27/02/2012

Nhìn về Trung Quốc (kì 2)

Phạm Hy Sơn

II – Trung Quốc ngày nay: Mao Trạch Đông (1883 – 1976)

Người dân Trung Hoa bị phong kiến gồm vua chúa kết hợp với giai tầng quan quyền của đạo Khổng trấn áp, thống trị về thể chất bằng quyền lực – chém giết tù tội, và về tinh thần bằng cách dùng Nho giáo để mê hoặc, ru ngủ trong khoảng hơn 2.000 năm. Bị thống trị như vậy, để sống còn người dân chỉ có cách vâng phục và tìm cách lo lót cho những người có quyền thế nên kẻ giàu càng ngày càng giàu thêm, kẻ nghèo càng ngày càng nghèo đi. Ở nông thôn, ngoài sự tuân phục, phục dịch quan quyền còn bị những kẻ có quyền thế ở địa phương bóc lột, chèn ép. Quan tha ma bắt, ruộng đất dần dần thu gom vào một số người giàu có hay thần thế. Những nông dân nghèo có vài ba sào ruộng bình thường đã không đủ ăn, khi ốm đau, bệnh tật, tang ma đành đem bán hoặc cấm cố cho nhà giàu. Tay không, vào ngày mùa đi làm thuê kiếm miếng ăn nhưng khi mùa màng hết, công việc không có, nhiều người xin đi làm cả ngày chỉ được trả công bằng một bữa ăn trưa!

Đó là thực trạng xã hội Trung Hoa thời tiền Cộng sản vào đầu thế kỷ 20. Sự chênh lệch giàu – nghèo và tệ nạn tham ô, hối lộ... làm thối rữa xã hội Trung Hoa, tạo môi trường rất thích hợp để chủ nghĩa Cộng sản nảy nở, lớn mạnh thay vì phát triển ở những xứ công nghệ Âu, Mỹ như Marx tiên đoán và hy vọng.

Mao Trạch Đông, con một nông dân làm nghề buôn heo, sinh ngày 26-12-1883 tại thôn Thiều Sơn, huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam, nắm lấy cơ hội, đã cùng các đồng chí tuyên truyền chủ nghĩa Marx với những hứa hẹn lật đổ chế độ phong kiến áp bức bóc lột, diệt trừ cường hào ác bá ở nông thôn, tịch thu ruộng đất của địa chủ để chia cho nông dân, mọi người đều tự do, bình đẳng, bình quyền, giải phóng phụ nữ, nam - nữ bình quyền.... Chủ nghĩa Marx (sau này cải biến thành chủ nghĩa Mao tàn khốc hơn nhiều) như nguồn nước cứu tinh đổ vào cái xã hội đang khao khát tự do, khao khát có miếng ruộng cày vì bị bóc lột, đàn áp, miệt thị và nghèo đói triền miên. Nông dân Trung Hoa vào những năm 1920 chiếm đến 98, 99% và hầu hết ở nông thôn đã nhanh chóng ùa theo Cộng sản nên chỉ mấy năm sau khi Đảng Cộng sản được thành lập (1921), Mao phát động chiến tranh du kích, lấy nông thôn bao vây thành thị.

Sau hơn 20 năm lao vào máu lửa, năm 1949 Mao thắng Tưởng Giới Thạch làm chủ hoàn toàn Lục Địa, đồng thời cũng là một đại đế mới hoàn toàn thống trị Trung Hoa. Có thể nói kể từ ngày lập quốc chưa có một ông vua nào có quyền hành tuyệt đối như Mao. Thời nhà Chu thì chia quyền cho các chư hầu, sau khi nhà Tần thâu về một mối thì quyền của ông vua cũng chỉ đến phủ, huyện vì dưới phủ, huyện thì các viên chức xã ấp hầu như được địa phương chọn lựa để tự lo liệu, điều hành công việc địa phương. Khi Mao lên làm chủ thì mọi chức vụ từ lớn đến nhỏ, dù ở thôn xã, cũng làm theo mệnh lệnh của Đảng, do Đảng đề cử và phải tuyệt đối phục vụ Đảng. Từ nhà máy đến cái khung dệt vải, cái đục, cái tràng đều tập trung trong tay Đảng; ruộng đất, nương rẫy, ao hồ do Đảng quản lý; buôn gánh bán bưng bị dẹp, thương mại là độc quyền của các cửa hàng quốc doanh... Người dân với hai bàn tay trắng hoàn toàn lệ thuộc vào Đảng và Đảng sai đi cày, đi cuốc rồi ban đấu ngô, đấu gạo, manh quần, manh áo mới sống còn được.

