Gen thể chế (Kỳ 2 – Dẫn nhập)

Hứa Thành Cương (Chenggang Xu-許成鋼)

Đại học Stanford

Nguyễn Quang A dịch

DẪN NHẬP

1.1. TỔNG QUAN

Thể chế nền tảng của Trung Quốc đương đại là chủ nghĩa toàn trị cộng sản mang đặc sắc Trung Quốc. Thể chế này khác biệt về căn bản so với các chế độ toàn trị phi cộng sản và các hệ thống Trung Hoa cổ đại. Nó cũng khác biệt ở nhiều khía cạnh so với Liên Xô. Nó bắt nguồn từ nước Nga Soviet và có nguồn gốc sâu xa ở Trung Quốc, không thể tách rời khỏi nền tảng của các thể chế Trung Hoa cổ đại. Thể chế này chi phối hành vi của chính phủ Trung Quốc đương đại như thế nào? Các thể chế của Trung Quốc và những đặc điểm cơ bản của chúng đã diễn biến thành hình dạng mà chúng ta quan sát ngày nay ra sao? Trong tương lai, những thể chế này sẽ thay đổi theo hướng nào? Nghiên cứu học thuật trong lĩnh vực này nhìn chung còn yếu và có nhiều khoảng trống. Cuốn sách này nhằm mục đích củng cố nghiên cứu học thuật trong lĩnh vực này và lấp đầy những khoảng trống đó. Bằng cách đó, tôi hy vọng sẽ thiết lập một nền tảng vững chắc để diễn giải bối cảnh lịch sử và đương đại của Trung Quốc, đồng thời cung cấp những kiến giải có thể hỗ trợ trong việc dự báo những chuyển biến tiềm tàng trong tương lai. Đối với những ai quan tâm đến các cuộc cải cách của Trung Quốc, điều này cung cấp cơ sở để nhận diện những vấn đề căn bản của nước này nằm ở đâu và để hiểu cách cải cách các thể chế của nó.

Trong cuốn sách này, chủ nghĩa toàn trị đề cập đến một loại hình chuyên chế hiện đại cực đoan, đặc trưng bởi sự kiểm soát toàn diện đối với xã hội thông qua một đảng toàn trị, một thực thể khác biệt về bản chất so với bất kỳ đảng phái chính trị nào (sẽ được giải thích thêm trong Chương 8). Một đảng toàn trị là một tổ chức hiện đại áp dụng các phương pháp kiểm soát và tuyên truyền hiện đại. Định nghĩa mô tả do Friedrich và Brzezinski đề xuất năm 1956 vẫn là một bản tóm tắt hợp lý về hệ thống này. Định nghĩa này xác định sáu thành tố nền tảng, bổ sung cho nhau của hệ thống: Hệ tư tưởng là cốt lõi trong sự kiểm soát của đảng toàn trị đối với dân chúng; và đảng độc quyền và dựa vào hệ tư tưởng, cảnh sát mật, lực lượng vũ trang, truyền thông, và các tổ chức (bao gồm cả doanh nghiệp) trong toàn xã hội và kiểm soát tất cả các nguồn lực thông qua kênh này (Friedrich and Brzezinski, 1956, tr. 126).

