01/05/2010

Hải quân Trung Quốc phối hợp hành động với nhau và trở nên hung hăng

Abe Denmark

Bằng cách đóng dấu “lợi ích cốt lõi”vào Biến Đông và tiến hành các cuộc tập trận chỉ vài ngày sau đó, Trung Quốc đã đưa ra câu trả lời của họ rằng: Trung Quốc sẽ trở lại bằng những lời tuyên bố hung hăng cùng với một khả năng quân sự mạnh mẽ.

Một thông điệp khác từ Bắc Kinh tiềm ẩn hơn, có thể không rõ ràng hơn là: quân sự Trung Quốc đang phát triển khả năng tốt hơn và Hải quân Trung Quốc bây giờ là đội quân tiên phong trong các nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc. Bằng cách mua lại công nghệ quân sự tiên tiến và phát triển khả năng thực hiện các hoạt động phức tạp xa bờ, Trung Quốc đang thay đổi sự cân bằng quân sự trong khu vực với những tác động vượt xa hơn một kịch bản liên quan đến Đài Loan”.

Để đối phó với tình hình trên, Hoa Kỳ cần phải làm gì? Xin giới thiệu kiến giải của Abe Denmark trên trang Center for a New American Security ngày 26-4-2010 do Ngọc Thu dịch.

Bauxite Việt Nam

Nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc kéo dài hàng thập kỷ đang có hiệu quả. Sau khi lắp ráp kho vũ khí đã được tân trang vào các con tàu mới, tàu ngầm, máy bay, và tên lửa, Hải quân Trung Quốc (1) cho thấy họ có thể sử dụng tất cả các loại vũ khí đó (2) kết hợp với nhau, trong một hoạt động xa bờ.

Việc phô trương khả năng quân sự đã được cải tiến này xảy ra cùng lúc với các thông điệp gửi tới Hoa Kỳ, cho thấy một sự tiếp cận hung hăng hơn từ Bắc Kinh về các tuyên bố của Trung Quốc đối với vùng biển đang tranh chấp ở Biển Đông. Hoa Kỳ phải đáp lại sự thách thức đang nổi lên này bằng phương pháp tiếp cận có trách nhiệm để giảm bớt căng thẳng, trong khi gửi một thông điệp rõ ràng tới Bắc Kinh rằng Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận những nỗ lực của Trung Quốc đơn phương kiểm soát quyền hàng hải chung ở Đông Nam Á.

Báo South China Morning Post gần đây đã đưa tin, các tàu khu trục lớn, tàu khu trục nhỏ và các tàu phụ trợ (3) từ Hạm đội Bắc Hải (có trụ sở ở Thanh Đảo) đi qua eo biển Bashi giữa Philippines và Đài Loan, tiến hành “cuộc tập trận đối đầu” chính ở Biển Đông. Vài ngày sau, tàu khu trục có tên lửa điều khiển, loại Sovremenny (4), các tàu khu trục nhỏ, và tàu ngầm từ Hạm đội Đông Hải (có trụ sở tại Ninh Ba) đi qua eo biển Miyako của Nhật Bản mà không báo trước cho Tokyo và tiến hành các cuộc diễn tập về chiến tranh chống tàu ngầm ở Thái Bình Dương, vùng biển nằm phía Đông Nam Nhật Bản.

Hiện cũng có các báo cáo của các phi công hải quân từ một số căn cứ ở các vùng quân sự Nam Kinh và Quảng Châu, tiến hành các cuộc tập trận tầm xa (5), kết hợp gây nhiễu radar, các chuyến bay đêm, tiếp nhiên liệu trên không, và các vụ giả vờ đánh bom ở Biển Đông.

Trong khi khiêu khích về quyền lợi của riêng họ, những cuộc tập trận là một dấu hiệu cho thấy Hải quân Trung Quốc đã bước một bước tiến xa về phía trước. Bài báo ở South China Morning Post dẫn lời một Tùy viên quốc phòng châu Á không nêu tên: "Chúng tôi chưa từng thấy các hoạt động quy mô như thế trước đây - cuối cùng, họ cho chúng ta thấy họ có thể phối hợp tất cả các hoạt động với nhau".

