bè, tôi đã đặt chân đến 4 quốc gia (Úc, Hoa Kỳ, Canada, New Zealand) và Đài Loan - một hòn đảo xinh đẹp khao khát tự do nhưng luôn bị đe dọa “thu hồi bằng vũ lực”. Sau khi đã “mục sở thị” hàng chục thành phố ở các quốc gia “văn minh, hiện đại”, nay đọc lại những gì mình đã viết, xét thấy những ưu tư trăn trở ấy vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi, tôi xin mạn phép công bố lại bài báo này…
 Mai Thái Lĩnh

Bản lưu bài báo cũ.png

Vào cuối thế kỷ XIX, khi người Pháp khám phá ra cao nguyên Lang Bian, một trong những điểm gây ấn tượng nhất chính là địa hình của vùng đất ngày nay mang tên Đà Lạt. Bác sĩ Etienne Tardif - người tham gia một đoàn khảo sát trong hai năm 1899-1900, đã mô tả hình dáng của cao nguyên như sau: “Toàn bộ diện tích rộng lớn ấy (…) bao gồm một chuỗi những quả đồi tròn kế tiếp nhau, đồi này nằm cạnh đồi kia, đồi này chế ngự đồi kia, đồi này thì sườn dốc đứng, đồi kia thì duỗi ra và nằm dài trên mặt đất. Những gợn sóng ấy bị chia tách bởi những thung lũng nông hay sâu, rộng hơn hay hẹp hơn. Con đường nối liền Đà Lạt với Dankia len lỏi giữa những quả đồi ấy. Tất cả những ngọn đồi ấy được bao phủ bởi một lớp cỏ ngắn vào mùa khô, mọc cao vào mùa mưa, rất dày và khá cứng. Trong những thung lũng nhỏ là những bụi cây đủ loại, những đám sậy, và trên một vài bờ dốc là những đám thông và dẻ[1]. Những dòng nước chảy qua những thung lũng theo nhiều cách khác nhau. Đôi khi người ta tìm thấy những dòng suối chảy siết, nhưng thường thì chỉ là những vũng nước tù hãm, rất sâu, bị che giấu dưới những thảm thực vật mọc rất dày và rất mạnh mẽ”.

Tardif đã leo lên một trong năm đỉnh của dãy núi Lang Bian. Từ cao độ 2.000m nhìn xuống, ông thấy toàn bộ bề mặt của cao nguyên là màu xanh lá của hàng trăm quả đồi (nguyên văn: 150 quả đồi), trông giống như một “giỏ cam” lớn (un vaste “panier d’oranges”)[2].

Dalat Tardif 3

Ảnh 1: Năm đỉnh của dãy núi Lang-Bian (tranh vẽ đăng trong sách của Tardif)

Chính là dựa trên cái nền địa hình đó mà các nhà quy hoạch đô thị người Pháp đã xây dựng nên diện mạo của Đà Lạt trong thế kỷ XX vừa qua. Đặc điểm của tất cả các đồ án được thiết kế trong các thập niên 1920-1940 là sự phối hợp hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên. Một số quả đồi cao được dành cho những dinh thự hay các biệt thự hạng 1, với diện tích được cấp rất lớn nhưng chỉ được phép xây dựng trong một phạm vi rất nhỏ. Ví dụ: mỗi lô đất cấp cho tư nhân có diện tích từ 0,5 đến 2,5 hecta, trong đó phần được phép xây dựng không vượt quá 1/25 diện tích và không lớn hơn 800 m2, mỗi lô đất dùng cho lợi ích xã hội hay tập thể có diện tích từ 1,5 đến 3,5 hecta, trong đó phần được phép xây dựng không vượt quá 1/15 diện tích và không thể lớn hơn 2.000 m2; phần diện tích còn lại chỉ được dùng làm công viên, rừng, vườn hoa, vườn rau hay chăn nuôi theo quy định. Các khu biệt thự từ hạng 2 đến hạng 5 có diện tích từ 4.000 đến 600 m2, nhưng diện tích xây dựng được quy định cũng chỉ nằm trong khoảng từ 12 đến 25%[3].

p align="center">Ho Xuan Huong 1925-1930

Ảnh 2: Hồ Xuân Hương (khoảng 1925-1930)

Mặt khác, vì cao độ của các tòa nhà bị khống chế, hầu như tất cả các công trình kiến trúc, kể cả các dinh thự lớn (như Nhà thờ Lớn, Dinh Toàn quyền tức dinh II, Trường trung học Yersin,…) đều không vượt quá ngọn cây. Chỉ có một vài công trình đặc biệt - như tháp chuông của Nhà thờ Lớn hay tháp chuông của Trường trung học Yersin, là vượt lên trên những đám thông (xem ảnh 3).

Cách thức quy hoạch và thiết kế đô thị như thế đã tạo nên dáng vẻ đặc biệt của Đà Lạt: nhà xen lẫn giữa những cây thông; những cụm thông - thậm chí cả rừng thông, mọc xung quanh các dinh thự và xen lẫn vào giữa lòng thành phố. Chính điều đó làm nên một vẻ đẹp thơ mộng hiếm có: nhà thấp thoáng trong rừng, rừng tràn vào trong thành phố. Màu xanh của thiên nhiên tràn ngập khắp nơi, làm nên vẻ đẹp mê hồn say đắm lòng người. Vào thời đó, Đà Lạt có những đồi thông rất sạch, lá thông rụng trên thảm cỏ và người ta có thể nằm dài trên đó để ngửi thấy mùi của thiên nhiên. Vào thời đó, cuối tuần mỗi gia đình có thể lên Đồi Cù để cho trẻ con thả diều, người lớn có thể thư giãn sau những ngày lao động mệt nhọc. Mỗi người sinh ra ở Đà Lạt hay sống lâu năm ở Đà Lạt đều có ít nhiều kỷ niệm gắn liền với thiên nhiên: rừng thông, hồ và thác nước, đỉnh núi Lang Bian hay các đồi cỏ tương tự như Đồi Cù,…

Dalat 1968_Lac

Ảnh 3: Hồ Xuân Hương nhìn từ trường Yersin (không ảnh 1968 - vnafmamn.com)

Có thể nói vẻ đẹp của Đà Lạt không phải chỉ là vẻ đẹp của những công trình kiến trúc mà là sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố: nhân tạo và tự nhiên. Thiên nhiên ở đây không hoàn toàn hoang dã mà được chỉnh trang phần nào bởi bàn tay và khối óc của con người, dựa trên nguyên tắc tôn trọng, mô phỏng tự nhiên chứ không gán ghép, áp đặt sản phẩm nhân tạo vào thiên nhiên một cách khiên cưỡng, biến nhân tạo thành giả tạo.

Sau khi người Pháp rời Việt Nam, những nguyên tắc quy hoạch và kiến trúc của thời Pháp thuộc vẫn còn được giữ vững mãi cho đến giữa thập niên 1970.

Điều đáng buồn và đáng tiếc là từ cuối thập niên 1970, nhất là từ thời kỳ “đổi mới kinh tế”, cùng với áp lực của dân số, tác động của các quy luật kinh tế thị trường kiểu “hoang dã” cộng với một khả năng quản lý đô thị kém cỏi, những “tầm nhìn” thiển cận và luôn luôn thay đổi của các cấp thẩm quyền, Đà Lạt đã dần dần đánh mất vẻ đẹp hài hòa trước đây. Những người dân Đà Lạt ngày càng cảm thấy ngột ngạt trước cảnh ồn ào tấp nập, nhất là cảnh xe cộ chen chúc nhau một cách lộn xộn trên những đường phố “không có đèn xanh đèn đỏ”. Nhiều người dân Đà Lạt định cư ở nước ngoài trở về cảm thấy luyến tiếc vẻ đẹp của Đà Lạt ngày xưa. Mặc dù thành phố ngày nay có nhà cửa khang trang hơn, tiện nghi sinh hoạt hiện đại hơn nhưng người ta không thể tìm thấy dáng vẻ thơ mộng trước đây - vẻ đẹp mà không thành phố đồng bằng nào có thể sánh kịp cho dù ra sức đầu tư thật nhiều tiền của hay công sức. Những du khách đến Đà Lạt ngày nay dễ cảm thấy choáng ngợp trước các tòa nhà có kiến trúc hiện đại nhưng sắp xếp một cách hỗn độn, không dựa trên một ý tưởng quy hoạch nào rõ rệt.

Dalat Center 2010

Ảnh 4: Khu trung tâm thương mại Đà Lạt ngày nay (ảnh: NVP, 2011)

Người ta có cảm tưởng trong thời gian qua, các nhà quy hoạch có trách nhiệm đối với Đà Lạt chỉ chú ý đến từng công trình kiến trúc chứ không lưu ý đến toàn cảnh, cũng không mấy quan tâm đến phong cảnh và môi trường thiên nhiên. Trong khi khoa kiến trúc của thế giới đã phát triển thêm nhiều chuyên ngành như kiến trúc phong cảnh (landscape architecture), thiết kế đô thị (urban design), quy hoạch đô thị (urban planning), v,v… thì dường như các “chuyên gia” quy hoạch đô thị Đà Lạt chỉ dừng lại ở việc thiết kế từng tòa nhà, từng dinh thự, chỉ chú ý đến tiểu tiết mà quên đi cái toàn thể.

Một thành phố đẹp cần có sự hài hòa, đòi hỏi khéo bố trí, sắp xếp các công trình kiến trúc. Một thành phố trên cao nguyên lại cần có sự hài hòa giữa kiến trúc và phong cảnh. Vì vậy, có thể nói: một thành phố đẹp không phải chỉ là những tòa nhà đẹp hay những đường phố đẹp. Nếu không biết cách quy hoạch một cách hợp lý, tổng số của các tòa nhà đẹp và các đường phố đẹp có thể làm nên một thành phố xấu xí.

Dalat center Aerial_view 1968


Ảnh 5: Khu trung tâm thương mại Đà Lạt 1968 (không ảnh - vnafmamn.com)

Tin tức báo chí gần đây cho biết các nhà lãnh đạo địa phương đang bật đèn xanh cho phép xây dựng những building (ngày nay thường gọi là “cao ốc”) ngay tại khu trung tâm, trước mắt là hai cao ốc có chiều cao 45m và 49m. Nhưng trong khi ban hành những quyết định táo bạo đó, vẫn chưa có ai xác định được những nguyên tắc căn bản: nơi nào được phép xây cao ốc và chiều cao cho phép là bao nhiêu? Bất cứ ai có chút kiến thức về Đà Lạt đều thấy rõ nơi đây không phải là một thành phố đồng bằng, cho nên khi nói cao nguyên Lang-Bian có cao độ trung bình là 1.500m thì điều đó không có nghĩa là tất cả các địa điểm ở vùng này đều cao bằng nhau. Do địa hình cao thấp khác nhau, một tòa nhà 49m xây phía sau chợ Đà Lạt (điểm A trong ảnh 6), nghĩa là trong một thung lũng có cao độ khoảng 1480m, sẽ đạt đến độ cao 1529m. Chiều cao này trong thực tế đã vượt hơn ngọn đồi Dinh Thị trưởng cũ ở phía bắc (điểm C) vì cao độ ở đây là 1525,3m. Trong khi đó, một cao ốc 45m đặt tại Khu Hòa Bình (điểm B, có cao độ 1494m) sẽ đạt đến độ cao 1539m, nghĩa là cao hơn 10m so với tòa cao ốc thứ nhất, cao hơn 13,7m so với ngọn đồi Dinh Thị trưởng cũ, thậm chí còn cao hơn cả ngọn đồi Dinh III (1535,8m). Chưa hết: người ta còn đang lăm le xây một cao ốc ngay trên đỉnh đồi phía sau lưng trường Đoàn Thị Điểm - có cao độ 1504,3m[4]. Như vậy, sự xuất hiện các tòa cao ốc sẽ làm cho “diện mạo Đà Lạt” thay đổi hoàn toàn chứ không phải chỉ là “thay áo mới” như lời phát biểu của một quan chức của tỉnh Lâm Đồng với phóng viên báo chí vào tháng 9 năm 2010[5].

