24/03/2012

Chống tham nhũng – Đâu là “đột phá khẩu”?

Gấp rút hoàn thiện nhà nước pháp quyền!

Tống Văn Công

Vừa qua, báo Lao Động đã đăng liên tục 4 bài viết của các đồng chí giàu tâm huyết và trí tuệ tìm biên pháp đẩy lùi tham nhũng, góp phần chỉnh đốn xây dựng Đảng. Đây là một bài toán khó. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, trước khi kết thúc nhiệm kỳ đã nhận khuyết điểm trên Sài gòn Tiếp thị số Xuân là ông đã không giải được bài toán tham nhũng như đã hứa. Vậy mỗi người chúng ta cần góp sức mở cho được “đột phá khẩu” này!

”MÔT BẦY SÂU” VÀ “CĂN BÊNH UNG THƯ”

Căn bệnh tham nhũng đã được phát hiện và đưa ra thuốc chữa từ Đại hội Đảng lần thứ 6, đến nay đã qua 26 năm, có rất nhiều cuộc hội chẩn, điều trị từ các nghị quyết Đại hôi Đảng và các Hội nghị Trung ương, nhưng chẳng những bệnh không thuyên giảm mà ngày càng tỏ ra lờn thuộc và trầm trong hơn. Chủ tịch Trương Tấn Sang đưa ra hình ảnh tham nhũng như “một bầy sâu” đục khoét đất nước và tàn phá Đảng. Mới đây, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cho rằng “thực trạng đã nặng lắm rồi như căn bênh ung thư”. So sánh với chứng bệnh đó có lẽ, ông muốn nói rằng dù nhẹ cũng phải qua giải phẩu! Báo cáo tại hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 cho thấy, số vụ án tham nhũng được điều tra, truy tố, xét xử trong 5 năm qua có xu hướng giảm dần, trong khi tham nhũng diễn ra nghiêm trọng hơn. Số vụ tham nhũng được phát hiện và xử lý qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán còn ít.

Trong 5 năm qua, nhiều địa phương không phát hiện được một vụ tham nhũng nào qua các công tác này. Hiện tượng đó cho thấy bọn tham nhũng không còn ở thế yếu, né tránh, thụ động mà nay chúng đã có đủ vây cánh, hình thành những nhóm lợi ích, có khả năng móc ngoặc, chi phối các cơ quan chức năng nói trên. Chuyện cựu chiến binh Đinh Đức Phiếu vì tố cáo bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình tham nhũng mà bị bắt giam và bị kết án tù, không phải là cá biệt. Vụ Tiên Lãng, ông Đoàn Văn Vươn đi khiếu kiện từ 2008 và được tờ báo của Bộ Công Thương bênh vực, nhưng 4 năm sau vẫn bị cưỡng chế, cũng không phải là cá biệt. Năm 2009, chủ tịch Nguyễn Minh Triết ký phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tham nhũng (đại diện Chính phủ Quách Lê Thanh ký đồng ý tham gia từ 2003). Lúc ấy trả lời truyền thông nước ngoài, tiến sĩ Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu luật pháp của Quốc hội tỏ ý có mấy lo ngại: -Chúng ta đã ký nhiều Công ước quốc tế, nhưng rồi “đánh trống bỏ dùi”; - Nước ta việc đóng dấu mật trên các văn bản tràn lan, xã hội bị phủ bức màn bí mật; - Chúng ta có thể bị quốc tế ra nghi ngờ có sự bao che, giấu nhẹm… khi đưa ra những văn bản ”trống” về tham nhũng. Quả là ông đã tiên liệu rất đúng!

Vậy chúng ta phải tìm nguyên nhân sâu xa, chứ không thể bằng lòng với những biểu hiện trực tiếp, cụ thể.

VÌ SAO MÔT ĐẢNG CÁCH MẠNG BỊ SUY THOÁI?

So sánh phương thức lãnh đạo hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, sẽ thấy điểm chủ yếu vẫn không khác phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với Nhà nước xưa kia. Phương thức này trùm quyền lực của Đảng lên quyền lực Nhà nước làm cả hai thoái hóa dẫn tới sụp đổ. Đại hội 11 cho rằng phương thức này gây ra tình trạng Đảng bao biện, làm thay các cơ quan Nhà nước và yêu cầu phải khắc phục (Văn kiện Đại hội 11, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 61).

Nghị quyết Đại hội 11 viết: “Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên” (Văn kiện, trang 88). Tuy nhiên nội dung nói trên chưa thành hiện thực, do chưa được cụ thể hóa bằng một phương án tổ chức để có thể thực hiện. Đến nay, Nhà nước vẫn là công cụ thực hiện các quyết định của Đảng. Đảng trở thành một tổ chức siêu quyền lực, không phải Đảng lãnh đạo như nội dung trên đã nêu, cũng không phải  Đảng cầm quyền như Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi trong Di chúc. Các nhà nghiên cứu chính trị gọi đó là chế độ Đảng trị, hoặc toàn trị.

Nhìn một cách hình thức thì tưởng như vậỵ là Đảng đã đạt tới đỉnh cao quyền lực, kèm theo đó là sức mạnh chưa từng có trong lịch sử. Sự thật không phải như vậy. Bởi vì quyền lực là điều kiện để tham nhũng mà “quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng cũng tuyệt đối.” Tham nhũng khiến nội bộ Đảng mất đoàn kết và nhân dân giảm niềm tin vào Đảng. Do đó hiện nay Đảng có hơn 3 triệu đảng viên, nhưng không thể nói là vững mạnh bằng thời Cách mạng Tháng Tám chỉ có 5000 đảng viên.

