16/08/2011

Cần thực hiện lý tưởng Cách mạng Tháng Tám

Tống Văn Công

Năm 2009, trong thư gửi Trung ương Đảng kèm bài Đổi mới Đảng tránh nguy cơ sụp đổ, tôi có trích lời nhà văn Stephan Zweig: “Luôn có những con chim báo bão, sứ giả của trí tuệ, đi trước những tai họa lớn bằng sự bay của mình” (Triết gia F. Nietsche dự báo Thế chiến 2 trước 15 năm). Cùng thời gian đó, ông Nguyễn Trần Bạt, tác giả quyển Đối thoại với Tương lai đã phát biểu rõ ràng hơn: “Tôi cho rằng món nợ của những nhà cầm quyền ở Việt Nam đối với dân tộc này chính là dân chủ hóa xã hội… Nếu việc ấy không được thực hiện bởi họ thì dân tộc chúng ta sẽ đối mặt với một cuộc cách mạng xã hội” (NXB HNV, 2010, trang 923). Tuy vậy, đã có một người cảnh báo sớm hơn 15 năm, đó là cụ Võ văn Kiệt, cho rằng Đảng “cần giương cao hai ngọn cờ dân tộc và dân chủ” để sớm thực hiện dân giàu nước mạnh, giảm sự tụt hậu so với các nước trong vùng, nếu chậm trễ “bỏ lỡ cơ hội này, sẽ là thảm họa cho đất nước, Đảng ta sẽ đứng trước nguy cơ bị tước quyền lãnh đạo - chỉ vì không đáp ứng được đòi hỏi phát triển của đất nước” (Thư gửi Bộ chính trị ngày 9-8-1995).

Từ đó cho đến nay, nguy cơ đối với Đảng và chế độ không giảm đi mà mỗi ngày một tăng lên. Hiện nay độc lập dân tộc đang đứng trước sự đe dọa của ngoại bang còn nguy hiểm hơn những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám. Bởi vì giặc ngoại xâm ngày nay được nối giáo bởi giặc nội xâm, lại ngụy trang bằng mặt nạ đồng chí. Vận mệnh của Đảng bao giờ cũng phải gắn liền với vận mệnh dân tộc, nhưng đang bị ảo giác xui khiến, cố bấu víu vào đồng minh ý thức hệ!

Xin nêu ra 3 vấn đề bức xúc nhất:

1. Chủ nghĩa yêu nước bị thách thức nghiêm trọng

Đảng Cộng sản Việt Nam từ 5000 đảng viên đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, đưa hai cuộc kháng chiến 30 năm đến thắng lợi là nhờ khơi dậy được lòng yêu nước của toàn dân. Nhờ đó mà tuy rằng Đảng đã phạm không ít khuyết điểm rất nghiêm trọng, song vẫn được nhân dân thể tất, chờ đợi sửa sai và hy vọng đổi mới.

Điểm yếu có tính chiến lược của Đảng là gắn kết quan hệ đồng chí, đồng minh với một đảng, một nhà nước đã xâm chiếm lãnh thổ của nước ta, lại ngang nhiên tuyên bố lên án ta xâm chiếm trái phép biển đảo của họ. Những sơ suất ngày xưa do cả tin, do bị ru ngủ bởi ý thức hệ, hoặc do phải nín nhịn vì hoàn cảnh chiến tranh cũng đáng chê trách, nhưng nhân dân vẫn có thể hiểu được và rộng lòng tha thứ. Tuy nhiên sự việc không dừng lại, cứ mỗi ngày qua họa lệ thuộc, mối đe dọa mất nước lại hiện rõ hơn và những dấu hiệu mềm yếu, phe cánh với kẻ thù, gây nghi ngờ cứ lặp đi, lặp lại, khiến niềm tin trong lòng dân đối với Đảng cứ bị bào mòn từng ngày.