Khu Hoa Binh 1968 edit

Ảnh 6: Khu Hòa Bình và Chợ Đà Lạt 1968 (không ảnh - vnafmamn.com)

Việc cho phép xây dựng cao ốc một cách tùy tiện sẽ tạo ra nguy cơ phá hỏng toàn bộ các nguyên tắc bao hàm trong các đồ án quy hoạch mà người Pháp đã dày công xây dựng từ năm 1923 cho đến đầu thập niên 1940. Chính vì vậy mà trong dư luận đang nảy sinh mối hoài nghi về động cơ cho phép xây dựng các tòa cao ốc: phải chăng cái gọi là “quỹ đất vàng” đã và đang hấp dẫn các nhà đầu tư nhưng cũng đồng thời gợi lên lòng tham nơi những người có thẩm quyền phê duyệt, cấp phép trong ngành xây dựng? Phải chăng quy luật thị trường “hoang dã” đã và đang làm phát sinh nguyên tắc “đồng tiền mua được chiều cao” bất chấp các quy định về quy hoạch - kiến trúc, về môi trường thiên nhiên?

Nếu chỉ xét thuần túy về mặt kinh tế, nhà đầu tư mua một mảnh đất luôn luôn có xu hướng muốn xây cao ốc. Do chỗ giá đất cao hơn nhiều so với vốn đầu tư để xây dựng công trình, cho nên tòa nhà càng cao thì diện tích sử dụng càng lớn, khả năng sinh lợi càng gia tăng. Trong trường hợp đó, “nhà tư bản” sẵn sàng bỏ tiền ra để mua chuộc những người có thẩm quyền nhằm có được chiều cao như ý muốn, coi như tính luôn trong số vốn đầu tư. Trong bộ Tư bản, Marx có trích dẫn một câu văn của một nhà hoạt động công đoàn người Anh tên là T.J. Dunning: “Với một lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can đảm. Được bảo đảm 10% lợi nhuận thì người ta có thể dùng tư bản vào đâu cũng được, được 20% thì nó hoạt bát hẳn lên, được 50% thì nó trở nên thật sự táo bạo, được 100% thì nó chà đạp lên mọi luật lệ của loài người, được 300% thì không còn tội ác nào là nó không dám phạm, dù có nguy cơ bị treo cổ”[6]. Nguyên lý này xem ra áp dụng đúng cả trong trường hợp của nền kinh tế nước ta hiện nay.

Điều mà lý thuyết của Marx không tiên liệu là: nhà tư bản chỉ sợ “bị treo cổ” trong hoàn cảnh của một quốc gia “tư bản phát triển”, nơi mà nền kinh tế thị trường bị quản lý, kiểm soát chặt chẽ, nơi mà quyền lực chính trị phải áp dụng nguyên tắc “tam quyền phân lập”, nơi mà báo chí tự do có thể phanh phui, phơi bày bất cứ chuyện gì. Còn trong hoàn cảnh của Việt Nam, khi mà quyền lực chính trị dựa trên nguyên tắc “tập trung dân chủ”, nền kinh tế thị trường lại được nhét vào cái khung của “chủ nghĩa xã hội” thì pháp luật hoàn toàn nằm trong tay của những người cầm quyền, mọi quy định pháp lý đều có thể bị uốn nắn cho phù hợp với túi tiền của nhà đầu tư và ý chí của các nhà lãnh đạo. Cộng với một nền báo chí chỉ chăm chăm “chạy theo lề phải”, quanh năm suốt tháng chỉ biết ngóng nhìn chiếc gậy chỉ huy thì một khi nhà đầu tư mua được chiều cao của công trình, họ hoàn toàn có thể yên chí chạy theo lợi nhuận, không sợ bị treo cổ, càng không lo ngại báo chí gây phiền nhiễu.

Trong những ngày cuối năm này, so sánh những tấm ảnh toàn cảnh chụp Đà Lạt ngày xưa với những tấm ảnh chụp hiện nay, người viết không thể không cảm thấy xót xa. Có lẽ đã đến lúc những người yêu Đà Lạt sẽ phải chào vĩnh biệt “thành phố mộng mơ” mà họ đã từng biết và đã từng dệt nên bao nhiêu kỷ niệm. Một Đà Lạt như đã từng được miêu tả trong thơ, trong nhạc, trong văn chương, sẽ vĩnh viễn đi vào dĩ vãng…

Một Đà Lạt khác sẽ ra đời: đó là một Đà Lạt “hiện đại” được hình thành từ những bộ óc “đi tắt đón đầu”, “dám nghĩ dám làm” (kể cả nghĩ sai, nghĩ bậy và làm ẩu, làm dối), được thúc đẩy bởi khẩu hiệu “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và được điều khiển từ xa bởi những đòn bẩy của của kinh tế thị trường nhưng lại bị che đậy dưới cái vỏ đạo đức giả của chiêu bài “định hướng XHCN”. Những đòn bẩy đó, cộng với một quyền lực chính trị vô biên (không ai có thể kiểm soát, cũng không ai dám phê bình) sẽ đem lại cho Đà Lạt một diện mạo mới - đẹp như thế nào thì chưa ai có thể nhìn thấy, nhưng những đường nét xấu xí thì ngày càng bộc lộ, không một ai có thể che đậy.

Dalat Panorama_1966

Ảnh 7: Toàn cảnh Đà Lạt năm 1966 (ảnh Trần Văn Châu)

Mai đây, cho dù diện mạo Đà Lạt có hiện đại hơn, thành phố có tráng lệ hơn do những tòa cao ốc nguy nga mọc lên như nấm sau cơn mưa rào, điều mà ai ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy là: thiên nhiên sẽ ngày càng biến mất để nhường chỗ cho những khối bê tông khổng lồ chen chúc nhau giữa lòng một thành phố từng làm say đắm lòng người do những rặng thông xen vào giữa lòng phố thị, do những ngôi biệt thự thấp thoáng giữa những tán lá xanh, do những dinh thự ẩn hiện trên đỉnh những ngọn đồi…

Nếu chức năng chủ yếu của Đà Lạt là một thành phố du lịch - nghỉ dưỡng, thì điều đầu tiên cần phải bảo tồn, nâng cấp chính là môi trường thiên nhiên và các thắng cảnh. Trong vài thập niên qua, Đà Lạt sở dĩ còn hấp dẫn được du khách là nhờ đã “ăn bám” vào thanh danh của ngày xưa, nhờ vào những hình tượng mà các văn nghệ sĩ lớn của Việt Nam đã ghi lại trong các tác phẩm của mình. Nếu vẻ đẹp thơ mộng của Đà Lạt bị hủy hoại để thay vào đó là những khối bê tông chồng chất trong các thung lũng hay trên các ngọn đồi, nếu du khách đến đây để nhìn thấy hồ Than Thở chỉ còn như một cái “ao nuôi vịt”, thác Cam Ly trở thành nơi chứa nước thải thì liệu các hình tượng văn học nghệ thuật “vang bóng một thời” ấy có cứu vãn nổi cái tiếng thơm của Đà Lạt hay chỉ đem lại cho khách phương xa cái cảm giác bị lừa dối và sự thất vọng khi nhìn thấy một thực tế hoàn toàn khác xa với truyền thuyết?

Ngày nay, giữa lòng một thành phố Đà Lạt vàng thau lẫn lộn, nơi mà những kẻ lớn tiếng tự xưng là “người yêu Đà Lạt” lại có thể chính là kẻ đang từng ngày từng giờ phá hoại vẻ đẹp của Đà Lạt, những người thật sự yêu Đà Lạt đang có nguy cơ trở thành những con người cô đơn ngay trên mảnh đất quê hương của mình…

Dù sao thì Đà Lạt không phải chỉ là “tài sản” của riêng người Đà Lạt, lại càng không phải là tài sản riêng của một số vị có chức có quyền. Nếu chỉ nói một cách khiêm tốn, không phô trương, Đà Lạt ít nhất cũng là một “tài sản quốc gia” cần phải bảo tồn, trân trọng. Không lẽ tất cả những người dân Việt trong cả nước, và cả những người Việt hiện đang cư trú ở khắp nơi trên toàn thế giới, lại chịu im lặng, bó tay để “Đà Lạt thơ mộng” chết dần chết mòn như thế sao?

Đà Lạt, những ngày tất niên âm lịch năm Canh Dần, 26.1.2011

(công bố lần thứ hai ngày 23.3.2919)

M.T.L.

________

[1] Nguyên văn: chênes (cây sồi). Theo bộ sách Cây cỏ Việt Nam của GS Phạm Hoàng Hộ, ở vùng Đà Lạt – Langbian, người ta tìm thấy rất nhiều loại cây thuộc các chi: Castanopsis, Lithocarpus, Quercus, tất cả được xếp vào họ Dẻ (Fagacae, còn gọi là họ Sồi).

[2] Etienne Tardif, La mission du Lang-Bian 1899-1900, Ogeret & Martin, Vienne, 1902, pp. 35-36.

[3] Commune de Dalat – Voirie municipale, Plan d’aménagement et d’extension de Dalat – Programme des servitudes, 27 Avril 1943 (dactylographié)

[4] Cao độ của một số địa điểm trên đây dựa trên bản đồ Đà Lạt tỷ lệ 1/10.000 do Nha Địa dư Quốc gia phát hành năm 1960.

[5] Khắc Lịch, Tính chuyện “thay áo” cho Đà Lạt, Bee.net 28/09/2010 (bài đã bị xóa): http://bee.net.vn/channel/1983/201009/Tinh-chuyen-thay-ao-cho-da-Lat-1769993/

[6] Các Mác, Tư bản, tập I, quyển I, phần 2, Chương XXIV, Nxb Tiến bộ - Mat-xcơ-va, Nxb Sự Thật – Hà nội, 1984, tr. 315, chú thích số 250.

Tác giả gửi BVN.

Mạt pháp Phật giáo Việt Nam, cái sảy nảy cái ung?