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN, KHÔNG PHẢI THUỐC ĐẮNG!

Ông Trần Du Lịch (Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội TPHCM) cho rằng: “Để phòng chống tham nhũng hiệu quả thì phải làm từ gốc, nếu không thì dù mô hình gì cũng vô ích. Thứ nhất là thể chế”. Đúng vậy! Trong khi quyền lực không được giám sát hạn chế thì Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng dù tổ chức theo mô hình nào cũng khó giữ được tính độc lập, không bị quyền lực chi phối. Ông Lê Phước Thọ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị nhận xét: “Mô hình hiện nay gần giống như vừa đá bóng vừa thổi còi”. Có lẽ, ông nghĩ nội bộ Đảng vẫn tốt đẹp y như thời ông còn làm việc, cho nên đề nghị mô hình Ban Chỉ đạo trực thuộc các cấp ủy Đảng. Nhưng thử hình dung, nếu Ban Phòng chống tham nhũng trực thuộc cấp ủy Đảng như ở Ninh Bình, Tiên Lãng - Hải Phòng vừa qua, thì không phải “gần giống ” mà chắc chắn “thực sự là vừa đá bóng vừa thổi còi”! Ông Phạm Quốc Anh Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam cho rằng Trung Quốc nhập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng vào Ủy ban Kiểm tra đã hoạt động có hiệu quả. Thực ra, Trung Quốc tuy có khá hơn ta, nhưng vẫn nằm trong số quốc gia có nạn tham nhũng cao. Phát biểu kết luận Hội nghị vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: “Ban Chỉ đạo dù có độc lập đến đâu cũng không thể làm thay việc chống tham nhũng của các cơ quan chuyên trách khác như công an, tòa án, kiểm sát. Vì đây là chức năng hiến định”. Ý kiến ấy rất đúng , nhưng vì sao các cơ quan chuyên trách theo hiến định ấy lâu nay không thể làm tốt chức trách? Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc cho rằng: “Luật phòng chống tham nhũng có đi vào cuộc sống hay không còn phụ thuộc vào thái độ của chúng ta đối với Luật đó”. Người từng đứng đầu ngành tư pháp hiểu sâu sắc rằng qua hơn 20 năm xây dựng pháp quyền, chúng ta vẫn chưa thoát khỏi nền “nhân trị”, cũng gọi là “đức trị”. Trong khi Nhân và Đức đã suy đồi lại nắm trong tay quyền lực vô hạn thì luật pháp sao khỏi bị chà đạp. Phó Giáo sư Đào Công Tiến lo ngại, nếu Đảng “vẫn tiếp tục đứng bên ngoài, thậm chí đứng trên những nguyên tắc cơ bản về dân chủ và pháp quyền thì Đảng tiếp tục bị tha hóa – tha hóa từ sự tập trung quyền lực thái quá mà thiếu chế tài của dân quyền và pháp quyền và hệ lụy khôn lường từ sự tha hóa đó sẽ là bế tắc”. Ông Phạm Quốc Anh nêu rõ 3 nguyên nhân chủ yếu đẻ ra tham nhũng cần ngăn chặn là: Đất đai; mua bán tài sản công; mua quan bán chức. Tuy nhiên đó cũng chỉ là những nguyên nhân trực tiếp, chưa phải nguyên nhân sâu xa mà các ông Trần Du Lịch, Đào Công Tiến đề cập.

Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tham nhũng ở chương “Các biện pháp phòng ngừa”, điều 5 về “Chính sách và hành động phòng, chống tham nhũng” đã nhấn mạnh (in đậm): “Những chính sách phải thúc đẩy sự tham gia của xã hội và thể hiện nguyên tắc nhà nước pháp quyền…” Công ước có hơn 100 lần lặp lại các từ luật pháp, pháp lý, pháp chế. Như vậy, có thể thấy,chống tham nhũng phải bằng luật pháp, phải có Nhà nước pháp quyền. Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết cho rằng chống tham nhũng đột phá khẩu “là quyết tâm chính trị của cấp cao nhất”. Vâng xin nói thêm: Quyết tâm chính trị đó phải thể hiện bằng việc gấp rút thực hiện cho được nhà nước pháp quyền!

Vì sao các nghị quyết Đảng nhiều lần nhấn mạnh phải xây dựng Nhà nước pháp quyền mà việc thực hiện lại bị trì trệ? Bởi vì chưa thực sự trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân” (Toàn tập, Sự thật, 1985, trang 299). Tư tưởng ấy đã được thể hiện rõ trong Hiến pháp 1946, quy định cho việc tổ chức một Nhà nước pháp quyền. Nhân dân có quyền bầu cử, bãi miễn và phúc quyết hiến pháp. Từ Chủ tịch nước, thành viên nội các, Đại biểu Quốc hội đều được chế ước nếu vi phạm pháp luật. Trong khi xét xử các thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp.

Như vậy, nhà nước pháp quyền không phải là “thuốc đắng”, cũng không phải “đá ghè chân” mà chính là điều kiện tiên quyết, để Đảng đặt mình dưới pháp luật, dưới nhân dân, để thực hiện được trọng trách “là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” (Toàn tập, Sự thật, 1989, T10, trang 835) thực hiện lý tưởng cao cả “làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” (Toàn tập, Sự thật, 1984, T4, trang 463).

Ngày 22-3-2012

T. V. C.

Nguồn: Viet-studies.info