Ý nghĩa của việc "phối hợp tất cả các hoạt động với nhau" là quan trọng. Khả năng quân sự của Hoa Kỳ thống trị bầu trời ở bất kỳ chiến trường nào, không chỉ là do lợi thế về công nghệ của họ, mà là khả năng kết hợp các sức mạnh lại để hỗ trợ cho nhau. Chiến tranh chống tàu ngầm và tiếp nhiên liệu trên không là những hoạt động phức tạp và rất khó thực hiện, đòi hỏi [phải có] công nghệ cao, chỉ huy và kiểm soát hiệu quả và những người điều hành phải có tay nghề cao. Khả năng của Trung Quốc tiến hành các hoạt động này nhằm chứng minh sự thành thạo đã phát triển đáng kể trong các hoạt động quân sự phức tạp.

Các cuộc diễn tập này cũng đáng chú ý về vì vị trí và thời gian. Quá cảnh qua eo biển Miyako và hoạt động ở vùng biển gây nhiều tranh cãi, Trung Quốc đang gửi một tín hiệu tới khu vực rằng, đó là phát triển khả năng theo đuổi các tuyên bố lãnh hải của mình hơn là chỉ khoa trương. Những cuộc diễn tập đã được tiến hành vài tuần sau khi ông James Steinberg, Thứ trưởng Ngoại giao và ông Jeff Bader, Giám đốc Hội đồng An ninh Quốc gia, đặc trách về châu Á viếng thăm Bắc Kinh. Theo tin từ báo New York Times, họ đã nói rằng Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” đối với Trung Quốc. Đây là một cụm từ quan trọng đối với Bắc Kinh - đưa tầm quan trọng của Biển Đông lên ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng - và cho thấy một cách tiếp cận mới hung hăng và khiêu khích.

Từ lâu, Trung Quốc tuyên bố rằng, Biển Đông nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của họ, và Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) buộc quân đội nước ngoài phải có sự cho phép của Bắc Kinh trước khi quá cảnh ngang qua. Dĩ nhiên, sáu nước khác trong khu vực cũng đòi chủ quyền hầu hết hoặc một phần trên Biển Đông. Cho nên từ lâu Hoa Kỳ đã xác định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là vùng biển quốc tế mà các tàu quân sự có thể tự do đi lại.

Ông Robert Gates, Bộ trưởng Quốc phòng lưu ý trong một bài phát biểu năm 2008: "Chúng tôi không ủng hộ bên nào hay một quốc gia nào trong việc tranh chấp chủ quyền đối với một quốc gia khác. Chúng tôi hối thúc [các bên], như chúng tôi làm hôm nay, là duy trì một môi trường hòa bình và không quyết đoán, trong đó các bên tranh chấp có thể thảo luận và nếu có thể, giải quyết [vấn đề]. Tất cả chúng ta ở Châu Á phải bảo đảm sao cho các hành động của chúng ta không bị xem như là thủ thuật gây áp lực, kể cả khi chúng tồn tại song song với những biểu hiện hợp tác được thấy rõ".

Bằng cách đóng dấu “lợi ích cốt lõi”vào Biến Đông và tiến hành các cuộc tập trận chỉ vài ngày sau đó, Trung Quốc đã đưa ra câu trả lời của họ rằng: Trung Quốc sẽ trở lại bằng những lời tuyên bố hung hăng cùng với một khả năng quân sự mạnh mẽ.

Một thông điệp khác từ Bắc Kinh tiềm ẩn hơn, có thể không rõ ràng hơn là: quân sự Trung Quốc đang phát triển khả năng tốt hơn và Hải quân Trung Quốc bây giờ là đội quân tiên phong trong các nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc. Bằng cách mua lại công nghệ quân sự tiên tiến và phát triển khả năng thực hiện các hoạt động phức tạp xa bờ, Trung Quốc đang thay đổi sự cân bằng quân sự trong khu vực với những tác động vượt xa hơn một kịch bản liên quan đến Đài Loan.

Hoa Kỳ và Trung Quốc có vị trí tương tự trước đây. Sự va chạm giữa một máy bay phản lực Trung Quốc và một máy bay EP-3E của Mỹ trong không phận quốc tế ở Biển Đông hồi năm 2001 đã gây ra sự giảm sút đáng kể trong quan hệ Mỹ-Trung. Một cách gây rối, hành động hung hăng của Trung Quốc đối với tàu hải quân Mỹ ở Biển Đông trong những năm gần đây, như đã xảy ra trong năm 2009 với tàu USS Impeccable, cho thấy sự cố hải quân EP-3 là một khả năng thấy rõ trong tương lai.