Chế độ toàn trị đầu tiên phù hợp với định nghĩa trên đã xuất hiện từ Cách mạng Tháng Mười ở Nga năm 1917. Kể từ đó, thế giới đã chứng kiến các hệ thống toàn trị được thành lập dựa trên nhiều hệ tư tưởng khác nhau. Tuy nhiên, thuật ngữ "chủ nghĩa toàn trị" mãi đến những năm 1920 mới được đặt ra. Giá trị của một hệ tư tưởng toàn trị ở cốt lõi của hệ thống nằm ở việc cung cấp tính chính danh, sự cố kết, và khả năng vận động cho chế độ như một công cụ cai trị, hơn là ở biểu hiện danh nghĩa của nó, vốn đã được những người cộng sản cố tình làm cho sai lệch (xem Chương 8, 10, 11). Trên thực tế, bản chất chuyên chế cực đoan của nó quyết định rằng bất kể hệ tư tưởng danh nghĩa của nó là gì, những phần thiết yếu trong biểu hiện của nó sẽ tự mâu thuẫn một cách trầm trọng với hoạt động của hệ thống đó. Ví dụ, đối với chủ nghĩa toàn trị cộng sản với hệ tư tưởng danh nghĩa là chủ nghĩa Marx, hệ tư tưởng nền tảng là chuyên chính vô sản và vị thế cầm quyền không thể tranh cãi của đảng (Chủ nghĩa Lênin). Đây không chỉ là những nguyên tắc cơ bản của các sắp xếp thể chế cụ thể của chế độ toàn trị mà còn là cơ sở cho tính chính danh của nó. Tuy nhiên, hệ tư tưởng cộng sản về chủ nghĩa bình quân tuyệt đối và hệ tư tưởng Marxist về tự do con người với những hàm ý nhân văn lại mâu thuẫn nghiêm trọng với hoạt động của hệ thống toàn trị. Bất kỳ ai tuân thủ một hệ tư tưởng danh nghĩa nhất định, nhưng không tuân theo sự lãnh đạo tối cao, sẽ phải đối mặt với sự trừng phạt nghiêm khắc dưới hệ thống toàn trị, bất kể vị trí của họ. Họ thậm chí có thể phải đối mặt với sự loại bỏ về mặt thể xác, như trường hợp của các nhân vật như Bukharin và Trotsky của Liên Xô và Lưu Thiếu Kỳ và Triệu Tử Dương của Trung Quốc, cùng nhiều người khác.

Mặc dù sự du nhập của chủ nghĩa toàn trị cộng sản vào Trung Quốc được Đảng Cộng sản Liên Xô khởi xướng và hỗ trợ mạnh mẽ, không thể tranh cãi rằng việc thành lập một hệ thống toàn trị cộng sản ở Trung Quốc, với cái giá phải trả của hàng triệu sinh mạng, là một lựa chọn của các nhà cách mạng Trung Quốc, chứ không phải của Hồng quân Liên Xô. Câu hỏi đặt ra là, sự kết thúc của hệ thống đế chế Trung Hoa (dizhi 帝制)¹ được một loạt các cuộc cải cách và cách mạng gây ra nhằm thúc đẩy chủ nghĩa lập hiến,² nhưng tại sao Trung Quốc cuối cùng lại chọn con đường ngược lại, chủ nghĩa toàn trị? Hơn nữa, một câu đố gần đây là tại sao Trung Quốc vẫn mắc kẹt trong chủ nghĩa toàn trị sau nhiều thập kỷ cải cách và mở cửa và với khu vực kinh tế tư nhân đã chiếm ưu thế trong nền kinh tế của nó.³ Tại sao hệ thống toàn trị lại bén rễ sâu đến vậy ở Trung Quốc?

Một câu hỏi cơ bản và phổ quát hơn là, tại sao xã hội loài người lại sinh ra một hệ thống toàn trị? Tại sao hệ thống này lại bắt nguồn từ Nga? Những điểm tương đồng nào tồn tại giữa di sản thể chế của Nga và Trung Quốc?

Để trả lời những câu hỏi này, cuốn sách này đề xuất một khái niệm giải tích về gen thể chế. "Gen thể chế" trong cuốn sách này đề cập đến những thành phần thể chế thiết yếu hiện diện lặp đi lặp lại trong suốt lịch sử.

Trong Chương 2, chúng ta sẽ thảo luận chi tiết về định nghĩa và cơ chế của gen thể chế. Sử dụng khái niệm này, chúng ta sẽ phân tích sự hình thành, tiến hóa và các đặc điểm của các thể chế Trung Quốc đương đại từ cả góc độ xuyên quốc gia và lịch sử. Ngoài ra, chúng ta sẽ khám phá nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị, đặc biệt là ở Nga. Khái niệm gen thể chế và khuôn khổ phân tích của nó được truyền cảm hứng đáng kể từ lý thuyết thiết kế thể chế (thiết kế cơ chế)⁴ và lý thuyết phụ thuộc vào con đường (path-dependence) của North trong kinh tế học.