Một vị hoàng đế của các hoàng đế, đấng cứu tinh của giai cấp bần cố nông và thợ thuyền. Cán bộ Đảng là những người ưu tú, sớm giác ngộ chủ nghĩa Cộng sản, thay thế các bậc quân tử của Nho giáo theo lệnh Đảng cai trị dân! Cả một guồng máy tuyên truyền vĩ đại tôn Mao lên hàng thần thánh, đạo đức cao cả, thánh thiện, trong sạch, chí công vô tư, quên mình, xả thân phục vụ giai cấp vô sản và đất nước. Trẻ con từ 4, 5 tuổi đã được tuyên truyền, nhồi sọ về công ơn cao cả, đời sống đạo đức và sự hy sinh không bờ bến của Mao, đồng thời được dạy căm thù địa chủ, cường hào, đế quốc, tư bản....

Chủ nghĩa Mao – cải biến từ chủ nghĩa Marx – là chủ nghĩa phải đem dạy từ mẫu giáo cho đến đại học! Mao tuyển là sách gối đầu giường bắt buộc của toàn Trung Hoa. Mỗi nhà phải treo hình Mao; mọi người, mỗi buổi sáng khi đi làm ra trước ảnh Mao cúi đầu lạy, chiều về tới trước ảnh Mao cúi đầu lạy và đọc lời ăn năn sám hối những lỗi lầm trong ngày!

Mao ngự trị trong khu hoàng thành cũ ở Bắc Kinh, ba vòng đai an ninh ngày đêm canh gác và điều khiển quốc gia từ trong phòng ngủ. Trong cuốn Tư nhân bác sĩ hồi lục ký nói gọn là hồi ký, bác sĩ riêng của Mao là Lý Chí Thỏa kể lại rằng những lãnh tụ Trung Hoa như Mao Trạch Đông và Lâm Bưu là những người mắc bệnh thần kinh. Mao không bao giờ tắm, chỉ lau người và luôn luôn uống thuốc ngủ với liều lượng cao nhất, còn Lâm Bưu thì ghiền thuốc phiện nặng đến nỗi phải gửi sang Nga Xô cai nghiện. Lâm sợ gió, sợ ánh sáng và sợ nước. Cũng theo BS Lý Chí Thỏa, người luôn ở bên cạnh Mao cho đến lúc Mao chết, thì Mao là một kẻ vô luân và hoang dâm vô độ! Cùng một lúc ăn ở với hai mẹ con người phục vụ và làm tình với cả những thanh niên đẹp trai hầu cận! Mao đi đâu cũng có một đoàn các cháu gái trẻ, đẹp theo sau. Trên xe lửa có đoàn ca vũ của xe lửa theo hầu. Đến các tỉnh, các thành phố thì bí thư đảng ủy địa phương lo công việc đó. Ở Bắc Kinh, phòng ngủ của Mao là Liên Xuân Phòng và phòng 118 được bố trí sát phòng khiêu vũ để sau khi ăn uống no say là dạ vũ với các nữ vũ công, ca sĩ 18, 20 xinh đẹp được giữ lại tại phòng ngủ của Mao suốt đêm (Giang Thanh, người vợ thứ 3 sống riêng biệt ở nơi khác).

Trong khi bên ngoài nhân dân chết đói hàng chục triệu người do sai lầm trong Hợp tác hóa, Đại nhảy vọt hay bị hành hạ, chém giết bởi Vệ Binh Đỏ thì tại Đại sảnh đường Nhân dân, Mao và các lãnh tụ cao cấp của Đảng vui chơi, tiệc tùng, khiêu vũ thâu đêm!

Cựu Đại tá Tân Tử Lăng, với cuốn Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, mô tả Mao như một thứ ma đầu, thủ đoạn, nham hiểm, độc đoán, tàn bạo. Khi cần lôi cuốn người dân nghèo, Đảng Cộng sản và Mao tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân nhưng khi đã hoàn toàn nắm chặt quyền trong tay, Mao và Đảng Cộng sản bắt mọi người đem ruộng đất vào hợp tác xã, người dân lại hai bàn tay trắng đi làm công cho ông chủ mới duy nhất dưới sự phân công, giám sát, theo dõi từng cử chỉ, lời nói của các đảng viên Cộng sản. Sự áp bức, bóc lột và nạn tham nhũng lại diễn ra còn gay gắt hơn dưới chế độ phong kiến mà người dân phải cam chịu vì bây giờ chỉ có mỗi một ông chủ, không như ngày xưa không thích chủ này thì làm mướn cho chủ khác.

Nông dân, thợ thuyền bất mãn phản ứng tiêu cực, không tận tâm làm việc nên kinh tế bị suy bại. Cựu Đại tá Tân tử Lăng viết: “Chỉ thấy cảnh nghèo nàn, bệnh phù thũng và đầy rẫy người chết đói”! Tại hội nghị Lư Sơn năm 1959, Nguyên soái Bành Đức Hoài, Bộ trưởng Quốc phòng, thẳng thắn phê bình và cãi nhau tay đôi với Mao về thực trạng của kế hoạch hợp tác hóa nên bị cách chức. Tướng Hoàng Khắc Thành, Tổng tham mưu trưởng cùng chung số phận.

Trước hoàn cảnh thê thảm đó, thay vì phải đình chỉ để sửa chữa hay hủy bỏ kế hoạch, Mao với quyền hành tuyệt đối của lãnh tụ Đảng ra lệnh thực hiện Đại nhảy vọt và thành lập Công xã Nhân dân trên toàn quốc vào tháng 9-1959 với tham vọng Trung Quốc vượt nước Anh về sản lượng thép trong 15 năm, đốt giai đoạn vượt Nga Xô để từ một xã hội nông nghiệp thô sơ tiến thẳng lên xã hội cộng sản, không cần qua giai đoạn tư bản. Mao ra lệnh cho nông dân trồng lúa, bắp, kê... dày ken nhau để nâng cao năng suất, nhà nhà lập lò luyện thép sau hè, chỉ tính riêng tỉnh Hồ Nam có tới 50.000 lò luyện thép! Thép từ những lò luyện do các nông dân phụ trách chảy ra là một đống sắt nhão tạp vô dụng; lúa, bắp trồng dày quá không đủ không khí nên nông dân phải thay phiên nhau ra đồng ngày đêm quạt thông gió mới không bị chết, nhưng ra hạt là những hạt lép!

Mùa xuân năm 1960 nạn đói lan tràn, có làng 80 ngày không có miếng ăn, huyện Tín Dương, Hà Nam hơn 1 triệu dân chết đói! Từ 1959 đến 1962 số dân chết đói toàn quốc là 5,11% của khoảng 600 triệu dân. Tỉnh An Huy nặng nhất: 18,37%, Tứ Xuyên: 13,07%, Hồ Nam quê hương Mao: 6,81%.... Trong Đại nhảy vọt này có 37,5 triệu người chết đói! Ở tỉnh Tứ Xuyên ban ngày chôn người chết, tối đào lên xẻo thịt nấu ăn, ở huyện Sùng Khánh người ta còn giết cả trẻ con lấy thịt ăn! Đội sản xuất số 1 huyện Sùng Khánh có 83% hộ ăn thịt người!

Khi nhận được báo cáo, Mao đổ lỗi cho bọn địa chủ, phú nông lọt lưới, bọn hữu khuynh trong Đảng phá hoại và nham hiểm lên kế hoạch loại trừ mọi nguy cơ chống đối. Mao bí mật giao cho Giang Thanh thi hành âm mưu. Những kẻ có nguy cơ tiêu diệt Mao là những đồng chí cũ đang được Mao cho chia sẻ quyền hành trong Bộ Chính trị, trong Chính phủ, các tướng lãnh, các ủy viên Trung ương Đảng đang nắm quyền hành tại các tỉnh và những người dân trưởng thành trước khi Mao cầm quyền có thể so sánh chế độ trước và chế độ của Mao, nhất là những thành phần có học, con cái địa chủ và trung nông thoát khỏi đợt tàn sát hồi cải cách ruộng đất có thể phụ họa chống đối.

Những thành phần đáng tin cậy của Mao là thanh, thiếu niên từ 13, 14 tuổi trở lên hoàn toàn được giáo dục, nhồi nhét lòng hận thù địa chủ, phản động, hữu khuynh... cũng như nhồi nhét rằng Mao là lãnh tụ vĩ đại, đấng cứu tinh của giai cấp, của nhân dân, được sử dụng làm nòng cốt trong chiến dịch này.

Ngày 02-8-1966 Mao đích thân ra lệnh cho hơn 1 triệu Vệ binh đỏ tụ tâp ở Bắc Kinh tấn cống các trụ sở, trường học, bệnh viện, chùa chiền. Tượng Phật, lăng mộ của Khổng Tử, Khổng Minh, Hạng Võ, Viêm Đế, Thành Cát Tư Hãn... bị đập phá. Từ 18/8 đến 26/11/1966 có 13 triệu Vệ binh đỏ từ các nơi kéo về Bắc Kinh biểu dương lực lượng ủng hộ Mao. Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước, Đặng Tiểu Bình, Tổng Bí thư Đảng và hai bà vợ của hai người này bị Vệ binh đỏ lôi ra đấu tố, đánh đập trước công chúng. Riêng Lưu Thiếu Kỳ bị đánh đập dã man chỉ còn 7 cái răng và bị nhốt trong Phủ Chủ tịch, bị đày đọa cho đến chết. Các Nguyên soái Bành Đức Hoài, Chu Đức, Hạ Long... chịu cùng tình cảnh tương tự. Riêng trong hạ tuần tháng 8-1966 tại Bắc Kinh có hàng ngàn người bị lôi ra đập chết tươi. Vệ binh đỏ tung hoành khắp nước, hạ bệ, đánh đập, giết chóc bí thư, chủ tịch ở các tỉnh địa phương mà hầu hết họ là những người đã từng vào sinh ra tử với Mao trong cuộc nội chiến chống Tưởng Giới Thạch để chiếm quyền. Những viên chức bị tố cáo là hữu khuynh, những phú nông, địa chủ và con cái địa chủ thoát chết trong cải cách ruộng đất bị hành quyết hay đập chết cả nhà. Tất cả những kẻ đó đều là kẻ thù của Mao Chủ tịch!

Máu lửa và cuồng loạn tràn ngập Trung Quốc. Hàng chục triệu người bị tàn sát hay bị hành hạ, hơn 10 triệu nhà bị lục soát! Chỉ riêng huyện Đạo tỉnh Hồ Nam trong 66 ngày (13/8 đến 17/10/1966) có 4.519 nạn nhân của Vệ binh đỏ gồm 4.193 người bị giết và 326 người bị buộc phải tự sát! Dân chúng hoảng loạn, nhiều nơi ăn thịt những người bị Vệ binh đỏ giết chết để chứng tỏ lòng trung thành với Mao. Ở tỉnh Vân Nam mỗi khi “ kẻ thù của Mao Chủ tịch” bị đập chết, người ta đem dao moi gan, xẻo thịt về nấu ăn.

Dưới quyền ngự trị của Mao, dân tộc Trung Hoa hai lần phải ăn thịt người!

Thần, Phật, tổ tiên đã bị đạp đổ hết, bây giờ Mao ngự trị Trung Quốc như một vị thượng đế nhưng thân phận người dân Trung Quốc thì không có gì thay đổi, càng ngày càng tiến đến cảnh tận cùng của nghèo khổ, đói rách cho đến khi Mao xuôi tay, nhắm mắt!

Sau này hồi tưởng lại, cựu Vệ binh đỏ Trần Hướng Dương viết: “Vì từ nhỏ đã được giáo dục hận thù: thù địa chủ, tư bản, Quốc Dân Đảng. Sự cuồng loạn ấy chẳng những hiện nay không mấy ai tin mà ngay bản thân chúng tôi nhớ lại cũng không dám tin nữa. Những việc làm xấu xa của Hồng Vệ Binh thật đáng nguyền rủa. Nhưng chúng tôi cũng có đủ tư cách để lớn tiếng hỏi lại: Ai đã giáo dục chúng tôi thành những thằng điên?” (Tân Tử Lăng, Mao Trạch Đông ngàn năm công tội).

Với những lời ghi trên, thiết nghĩ phải đưa những kẻ đầu độc trí óc dân chúng ra xét xử trước Tòa án Quốc tế về tội ác chống nhân loại.

P. H. S.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Tài liệu:

-BS Lý Chí Thỏa, Mao Trạch Đông cuộc đời chính trị và tình dục.

Trần Trung Đạo dịch (www.vietmessenger.com)

-Tân Tử Lăng, Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, Thông Tấn

Xã Việt Nam dịch và in 2009 (wwww.viet-studies.info).