Không thể thực tâm với “16 chữ vàng” và “4 tốt” mà Trung Quốc lại kiên quyết từ chối bàn bạc với Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa họ đã xâm chiếm trái phép. Nhân dân Việt Nam chăm chú xem Đảng và Nhà nước mình làm gì để đòi lại Hoàng Sa, rất đau lòng khi nghe có ý kiến cho rằng đây là chuyện còn phải tiếp tục tới đời con đời cháu!

Nếu thực sự coi nhau là đồng chí, đồng minh thì khi không thỏa thuận được, cũng nên thẳng thắn bàn chuyện cùng đưa ra tòa án Quốc tế để tìm sự khách quan, công bằng chứ?

Cách phản ứng của chúng ta, phần lớn là của người phát ngôn Bộ ngoại giao, nói như lấy lệ. Mới đây, Trung Quốc hợp tác với Pháp tổ chức khảo sát vùng biển từ Hoàng Sa đến Trường Sa hơn một tháng rưỡi, từ 13-6 đến 30 -7- 2011. Phía ta hoàn toàn im lặng! Thấy ta im lặng, chúng nắm được thóp, đã không thèm im lặng nữa mà hô toáng lên cho toàn thế giới biết. Ngày 2-8 Tân Hoa xã dõng dạc phát tin! Vậy mà phải mất đến 6 ngày sau, người phát ngôn Việt Nam mới yếu ớt lên tiếng bằng hình thức trả lời báo chí, sau đó các báo đều đăng tin ở trang trong! Chúng ta lúng túng vì có Pháp? Đứng sau Pháp là EU và Mỹ, vậy phải làm gì để giữ EU và Mỹ về phía mình trong “ván cờ” Biển Đông của Trung Quốc”? Nếu như tình trạng dân chủ, nhân quyền của ta không khả quan hơn Trung Quốc thì các nước đó sẽ cân nhắc, chọn phía nào cho họ nhiều lợi ích hơn! Bởi vì khi phải hợp tác, giúp đỡ một quốc gia thiếu dân chủ, họ còn phải chống đỡ sự chất vấn của nhân dân họ.

Trong khi Trung Quốc không ngừng hăm he, đe nẹt Việt Nam thì chúng ta lại cố sức chiều ý chúng một cách khó hiểu: Bất chấp ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết liên tục 3 lá thư, bất chấp kiến nghị của hàng ngàn công dân gồm có nhiều đảng viên trung cao cấp, lão thành cách mạng, trí thức và đồng bào trong ngoài nước can ngăn hợp tác với Trung Quốc khai thác bauxite Tây Nguyên, để cho Trung Quốc đặt chân vào một vị trí chiến lược xung yếu; có thể gây ra thảm họa môi trường ảnh hưởng cuộc sống của hơn 20 triệu đồng bào; và cuối cùng là nó không đem lại hiệu quả kinh tế.

Suốt mấy tháng nay lại thêm chuyện nhân dân hai tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai bức xúc kêu cứu vì xe chở bauxite sẽ phá nát đường sá, nguy cơ gây ra rất nhiều tai nạn giao thông!

Lòng dân càng bức xúc, tại sao cho Trung Quốc thuê hàng ngàn hecta đất “trồng rừng” thời gian 50 năm với giá rẻ mạt? Những vùng này là phên dậu quốc gia, từ Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, đến Quảng Nam… Từ đây, người dân Việt Nam không được phép bén mảng tới đó! Rồi vì sao 90% các công trình công nghiệp đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc, hàng chục vạn lao động cơ bắp của Trung Quốc theo chân các công trình do họ trúng thầu rải từ Bắc vào Nam mà không có biện pháp ngăn chặn? Chỉ riêng khu khí điện đạm ở Cà Mau đã có 1056 lao động Trung Quốc, phần lớn không có tay nghề!