Hoàng Hưng
Những vụ “Cúng sao giải hạn” hằng năm làm tắc đường Hà Nội của chùa Phúc Khánh, rồi “trả nghiệp theo giá ra của Vong” ở chùa Ba Vàng quá trắng trợn phản Phật pháp gần đây, cùng với hội chứng start-up đua nhau xây chùa to để buôn thần bán thánh, chỉ là bước “cái u” biến thành “ung thư” của tình hình Phật giáo nước nhà.

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2019/03/H1-102.jpg

Chùa Ba Vàng. Nguồn: Journey Vietnam

“Cái u” đã được cảnh báo từ lâu, bởi không ít thiện trí thức. Ngay ít lâu sau khi mới về nước, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã gửi tới Chủ tịch Nguyễn Minh Triết bản kiến nghị 10 điểm, trong đó có điểm yêu cầu cải tổ tổ chức Phật giáo đã bộc lộ nhiều sự suy thoái. Tức là đã mọc “u”. Bản chất của “cái u” đó và liệu pháp cho nó là gì? Hãy nghe phân tích của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong thư 7 điểm gửi trực tiếp cho Thủ tướng Phan Văn Khải năm 2005. Điểm đầu tiên chính là: Tách giáo quyền ra khỏi chính quyền:
“Ngày xưa vua Lý Thái Tổ đã yểm trợ đạo Phật xây dựng cơ sở giáo hội, và thiền sư Vạn Hạnh đã chỉ bày thêm cho vua về các đường lối kinh tế, văn hóa, đạo đức và chính trị. Nhưng vua không chen vào để kiểm soát Phật giáo và thiền sư cũng không nhận trách vụ gì trong guồng máy chính trị. Nhà nước bảo đảm là từ nay các vị xuất gia sẽ không bị mời làm dân biểu Quốc hội, trở nên thành viên hội đồng nhân dân các cấp và của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc trở nên đảng viên của bất cứ một đảng phái chính trị nào. Xen vào lãnh vực chính trị như thế các vị xuất gia sẽ phạm giới, làm mất uy tín của giáo đoàn Phật giáo và cũng làm cho chính quyền mang tiếng là sử dụng những vị ấy để kiểm soát tôn giáo. Từ nay các vị xuất gia sẽ không còn nhận huân chương của chính quyền”.
Vì sao khẳng định: cái u gốc của bệnh ung thư Phật giáo hiện nay chính là việc nhập nhèm giữa chính quyền với giáo quyền?

Biển Đông dẫu có thế nào thì “quân đội ta” vẫn….. vô đối!

Đồng Phụng Việt

Hình minh hoạ. Hình chụp hôm 11/8/2012: những ngư dân đảo Lý Sơn chuẩn bị ra khơi

Những ngư dân đảo Lý Sơn chuẩn bị ra khơi - Hình minh hoạ chụp hôm 11/8/2012, AFP.

Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa công bố nguyên nhân khiến tàu đánh cá mang số hiệu QNg 90819 của ông Nguyễn Minh Hùng, ngụ tại thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, chìm vào sáng 6 tháng 3, tại vùng biển quanh đảo Đá Lồi, thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Theo đó, con tàu mang số hiệu 44101 của cảnh sát biển Trung Quốc đã dùng vòi rồng, buộc tàu đánh cá QNg 90819 phải rời khỏi nơi đang thả neo. Trong quá trình di chuyển do bị xua đuổi, tàu QNg 90819 va phải đá ngầm và chìm. Năm ngư dân bám vào xác tàu của họ, trôi giạt trên biển trong ba giờ và thoát chết nhờ được một tàu đánh cá khác vớt.
Trong thông báo phát hành ngày 21 tháng 3, Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết đã cử người trao công hàm cho đại diện của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, phản đối tàu Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, đe doạ tính mạng, gây thiệt hại về tài sản và lợi ích hợp pháp của ngư dân Việt Nam.
Chẳng ai tin Trung Quốc sẽ xử lý nghiêm chỉ huy tàu hải cảnh 44101 và những cảnh sát biển đã gây ra tai nạn cho tàu đánh cá QNg 90819, cũng như bồi thường thoả đáng cho những ngư dân Việt Nam là nạn nhân trong vụ tai nạn mới nhất. Trên thực tế, cho dù các tàu của lực lượng vũ trang Trung Quốc hoạt động trên biển Đông liên tục gây ra đủ thứ tai họa cho ngư dân Việt Nam nhưng theo Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam, Trung Quốc chưa bao giờ bồi thường cho ngư dân Việt Nam mất mạng hay tán gia, bại sản.

Chiếc tàu đánh cá mang số hiệu DNA 90152 bị tàu Trung Quốc đâm chìm đang neo đậu tại một cơ sở sữa chữa tàu ở Đà nẵng. Ảnh minh họa; chụp hôm 02/6/2014.

Chiếc tàu đánh cá mang số hiệu DNA 90152 bị tàu Trung Quốc đâm chìm đang neo đậu tại một cơ sở sữa chữa tàu ở Đà nẵng. Ảnh minh họa chụp hôm 02/6/2014, AFP

Sự phát triển trong mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ

Eleanor Albert

Trúc Lam dịch

Sau khi bị ngăn chặn trong chiến tranh, Việt Nam và Hoa Kỳ đã xây dựng các mối quan hệ trưởng thành bắt nguồn từ lợi ích kinh tế và an ninh chung.

Giới thiệu

Bốn thập kỷ sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã thay đổi đáng kể. Hai cựu đối thủ đã đẩy lịch sử hỗn loạn của họ để củng cố mối liên kết thương mại và hợp tác an ninh mạnh mẽ trong những năm gần đây. Việc nối lại mối quan hệ này, cũng như những nỗ lực của Việt Nam tranh thủ các nước châu Á-Thái Bình Dương khác, như Ấn Độ và Nhật Bản, phần lớn bị thúc đẩy bởi những lo ngại của Việt Nam về sự vượt trội của Trung Quốc trong khu vực, đặc biệt là hành vi quyết đoán của họ ở Biển Đông.

Với sự năng động, các nhà phân tích hy vọng Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ thúc đẩy mối quan hệ đối tác sâu sắc hơn trong những năm tới. Tuy nhiên, mối quan hệ này đối mặt với những hạn chế, gồm chủ nghĩa tư bản do nhà nước Hà Nội lãnh đạo và sự mất lòng tin còn lại của họ Washington.

Trỗi dậy từ chiến tranh

Việt Nam tuyên bố độc lập khỏi ách thống trị của thực dân Pháp năm 1945 sau sự chiếm đóng của Nhật Bản kết thúc, qua sự đầu hàng của quân Đồng minh. Điều này tạo tiền đề cho Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946 - 1954). Năm 1950, lực lượng Việt Nam ở Hà Nội được Trung Quốc và Nga công nhận, trong khi Hoa Kỳ và Anh công nhận chính quyền có trụ sở tại Sài Gòn (ngày nay là Thành phố Hồ Chí Minh).

Sự tham gia của Washington vào Việt Nam leo thang qua việc cung cấp sự hỗ trợ quân sự ban đầu cho các lực lượng Pháp, kế đến là Tổng thống Việt Nam là Ngô Đình Diệm có trụ sở tại Sài Gòn, sau khi đất nước chia cắt hai miền Nam - Bắc. Quân đội Hoa Kỳ chính thức triển khai năm 1964 với mục đích đưa ra là ngăn chặn sự lây lan của chủ nghĩa cộng sản. Nhiều năm chiến đấu tàn khốc lên đến đỉnh điểm, rồi sự rút lui của lực lượng Hoa Kỳ và ký kết Hiệp định Hòa bình Paris năm 1973; Hoa Kỳ sơ tán nhân sự vào năm 1975 khi Bắc Việt xâm chiếm miền Nam và thống nhất đất nước.

Thương vong của Hoa Kỳ gồm 58.220 người chết, khoảng 2.600 người mất tích và hơn 150.000 người bị thương, cùng với những chia rẽ đau khổ trong nước về mục đích và cách tiến hành chiến tranh. Về phía Việt Nam, sức tàn phá rất lớn, ước tính có khoảng hai triệu thường dân chết, thêm một triệu quân nhân tử vong, cũng như các tác động môi trường kéo dài từ việc sử dụng thuốc diệt cỏ, như chất độc da cam, và bom mìn chưa nổ trên khắp cả nước. Washington đã cắt đứt quan hệ ngoại giao sau khi kết thúc cuộc chiến và áp đặt lệnh cấm vận thương mại ở mức cao nhất.

Cũng làm trầm trọng thêm mối quan hệ giữa Việt Nam và một số nước là chiến dịch của họ ở Campuchia. Các cuộc giao tranh dọc biên giới phía tây Việt Nam với Campuchia mở rộng thành một cuộc xung đột toàn diện vào tháng 12 năm 1978. Quân đội Việt Nam đã truất phế nhà lãnh đạo toàn trị Campuchia là Pol Pot và Khmer Đỏ, chế độ hà khắc này chịu trách nhiệm về một cuộc diệt chủng, đã giết chết gần hai triệu người. Chính phủ mới ở Phnom Penh duy trì quyền lực trong một thập niên. Cuộc xâm lược của Việt Nam đã kích hoạt một cuộc tấn công trả đũa của Trung Quốc vào biên giới phía bắc năm 1979 và sự cô lập quốc tế rộng rãi.

Từ cuối thập niên 1970 đến giữa thập niên 1980, kinh tế Việt Nam bị căng quá mỏng do ngân sách quân sự dành cho các hoạt động ở Campuchia quá lớn và những thiếu sót do nền kinh tế chỉ huy của họ. Những khó khăn này dẫn đến sự phụ thuộc nặng nề vào Liên Xô. Sau những cải cách kinh tế của Trung Quốc trong thập niên 1970 và khi Liên Xô bắt đầu nới lỏng sự kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế của họ vào thập niên 1980, Việt Nam bắt đầu tìm cách chấm dứt sự cô lập.

Con đường dẫn đến quan hệ bình thường hóa

Một trong những rào cản đầu tiên được giải tỏa trong việc khôi phục quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam là hợp tác trả lại vật dụng của các tù nhân chiến tranh Mỹ (POW) và những người mất tích trong chiến tranh (MIA). Đến cuối thập niên 1980, các nỗ lực phục hồi được nối lại với các quy trình được thiết lập cho các cuộc tìm kiếm trên toàn quốc bởi các nhóm người Mỹ. Tiến trình này dẫn đến việc mở một văn phòng ở hiện trường cho Văn phòng Hoa Kỳ tại Cơ quan tìm kiếm người mất tích trong chiến tranh (MIA Affairs) ở Hà Nội dưới thời Chính quyền George H.W. Bush năm 1991, sự hiện diện chính thức đầu tiên của Hoa Kỳ sau chiến tranh tại Việt Nam. Từ vị trí này, kết hợp với một ủy ban Thượng viện Hoa Kỳ tạm thời đặc biệt được thành lập để điều tra các vấn đề liên quan đến POW/ MIA, đã giúp xây dựng động lực để bình thường hóa mối quan hệ.

