12/03/2012

Về hạn chót để khởi kiện vụ án hành chính về quản lý đất đai

Luật sư Hà Huy Sơn

Theo khoản 2 và 3, Điều 30 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính của UBTV Quốc hội ban hành năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006 thì thời hiệu để khởi kiện các vụ án hành chính về quản lý đất đai (nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật đất đai năm 2003) chỉ có 30 ngày, hoặc 45 ngày. Thời hạn quy định như vậy là quá ngắn, nên người dân khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai không còn con đường nào khác là phải đi kiến nghị, tố cáo, kêu cứu… bằng nhiều hình thức đến các lãnh đạo, các cơ quan của Đảng, Nhà nước khắp các cấp từ địa phương đến trung ương mà vẫn không được giải quyết đã gây ra không biết bao nhiêu tốn kém công, của cho xã hội.

Ngày 24/11/2010, Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 56/2010/QH12 về việc thi hành Luật tố tụng hành chính, tại Điều 3, quy định:

“Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực, người khiếu nại đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01 tháng 6 năm 2006 đến ngày Luật này có hiệu lực, nếu khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”

Ngày 29/07/2011, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 01/2011/NQ-HĐTP “Hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính”, trích:

Điều 4. Điều kiện thụ lý khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai quy định tại Điều 3 NQ số 56

1. Toà án chỉ thụ lý giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai (nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật đất đai năm 2003) quy định tại Điều 3 NQ số 56 khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Việc khởi kiện được thực hiện trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực (ngày 01-7-2011);

b) Người khởi kiện đã thực hiện việc khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01-6-2006 đến ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực (ngày 01-7-2011) mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng họ không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại và họ chưa khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nhân dân hoặc đã khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nhân dân, nhưng Toà án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

2. Đối với trường hợp Tòa án đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án nêu tại điểm b khoản 1 Điều này và đương sự có đơn khởi kiện thì Tòa án căn cứ vào Điều 3 NQ số 56 để thụ lý giải quyết.

3. Khi thụ lý giải quyết các khiếu kiện quy định tại Điều 3 NQ số 56

và được hướng dẫn tại khoản 1 Điều này, ngoài việc yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 72 của Luật tố tụng hành chính thì phải yêu cầu người khởi kiện cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc họ đã thực hiện việc khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01-6-2006 đến ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực. Trường hợp người khởi kiện không thể cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc họ đã thực hiện việc khiếu nại thì Toà án yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại cung cấp cho mình tài liệu, chứng cứ về việc người khởi kiện đã thực hiện việc khiếu nại và hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có). Trường hợp cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thông báo là người khởi kiện chưa thực hiện việc khiếu nại thì Toà án không thụ lý giải quyết.

4. Việc giải quyết các khiếu kiện theo quy định tại Điều 3 NQ số 56

và được hướng dẫn tại khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”

Như vậy: Thời hạn kiếu kiện ra tòa các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai đối với các trường hợp từ 01/06/2006 đến 01/07/2011 được ra hạn thụ lý đơn 01 năm, tức hạn cuối 01/07/2012 – thời gian kể từ nay là không còn nhiều. Còn đối với các trường hợp khác thì áp dụng theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính hoặc Luật tố tụng hành chính hiệu lực từ 01/07/2011.

Việc ban hành Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội và Nghị quyết số 01/2011/NQ-HĐTP ngày 29/07/2011 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao cũng phần nào làm giảm áp lực khiếu nại, tố cáo… của người dân đến các cơ quan của Đảng và cơ quan hành chính các cấp. Nếu hệ thống tòa án các cấp thi hành nghiêm túc Luật tố tụng hành chính 01/07/2011 thì sẽ góp phần đáng kể các bức xúc của người dân đối với Nhà nước nhất là lĩnh vực đất đai.

Hà Nội, 11/03/2012

H. H. S.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.