Trong khi chưa đủ thời cơ dùng biện pháp quân sự xâm chiếm nước ta, Trung Quốc tận dụng sức mạnh mềm để biến nước ta thành chư hầu, thuộc địa kiểu mới. Chúng có ý thức rất rõ việc gây chia rẽ giữa nhân dân ta với Đảng và nhà nước, vì biết đó chính là nguồn sức mạnh quan trọng bậc nhất trước họa ngoại xâm. Cuộc biểu tình của nhân dân chống Trung Quốc xâm lược năm 2007, bị đàn áp đã gây rạn nứt lớn đầu tiên giữa dân với Đảng, nhà nước. Một số người tham gia biểu tình ngày đó đã phải bỏ nước xin tị nạn ở nước ngoài. Từ tháng 6-2011 đến nay, cách đối phó của các tổ chức Đảng, chính quyền, lực lượng cảnh sát ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đối với các cuộc biểu tình yêu nước gồm nhiều đảng viên, cán bộ, trí thức hàng đầu, đã phô bày trước mắt nhân dân Việt Nam và cả thế giới những hình ảnh phản cảm rất tệ hại! Nhân dân yêu nước bị nện dùi cui, bị kéo lê, ném lên xe như súc vật. Có người còn vu họ là bọn móc túi. Đỉnh cao gây ra phẫn nộ là vụ đảng viên Nguyễn Chí Đức bị một sĩ quan an ninh đạp vào mặt.

Tại sao quyền biểu tình được Hiến pháp ghi nhận, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành đã hơn 60 năm, nhưng người dân vẫn không được hưởng? Cách hành xử như vừa qua đang đặt Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam từng ngày đối lập với chủ nghĩa yêu nước, với lòng dân. Đảng đang tự tước bỏ nguồn sức mạnh vô địch mà các bậc tiền bối của Đảng đã vùi xương ở Côn Đảo, Phú Quốc và các cuộc đấu tranh ngót một thế kỷ mới có được!

Tình trạng trên đây chính là nguy cơ lớn nhất đang đe dọa nền độc lập dân tộc thành quả của Cách mạng Tháng Tám!

2. Đẩy nhân dân về phía thù địch

Tất cả Nghị quyết Đại hội và Hội nghị Trung ương Đảng đều nhắc đến “mở rộng dân chủ”, nhưng những điều cốt lõi, gốc rể của dân chủ tới hôm nay vẫn còn xa vời. Mong muốn của Hồ Chí Minh chưa bao giờ thành hiện thực: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”; “Dân chủ là để cho dân được mở mồm ra nói”. Dân chủ chính là lý tưởng cao cả của Cách mạng Tháng Tám, thể hiện ở Tuyên ngôn Độc lập với những nội dung về quyền tự do, bình đẳng, quyền sống và mưu cầu hạnh phúc, đã được thể chế hóa bằng Hiến pháp 1946. Các quyền tự do, dân chủ, đã bị biến dạng sau khi các bản Hiến pháp sửa đổi có gắn thêm mấy chữ “theo pháp luật”. Pháp luật vi hiến mà không có tòa án Hiến pháp để ngăn chặn. Từ Đại hội Đảng lần thứ 4, “dân chủ” đã bị thay thế bằng “làm chủ tập thể”. Các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền đều phải được hiểu là cho cả toàn dân, cho từng giai cấp, từng giới, chứ không phải cho từng người. Khủng hoảng kinh tế, xã hội bắt đầu từ việc thi hành Nghị quyết Đại hội 4 khiến cho Đảng, nhà nước và toàn dân tộc lao đao suốt những năm cuối thập niên 70, đầu 80 của thế kỷ trước!

