23/06/2015

Bên ngoài trời còn có trời

Tương Lai

Đây là mượn ý câu của Lý Giác, sứ Tàu đời nhà Tống, “thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu” tạm dịch là ngoài trời còn có trời, đừng có coi thường. Viên sứ Tàu sống ở thế kỷ thứ X này xem ra hiểu biết hơn, có viễn kiến hơn ngài ngoại trưởng họ Vương thế kỷ XXI (không hiểu có phải hậu duệ của Tổng binh Vương Thông thế kỷ XV đời nhà Minh bị nghĩa quân Lê Lợi đánh cho tơi tả để Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáo: “ra đến biển chưa thôi trống ngực, về đến Tàu còn toát mồ hôi”) dám tuyên bố liều mạng và xấc xược rằng: việc xây đắp các đảo nhân tạo, trong đó có Gạc Ma vừa cướp của Việt Nam, là xây trên sân nhà chúng nó.

Câu thơ của Lý Giác làm vào năm 987 khi đi sứ sang An Nam (có sách ghi là 971). Bài thơ nói lên cảm nhận của viên sứ Tàu về nước ta sau chiến thắng của Ngô Quyền dìm chết quân xâm lược nhà Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 “một vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu” như lời bàn của Ngô Thì Sĩ. Tiếp đó là chiến thắng oanh liệt của Lê Hoàn đánh tan tác quân xâm lược năm 981, giáng một đòn chí tử vào tham vọng bành trướng của vua tôi nhà Tống. Đó là cội nguồn của lời cảnh báo của Lý Giác, “thiên ngoại hữu thiên”, hai chữ thiên cùng một cách đọc và cả cách viết nhưng ý tứ thì khá hàm súc.
Chữ thiên đứng trước chắc là nói về “thiên tử” của “thiên triều” mà “trung nguyên” đứng giữa “thiên hạ” là tâm của trời đất, còn lại đều là bọn Man, Di, Nhung, Địch. Những nước Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch đều có thể bình định nhưng Nam Man là đáng ngại nhất, phải “ưng viễn chiếu”, nghĩa là “soi cho thấu”, ngụ ý “đừng coi thường”. Vậy là chữ thiên thứ hai là để nói về một “thiên hạ” khác ngoài “thiên triều” của “trung nguyên”, mà ở đây là nói đến An Nam? Sử ta còn ghi cuộc đối thơ giữa Lý Giác với nhà sư Đỗ Thuận, sứ giả của vua ta cải trang thành một người chèo thuyền, đã gây ấn tượng mạnh đối với một nhà thơ có tầm nhìn đáng nể khá hiếm hoi trong cương vị của một viên sứ Tàu!
Nếu không có những chiến công vang dội trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền và tiếp đó của Lê Hoàn thì e cũng không thể có cái nhìn đáng nể đó của một “quốc tử giám bác sĩ”, tước hiệu của Lý Giác, khi được vua nhà Tống chọn cử làm sứ thần sang nước ta. Có lẽ trong lịch sử mối bang giao giữa nước ta với “thiên triều” thì quãng thời gian dễ thở nhất là thời nhà Lý, sau chiến thắng lẫy lừng của Lý Thường Kiệt. Cũng chính trong bối cảnh đó mà người ta nói đến Tuyên Ngôn Độc lập lần thứ nhất với “Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”. Bằng chữ đế đầy thách thức đó, từ thế kỷ XI ông cha ta đã khẳng định sự tồn tại của một quốc gia độc lập và có chủ quyền, vừa bác bỏ sự ngạo mạn của “thiên triều” kỳ thị Hoa Di, phủ nhận vai trò độc tôn tự xưng của hoàng đế Trung Hoa.
Có ngẫm sâu vào điều này mới thấy khí phách của ông cha mình không bao giờ chịu khuất phục bọn bành trướng phương Bắc, đồng thời cũng thấy tư tưởng bành trướng đó ăn sâu vào cốt tuỷ của bọn xâm lược. Cái cột đồng Mã Viện dựng lên từ những năm 40 (đầu CN) với lời hăm doạ “đồng trụ chiết Giao chỉ diệt” vẫn là tâm địa nham hiểm của bá quyền phương Bắc xuyên suốt lịch sử. Đến thế kỷ thứ XVII mà Sùng Trinh, vua nhà Minh, vẫn còn lấy biểu tượng ác hiểm đó để ra câu đối Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến nay rêu vẫn mọc). Sứ thần Giang Văn Minh đã đánh gục sự ngạo mạn của Sùng Trinh với vế đối Đằng Giang tự cổ huyết do hồng (Sông Đằng tự bấy máu còn loang) dù biết rằng mình sẽ chết vì vế đối này.
Không biết đoàn ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cấp tập được mời sang Tàu ngay sau khi có tin ông sẽ đi Mỹ liệu có học được chút nào khí phách của ông cha để được xem là “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ) như Giang Văn Minh được phong tặng? Những chuyện thâm cung bí sử của những thương thảo thoả thuận không công bố mà giới báo chí nước ngoài gọi là mật đàm hay những cái nắm tay dưới gầm bàn ra sao thì chịu, vì trên báo chí chính thống thì không có dòng nào nói đến chuyện này cả. Nhưng từ Mã Viện, qua Sùng Trinh và đến ông Tập Cận Bình, người đồng chí “cùng chung ý thức hệ” (với các đồng chí kiên định lập trường xã hội chủ nghĩa của ta) thì cái điều ăn sâu vào cốt tuỷ của “thiên triều” muốn uy hiếp cả “thiên hạ” vẫn chẳng có gì thay đổi cả. Thì chẳng phải cái lưỡi bò ham hố của chúng đang thè ra muốn nuốt trọn Biển Đông đó sao?
Phải chăng cũng vì những hành động khi thì lắt léo, bịp bợm, khi thì ngang ngược, trắng trợn của một siêu cường “hung đồ” (tên gọi mới của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán thế kỷ XXI trên tờ Diplomat ngày 10-06-2015) đã thúc đẩy sự xoay trục sang châu Á của Mỹ? Chính sự xoay trục đó đang tạo điều kiện cho nhiều quốc gia châu Á mạnh mẽ hơn với bầu trời tổ quốc mình.
Vậy là lời cảnh báo của Lý Giác từ thế kỷ thứ X đang được mở rộng thêm biên độ và hàm lượng của nó. Chữ thiên của thế kỷ XXI xem ra có sức biểu đạt mạnh mẽ hơn nhiều, và mấy chữ “ưng viễn chiếu” cũng tăng thêm sức cảnh báo quyết liệt hơn. Bên ngoài “trời” của “thiên triều” họ Tập còn có “trời” khác rộng lớn và văn minh hơn, trong đó có bầu trời của Việt Nam đang nối liền với thế giới.
Liệu những người rồi sẽ gánh vác trọng trách đem chuông đi đánh xứ người có nhận thức được đầy đủ bài học lịch sử mà chọn cách ứng xử để không làm nhục đến truyền thống ông cha? Ngoài trời còn có trời, lời nhắn gửi ấy gọi dậy những suy ngẫm mông lung nhưng lại rất thiết thực vào thời điểm tế nhị này.
Viết nhân Ngày báo chí 21.6.2015
T.L.
Tác giả gửi BVN