14/02/2012

Sở hữu vô chủ

Đào Tuấn

Nghị trường. Ngày 31-5-2003. QH thảo luận về Luật Đất đai (sửa đổi).

Đại biểu QH Nguyễn Ngọc Đào đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Với khái niệm đất đai là sở hữu toàn dân và Nhà nước là chủ sở hữu thì Nhà nước là ai? Chủ sở hữu là ai?”. Theo ông Đào, chế độ sở hữu này đã dẫn đến tình trạng “Có rất nhiều Nhà nước trong một Nhà nước” khi xã, huyện, tỉnh, cấp nào cũng là nhà nước, cũng được giao đất, cho thuê đất dẫn đến tình trạng dân không biết Nhà nước nào giao đất cho mình”. Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc thì cho rằng “Quyền sở hữu toàn dân là một thứ hư quyền, là chẳng phải của ai cả. Trong khi đó, về lý thuyết, người dân chỉ có quyền sử dụng đất. Đó là một thứ quyền rất mỏng manh”. Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc đề cập thẳng thắn tới việc: Không thể lẩn tránh vấn đề cơ bản trong luật đất đai là Quyền sở hữu.

Điều đáng lưu ý là ông Nguyễn Đình Lộc từng đảm nhiệm vị trí Trưởng Ban biên tập Hiến pháp 1992.

Nhưng tất cả những phát biểu đó là vô nghĩa khi về nguyên tắc, chế độ sở hữu đất đai trong luật không thể trái với Hiến pháp, đạo luật được coi là luật gốc, là luật mẹ của các luật.

Đa sở hữu đối với ruộng đất thực ra đã được đặt ra ngay trong bản dự thảo  Hiến pháp 1980. Ông Vũ Mão, một cựu quan chức của Quốc hội khi trả lời câu hỏi “Vì sao” có sự thay đổi chế độ sở hữu đất đai kể từ bản Hiến pháp 1980 đã thừa nhận: “Khi đó xu hướng, nhận thức chúng ta về xây dựng CNXH có “hơi quá” so với thực tiễn cuộc sống”. Tới đầu những năm 90, khi Hiến pháp 1980 được sửa đổi, quan điểm này tiếp tục được đưa ra. Thậm chí ngay cả khi bản Hiến pháp 1992 không thừa nhận quyền tư hữu, thì Luật đất đai 1993, đã đẻ ra một thuật ngữ lạ “Quyền sử dụng đất”. Trao đổi với nhà báo Huy Đức, Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc lý giải: "Không ai có đủ dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm, đụng đến chủ nghĩa xã hội.

Tuy nhiên, Luật Đất đai 1993 đã rất tiến bộ so với “Luật mẹ” khi “lách hiến pháp” bằng cách giao 5 quyền đối với đất đai, trong đó có quyền chuyển nhượng Quyền sử dụng đất.

Cả ông Vũ Mão và ông Nguyễn Đình Lộc đều không giải thích rõ nhận thức “hơi quá” thực chất là gì. Tuy nhiên, nhận thức “hơi quá” đó đã dẫn đến một hình thức “sở hữu toàn dân” trong Luật mẹ, “sở hữu nhà nước” trong Luật đất đai, và “Sở hữu vô chủ” trong thực tế; đã biến Luật đất đai, một bộ luật quan trọng liên quan đến gần 90 triệu dân, dù đã 4 lần sửa đổi, bổ sung (riêng Luật đất đai 2003 có trên 400 văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện) [thành bộ luật] chứa đầy bất cập, xa lạ với thực tế. Một nguyên nhân không nhỏ của những bất cập là vì những nhập nhằng trong chế độ sở hữu. Những bất cập mà nó đẻ ra đã được đại biểu QH Nguyễn Đình Lộc nói tại Quốc hội năm 2003: Nhà nước không quản lý được giá đất khiến giá đất lên cơn sốt nhiều lần. Còn đại biểu Nguyễn Thị Nga thì cho rằng: Nhà nước không bán đất nên đất không có giá. Nhà nước giao 7 quyền cho tổ chức, cá nhân sử dụng nhưng cần phải khẳng định rằng những quyền này không phải đối với đất mà là đối với quyền sử dụng đất.