Đổi mới đã đem lại dân chủ cho nhân dân trong làm ăn, các hoạt động kinh tế. Từ nay, từng người dân được quyền tự do làm ăn, được quyền bỏ vốn ra kinh doanh. Những ông “vua lốp” được ra tù và được đề cao (Nhân dân gọi ông Nguyễn văn Chẩn là “vua lốp”, vì ông có sáng kiến dùng lốp xe cũ làm dép lốp, dùng ni lông phế thải chế tạo bút máy, đắp lốp xe mòn thành lốp gần như mới. Do đó ông phải 3 lần vào tù và bị tịch biên gia sản). Kinh tế đất nước khởi sắc, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài lạc quan dự báo Việt Nam sắp hóa hổ, hóa rồng. Tuy nhiên, sau hai thập kỷ đến nay tình hình kinh tế xã hôi không tiếp tục sáng sủa mà đang lâm vào khủng hoảng toàn diện. Nguyên nhân chính là vì dân chủ, tự do về chính trị và dân sự chưa được đến với mỗi người tương xứng với dân chủ về kinh tế. Tình hình xã hội nổi lên 3 vấn đề lớn:

Một là, giai cấp công nhân đã có hàng ngàn cuộc đình công, có những cuộc huy động gần 20.000 người, bị cho là bất hợp pháp vì không cuộc đình công nào do Công đoàn chỉ đạo theo quy định của pháp luật. Sáu tháng đầu năm nay, khắp nước số đình công đều tăng, tỉnh Bình Dương 150 vụ, 80.000 công nhân, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2010; TP HCM có 132 vụ, 72.000 công nhân, tăng 120% so với cùng kỳ năm 2010. Ông Phó giám đốc Sở LĐ-TB-XH Bình Dương cho rằng “vì tổ chức Công đoàn rất yếu kém không bảo vệ được quyền lợi công nhân”. Đó là tình trạng chung của Công đoàn cả nước hiện nay, nguyên nhân là vì giai cấp công nhân chưa có quyền dân chủ chọn ra đúng người đại diện của mình.

Hai là, nông dân bị mất đất đi khiếu kiện vượt cấp hàng chục năm không được giải quyết. Có hơn 70% các vụ khiếu kiện vượt cấp kéo dài liên miên là khiếu kiện của nông dân mất đất, đền bù với giá rẻ mạt. Thật trớ trêu là những người trong đội quân chủ lực của cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến, nay lại kéo nhau đến trước cổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ để cầu cứu! Nguyên nhân sâu xa là vì họ không có quyền dân chủ về sở hữu đất đai, Hội Nông dân cũng không đại diện bênh vực quyền lợi cho họ. Phần lớn các “đại gia” hiện nay là những kẻ nhờ có thân thế, chèn ép nông dân, kinh doanh đất đai mà phất lên chứ chẳng phải có tài năng quản trị kinh doanh. Đã vậy khi làm ra hạt lúa, nông dân lại bị các nhà xuất khẩu gạo chèn ép một lần nữa, nhiều khi buộc phải bán lúa dưới giá thành. Bi kịch ấy khiến Giáo sư Võ Tòng Xuân trong vòng 20 năm đã 2 lần đặt ra câu hỏi “Bao giờ nông dân mới giàu?”.

Ba là, giới trí thức không có quyền dân chủ trong các hoạt động trí tuệ của mình. Việc nổi cộm là Viện IDS phải tự giải thể và bị buộc phải kiểm điểm. Nhiều kiến nghị yêu nước của trí thức không được xem xét, không ai trả lời, lại còn có xu hướng quy chụp, nghi ngờ họ có động cơ xấu!

Một người lãnh đạo cao cấp của Đảng, ông Trần Xuân Bách sớm phát hiện ra sự khập khiễng của đổi mới chính trị không tương ứng với đổi mới kinh tế: Từng người đã có tự do kinh tế, họ đang yêu cầu phải được các quyền tự do dân sự và chính trị. Ông bị trừng phạt dù nội dung ông nêu ra đã được ghi trong “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”, và đã được nhà nước ta gia nhập từ 24-9-1982, tức là trước Đổi mới đến 4 năm! Lời nói đầu Công ước này có câu: “Thừa nhận rằng theo Tuyên ngôn nhân quyền thì chỉ có thể đạt được lý tưởng của con người tự do, được tận hưởng tự do về dân sự và chính trị, không bị sợ hãi và thiếu thốn nếu tạo được những điều kiện để mỗi người có thể hưởng các quyền dân sự và chính trị cũng như các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của mình”.