Bảo đảm một kế hoạch hòa bình của Campuchia là điểm quan trọng thứ hai. Mặc dù các lực lượng chiếm đóng Việt Nam ủng hộ một chính phủ mới ở Campuchia, nhưng Khmer Đỏ vẫn kiểm soát một phần đất nước trong khi lưu vong ở Thái Lan, và xung đột dân sự phổ biến trong suốt thập niên 1980. Các cuộc đàm phán hòa bình bắt đầu ở Paris hồi tháng 8 năm 1989, cuối cùng dẫn đến việc ký kết một hiệp định vào năm 1991. Điều này khởi đầu cho việc ngừng bắn và thiết lập Cơ quan Chuyển tiếp Liên Hiệp quốc tại Campuchia, hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp quốc giám sát chính quyền của một quốc gia, để tổ chức và tiến hành một cuộc bầu cử trên đất nước.

Việt Nam rút các lực lượng chiếm đóng khỏi Campuchia, cho phép các nước, trong đó có Hoa Kỳ hồi phục quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Washington dỡ bỏ các hạn chế đi lại đối với Việt Nam hồi năm 1991, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Bộ Ngoại giao Việt Nam mở văn phòng đại diện tại thủ đô hai nước từ năm 1993 và năm 1994, Tổng thống Bill Clinton đã dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại. Những bước gia tăng này đã tạo ra một môi trường thuận lợi để [chính quyền] Clinton bình thường hóa quan hệ kể từ năm 1995.

Liên kết kinh tế

Những cải cách kinh tế quan trọng của Việt Nam được đưa ra vào năm 1986 để thúc đẩy nền kinh tế kém hiệu quả của đất nước, báo hiệu sự háo hức khôi phục các quan hệ quốc tế. Những vụ cải cách, còn gọi là Đổi Mới, ưu tiên xây dựng nền kinh tế thị trường và tạo cơ hội cạnh tranh khu vực tư nhân. Trước đây, nền kinh tế chỉ huy đặt tầm quan trọng không cân xứng đối với công nghiệp nặng, trong khi các lĩnh vực như nông nghiệp gặp khó khăn.

Sự ra đời của một nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, một đất nước hiện có hơn chín mươi lăm triệu người, đã thu hút các khoản đầu tư quốc tế lớn. Sau khi khôi phục các mối quan hệ, Washington và Hà Nội đã làm việc gần năm năm để đàm phán một hiệp định thương mại song phương có hiệu lực năm 2001. Thỏa thuận này dỡ bỏ nhiều rào cản phi quan thuế để trao đổi mậu dịch, gồm hạn ngạch, cấm và những hạn chế nhập khẩu; giảm thuế từ mức trung bình 40% xuống còn 3% đối với nhiều loại hàng hóa, gồm cả hàng nông sản, động vật và điện tử; và cấp cho Việt Nam tình trạng thương mại quốc gia có điều kiện nhất, một chuẩn mực quan trọng để [Việt Nam] gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, hai nước đã thành lập một diễn đàn để thảo luận về các cam kết WTO của Việt Nam và tự do hóa đầu tư và thương mại.

Chính quyền Barack Obama đã đấu tranh cho Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định thương mại tự do gồm hàng chục nước ở châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, với tư cách là một trụ cột chiến lược của Hoa Kỳ trong khu vực. Các nhà phân tích cho rằng, Việt Nam là nước có tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người thấp nhất trong tất cả các nước ký kết, có khả năng là nước hưởng lợi lớn nhất trong hiệp ước này, đặc biệt là được quyền tham gia ưu đãi vào thị trường Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Tổng thống Donald J. Trump là người tuyên bố thỏa thuận sẽ làm suy yếu cơ sở sản xuất của Hoa Kỳ, nên ông ta đã rút lui ngay sau khi nhậm chức kể từ năm 2017.

Những người ủng hộ nhân quyền nói rằng, sự đảo ngược của Hoa Kỳ đã giáng một đòn mạnh vào những người ủng hộ công đoàn, các nhà hoạt động môi trường và các nhà hoạt động khác ở Việt Nam, những người xem TPP giúp thúc đẩy một làn sóng cải cách rộng lớn hơn. Rút ra khỏi TPP là một bước thụt lùi lớn, ông Brad Adams là người đứng đầu bộ phận Nhân quyền Châu Á, thuộc Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, nói về hiệu ứng gợn sóng trong cộng đồng của các nhà hoạt động Việt Nam.

Việt Nam và mười nước khác tham gia TPP, đã đi tới một hiệp định thương mại mà không có Hoa Kỳ, được gọi là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Việt Nam trở thành quốc gia thứ bảy phê chuẩn hiệp ước hồi tháng 11 năm 2018. Thỏa thuận giảm thuế ở châu Á-Thái Bình Dương và có các điều khoản để cải thiện điều kiện lao động và thúc đẩy tư nhân hóa, nhưng còn quá sớm để đánh giá hậu quả của CPTPP. Các nước ký kết đã cho Việt Nam thời gian ba năm để tuân theo các điều khoản lao động của Hiệp định, trong đó kêu gọi giới thiệu về công đoàn độc lập.

Tuy nhiên, các nhà kinh tế hy vọng, thương mại với Hoa Kỳ sẽ tiếp tục phát triển mạnh. Thương mại hàng hóa song phương giữa hai nước tăng vọt kể từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, từ 451 triệu Mỹ kim năm 1995 lên tới hơn 60 tỷ Mỹ kim năm 2018. Hoa Kỳ hiện là điểm đến hàng đầu của hàng hóa Việt Nam, gồm hàng dệt may, điện tử và các sản phẩm động vật như hải sản. Các mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Hoa Kỳ sang Việt Nam gồm bông, chip máy tính và đậu nành.

Một số thách thức hiện ra trong mối quan hệ thương mại vừa chớm nở. Như đã có với một số đối tác thương mại khác của Hoa Kỳ, Tổng thống Trump gặp phải vấn đề mất cân bằng thương mại của Mỹ với Việt Nam, đã tăng lên mức khoảng 39,5 tỷ Mỹ kim trong năm 2018. (Khoản thâm hụt này chỉ là hàng hóa. Xuất khẩu dịch vụ của Hoa Kỳ sang Việt Nam ước tính khoảng 2 tỷ Mỹ kim năm 2015.) Washington cũng đã trích dẫn các rào cản thương mai khác với Việt Nam, gồm bảo vệ sở hữu trí tuệ không thích đáng và các quy định an toàn thực phẩm, hạn chế truy cập internet và nền kinh tế kỹ thuật số và các vấn đề quản trị chung khác, gồm thiếu minh bạch và trách nhiệm trong các khu vực công và tư.

Các mối quan hệ an ninh ngày càng gia tăng

Washington và Hà Nội cũng đã có những bước tiến đáng kể trên mặt trận an ninh. Các mối quan hệ quốc phòng ban đầu được củng cố, thông qua việc phục hồi nhân sự MIA của Hoa Kỳ, gồm hợp tác về các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ, an ninh môi trường và rà phá bom mìn; người Việt Nam tham dự các hội nghị và hội thảo của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ; và trao đổi quân sự cấp cao. Năm 2016, Washington dỡ bỏ lệnh cấm vận kéo dài hàng thập kỷ đối với việc bán vũ khí sát thương cho Hà Nội.

Mối quan hệ an ninh tập trung vào việc tăng cường trao đổi giữa các lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ và Việt Nam, và cung cấp các tàu tuần tra. Năm 2018, USS Carl Vinson, một tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ đã thực hiện một chuyến viếng thăm lịch sử ở Việt Nam. Lần đầu tiên loại tàu này đến thăm Việt Nam kể từ khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Cũng năm 2018, lần đầu tiên Việt Nam tham gia Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC), là tên cua các cuộc tập trận quân sự trên biển do Hoa Kỳ tổ chức hai năm một lần. (Việt Nam giữ vai trò quan sát viên vào năm 2012 và 2016).

Động lực cho phần lớn hoạt động này là Trung Quốc ngày càng có lập trường quyết đoán trong khu vực, đặc biệt là ở Biển Đông, nơi Hà Nội và Bắc Kinh đưa ra các yêu sách hàng hải. Căng thẳng giữa các nước láng giềng lên đến đỉnh điểm hồi năm 2014 khi Trung Quốc triển khai một giàn khoan dầu vào vùng biển tranh chấp, một hành động thúc đẩy các cuộc biểu tình và bạo lực chống Trung Quốc lan rộng khắp cả nước Việt Nam. Các cuộc biểu tình chống Trung Quốc định kỳ tiếp tục nổ ra ở Việt Nam.

Dự luật đặc khu kinh tế đang hồi sinh

Phạm Chí Dũng

Việt Nam bỏ tù thêm 30 người biểu tình phản đối dự luật Đặc khu.

Không phải Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính hay Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân - những đối tượng quan chức bị dư luận mặc định là tác giả kiêm đạo diễn chính của Luật đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt (còn gọi là luật Đặc khu, hoặc ‘Luật bán nước’ như một tục danh mà nhân dân đặt cho Dự luật Đặc khu) quá tai tiếng và gây nguy biến cho đất nước, mà vào lần này lại là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đứng ra thông báo: “Về Luật đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt, Chính phủ cho biết: Thực hiện Nghị quyết số 64/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội về Kỳ họp thứ 5, tại Thông báo số 116/TB-VPCP ngày 30/7/2018 của Văn phòng Chính phủ về kết luận tại buổi họp lần thứ 2 của Ban Chỉ đạo quốc gia về xây dựng các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ - Trưởng ban Chỉ đạo đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ủy ban Pháp luật và Ủy ban Kinh tế của Quốc hội xây dựng phương án chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật theo hướng xây dựng một luật chung”.

‘Thây ma’ sống lại!

Về thực chất, thông báo trên đã mở đường cho Luật Đặc khu - bị hoãn vô thời hạn vào tháng Mười năm 2018 - nảy nòi trở lại. Ngay trước mắt, một chiến dịch ‘đánh’ giá đất đang bùng nổ ở các khu vực dự kiến ‘lên đặc khu’ là Vân Đồn (Quảng Ninh), Phú Quốc (Kiên Giang) và có thể cả ở Vân Phong (Khánh Hòa). Vô số đất mà giới quan chức đã ‘tậu giá rẻ’ ở những nơi này sẽ có cơ hội bằng vàng để ‘thoát hàng’ với giá trên trời.

Khái niệm ‘luật chung’ mà Thủ tướng ‘Cờ Lờ Mờ Vờ’ thông báo lại khiến người ta càng nghi ngờ về việc đã từng tồn tại một thứ ‘luật riêng’ - luật Đặc khu mà nhiều nội dung của nó chứa đựng quá nhiều ưu ái cho Trung Quốc và cứ như thể đó là một hình thức trá hình mà chính thể độc đảng ở Việt Nam luồn lách nhượng địa hoặc nói trắng ra là bán đất cho kẻ ‘ngàn năm Bắc thuộc’.