Năm 2010, khi tổng kết thi hành luật đất đai, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên phát biểu, dù rào đón rằng đó chỉ là quan điểm cá nhân: “Tốt nhất là cho sở hữu tư nhân đất ở vì thực chất đã sở hữu tư nhân rồi mà ta cứ nói là sở hữu toàn dân, thành ra bao nhiêu chính sách ra không rõ!”.

Nhưng không thể sửa luật nếu như chế độ sở hữu đất đai trong “Luật mẹ” chưa thay đổi.

Ngày 26-3-1970, sau khi được thông qua tại lưỡng viện, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc lệnh ban hành luật “Người cày có ruộng”. Theo tinh thần của Luật: Ruộng đất không trực canh đương nhiên bị truất hữu (nhưng được bồi thường với gia trị quy định là 2,5 lần giá năng suất thóc từ mảnh ruộng đó) và được cấp phát miễn phí cho tá điền. Đến năm 1974, theo số liệu của Tổng nha Điền Địa, toàn miền Nam đã cấp phát gần 1,3 triệu ha cho khoảng 75 vạn nông hộ, với khoảng 5 triệu nông dân. Nông dân còn đồng thời còn nhận kèm giấy chứng nhận sở hữu ruộng đất. Thành công nhất của dự Luật là chấm dứt chế độ tá canh ở miền Nam khi tá điền trở thành điền chủ. Bản thân các đại địa chủ, cũng được bồi thường, chứ không bị thu trắng, với số tiền lên tới 171 tỷ đồng.  Luật “Người cày có ruộng” bấy giờ được dư luận hết lời ca ngợi. Thậm chí còn được The New York Times đánh giá là cuộc cách mạng ruộng đất mang nhiều tham vọng và tiến bộ nhất thế kỷ 20.

Tuy nhiên, tờ Chính Luận Sài Gòn số ra ngày 23-2-1971 dẫn lời dân biểu Trần Văn Quá, Chủ tịch Ủy ban Canh nông của Thượng viện tiết lộ: "Hầu hết số ruộng này đã được Việt Cộng cấp không cho nông dân từ mấy năm trước, nay luật "Người Cày Có Ruộng" xem như hợp thức hoá tình trạng đó".

“Người cày có ruộng” thực chất chính là khẩu hiệu của Đảng khi tiến hành cuộc cách mạng vô sản. Sau cải cách ruộng đất 1954-1956, khẩu hiệu này đã được hiện thực hóa khi 81 vạn ha ruộng đất, 10 vạn con trâu bò và 1,8 triệu nông cụ đã được chia cho gần 2 triệu nông dân.

Nhưng ruộng đất lại trở thành của “toàn dân” chỉ rất nhanh sau đó.

Sau “vụ án Cống Rộc”, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã vạch ra những bất cập xung quanh việc giao đất có thời hạn, đại ý: 20 năm, 50 năm, hay 70 năm thì cuối cùng cũng vẫn dẫn tới việc hết thời hạn. Và vì thế, nếu không có sự thay đổi cơ bản về chế độ sở hữu, những “vụ án Cống Rộc” chắc chắn vẫn sẽ xảy ra.

Cương lĩnh của Đảng năm 2011 đã không còn cụm từ “chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu” – như trongCương lĩnh 1991 – đây có thể là một tín hiệu “đèn xanh” để chế độ sở hữu về ruộng đất có thể thay đổi trong đợt sửa đổi Hiến pháp tới đây. Tuy nhiên, có thể chính vụ án Cống Rộc mới là yếu tố thực tiễn thúc đẩy sự thay đổi này trong Hiến pháp, đạo luật được coi là Luật mẹ. Để ít nhất các luật đất đai sẽ không phải “lách hiến pháp”, để nông dân thực sự có ruộng đất và không bị đẩy đến bước đường cùng nữa.

Đ. T.

Nguồn: tuanddk