Trong khi Hoa Kỳ đang điều chỉnh lại vị thế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương để trả lời cho việc hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc, Hoa Kỳ phải công nhận rằng có một trò chơi về động lực chính trị không thể bỏ qua. Biển Đông và các vùng biển phụ cận xa bờ của Indonesia, Malaysia, và Singapore sẽ là các tuyến đường biển chiến lược quan trọng nhất trong thế kỷ XXI. Đã có 80% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc đi qua eo biển Malacca và Nhật Bản, tương tự Hàn Quốc cũng phụ thuộc vào việc sử dụng các vùng biển này.

Hoa Kỳ nên tiếp tục theo đuổi cách tiếp cận hòa bình và không quyết đoán, đã được Bộ trưởng Gates mô tả tại Shangri-La, và đã làm như vậy thông qua đồi thoại bằng Hiệp định Tư vấn Hàng hải Quân sự (MMCA) với Trung Quốc. Tuy nhiên, có hai cách khác để Hoa Kỳ bảo đảm những tuyến đường biển quan trọng vẫn mở ra.

Trước hết, Mỹ nên phê chuẩn Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS), trong đó xác định các khu đặc quyền kinh tế (EEZ) là tuyến đường biển quốc tế, qua đó tàu chiến có thể tự nhiên qua lại. Trong khi từ lâu Hoa Kỳ hoạt động theo mệnh lệnh của họ, nhưng phê chuẩn UNCLOS sẽ giúp cho luật quốc tế có thêm trọng lượng đối với sự phản đối của Mỹ về tuyên bố chủ quyền trên vùng biển quốc tế.

Thứ hai, Mỹ nên tuân theo Luật Tổng Trọng tải, và thường xuyên tiến hành thực tập về tự do đi lại trên Biển Đông, nhằm bảo đảm rằng vùng biển này vẫn tiếp tục được mở ra [cho tất cả các nước]. Tiếp tục xem Biển Đông như vùng biển quốc tế sẽ ngăn chặn những thói quen trong việc chiều theo các yêu sách của Trung Quốc hình thành. Đây không phải là phương pháp tiếp cận hiếu chiến hay gây hấn, mà quả thật là sự tiếp tục các chính sách quốc tế lâu dài của Mỹ đối với các tuyến đường biển quốc tế.

Các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nếu không bị phản đối, sẽ làm cho Bắc Kinh trở thành trọng tài đối với tất cả các chuyến giao thông hàng hải quốc tế qua lại mà Hoa Kỳ sẽ không được phép [đi qua]. Như chúng ta thấy trong các báo cáo hàng năm cho Quốc hội Hoa Kỳ của Bộ Quốc phòng về quân sự Trung Quốc, Trung Quốc đã và đang phát triển các khả năng này trong một thời gian, và không có dấu hiệu nào cho thấy tham vọng của họ đã được thỏa mãn.
Tóm lại: đây mới chỉ là sự khởi đầu.

Người dịch: Ngọc Thu - Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Dịch từ: http://www.cnas.org/node/4396

Ghi chú:

(1) PLAN: Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân, tức Hải quân Trung Quốc.

(2) Assets: ở đây chỉ tàu, tàu ngầm, máy bay, tên lửa và các loại vũ khí khác trên tàu, không chỉ đơn thuần là vũ khí như súng ống, đạn dược.

(3) Auxiliary ships: là tàu phụ trợ, cũng là tàu hải quân nhưng được thiết kế để hoạt động trong các vai trò hỗ trợ các tàu chiến và các hoạt động hải quân khác. Mục đích chính của tàu phụ trợ không phải để chiến đấu, mặc dù nó có khả năng chiến đấu nhưng giới hạn.

(4) Sovremenny: là tàu khu trục, dùng để chống tàu chiến trên mặt nước, là loại tàu do Hải quân Nga thiết kế.

(5) Long-range exercise: tập trận tầm xa, tức là các cuộc tập trận về khả năng chiến đấu xa và lâu mà không cần tiếp nhiên liệu và các tàu tập trận phải được trang bị đầy đủ nhiên liệu, lương thực, khả năng chiến đấu dài hạn…có thể chiến đấu ngoài biển khơi lâu ngày.