Tại kỳ họp Quốc hội tháng Mười năm 2018, bản Dự luật Đặc khu - đối tượng đã tạo địa chấn biểu tình khổng lồ và gây sóng gió trong chính trường Việt Nam - đã bị Ủy ban Thường vụ Quốc hội ‘quyết’ không mang ra bàn mà để ‘lùi lại’ nhưng không xác định thời hạn

Trước đó vào đầu tháng Bảy năm 2018, tức khoảng một tháng sau khi nổ ra cuộc biểu tình phản đối ‘Luật bán nước’ ở Sài Gòn với nhân số lên đến hàng trăm ngàn người và lan rộng trên 50% tỉnh thành trong cả nước, Nguyễn Phú Trọng - khi đó còn là Tổng Bí thư mà chưa ngồi hẳn vào ghế Chủ tịch nước của kẻ quá cố là Trần Đại Quang - có gặp một ai đó và thốt lên ‘Nó lừa mình!’.

‘Nó’ là ai?

‘Tứ trụ’ Huynh, Chính, Ngân, Phúc?

Trước khi Dự luật Đặc khu trên được tung ra vào giữa năm 2018, quan chức Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh đã ký một thông báo thay mặt Bộ Chính trị kết luận về chủ trương ‘làm’ các đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, chính thức mở đường cho một khung pháp lý mà sau này bị dư luận xã hội phản ứng quyết liệt vì cho đó là ‘luật bán nước’.

Đáng chú ý, bản thông báo do Đinh Thế Huynh ký được dựa trên đề xuất của Bí thư tỉnh Quảng Ninh - một địa phương giáp biên giới với Trung Quốc - vào thời đó là Phạm Minh Chính.

Lại có một mẩu chuyện rất đáng mổ xẻ và cần thiết thì ‘hồi tố’ kể cả về sau này: sau những cuộc làm việc đầy ‘tình hữu nghị’ với trợ lý của Tập Cận Bình về đặc khu, Phạm Minh Chính đã nêu ra đề xuất cho thuê đất đặc khu đến 120 năm, chứ không chỉ là 99 năm!

Không biết có phải do ‘thành tích’ đề xuất ý tưởng và cả kế hoạch về xây dựng đặc khu Vân Đồn dành nhiều ưu ái cho nhà đầu tư cùng giới tài phiệt Trung Quốc và lại khá tương thích với ý đồ lấn dần lãnh thổ Việt Nam của Bắc Kinh, Phạm Minh Chính đã được Tổng Bí thư Trọng tưởng thưởng và đưa quan chức này vào Bộ Chính trị kiêm Trưởng ban Tổ chức Trung ương tại Đại hội 12 của đảng cầm quyền vào đầu năm 2016.

Chỉ đến sát kỳ họp Quốc hội tháng 5 - 6 năm 2018, ‘luật bán nước’ mới được công bố một cách chính thức như sự đã rồi. Trước đó, đã không có bất kỳ một động tác nào, dù là nhỏ nhất hoặc chỉ mang tính mị dân, nhắm đến việc thông báo cho dân hoặc lấy ý kiến của dân về Dự luật Đặc khu.

Nhưng ngay sau khi Dự luật Đặc khu được công bố, rất nhiều người dân và trí thức đã dậy lên một làn sóng phản kháng phẫn nộ, so sánh Dự luật về đặc khu kinh tế với hình thức nhượng địa mà chỉ đất nước nào nghèo đói lạc hậu mới cần đến, mặt khác họ cảnh báo nó có thể bị nước láng giềng Trung Quốc lợi dụng để di dân.

Chỉ đến khi không khí và tâm trạng bức xúc của dân chúng lên cao độ, Thủ tướng Phúc mới lộ hình để thanh minh: ‘Giao đất 99 năm không phải mấu chốt của Luật Đặc khu”.

Nhưng khi không khí bức xúc của dân chúng và trí thức không còn là mỉa mai hay chỉ trích đối với Dự luật Đặc khu mà đã bùng nổ thành rất nhiều văn thư, bài viết phản bác và phản kháng, đồng thời manh nha một làn sóng biểu tình phản đối Dự luật này, ông Phúc lại ‘tự diễn biến’ khi tự thay đổi quan điểm trước đó của mình sang ‘Sẽ điều chỉnh cho thuê đất đặc khu xuống dưới 99 năm’.

Như một dàn đồng ca, giới dư luận viên của Đảng và công an hô hào: “đừng để câu chuyện “đặc khu” bị các thế lực thù địch lợi dụng, với cái gọi là “hành vi bán nước”, “xây dựng thuộc địa kiểu mới”… phản đối dự thảo luật với những lời lẽ kích động, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; phá hoại sự nghiệp đổi mới đất nước”.

Việc lần đầu tiên Thủ tướng Phúc nhắc đến từ ‘dân’ lại giống như một sự xúc phạm tột cùng đến Hiến pháp.

Bởi là người đại diện cho một chế độ được xem là ‘chính danh’ và cho một Đảng chưa có luật về Đảng mà do đó hoàn toàn có thể bị xem là ‘hoạt động ngoài vòng pháp luật’, Nguyễn Xuân Phúc hay những quan chức trong Đảng của ông ta đã không thèm đếm xỉa đến quan điểm, ý kiến và tinh thần dân tộc, ý chí thoát Trung của hàng chục triệu người dân khi âm thầm xây dựng dự thảo Luật Đặc khu mà không hề trưng cầu ý dân.

Trong khi đó, Quốc hội Việt Nam một lần nữa chứng tỏ cái năng lực nổi bật của nó: không chỉ hùa theo các nhóm lợi ích để tăng vọt thuế và ‘bóc lột dân ta đến tận xương tủy’, ‘cơ quan dân cử’ này còn tiến xa hơn một bước bằng một kỳ họp châu đầu vào ‘luật bán nước’.

Chủ nghĩa tư bản lấn át dần chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam

Nolan Finley (The Detroit News)

Khánh Anh dịch

Tổng thống Donald Trump có lý do khi đã đồng ý chọn Hà Nội thủ đô của một cựu thù để tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ Triều vào tháng trước với Kim Jong Un.

Ông Trump hy vọng chứng minh một quốc gia cộng sản có thể hưởng lợi từ việc mở cửa kinh tế trong và ngoài nước.

Những người bán rau ở Hà Nội 21/02/2019. Ảnh AP.

Chủ nghĩa tư bản ở nhà nước cộng sản

Cách đây không lâu Việt Nam vốn là một nhà nước nguyên mẫu mácxít thất bại thì giờ đang tràn ngập chủ nghĩa tư bản.

Phố phường Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là Sài Gòn) và các thị trấn lớn nhỏ trong cả nước là một thị trường đầy ắp những doanh nghiệp nhỏ.

Các tòa tháp văn phòng mang tên của các tập đoàn lớn nhất thế giới - Unilever, Samsung, Microsoft, Coca Cola, ...

Đường ken đầy xe tay ga với xe hơi, xe tải của Mỹ và châu Á, tạo cho thành phố một cảm giác tất bật, bận rộn. Và mọi người dường như đang bận rộn kiếm tiền.

Kinh tế Việt Nam hiện đứng thứ 47 trên thế giới về tổng doanh thu nội địa (GDP) và thứ 35 về sức chi tiêu. Việt Nam đã trở thành một điểm ưu thích ở châu Á đối với đầu tư nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực nghỉ dưỡng và khách sạn sang trọng.

PricewaterhouseCoopers năm 2017 đã gọi Việt Nam là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới và dự đoán đến năm 2050, nó sẽ lọt vào top 20 nền kinh tế lớn nhất.

Nhưng không phải lúc nào cũng như vậy.

Sau khi bị Hoa Kỳ bỏ rơi, năm 1975 Việt Nam Cộng Hoà rơi vào tay Bắc Việt, bên thắng cuộc đã áp đặt hệ thống kinh tế cộng sản “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.

Công nghiệp được quốc hữu hóa, các trang trại tư nhân được thay thế bằng hợp tác xã tập thể và quy hoạch tập trung dưới quyền của chính phủ. Thực tế là thiếu lương thực triền miên. Tỷ lệ sinh tăng vọt vì mỗi đứa con sẽ được nhận thêm một phần gạo của Chính phủ.

Trong vòng một thập kỷ, một quốc gia đã bị chiến tranh tàn phá lại phải đối mặt với sự sụp đổ kinh tế.

Hướng dẫn viên của chúng tôi ở Hà Nội đã tóm tắt như sau: “Tất cả chúng tôi đều đi làm cùng một lúc, tất cả đều về nhà cùng một lúc, và dù chúng tôi làm việc hay không, tất cả đều được trả tiền như nhau.

Và tất cả chúng tôi đều chết đói. Kinh tế kiểu đó không có hiệu quả.”

Kinh tế kiểu đó chưa bao giờ có hiệu quả cả.

Kinh tế tập trung đã được thay thế bằng một hệ thống hỗn hợp vẫn dựa vào kế hoạch trung tâm nhưng cũng khuyến khích sở hữu tư nhân. Mối quan hệ thương mại độc quyền gần với Liên Xô cũ đã được thay thế bằng việc theo đuổi các mối quan hệ đối tác nước ngoài.

Kinh tế hầu hết nằm trong tay tư nhân. Nông dân lấy lại đất và đang biến Việt Nam thành nước xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu.

Đi chùa để làm gì?

Mạnh Kim

Những gì đang diễn ra đã trở thành chuỗi “đại họa” đưa Phật giáo lao vào tình trạng khủng hoảng kinh khủng chưa từng thấy. Từ các vụ nhà sư trác táng đến cơn lốc “buôn thánh, bán thần”, Phật giáo đang chứng kiến sự hỗn loạn cực độ. Nhà chùa, có nơi, trở thành “cơ sở tôn giáo”; trong khi “cán bộ tôn giáo”, có chỗ, khoác áo nhà sư; và “Phật tử” thì u u mê mê ngưỡng vọng vào tà ma, quỷ thuyết…

Chùa nhiều, Phật “đông” nhưng “quỷ ma” nhan nhản. Những bức tượng Phật “cao nhất Đông Nam Á” và những ngôi chùa “lớn nhất Đông Nam Á” đã mọc lên trên một quốc gia có những điều tồi tệ, vốn bị nghiêm cấm trong giáo lý nhà Phật, có lẽ cũng thuộc vào hạng nhất nhì Đông Nam Á, từ ăn cắp, hiếp dâm, đến thậm chí giết bố mẹ ruột… Cuộc khủng hoảng đạo đức xã hội, thật mỉa mai cùng cực, lại tỷ lệ thuận với cơn lốc xây chùa và cơn sốt đi chùa. Chùa chiền đang được “xã hội hóa” thì tại sao giáo lý Phật giáo đã không được “xã hội hóa” để giúp xã hội tốt hơn, con người sống tốt hơn, lòng người chân thành hơn, tâm trí chúng sinh bình an hơn? Nếu nhà chùa đang gieo “nhân” tốt thì tại sao “quả” gặt được lại kinh khủng đến vậy? Luật “nhân-quả” nào có thể giải thích điều này? Thực tế thì sự bùng nổ chùa chiền đã gieo những cái “nhân” khác, hơn là “nhân” đạo lý. Khó có thể có cái “quả” tốt, khi mà chính nhà chùa và nhà sư trong đó, đã tự gạt ra yếu tố đạo đức cá nhân và phẩm hạnh nhà tu, để trở thành một phần của cái gọi là thị trường “buôn thánh, bán thần”.