Tiếp bước ông Bách là Trung tướng Trần Độ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó chính ủy miền Nam, Phó chủ tịch Quốc hội cũng bị trừng phạt vì đòi tự do chính trị cho nhân dân.

Vừa qua, ông Nguyễn văn An, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, thẳng thắn phát triển tư tưởng dân chủ chính trị đã bị lên án.

Nếu tỉnh táo Đảng cầm quyền sẽ nhận thấy rằng từ một Trần Xuân Bách năm 1990, ngày nay đã có hàng ngàn Trần Xuân Bách trong Đảng và nhân dân. Xin lắng nghe những ý kiến trong “Biên bản Hội thảo khoa học Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội quốc gia” có mục đích góp ý văn kiện Đại Hội 11. Cuộc hội thảo này gồm những người thuộc giới tinh hoa của Đảng và chế độ, gồm hai nguyên Phó thủ tướng là Trần Phương và Vũ Khoan, hơn 10 vị Giáo sư, Phó giáo sư, Thứ trưởng, Viện trưởng, những nhà lý luận hàng đầu hiện nay.

Xin trích từ biên bản:

…“Nhận định về quốc tế, về các nước xã hội chủ nghĩa đều sai”.

…“Phải nhằm vào cải cách chính trị chứ không phải chỉ kinh tế. Cải cách chính trị thành một vấn đề bức xúc, không giải quyết thì không phát triển được”…

…“Phải xác định cho rõ vai trò lãnh đạo của Đảng: Lãnh đạo ai? Ai cho anh quyền lãnh đạo? Phải nhìn thẳng vào sự thật. Lừa được người ta chứ không lừa được thực tiễn đâu!”.

…“Loài người đi đến chỗ dân chủ. Nhưng thế nào là dân chủ? Đảng quyết hết mọi thứ mà không chịu trách nhiệm gì. Thế mới chết chứ!”.

…“Chưa bao giờ vấn đề nghiêm trọng như bây giờ. Dân không còn tin Đảng như trước nữa. Không ai quan tâm nữa. Cương lĩnh đầy rẫy cái sai, cái mơ hồ. Nói xã hội chủ nghĩa mà không biết nó là cái gì? Nhiều chuyện ta tự lừa dối mình và lừa dối người khác”…

Những điều các nhà lý luận hàng đầu nói trong cuộc hội thảo này đã chỉ rõ nguyên nhân đẻ ra tình trạng khủng hoảng toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, đạo đức.hiện nay.

Trong phiên tòa phúc thẩm xử Cù Huy Hà Vũ, luật sư Trần Quốc Thuận so sánh nội dung Biên bản cuộc hội thảo do ông Trần Phương chủ trì nói trên với các bài viết của Cù Huy Hà Vũ là có quan điểm về tự do chính trị hoàn toàn giống nhau. Nhưng tại sao Cù Huy Hà Vũ lại bị xử tù? Tòa hoàn toàn không chấp nhận lời bào chữa của vị luật sư, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội. Phải chăng Cù Huy Hà Vũ là một loại “vua lốp” mới trong lĩnh vực tự do dân chủ về chính trị, cho nên ông phải đi tù, một khi lĩnh vực này chưa được đổi mới?