Từ năm 1989 đến 1992, các chế độ toàn trị ở Liên Xô và Trung Đông Âu đã sụp đổ. Loạt sự kiện lịch sử này đã kích thích nghiên cứu học thuật về các thể chế và thúc đẩy những phát triển quan trọng trong lĩnh vực này. Một số học giả, như North và Coase, đã nhận giải Nobel Kinh tế cho công trình của họ liên quan đến các thể chế. Tuy nhiên, ngoài công trình của Kornai năm 1992, hầu hết các công trình kinh tế chính trị danh tiếng đã không đi sâu vào chủ đề chủ nghĩa toàn trị, cũng như không phân tích sự chuyển đổi từ chế độ toàn trị sang chế độ chuyên chế ở các quốc gia đó.⁵ Khoảng trống nghiên cứu này trong kinh tế học và kinh tế chính trị, nói riêng, đã gây ra sự thiếu hiểu biết cơ bản về các chế độ của Trung Quốc, Liên Xô, và các quốc gia cộng sản cũ khác, khiến việc dự đoán hoặc ứng phó với những đảo ngược chính trị ở các quốc gia đó trở nên khó khăn. Từ góc độ học thuật và chính sách, điều này dường như tương tự như tình thế khó xử mà các nhà kinh tế phải đối mặt trong việc dự đoán và ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Tuy nhiên, những hậu quả toàn diện của một siêu cường toàn trị trên toàn cầu, từ các tác động địa chính trị, kinh tế và quân sự trực tiếp đến ảnh hưởng gián tiếp đến các thể chế của các quốc gia khác, vượt xa hậu quả của một cuộc khủng hoảng tài chính về cả bề rộng và chiều sâu. Do đó, các mệnh đề được thảo luận trong cuốn sách này liên quan đến sự tiến hóa thể chế nói chung và không giới hạn ở Trung Quốc, Nga, hoặc các quốc gia có kinh nghiệm cai trị toàn trị.

Cuốn sách này trình bày và phát triển khái niệm cơ bản, hay khuôn khổ giải tích, mà tôi gọi là "gen thể chế". "Gen thể chế" là một thuật ngữ tôi đặt ra trong cuốn sách này. Nó đề cập đến những yếu tố thể chế thiết yếu đóng vai trò nền tảng cho các yếu tố thể chế khác và thường xuất hiện lặp đi lặp lại trong lịch sử. Đây là một phương pháp tiếp cận được đề xuất để phân tích sâu các vấn đề lớn trong sự tiến hóa thể chế. Cuốn sách này áp dụng khuôn khổ gen thể chế để tổ chức các bằng chứng lịch sử, sử dụng các chuyện kể lịch sử để làm sáng tỏ tại sao các cuộc cách mạng lập hiến ở Nga và Trung Quốc vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 lại thất bại. Nó cũng xem xét kết quả nghịch lý của các cuộc cách mạng này, vốn thay vì nuôi dưỡng các nguyên tắc lập hiến, lại sinh ra các hệ thống toàn trị đối lập với chúng. Hơn nữa, nó làm sáng tỏ những thay đổi thể chế quan trọng mà hai quốc gia này đã trải qua trong thế kỷ qua và ảnh hưởng lâu dài của chúng không chỉ đến quỹ đạo của chính họ mà còn đến nền kinh tế chính trị toàn cầu.

Có nhiều quan niệm về thể chế. Trong cuốn sách này, cuộc thảo luận về thể chế tập trung vào ba yếu tố nền tảng: nhân quyền, quyền sở hữu, và quyền lực chính trị.