“Phật giả”, “giả Phật”; “chùa giả”, “giả chùa”; “tăng giả”, “giả tăng”. Chỉ có điều này là thật: “Mạt Pháp”! “Phật thật” đang khóc (có lẽ vậy). “Phật giả” vừa đếm tiền vừa cười (hẳn thế). “Bồ tát thật” đang tụng niệm để Phật giáo thoát khỏi kiếp nạn tai ương. “Bồ tát giả” thì lần tràng hạt “phổ độ chúng sinh” bằng ngoa ngôn ma mị. Câu hỏi lớn nhất cần được quan tâm không chỉ là tình trạng “kinh doanh” Phật giáo mà còn là tại sao ngày càng có nhiều Phật tử không nhìn thấy được “Phật giả” trong những kiến trúc “giả chùa”? Những hàng hàng lớp lớp người đi chùa không cho thấy Phật giáo đang phát triển. Mà là ngược lại. Nhang khói càng nghi ngút, dường như, càng che mờ con đường giác ngộ đích thực mà giáo lý Phật giáo truyền dạy. “Đi chùa viếng Phật” - một nét văn hóa tôn giáo trang nghiêm gắn liền với văn hóa dân tộc - đã biến thành một hoạt động “đi mua sắm” để mua đủ các thứ mà “thị trường” ngoài đời không thể mua, từ giấc mơ, khát vọng, đến danh và “lộc”. “Bồ tát” nào “chứng”, “Phật” nào “chứng”? Cơn lốc xây chùa có thể không bùng nổ nếu những kẻ “buôn thánh, bán thần” không “nắm bắt” được “tâm lý” và “nhu cầu thị trường”.

23/03/2019

Sự đốn mạt của Phật giáo quốc doanh: cần một cuộc chỉnh đốn?

Hoa Nghi

Khi các quốc gia tiên tiến khác đang khám phá vũ trụ, đặt chân lên vùng tối trái đất, thám hiểm Sao Hỏa,… thì tại Việt Nam, vẫn tất bật các dự án bán và chia đất của các đại gia có tiền và quyền, và sự vươn lên của một nền Phật giáo đang mất dần thuộc tính hướng thiện của nó.

https://1.bp.blogspot.com/-a8yn2RZxU0w/XJO6bgqlKQI/AAAAAAAABS4/Sbb0ejs3rmY77oKf5boZUF0YY9xrJ8fQgCLcBGAs/s640/Da%25CC%2582ng%2Bsao%2Bgia%25CC%2589i%2Bha%25CC%25A3n.jpg

Dâng sao giải hạn ở Hà Nội

Nhiều chùa to được xây dựng, nhiều Phật to được dựng lên, hàng nghìn người xếp hàng, khúm núm, tay phì phạch, miệng phì phò “Nam mô A di đà Phật” để mong giải hạn sao Thái Bạch ở chùa Phúc Khánh với giá 150 nghìn đồng. Chùa Ba Vàng, nơi thêu dệt những mẩu chuyện mê tín dị đoan, đến mức lấy hậu quả của sự quản lý yếu kém của xã hội hiện tại (làm tội phạm phát sinh) để coi đó là tiền kiếp, các bệnh tật con người phải gánh chịu cũng là “khẩu nghiệp”, và kết quả người nào muốn hết phải nộp tiền triệu vào chùa.

Cả xã hội Việt Nam đang quay cuồng với thứ Phật giáo không những đồi bại mà còn đi đến tận cùng của sự khốn nạn, nơi lòng tin và hướng thiện của người dân bị lợi dụng để lợi nhuận hóa.

Một cuộc chỉnh đốn Phật giáo là điều cần thiết

Chúng ta cần một cuộc chỉnh đốn Phật giáo, một trong những tôn giáo đang làm chủ mặt trận buôn thần bán thánh tại Việt Nam, bằng việc tái thực hiện lại những chính sách như thời Hồ Quý Ly và thời vua Minh Mạng đã từng thực hiện. Bởi thực trạng chùa đang trở thành nơi lợi nhuận hóa, trốn thuế, nơi để hưởng thụ nhiều hơn tu đạo và phổ độ chính sinh.

Đối với thời Hồ Quý Ly, áp dụng chính sách sa thải Tăng đạo, buộc hoàn tục những người chưa trên 50. Những ai thông hiểu kinh giáo thì buộc phải thi, thi đỗ thì sẽ trở thành sư, không thi đỗ thì phải hoàn tục.

Đồng bằng sông Cửu Long: Nghịch lý, nghị quyết và... giả dối

Quách Hạo Nhiên
“Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai về xứ bạc thong dong cuộc đời”
(Ca dao Nam bộ)

Nghịch lý chồng nghịch lý

Dù nhiều người đã nói rồi nhưng thiết nghĩ cũng cần phải nhắc lại cái nghịch lý đã, đang và sẽ còn diễn ra ở vùng đất cực Nam này của Tổ quốc, đó là: Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tuy được xem là cái “xương sống” cho nền kinh tế nông nghiệp của cả nước nhưng lại là khu vực ít được Nhà nước quan tâm, đầu tư nhất so với các vùng miền khác về tất cả mọi phương diện. Tất cả những chuyện này không phải tìm đâu xa mà đã được thừa nhận ngay trong các văn bản báo cáo của nhiều cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu mỗi khi diễn ra cuộc hội nghị, hội thảo nào đó.
Hay như mới đây, TS Nguyễn Ngọc Chu trong khi nêu quan điểm của mình về vấn đề đầu tư, xây dựng hạ tầng giao thông vận tải nhất là các dự án đường sắt trên cả nước đã cho thấy rõ hơn cái nghịch lý về vấn đề này ở khu vực miền Tây Nam bộ bằng những con số rất cụ thể:
Miền Tây Nam Bộ là vùng đất trù phú bậc nhất của quốc gia, có tiềm năng to lớn về con người và thiên nhiên, có diện tích 40.548 km2 và dân số 18,5 triệu người. Tăng trưởng GDP của Miền Tây Nam bộ cao hơn bình quân cả nước. Vậy mà hiện nay miền Tây Nam bộ không có tuyến đường sắt nào. 74 năm cầm quyền rồi mà người Việt Nam cũng không chịu làm thêm 1 mét đường sắt ở Miền Tây Nam bộ. Trong khi đó, Miền Tây Bắc và Đông Bắc đã có tuyến đường sắt Lao Cai - Hà Nội, Thái Nguyên - Hà Nội, Hải Phòng - Hà Nội, Lạng Sơn - Hà Nội và đang xây dựng tuyến Quảng Ninh - Hà Nội. Về đường bộ cao tốc, đã có tuyến Lao Cai - Hà Nội, Thái Nguyên - Hà Nội. Quảng Ninh - Hải Phòng - Hà Nội, Bắc Giang - Hà Nội, và đang xây dựng tuyến Lạng Sơn - Bắc Giang.
Như vậy, nhìn tổng quát GTVT Miền Tây Bắc và Đông Bắc vẫn cần tiếp tục đầu tư, nhưng chưa phải cấp thiết bậc nhất. Cấp thiết bậc nhất là tuyến HCM - Hà Nội và Miền Tây Nam bộ. Cho nên, không phải ưu tiên cho Tây Bắc, Đông Bắc mà phải khẩn cấp đầu tư phát triển giao thông vận tải cho Miền Tây Nam bộ, cả đường sắt lẫn đường bộ cao tốc[1].
Những nghịch lý trên rõ ràng ai cũng biết nhưng có một nghịch lý còn lớn hơn nữa đã làm cho ĐBSCL ngày một tụt hậu và kiệt quệ hơn mà không phải ai cũng đủ chân thành và dũng khí để nói ra. Trước khi gọi tên cái nghịch lý này là gì xin được nhắc lại hai sự kiện nhỏ dưới đây:

Tại sao phải bảo vệ “Đồi Dinh Thị trưởng cũ”?

Mai Thái Lĩnh
Đầu năm 2018, khi phê bình “đồ án quy hoạch khu trung tâm Đà Lạt”, tôi đã nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo vệ “Đồi Dinh Thị trưởng cũ” như một di sản kiến trúc quý giá của thành phố. Nhân dịp nhiều kiến trúc sư và nhiều tờ báo trong nước đang phản biện việc chính quyền Tỉnh Lâm Đồng phê duyệt “Đồ án quy hoạch chi tiết khu trung tâm Hòa Bình - Đà Lạt” của kiến trúc sư Hồ Thiệu Trị, tôi xin mạn phép làm rõ thêm luận điểm này.
Trước hết, cần xác định lại danh xưng: “Dinh Thị trưởng” hay ‘Dinh Tỉnh trưởng”? Trong các bản đồ thời Pháp thuộc, vị trí này được ghi là “Résidence de l’Administrateur-Maire”, như trên bản đồ Đà Lạt năm 1952[1] - được lưu trữ tại Thư viện của Đại học Toronto - Canada (xem hình 1). Trong các bản đồ xuất bản thời Việt Nam Cộng Hòa (vd: Bản đồ Đà Lạt 1960, hay Bản đồ du lịch Đà Lạt 1971 in trong Tập san Sử Địa số 23-24 - số đặc khảo Dalat), địa điểm này cũng được ghi là “Dinh Thị trưởng Đà Lạt”(xem hình 2).

Plan de Dalat 1952 - crop.jpg

Hình 1: Trích bản đồ Đà Lạt 1952.

Dalat Center crop.jpg

Hình 2: Trích bản đồ Đà Lạt 1960.

Điều đó có nghĩa là công thự này được dành cho Thị trưởng Đà Lạt. Do có những thời kỳ Tỉnh trưởng Tuyên Đức kiêm chức Thị trưởng Đà Lạt mới sinh ra sự lẫn lộn, nhiều người gọi nhầm là “Dinh Tỉnh trưởng”.
Nhưng tại sao vị trí này lại được chọn để xây dựng Dinh Thị trưởng Đà Lạt? Theo tôi, có hai lý do chủ yếu:
1) Trước hết là do cao độ của ngọn đồi và tầm nhìn bao quát từ vị trí đó. Trên bản đồ 1952, chúng ta thấy ghi 1525,6 m, còn trên bản đồ 1960, con số đó là 1525,3 m. Tạm gọi là Đồi 1525.

Img_6 Khu Hoa Binh 1968.jpg

Hình 3: Khu Hòa Bình 1968. [A] Chợ Đà Lạt, [B] Rạp Hòa Bình, [C] Đồi Dinh Thị trưởng (Ảnh: vnafmamn.com).

Dalat 1967 - Phillip M.Kemp.png

Hình 4: Đà Lạt 1967 - Không ảnh do Phillip M. Kemp chụp (Bộ sưu tập của Mạnh Hải).

Nếu Trung Quốc làm đường cao tốc ở Việt Nam theo kiểu 'còn Đảng - còn mình'...

Nguyễn Hồng Phúc
“Ông, bà nghĩ sao nếu mai đây Hà Nội đồng ý để Trung Quốc bỏ vốn làm đường cao tốc đi suốt chiều dài đất nước Việt Nam?”, là câu hỏi trong một khảo sát ‘bỏ túi’ tại Sài Gòn của người viết.

https://3.bp.blogspot.com/-6k_l5qJ0xPU/XJUP9r3O6WI/AAAAAAAABVY/t_6kWq5LmkklxaeiEKP-CjKHPpxdhOfBgCLcBGAs/s640/caotoc_vjnm.jpg

Tuyến cao tốc Bắc - Nam phía đông sẽ nối tiếp cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình đã được đưa vào khai thác

“Họ sẽ làm trong bao lâu, có tốt như Đại Hàn không?”

Đó là câu hỏi ngược lại của ông Nguyễn Văn Sang, cựu quân nhân Binh chủng Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông kể sau Tết Mậu Thân 1968, lính Đại Hàn đã làm làm đường vành đai bảo vệ Phi trường Tân Sơn Nhất và Sài Gòn trong hai năm 1969-1970. Họ làm nhanh và con đường này vẫn tốt cho đến tận hôm nay. Xa lộ Đại Hàn là con đường quan trọng nối liền miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ. Trước năm 1975, con đường này không hề có thu phí BOT như bây giờ.
Đầu năm 1960, ở Sài Gòn có xa lộ Biên Hòa dài 31 cây số, rộng 21 mét. Việc thi công do nhà thầu RMK-BRJ của Mỹ phụ trách từ năm 1959 đến ngày 28-04-1961 thì hoàn thành xa lộ Biên Hòa. Đơn vị này đặt đại bản doanh tại một ngã tư trên xa lộ, người dân sau này quen gọi thành ngã tư RMK, hiện tại thuộc Quận 9. Tôi nghĩ rằng tại sao chúng ta không mời người Mỹ sang đây làm đường cao tốc Bắc - Nam?”. Ông Nguyễn Văn Sang, thắc mắc.

Sức ép quân sự hóa biển Đông của Bắc Kinh: Hà Nội “mạnh mẽ” phản ứng hơn?

An Viên
Trong không khí sặc mùi chiến tranh, Trung Quốc bằng sức mạnh kinh tế của mình đã ra các yêu sách để phân ly nhóm nước trong cộng đồng ASEAN. Từ việc Brunei tăng cường sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc thông qua các thỏa thuận tài chính và thương mại. Đến Philippines đã hợp tác với Trung Quốc sau khi bị lôi vào Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc. 

https://2.bp.blogspot.com/-axDRbKc00dY/XJUONJarDDI/AAAAAAAABVM/r9VsBz0AqGoxU01333CXcO-seRIZfPimACLcBGAs/s640/thediplomat-ap_17111209931206-386x241.jpg

Đảo nhân tạo của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa  21/04/2017.

Mới đây, trong một phản ứng được cho là “có phần mạnh mẽ” liên quan đến vấn đề Biển Đông, Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) đã trao công hàm phản đối và đề nghị Trung Quốc bồi thường thiệt hại cho ngư dân Việt Nam. Đồng thời, liên quan đến những thông tin khác nhau về việc Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra thông báo cho biết đã cứu hộ một tàu cá Việt Nam, trong khi cơ quan tìm kiếm cứu nạn của Việt Nam cho biết tàu cá này đã bị tàu Trung Quốc đâm chìm.
Những phản ứng có liên quan này là chuỗi phản ứng vượt ra khỏi thông lệ “nước lạ, quan ngại” của Bộ ngoại giao Việt Nam trước sự gia tăng căng thẳng tại Biển Đông.
Mới đây, trang The Diplomat đã đăng tải bài viết của Tiến sĩ Scott N. Romaniuk, một Nghiên cứu sinh tại Viện Trung Quốc, Đại học Alberta. Theo ông Scott N. Romaniuk, Bắc Kinh đang chuyển sang giai đoạn tiếp theo về quân sự hóa trên Biển Đông (với sự mở rộng 1,35 triệu dặm vuông trên vùng biển tranh chấp này), đưa Biển Đông trở thành một ngòi nổ về tranh chấp an ninh trong tương lai.
Và vào năm 2019, Bắc Kinh có thể sẽ củng cố mạnh hơn lợi ích của mình ở Biển Đông thông qua việc sử dụng các sức mạnh quân sự và chính trị song song với việc duy trì sự đe dọa, đến từ các cuộc tuần tra quân sự và triển khai máy bay giám sát, tàu khu trục tên lửa dẫn đường,…
Bắc Kinh đang muốn thống trị Biển Đông, điều này rõ ràng là như thế. Và khi lợi ích của Trung Quốc vẫn bị coi là đe dọa bởi các quốc gia như Mỹ, thì sự tăng cường quân sự Biển Đông sẽ tiếp tục là xu hướng then chốt trong thời kỳ tới.

22/03/2019

Ngày Nước Thế giới 2019: Nước sạch có đủ cho tất cả tại Việt Nam?

Trung Khang, RFA

Ngày Nước Thế Giới 2019

Ngày Nước Thế giới 2019 - Photo courtesy of unwater.org

“Nước cho tất cả - Không để ai bị bỏ lại phía sau” là chủ đề của Ngày Nước Thế giới 2019. Thực tế tại Việt Nam như thế nào?
Chủ đề của Ngày Nước Thế giới năm nay nhằm hướng đến tuyên truyền, vận động về khả năng tiếp cận với nước sạch của cộng đồng nhằm thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững số 6 về Nước sạch và vệ sinh, theo đó đảm bảo sự sẵn có, quản lý bền vững nước và vệ sinh cho tất cả mọi người.
Việt Nam là một thành viên của Tổ chức UN - Water thuộc Liên Hiệp Quốc và hàng năm Việt Nam đều có hưởng ứng Ngày Nước Thế giới.
Trao đổi với Đài Á Châu Tự Do hôm 20 tháng 3 năm 2019, Thạc sỹ Hồ Long Phi, Giám đốc Trung tâm quản lý nước và biến đổi khí hậu WACC - Đại học Quốc gia TP HCM cho biết thêm thông tin về Ngày Nước Thế giới 2019 tại Việt Nam:
Hưởng ứng Ngày Nước Thế giới thì có một hội thảo lớn ở Hà Nội và sau đó có một số triển lãm… Một số trường đại học liên quan đến nhà nước thì cũng những hoạt động này nọ. Còn những công tác cải tạo nguồn nước là những hoạt động thường ngày, không nhắc đến trong những dịp lễ hội như thế này. Nhưng những cái này chỉ mang tính chất hội thảo chương trình là chính, còn những công tác thường xuyên về hạ tầng thì nằm trong những chương trình khác trong năm”.
Theo thống kê của UN-Water hiện nay, khoảng 1,9 tỷ người sống trong các khu vực khan hiếm nước; 2,1 tỷ người không được tiếp cận các dịch vụ về nước uống bảo đảm an toàn. Dự kiến, đến năm 2050, dân số thế giới sẽ tăng khoảng 2 tỷ người và nhu cầu về nước toàn cầu có thể sẽ tăng 30% so với hiện nay. Và hiện cũng đang có 663 triệu người chưa được tiếp cận với các nguồn nước uống hợp vệ sinh.
Thạc sỹ Hồ Long Phi cho biết về tình hình thực tế tại Việt Nam hiện nay:
Hiện nay nguồn nước sinh hoạt chủ yếu từ nước sông, một phần là từ nước ngầm. Cả hai nguồn nước đó thì mức độ ô nhiễm càng ngày càng tăng lên, đó là điều đáng quan ngại. Tuy rằng so với nhiều năm trước đây thì chất lượng nước mặt có cải thiện phần nào, do những hệ thống vệ sinh môi trường xây dựng bắt đầu đưa vào hoạt động. Nhưng nước ngầm thì vẫn còn ô nhiễm, vì chưa được khắc phục một cách thỏa đáng”.

Đôi lời với Cục Báo chí, Bộ Thông tin - Truyền thông

Nguyễn Đăng Quang

Ngày mai 22/3, tròn 1 tháng báo điện tử “Người Tiêu Dùng” (NTD) bị Cục Báo chí Bộ Thông tin - Truyền thông xử phạt, buộc đình bản 3 tháng và phải nộp 65 triệu tiền mặt về một hành vi mà Cục này cho là “vi phạm trong lĩnh vực hoạt động báo chí, xuất bản” vì đã đăng một bài nhạy cảm với nhan đề “Nhiều cấp dưới bị bắt giam và kỷ luật nặng, bao giờ ông Lê Thanh Hải và Lê Hoàng Quân ‘vào lò’?” của 2 tác giả Thiện Hiếu và Minh Nguyễn.

Người viết bài này không phải là nhà báo, cũng không phải luật gia, chỉ là một công chức bình thường đã nghỉ hưu, không thể đồng tình với quyết định xử phạt của Cục Báo chí, Bộ Thông tin - Truyền thông. Cá nhân người viết cho rằng quý Cục phạt báo NTD với hình thức nặng như vậy là một quyết định rất vô lý, thiếu sức thuyết phục, ấy là chưa nói đến căn cứ pháp lý cho việc xử phạt này là rất yếu! Xin hỏi trong vụ phạt vạ này, xin hỏi thật, quý Cục có chịu sức ép của ai không?

Nhân đây xin có đôi lời với Cục Báo chí Bộ Thông tin - Truyền thông như sau:

1. Trước hết, đầu đề cũng như nội dung bài báo nói trên của 2 tác giả Thiện Hiếu và Minh Nguyễn đăng trên báo NTD (số ra ngày 27/2/2019) mới chỉ ở dạng nghi vấn, các tác giả có đặt dấu hỏi (?) ngay đầu đề bài báo, chứ chưa phải là kết luận hay khẳng định của họ. Chẳng nhẽ người dân nói chung và các nhà báo nói riêng không có quyền nghi ngờ và đặt dấu hỏi về các việc làm, quyết định của các quan chức hay sao? Không, tôi cho rằng không như vậy! Người dân hoàn toàn có quyền nghi vấn, không chỉ đối với các quan chức nhà nước, mà còn ngay cả đối với đường lối, chủ trương, chính sách của các cấp chính quyền, kể cả chính quyền trung ương!

Pháp luật mọi quốc gia, kể cả Việt Nam, không cấm người dân ngờ vực, thắc mắc hoặc chất vấn, vặn hỏi các quan chức nhà nước, cũng như không có bộ luật nào buộc người dân phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đặt lòng tin tuyệt đối vào đường lối, chủ trương, chính sách của các cấp chính quyền! Do vậy 2 nhà báo Thiện Hữu và Minh Nguyễn đặt đầu đề cho bài viết của họ dưới dạng câu hỏi là điều rất bình thường, không vi phạm bất cứ quy định hay điều luật nào cả!

2. Mở đầu bài báo trên, 2 tác giả nêu một thực tế khách quan ở Tp. HCM: “Trong vòng một tháng trở lại đây, hàng loạt lãnh đạo cao cấp TP. HCM dưới nhiệm kỳ ông Lê Thanh Hải rồi Lê Hoàng Quân làm Chủ tịch UBND TP.HCM bị khởi tố hoặc kỷ luật nặng nề. Nổi bật nhất là cựu Phó Chủ tịch Nguyễn Thành Tài, Nguyễn Hữu Tín, Tất Thành Cang và danh sách bê bối này chưa có dấu hiệu dừng lại. Nhưng hai vị đáng ra phải chịu trách nhiệm lớn nhất hiện vẫn bình an vô sự, khiến nhiều cử tri TP.HCM và người dân cả nước hết sức bức xúc!”

Chắc quý Cục thừa biết, trong đại án Thủ Thiêm hiện nay, nhiều nạn nhân trên bán đảo này đã công khai tố cáo, đòi bắt giam và khởi tố đích danh các ông Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đua, Tất Thành Cang, v.v… Họ khẳng định các quan chức này không chỉ là các thủ phạm trực tiếp ban hành các văn bản vượt thẩm quyền, trái pháp luật, băm nát quy hoạch khu ĐTM Thủ Thiêm, mà còn gián tiếp gây tội ác đập nhà, cướp đất, bức hại dân lành, chà đạp quyền sống, cướp đoạt quyền con người, dồn nhiều hộ dân vào cảnh vô gia cư và biết bao khổ đau, oán hờn khác đối với họ và gia đình trong suốt hai chục năm qua!

Vậy xin hỏi, nếu các cơ quan chức năng sau này xác định các ông Lê Thanh Hải, Lê Hoàng Quân vi phạm pháp luật, và ra lệnh bắt tạm giam, khởi tố 2 ông này, thì quý vị có định xin lỗi các nhà báo nói trên và rút lại quyết định xử phạt họ không?

Nhà hàng/Nhà nước & Nhà BOT

Tưởng Năng Tiến
Tác giả gửi tới Dân Luận

image001_5.png

BOT ĐẶT SAI VỊ TRÍ LÀ ĂN CƯỚP. - FB Nho Vu

Tôi tạt ngang qua Kuala Lumpur đôi ba lần. Lần nào cũng ngụ ở Phố Tầu vì giá nhà trọ rẻ, lại cạnh bến xe, rất tiện cho việc đi lại và ăn uống. Gần cuối con đường lớn có tiệm Nam Heong Chicken Rice Chinatown, khai trương từ năm 1938, khách khứa lúc nào cũng ra/vào tấp nập.
“Chắc ngon, ngon chắc”. Tôi tưởng vậy. Thiệt là Tưởng Tầm Bậy. Cũng tạm được thôi, chớ thua cơm gà Hải Nam (San Jose) hay Nam An và Tasty Garden (Westminster) ở California xa lắc. Chỉ được cái là tiền bạc rất nhẹ nhàng: mỗi phần ăn chỉ cỡ 3 Mỹ Kim thôi là no chết mẹ luôn!
Chợ Nhà Lồng, tên chính thức là International Foods Center, cách đó chừng vài trăm mét cũng vậy. Mọi thứ cũng rẻ rề hà. Họ có khoảng hai chục quầy thức ăn của nhiều quốc gia lân cận: Thai, India, Indonesia, China, Pakistan… đủ mặt. Bia bốc thì đủ loại (Tiger, Leo, Heineken, Carlsberg, Chang, Singha, Asahi...) với giá cả vô cùng nhân nhượng.
Với cái nóng ngày hè ở Kuala Lumpur, tôi có thể ngồi trong cái chợ bình dân này và uống (tì tì) từ chiều cho tới khuya luôn. Sau vài năm “cải tạo”, tôi trở nên rất tiện tặn về thực phẩm. Không bao giờ dám bỏ thừa thức ăn, và cũng chả dám gọi một thứ gì hơi có vẻ mắc tiền (ăn cái gì mà không được, có ăn là quý rồi) nhưng với rượu bia thì vẫn vô cùng hào phóng.
Tuy thế, tôi chưa bị bạn hàng nơi đây “chặt đẹp” lần nào; “chặt nhẹ” cũng không luôn. Nói chung là không có nạn chặt chém tại xứ sở này, ngay cả ở chợ trời họ cũng không mấy khi nói thách.
Mấy người chạy bàn cũng thế. Họ chỉ vui vẻ nhận tiền số tiền tip hậu hĩnh cho một hay hai chai bia đầu tiên thôi. Sau đó - nam cũng như nữ - các em đều (cười cười) thân mật rồi nhẹ nhàng đút lại mấy tờ giấy bạc vào túi áo của tôi, với ánh mắt có thể đọc thành lời: “Thôi về ngủ đi cho khoẻ tía ơi, ông say hết biết luôn rồi, tiền chớ bộ giấy sao mà cho hoài và cho nhiều dữ vậy!”
Tôi yêu quý nước Mã Lai không chỉ vì ông Thủ Tướng Mahathir Mohamad (người vừa dõng dạc yêu cầu Trung Cộng xác định “cái gọi là quyền sở hữu” nhận vơ của họ ở Biển Đông) mà còn vì những công dân thuần hậu và bao dung của họ. Hồi cuối thế kỷ trước, 250 ngàn người Việt Nam tị nạn cộng sản đã tìm đến đất nước này và tất cả đều được đón chào. Tôi đã định sẽ viết vài trang sổ tay để tỏ chút lòng tri ân nhưng chỉ mới “định” thế thôi thì đã xẩy ra một “sự cố” đáng buồn - theo bản tin của báo Tuổi Trẻ, đọc được hôm 9 tháng 2 năm 2019:
“Đoàn khách Malaysia bị 'chém' 500.000 đồng/phần trứng xào cà chua tại Nha Trang… Trong hai ngày qua trên mạng xã hội lan truyền một hóa đơn của nhà hàng này với mức giá ‘cắt cổ’. Theo hóa đơn này, món trứng xào cà chua giá đến 500.000 đồng/phần, đậu bắp luộc 300.000 đồng/phần, cơm trắng 200.000 đồng/phần.”..

21/03/2019

Tôi là người Việt Nam, xin hỏi: Chính trị là gì? (Phần 1 và 2)

GS Lê Hữu Khóa

ĐỊNH ĐỀ: có độc đảng thì không có chính trị, có độc tài thì không có chính giới, có độc trị thì không có chính trường, có độc tôn thì không có chính kiến.

Tôi xin dùng định đề này để xác nhận lần nữa là các lãnh đạo ĐCSVN-Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay, không phải là chính trị gia. Đây là định đề mà tôi đã viết qua sách và bài, đã phân tích và giải thích trong các giảng đường đại học quốc nội cũng như quốc tế.

Trong bài này tôi dùng hệ chính (chính trị, chính giới, chính trường) qua hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức) biết dựa trên hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) để giải luận thảm kịch của Việt Nam hiện nay, và khi không có ba hệ này, thì Việt tộc chỉ bị cai trị, mà xã hội Việt sẽ không có các chính trị gia Việt để quản trị văn hóa Việt, giáo dục Việt, kinh tế Việt… vì chính trị chi phối không những đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, mà chính trị quyết định toàn bộ thân phận của một dân tộc, toàn thể số kiếp của một quốc gia.

Xin được đề nghị phương pháp luận sau đây để giải luận câu chuyện: Chính trị là gì? Chúng ta sẽ dùng định nghĩa để xây dựng định đề, và khi định nghĩa để nhận ra các ẩn số trong đời sống chính trị (chính trị, chính giới, chính trường) thì chúng ta phải vào sâu để phân tích hai hàm số khác: thực trạng vắng bóng sinh hoạt chính trị của Việt Nam hiện nay song hành cùng các sự vô dạng chính trị của các lãnh đạo ĐCSVN-Đảng cộng sản Việt Nam. Họ không có chiều cao trong nhận định chính trị, không có chiều sâu trong phân tích chính trị, không có chiều rộng trong xử lý chính trị, không có chiều dài trong dự phóng chính trị, cụ thể là muốn làm chính trị phải có trình độ (cá nhân và tập thể) để tạo được mức độ nhận thức các thử thách đang chực chờ Việt tộc.

Sự thật chính trị: làm nên hành động chính trị luôn có nền trên nhận thức về sự thật, sự thật về số phận của một dân tộc trong quá khứ, sự thật về hiện tại của xã hội mà dân tộc đó đang sống, sẽ làm nên tiền đề về sự thật trong tương lai của dân tộc này qua các thế hệ sắp tới. Câu chuyện “có (sự) thực mới vực được đạo” ở đây cao, sâu, xa, rộng hơn cách nói “có (lương) thực mới vực được đạo”, sự thực bắt rễ trong thực tại của cuộc sống, làm nên thực cảnh của một dân tộc, dựng nên thực tế của đời sống xã hội. Chính định nghĩa về sự thật làm nền cho mọi hành động chính trị, sẽ loại khỏi ra sinh hoạt chính trị ít nhất là ba độc tố: thứ nhất là ý thức hệ không hề dựa vào sự thật; thứ nhì là tuyên truyền độc tài không hề bám vào sự thật; thứ ba là tuyên giáo độc đảng thì bất chấp sự thật.

Chúng ta hãy đi xa hơn nữa trong định nghĩa về sự thật để tìm ra các định luận làm rễ cho mọi hành động chính trị có thực chất của hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) đi tìm hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức): không chỉ có một sự thật mà có nhiều sự thật, sự thật của nghệ thuật không phải là sự thật của kinh tế, và sự thật của khoa học không phải là sự thật của chính trị… Vậy thì, sự thật chính trị phải dựa trên một định nghĩa: sự thật là quá trình của thực tế làm nên quy trình cho thực tại. Tại đây, chính quá trình khi trở thành quy trình thì bản thân nó là kết quả của một công trình, hay ngược lại là hậu quả của một tác hại ngay trên dân tộc và đất nước mà chính quyền là thủ phạm.

Tại sao lại đặt vấn đề một công trình của hành động chính trị? Tại sao lại dùng ngữ pháp công trình? Ta hãy đi xa thêm nữa trong lý luận: hành động chính trị mang đến kết quả tốt cho dân tộc, đưa đến hiệu quả hay cho nhân dân là một hành động đặc thù của một cá nhân lãnh tụ, một tập thể lãnh đạo có tính nhân quả tích cực lâu dài trong thời gian, rộng rãi trong không gian. Nó thay đời đổi kiếp cho đồng bào, cho đồng loại theo hướng thăng hoa, nó sẽ mang giá trị phổ quát cho nhân loại. Từ hành động đặc thù để có kết quả đặc trưng làm nên giá trị phổ quát cho mai hậu, đây chính là định nghĩa để giải luận mọi hành động chính trị; và “nói gần nói xa không qua nói (sự) thật” là cả thế kỷ XX cho tới thế kỷ XXI, Việt tộc chưa thấy một hành động chính trị nào có bản lĩnh là kết quả của một công trình đặc thù, có tầm vóc làm nên giá trị phổ quát cho Việt tộc.