Điều cực kỳ nguy hiểm là sau phiên tòa, các cơ quan truyền thông chính thức bắt đầu đổi giọng khác thường, đẩy mạng Bauxite Việt Nam vào loại rác rưởi, và sau đó ít hôm đã xếp vào loại phản động! Mạng Bauxite Việt Nam là nơi đã đăng tải những bài viết cực kỳ quan trọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cố Thủ tướng Võ văn Kiệt, Phó chủ tịch nước Nguyễn thị Bình, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nhiều vị lão thành cách mạng và trí thức yêu nước nêu những vấn đề thiết yếu để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã đăng gần 10 bản kiến nghị, mỗi bản có hàng ngàn người ký tên. Mạng Bauxite Việt Nam có hằng chục triệu người truy cập. Gọi mạng Bauxite Việt Nam là phản động, có nghĩa là đẩy tất cả những người có nguyện vọng dân chủ hóa đất nước về phía thù địch? Tiếp theo, trên báo Quân đội Nhân dân ngày 7-8-2011, một vị tướng, giáo sư còn gợi ý phải biết dùng súng đúng lúc! Lẽ ra phải chỉ cách dùng chiếc chìa khóa Dân chủ để mở ra khoảng trời tự do bao la cho nhân dân thì các vị “quân sư” lại đòi tăng thêm dùi cui và súng , để viết một trang sử máu kiểu Thiên An Môn cho nhân dân Việt Nam! Ôi, làm sao hiểu được!

Nên biết rằng, tất cả những hành vi chống dân chủ hóa, gây chia rẽ giữa Đảng với dân chính là phản bội lý tưởng Cách mạng Tháng Tám, là mở cửa cho giặc Phương Bắc!

3. Giặc nội xâm nối giáo cho ngoại xâm

Đại hội 8 năm 1996 kết luận tham nhũng là một trong “4 nguy cơ” đe dọa đất nước và uy tín của Đảng.

Mười năm sau, năm 2006, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhận định: “Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ”.

Năm năm sau, 2011, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết nói: “Chống tham nhũng là mong mỏi rất chính đáng và tha thiết của người dân. Nhưng cho đến hôm nay tôi tự thấy nhiệm vụ đó tôi làm chưa xong!”. Trước đó một năm, ông nói với bà con Việt kiều: “Ở nước người ta muốn tiêu cực, tham nhũng cũng khó, vì hệ thông pháp luật của họ chặt chẽ. Còn ở nước mình thì có khi không muốn tham nhũng mà cũng động lòng tham”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì cho rằng “Thể chế còn sơ hở”.

Từ năm 1997 đến nay chỉ số nhận thức tham nhũng của Việt Nam luôn luôn ở nhóm cuối bảng xếp hạng của các tổ chức quốc tế.

Đại hội 11 nhận định với lời văn có vẻ nhẹ nhàng: “Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, gây bức xúc xã hội”. Tuy nhiên, Đại hội 11 vẫn không đề ra một biện pháp phòng chống tham nhũng nào mới, vẫn tiếp tục dùng những vị thuốc đã lờn với con bệnh trầm kha và có chiều biến chứng: Nâng cao phẩm chất đạo đức đảng viên, cán bộ; tăng cường giám sát, kiểm tra; nâng cao hiệu quả các cơ quan chức năng; thực hiện dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân giám sát, phát hiện; cải cách tiền lương. Mới đây, có chính sách khen thưởng cho người dân dám phát hiện tham nhũng.

Tại sao cơ quan chống tham nhũng không thấy rằng, những vụ tham nhũng lớn chưa bao giờ do người dân phát hiện được? Tất cả đều do mâu thuẫn nội bộ trong các cấp ủy Đảng, họ moi ra để hạ gục đối thủ, và thường rộ lên trước các kỳ Đại hội ở mọi cấp, mọi ngành. Bà Lê Hiền Đức, người được Tổ chức Minh bạch quốc tế trao giải thưởng Liêm Chính năm 2009 kể: “Ở cấp nào bọn tham nhũng cũng có ô dù cả. Chúng bao che nhau, bảo kê cho nhau, mình không thể cựa được. Tôi nộp cho Thanh tra nhà nước 214 hồ sơ, họ đến nhà tôi chở đi, nhưng không thấy xử lý xong vụ nào!”.