Liên quan đến trọng tâm này, luận điểm Locke–Hayek về sự không thể tách rời của nhân quyền và quyền sở hữu được diễn giải lại trong bối cảnh lịch sử và thực tế của chủ nghĩa toàn trị (Chương 2 và 3). Bản chất là cấu trúc quyền sở hữu của bất kỳ xã hội nào cũng không thể tách rời khỏi cấu trúc quyền lực chính trị trong xã hội đó, như có thể quan sát được từ cấu trúc phân phối được cho là bình đẳng nhất của các chế độ Scandinavia đến các cấu trúc bất bình đẳng nhất của các chế độ cộng sản. Theo đó, khái niệm quyền sở hữu được sử dụng trong cuốn sách này dựa trên khái niệm quyền kiểm soát tối hậu – một khái niệm được Locke, Marx, Mises, Hayek, và Hart (quyền thặng dư, Hart, 2017) sử dụng, và là một khái niệm được chấp nhận rộng rãi trong giới học thuật và thực tiễn trước thế kỷ 20. Chương 3 khám phá mối quan hệ và sự khác biệt giữa khái niệm này và khái niệm "bó quyền" đã trở nên phổ biến từ thế kỷ 20.

Xuyên suốt cuốn sách, nguồn gốc của các hệ thống toàn trị được khám phá thông qua các chuyện kể lịch sử, nhấn mạnh cách các gen thể chế của các chế độ này bắt nguồn từ sự độc quyền sâu xa về quyền sở hữu và quyền lực và sự đồng thuận xã hội hình thành từ đó đã củng cố các cấu trúc này.

Từ góc độ quyền sở hữu và cấu trúc quyền lực, một chế độ toàn trị hợp nhất tất cả các quyền sở hữu và quyền lực trong xã hội dưới sự kiểm soát của đảng toàn trị, qua đó đặt toàn bộ nhân quyền của tất cả các cá nhân hoàn toàn dưới quyền lực của đảng. Ngược lại, không có nhà độc tài, chính phủ, đảng phái, hay thể chế nào trong bất kỳ hệ thống chuyên chế nào khác được hưởng sự kiểm soát toàn diện như vậy đối với quyền sở hữu và quyền lực. Hơn nữa, bản chất của đảng toàn trị quyết định rằng nó không phải là một đảng chính trị theo nghĩa thông thường (như chi tiết trong Chương 8).

Với thế giới hiện đang đối mặt với mối đe dọa từ quyền lực toàn trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), việc xem xét lại lời cảnh báo của Mises vào cuối Thế chiến thứ hai là đặc biệt quan trọng – rằng những nỗ lực kéo dài nhiều thập kỷ của thế giới tự do nhằm kiềm chế chủ nghĩa toàn trị đều đã thất bại. Thật không may, lời cảnh báo này từ lâu đã bị lãng quên hoàn toàn. Sự lơ là đối với chủ nghĩa toàn trị trong giới học thuật và chính sách đã cho phép ĐCSTQ nhận được sự hỗ trợ không bị thách thức từ phương Tây trên nhiều lĩnh vực, thúc đẩy sự trỗi dậy thần tốc của nó không chỉ về sức mạnh kinh tế mà còn trong việc mở rộng bộ máy tuyên truyền, cảnh sát và quân sự. Ngay cả ngày nay, việc nhận ra bản chất toàn trị của ĐCSTQ vẫn là một thách thức đáng kể ở phương Tây. Dưới những điều kiện thuận lợi như vậy, sự sụp đổ của khối toàn trị Liên Xô và Đông Âu (FSU-EE) đã kéo theo sự bành trướng đáng tiếc của chế độ toàn trị Trung Quốc thành một siêu cường đầy đe dọa – một sự phát triển không thể xảy ra nếu không có sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ khác. Các cuộc thảo luận học thuật hiện có về chủ nghĩa toàn trị, mặc dù vẫn còn giá trị, phần lớn dựa trên các tài liệu đã có từ nhiều thập kỷ. Những cuộc thảo luận này thường bị giới hạn trong triết học, lịch sử tư tưởng, hoặc các ghi chép lịch sử về nước Nga Soviet, với rất ít nỗ lực được thực hiện để nghiên cứu một cách có hệ thống các cơ chế toàn diện và nền tảng của chủ nghĩa toàn trị trong bối cảnh sự trỗi dậy kéo dài một thế kỷ của các chế độ toàn trị cộng sản. Để giải quyết những khoảng trống này, các Chương 6 đến 8 của cuốn sách này khám phá nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị với tư cách là một hệ tư tưởng và một hệ thống, những lý do nó xuất hiện đầu tiên ở Nga, và các cơ chế qua đó nó trỗi dậy và vận hành.

Các chế độ toàn trị được đặc trưng bởi sự xóa bỏ hoàn toàn tài sản tư nhân và kiểm soát toàn diện xã hội thông qua bạo lực cực đoan. Các chế độ như vậy đã xuất hiện từ một phong trào chính trị-tôn giáo thế tục được gọi là Cách mạng Vô sản Thế giới. Phong trào này, được thúc đẩy bởi việc theo đuổi chủ nghĩa bình quân và một hình thức của chủ nghĩa cứu thế thế tục, đã dựa vào cái gọi là đấu tranh giai cấp, vừa có sức quyến rũ cao độ vừa mang tính kích động, được thúc đẩy bởi lòng căm thù đối với cái gọi là kẻ thù giai cấp. Tuy nhiên, phong trào tôn giáo thế tục này chỉ thành công ở những xã hội sở hữu các gen thể chế cụ thể – một cấu trúc độc quyền cao độ về tài sản và quyền lực chính trị, cùng với một sự đồng thuận xã hội tương ứng (Chương 6). Phong trào toàn trị cộng sản được thiết lập đầu tiên ở Nga vì nó có các gen thể chế cần thiết để tạo ra một chế độ như vậy. Những gen này bao gồm chế độ chuyên chế Sa hoàng, ảnh hưởng sâu rộng của Chính thống giáo Nga, và mạng lưới phát triển tốt của các tổ chức chính trị bí mật (khủng bố) tinh vi (Chương 7).

Đảng Bolshevik, đảng toàn trị cộng sản đầu tiên trên thế giới, bắt nguồn từ một tổ chức chính trị bí mật. Chương 8 thảo luận về việc thành lập đảng này và sự chuyển đổi của nó thành một đảng toàn trị hoàn chỉnh, bao gồm cả sự phát triển của các cơ chế hoạt động của nó. Vai trò và cơ chế của các gen thể chế đã tạo điều kiện cho sự hình thành của đảng Leninist trong việc thiết lập và củng cố một chế độ toàn trị được phân tích. Việc tạo ra chế độ Soviet liên quan đến việc đàn áp phe đối lập thông qua chuyên chính vô sản, thiết lập một chế độ Khủng bố Đỏ, tạo ra sở hữu nhà nước toàn diện, và thành lập Quốc tế Cộng sản (Comintern), tổ chức đi đầu trong các cuộc cách mạng toàn trị cộng sản toàn cầu.

ĐCSTQ và các đảng cộng sản khác trên thế giới được thành lập với sự hỗ trợ của Comintern, với các nguyên tắc sáng lập và cơ chế hoạt động được cấy ghép từ Đảng Cộng sản Liên Xô (ĐCSLX). Cho đến ngày nay, tất cả các nguyên tắc cơ bản của ĐCSTQ vẫn bắt nguồn từ ĐCSLX.

Ngoài ra, Chương 8 phân tích một cách có hệ thống bản chất cơ bản và cơ chế hoạt động của các đảng toàn trị và cách chúng đã tiến hóa từ các gen thể chế của nước Nga Sa hoàng. Phân tích này là cần thiết để hiểu bản chất của các đảng toàn trị nói chung, làm cho chương này trở nên quan trọng ngay cả đối với những độc giả chủ yếu quan tâm đến Trung Quốc.