Mới đây, Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố một tài liệu nghiên cứu có tên “Liêm chính trong thanh niên Việt Nam”. Họ đã phỏng vấn 1022 thanh niên từ 15 đến 30 tuổi ở 11 tỉnh thành, đưa ra những số liệu như sau: 32% cho rằng đưa tiền, quà biếu cho bệnh viện để được chăm sóc tốt hơn là hành vi không sai; 35% sẵn sàng “nới lỏng” định nghĩa về tham nhũng, nếu điều ấy mang lại lợi ích kinh tế; 60% nói muốn tố cáo tham nhũng, nhưng chỉ có 4 người trong số đó đã từng tố cáo. Lý do khiến họ không tố cáo là vì “Đó không phải là việc của tôi” và “Tố cáo cũng chẳng giải quyết được gì”! Số đông cho rằng tham nhũng là “hiện tượng bình thường”. Kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy ít nhất 3 điều: Một là, chống tham nhũng bằng cách vận động nhân dân tố cáo không thể đạt hiệu quả. Hai là, tham nhũng đang làm ô nhiễm môi trường xã hội, các thế hệ trẻ sẽ không còn biết quý trọng phẩm chất liên chính nữa; Ba là, tham nhũng trở thành bình thường sẽ làm mục ruỗng hệ thống chính trị.

Thực tế cho thấy cơ chế hiện nay không giúp các trưởng ban chống tham nhũng “miễn dịch” đối với tham nhũng, càng không thể cho họ khả năng chống tham nhũng ở địa bàn do mình phụ trách. Ông Chủ tịch kiêm Trưởng ban chống tham nhũng tỉnh Ninh Bình không thể ngăn chặn được ông Bí thư Tỉnh ủy, Ủy viên Trung ương Đảng Đinh văn Hùng buôn bình cổ, trống đồng có giá hằng triệu USD. Còn tăng cường giám sát, kiểm tra? Gần 10 cuộc thanh tra vẫn không phát hiện được Tổng giám đốc Phạm Thanh Bình cố ý làm trái và Vinashin đang bên bờ vực phá sản!

Tham nhũng đã giúp Trung Quốc trúng thầu hầu hết các công trình, đưa thiết bị cũ kỹ cho công nghiệp Việt Nam. Tham nhũng làm cho đầu tư không hiệu quả, chỉ số ICOR của Việt Nam cao nhất khu vực, lạm phát đứng thứ 2 thế giới, thứ nhất châu Á, biến một Đảng cách mạng thành một Đảng tham nhũng!

Chẳng lẽ lời cảnh báo của nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sẽ phải trở thành định mệnh của Đảng và chế độ này?

Tiến sĩ Hồ Bá Thâm đã dũng cảm và trung thực khi viết rằng: “Với thực tế nảy sinh tràn lan và kéo dài ngày càng nghiêm trọng tệ tham nhũng, cửa quyền, quan liêu và lãng phí hiện nay trong hệ thống chính trị và xã hội, ta càng thấy thiếu sót lớn trong một cơ chế thiếu giám sát và kiềm chế quyền lực tệ hại như thế nào. Đó là lỗ hổng và yếu kém nhất trong hệ thống tam quyền của nhà nước, phải được khắc phục sớm bằng cả nhận thức và thể chế”. Tiếc thay ý kiến của ông từ năm 2009, không được Bộ Chính trị của Đảng chú trọng. Hội đồng lý luận, Ban soạn thảo văn kiện Đại hội 11 không hề nhắc tới, có lẽ vì sợ không đúng với pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoặc có gì đe dọa đến quyền lãnh đạo của Đảng chăng?