Các chương 4, 5, và 9 phân tích nguồn gốc và sự tiến hóa của các gen thể chế của hệ thống đế chế Trung Hoa và các cơ chế mà các gen này đã cản trở sự phát triển của chủ nghĩa lập hiến bên trong nó. Các chương 10-13 khám phá cách chủ nghĩa toàn trị cộng sản đã được Comintern cấy ghép vào Trung Quốc, cách các gen thể chế của Trung Quốc đã tạo điều kiện cho việc thiết lập hệ thống toàn trị này, và cách một chế độ cộng sản kiểu Soviet đã được hình thành. Các chương này cũng đi sâu vào sự tiến hóa của chủ nghĩa toàn trị cộng sản mang đặc sắc Trung Quốc – chủ nghĩa toàn trị được quản lý theo vùng – trong thời kỳ Đại Nhảy Vọt (GLF) và Cách mạng Văn hóa (CR) trong thời đại Mao, và cách hệ thống này đã hỗ trợ phát triển kinh tế và cải cách trong thời kỳ hậu Mao, cuối cùng bảo tồn sự cai trị của ĐCSTQ trong khi dẫn dắt Trung Quốc vào cái bẫy của chủ nghĩa toàn trị. Từ những thảo luận này, rõ ràng rằng hiện tượng được gọi là "bẫy thu nhập trung bình" được quan sát từ cuối những năm 2010 chỉ là một biểu hiện của cái bẫy toàn trị, vốn có trong bản chất của chính chủ nghĩa toàn trị.

Chương cuối cùng thảo luận ngắn gọn về các chuyển đổi thể chế của khối toàn trị FSU-EE và Đài Loan qua lăng kính của các gen thể chế và khám phá những hàm ý của các chuyển đổi này đối với tương lai của Trung Quốc. Đặc điểm chính phân biệt hệ thống Trung Quốc với các chế độ toàn trị FSU-EE – Chủ nghĩa Toàn trị Phân cấp Quản lý theo Vùng (RADT) – là công cụ giúp các doanh nghiệp tư nhân của Trung Quốc phát triển mạnh mẽ dưới sự cai trị của cộng sản trong quá trình cải cách kinh tế, trở thành động lực chính của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc và qua đó duy trì chế độ Cộng sản Trung Quốc. Tuy nhiên, sự đảo ngược sâu rộng kể từ cuối những năm 2010 cho thấy rằng ĐCSTQ có thể không hoàn toàn thoát khỏi số phận của ĐCSLX. Các thể chế cơ bản của chủ nghĩa toàn trị cộng sản vẫn không thể cải cách được và các cuộc cải cách kinh tế dường như đã định sẵn sẽ thất bại (Chương 13 và 14). Hơn nữa, việc các đảng cộng sản FSU-EE từ bỏ chủ nghĩa toàn trị một cách hòa bình không chỉ được thúc đẩy bởi sự trì trệ kinh tế mà còn bởi áp lực xã hội to lớn và một ý thức xã hội ngày càng tăng về nhân quyền và các giá trị nhân đạo. Những áp lực và sự đồng thuận xã hội này bén rễ sâu trong các gen thể chế của các quốc gia FSU-EE (Chương 14). So sánh, Trung Quốc có nhận thức xã hội yếu hơn nhiều về nhân quyền và chủ nghĩa nhân đạo. Ngoài ra, dưới sự cai trị của ĐCSTQ, quân đội từ lâu đã tham gia vào chính trị và ĐCSTQ đã cố tình thể chế hóa việc bồi dưỡng các "thái tử đảng" làm người kế vị (Chương 14). Những yếu tố này cho thấy rằng ngay cả khi đối mặt với sự trì trệ kinh tế kéo dài, lãnh đạo ĐCSTQ có thể khó từ bỏ chủ nghĩa toàn trị một cách hòa bình hơn so với các đối tác FSU-EE của họ.