Mới đây một cán bộ tuyên huấn khi đến giảng Nghị quyết Đại hội 11 cho cán bộ, đảng viên ở quận 7 TP HCM, đã giải thích: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo… Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Giảng viên giải thích: “Đã là quyền lực của nhân dân thì tất nhiên là phải thống nhất, chứ sao lại có thể chia cắt, có thể phân lập được?”. Thật là ngô nghê, không hiểu rằng, Nhà nước là công cụ của nhân dân, nhân dân hoàn toàn có quyền chia các công cụ của mình ra thành bao nhiêu ngành, nhánh, sao cho việc quản lý hiệu quả nhất, ít sơ hở nhất! Có ai đòi chia nhân dân ra làm ba đâu? Hay vì sợ tam quyền phân lập sẽ làm mất quyền lãnh đạo của Đảng?

Tiến sĩ Hồ Bá Thâm cũng đã giải đáp: “Khi đường lối của Đảng đã được cụ thể hóa thành Hiến pháp thì Hiến pháp phải là cao nhất chứ không phải Đảng cầm quyền khi thực thi quyền lực nhà nước!”. Lại tiếc thay, ý kiến này cũng không được lắng nghe!

Lý thuyết về phân lập ba quyền không hề cao siêu, nó được nhân loại biết đến mấy ngàn năm trước và được hoàn chỉnh mấy trăm năm nay, áp dụng ở hàng trăm quốc gia, nhằm hạn chế sự lộng hành khi con người nắm quyền lực. Nếu không thực hiện sự phân lập ba quyền thì không thể có tư pháp độc lập, không thể có “tòa án là pháo đài của tự do”, do đó tham nhũng sẽ không hề sợ bất cứ hình thức thanh tra, kiểm tra nào!

Từ muôn đời, giặc ngoại xâm luôn luôn tìm bọn nội xâm làm tay sai cho chúng! Những người Việt Nam yêu nước không quá khó nhận ra mặt mũi nhem nhuốc của chúng!

******

Ba “tử đạo” nói trên quan hệ hữu cơ với nhau, kết thành một tổng lực tác động từng ngày vào cuộc sống và trí não của nhân dân. Nếu không sớm ngăn chặn thì không thể tránh khỏi điều mà nhiều người đang nói đến: Một cuộc cách mạng dân chủ! Đó sẽ là sự đổ vỡ rất lớn của quốc gia, một gánh nặng quá sức chịu đựng đối với nhân dân, và là một tặng phẩm vô giá cho kẻ thù phương Bắc! Tuy nhiên, khác với các nước Bắc Phi, Đảng và nhà nước Việt Nam dù đã quá hoang phí uy tín của mình được vun đắp nên từ quá khứ, cho đến nay vẫn chưa phải đã hoàn toàn cạn kiệt. Vấn đề là đã đến lúc phải “báo động đỏ”, để không né tránh mà nhanh chóng dân chủ hóa xã hội. Đại hội 11 đã quyết định: “Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị…”, tuy nhiên lại đề ra điều kiện “theo lộ trình thích hợp”. Điều đáng lo là lộ trình ấy sẽ kéo dài tới bao lâu? Xin đừng để nước đến chân mới nhảy!

Tôi vẫn muốn nhắc lại sự so sánh về ưu thế giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng nhân dân cách mạng Campuchia (tiền thân là Đảng Cộng sản và nay là Đảng nhân dân Campuchia). Đảng bạn đã dũng cảm đổi mới triệt để, đến nay, sau mười năm Đảng bạn đã mạnh lên tuyệt đối. Đó là bài học rất quý báu.

Tuy nhiên chúng ta đã có sẵn bài học của Cách mạng Tháng Tám: Lý tưởng tự do, dân chủ sẽ khơi dậy nguồn sức mạnh vô tận của nhân dân, chiến thắng kẻ thù dù chúng rất hung hãn và nham hiểm, bảo vệ thành công độc lập của Tổ Quốc.

Kỷ niệm 66 năm ngày Cách mạng Tháng Tám

T.V.C.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.