Chìa khóa để hiểu sự chuyển đổi dân chủ của Đài Loan nằm ở việc nhận ra những khác biệt đã tồn tại từ trước trong các gen thể chế giữa Đài Loan và Trung Quốc đại lục, cũng như những khác biệt cơ bản giữa sự cai trị chuyên chế của Quốc dân Đảng (KMT) và sự cai trị toàn trị của ĐCSTQ trong việc đàn áp các gen thể chế cần thiết cho một nền dân chủ lập hiến (Chương 14). Thứ nhất, sự cai trị ngắn ngủi của hệ thống đế chế Trung Hoa ở Đài Loan đã kết thúc ngay từ cuối thế kỷ 19, chỉ để lại một ảnh hưởng nông cạn của các gen thể chế đế chế Trung Hoa trên hòn đảo. Trong thời kỳ dân chủ Taisho dưới sự cai trị của Nhật Bản, Đài Loan bắt đầu phát triển các gen thể chế của chủ nghĩa lập hiến, bao gồm các cuộc bầu cử địa phương và việc tập hợp các đảng phái chính trị. Hơn nữa, Comintern chưa bao giờ đến Đài Loan và KMT không phải là một đảng toàn trị. Dưới sự cai trị chuyên chế của KMT, các gen thể chế của nền dân chủ lập hiến đã bị đàn áp nhưng không bị tiêu diệt; trên thực tế, một số đã có thể tồn tại và thậm chí phát triển, mặc dù khó khăn. Trong thời kỳ chuyên chế, khi Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc (ROC) được thực thi một phần, các gen thể chế này đã có sự phát triển đáng kể thông qua các cuộc bầu cử địa phương, sự mở rộng nhanh chóng của các doanh nghiệp tư nhân, và sự lan rộng của xã hội dân sự. Điều này đã dẫn đến một phong trào xã hội ngày càng tăng hướng tới dân chủ lập hiến. Sự chuyển đổi thể chế của Đài Loan đã đạt được chính xác bởi vì các nhà cai trị chuyên chế KMT đã nhượng bộ và đáp ứng áp lực xã hội to lớn này.

Ghi chú

1. Thuật ngữ "hệ thống đế chế" (*dizhi*) được sử dụng trong cuốn sách này theo cách sử dụng của các nhà cải cách và sử học ở Trung Quốc từ đầu thế kỷ 20. Khái niệm này gần gũi với khái niệm quân chủ chuyên chế trong khoa học chính trị và sử học nhưng khái niệm sau không chính xác cho mục đích của chúng ta. Để giải thích chi tiết hơn, xem Mục 1.2.

2. Thuật ngữ "chủ nghĩa lập hiến" (hiến chính, 宪政, xianzheng, trong tiếng Trung) trong cuốn sách này theo cách sử dụng truyền thống của các nhà cải cách ở Trung Quốc từ cuối thế kỷ 19. Dưới chủ nghĩa lập hiến, quyền lực của chính phủ bị hạn chế bởi luật pháp và các thể chế. Thẩm quyền và tính chính danh của chính phủ phụ thuộc vào việc tuân thủ các giới hạn này đối với quyền lực của mình.

3. Chương 13 sẽ phân tích tại sao các thể chế toàn trị vẫn còn tồn tại ở Trung Quốc, ngay cả sau cuộc cải cách hậu Mao.

4. Lý thuyết thiết kế thể chế (instutional design) nổi lên trong bối cảnh cuộc tranh luận lớn giữa Mises, Lange, và Hayek trong những năm 1930 và 1940, xoay quanh chủ nghĩa xã hội thị trường và sự tương phản giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Lange đã đề xuất khái niệm và lý thuyết về chủ nghĩa xã hội thị trường trong những năm 1930, như một phản ứng đối với sự phê phán chủ nghĩa xã hội của Mises được công bố trong những năm 1920, chứng minh cách một nền kinh tế dựa trên sở hữu nhà nước có thể hiệu quả như một nền kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân. Mặt khác, Hayek cho rằng trong một hệ thống sở hữu nhà nước, thị trường thiếu các cơ chế để giải quyết các vấn đề thông tin và khuyến khích, lưu ý rằng các cơ chế này chỉ tồn tại dưới một hệ thống thị trường dựa trên sở hữu tư nhân. Những vấn đề này được khám phá thêm trong Chương 2.

5. Một đặc điểm xác định của chủ nghĩa chuyên chế là sự khoan dung của nó, ở một mức độ nhất định, đối với các tổ chức tương đối độc lập, bao gồm cả các công ty tư nhân. Nó cũng cho phép một mức độ của chế độ chuyên chế đa nguyên hạn chế (Linz, 2000, tr. 150). Điều này phù hợp với các tài liệu hiện có trong khoa học chính trị. Tuy nhiên, cuốn sách này không đi sâu vào chủ đề chủ nghĩa chuyên chế đa đảng.

(Còn tiếp)

H.T.C.

Dịch giả gửi BVN

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn