21/04/2010

Định hướng dư luận, công lý ra sao?

Trân Văn, phóng viên RFA
Vụ án bà Ba sương Nông trường Sông Hậu những tưởng đã đi vào hồi kết đúng như kịch bản của các quan ngài Thành ủy Cần thơ. Cứ nhìn đôi mắt ngó lơ rất đáng ngờ của một vài vị trong phiên họp Quốc hội cuối năm 2009 mà một phóng viên may mắn chụp được hình cũng đủ hình dung đằng sau đôi mắt vờ vĩnh bàng quan rất khéo léo và khuôn mặt lạnh tanh máu cá ấy đang ẩn chứa một sự thực trái ngược bên trong, nó là những toan tính sục sôi về các nước cờ cần phải đi sao cho thật chắc, nước nào “ăn” ngay nước ấy, để nuốt cho trôi 6924,78 hec-ta đất do cha con người anh hùng chiêu dân lập ấp ròng rã cải tạo từ đất chua mặn trong mấy thập niên mới biến thành một nông trường sum suê hoa trái. Đùng một cái, mọi sự bỗng đảo lộn, và Tòa án Tối cao ra quyết định hủy bỏ cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm để điều tra lại. Một đòn chí tử làm xuội mặt cả đám quan chức Thành ủy Cần Thơ.

Có phải tiếng nói sục sôi của công luận trong vòng 6 tháng qua đã góp phần vào thắng lợi bước đầu? Có phần đúng mà cũng có phần không đúng, Đúng là việc làm bất nhân trắng trợn của cả một đám “dân chi phụ mẫu” phi nhân tính đến mức đã không được bất kỳ một ai trong mọi tầng lớp công chúng cả nước đồng tình. Nhưng ở Việt Nam đâu có phải là xứ sở người ta thèm để ý đến công luận. Phản ứng của báo chí và tiếng nói cư dân mạng mạnh mẽ đến thế chứ mạnh hơn nữa mà có lệnh trên ban xuống thì rụp một cái khắc phải im re, có khi một hai nhà báo (như Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Văn Hải trước đây trong vụ PMU 18) còn phải làm việc “thế mạng”, vào nằm nhà pha là khác. Vậy thì lý do của việc lần này đã không làm được như ý “họ” muốn là vì đâu? Chúng tôi đã nghĩ rất nhiều, đã tìm hiểu rất nhiều. Chỉ có thể đem ra hai phỏng đoán sau đây:

Một là, dẫu gì thì gì, đường lối của Nhà nước Việt Nam từ nhiều năm nay vẫn là xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Định hướng XHCN được cụ thể hóa ở những mô hình nào? Các mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước thì làm ăn thua lỗ, chỉ có đi vay tiền để thực thi các dự án mà cũng chẳng nên thân. Tuy trong các kỳ tổng kết, người đứng đầu nhà nước có đưa ra những lời khen: Các tập đoàn ấy đã đáp ứng được các yêu cầu chính trị trong tình hình rất phức tạp hiện tại của đất nước, nhưng khen là khen cho đỡ ngượng chứ cứ làm ăn “lỗ giả lãi thật”, giá dầu gíá điện tăng rồi mọi thứ cứ tăng theo vùn vụt, thì đâu có làm cho dân chúng tin tưởng, an tâm. Còn ở nông thôn? Chính sách cưỡng chiếm, quy hoạch, lấn cướp đất đai cơ hồ đã vắt kiệt sức lực của nông dân, khiến họ rơi vào cơ cực, lầm than nhiều hơn thuở trước. Chung quy lại, chỉ còn một mô hình Nông trường Sông Hậu là đi đúng con đường XHCN, mà làm ăn duy nhất có lãi, ai cũng nhìn thấy, lại cải thiện rõ rệt đời sống của gia đình, con cái 10.000 nông trường viên. Nay nếu như hy sinh luôn cái nông trường đó, để cho các vị đứng đầu một thành phố cướp lấy làm món lợi cho riêng họ, thì coi như mình tự phủ định cái định hướng XHCN chính mình đề ra còn gì. Vì thế, tuy rất nể mặt các đồng chí “là anh em cùng giai cấp” ở thành phố này, các đồng chí lại có dây mơ rễ má rất thân thiết với người này người khác tận trung ương mà chắc khi thi hành thủ đoạn tống lao bà Ba Sương đã phải được cấp trung ương ấy gật, dám thế lắm, nhưng “thương anh em để trong lòng”, vụ án đành phải tạm khép lại đã, nếu không thì đe dọa đến cả sự tồn vong của cả một cơ chế. Chí nguy!

Thứ hai, và tất nhiên trong nội bộ một ít người cầm chịch ở cấp cao nhất, trên những vấn đề như thế, dễ gì thống nhất được với nhau. Vấn đề dây mơ rễ má ở đây lại hóa thành vấn đề khó xử. Giả dụ, người thì muốn nhẹ tay với PMU 18, người thì muốn nhấc lên đặt xuống với Huỳnh Ngọc Sĩ, người thì có lẽ cũng nặng tình nhiều ít với Tấn Quyên... Cứ cho đi là thế như những giả thuyết bàn tán rôm rả trong dân gian. Trong trường hợp vụ nào cũng xuôi theo một hướng, thôi thì có thế “anh tôi cùng nhường nhau”. Nhưng mà... cho qua tất tật làm sao được! Còn dân tình trông lên và nhất là quốc tế trông vào nữa chứ. Và khi đứng trước những yêu cầu đối nội đối ngoại trở nên gay gắt, tránh sao được những cú “lật ngược tình thế” ngoạn mục bắt đầu bùng nổ.

Không biết là may cho bà Ba Sương hay chỉ là một cơ hội nhất thời?

Bauxite Việt Nam


Bà Trần Ngọc Sương tại phiên tòa phúc thẩm
hôm 19-11-2009. Photo courtesy of VTC

Tìm hiểu về định hướng dư luận trong vụ Nông trường Sông Hậu. Liệu“định hướng dư luận”có gây nguy hại cho việc thực thi công lý không.

Hôm 8 tháng 4, trả lời chất vấn của báo giới về vụ án Nông trường Sông Hậu, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ là ông Phạm Thanh Vận, dõng dạc tuyên bố: Chúng tôi đang đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo định hướng dư luận về vụ Nông trường Sông Hậu.
Và mới đây, một vài nguồn thạo tin cho biết, hôm 13 tháng 4, trong cuộc họp định kỳ với lãnh đạo các cơ quan truyền thông, Bộ Thông tin – Truyền thông đã ra lệnh cho hệ thống truyền thông Việt Nam, tạm ngưng thông tin về vụ án Nông trường Sông Hậu cho đến khi có kết quả điều tra lại.

Tại Việt Nam, thông tin theo chỉ đạo, nhằm thực hiện công việc gọi là “định hướng dư luận” đã trở thành điều bình thường. Có những dấu hiệu cho thấy “định hướng dư luận” gây nguy hại cho việc thực thi công lý. Vì sao? Mời qúy vị nghe Trân Văn tường trình...

Khi dân biết và dân bàn...

Đầu năm 2008, Nông trường Sông Hậu ở Cần Thơ bị thanh tra và Thanh tra kết luận, nơi này đã xảy ra vô số sai phạm trong đủ mọi lĩnh vực, từ quản lý, sử dụng đất và giao đất, nợ phải thu, nợ phải trả, đến cách tạo nguồn thu và sử dụng nguồn thu, thực hiện quy chế dân chủ.
Theo Kết luận Thanh tra, nợ cần phải thu ở Nông trường Sông Hậu lên tới cả trăm tỉ. So số liệu do nông trường báo cáo với số liệu kiểm tra thực tế thì có sự chênh lệch lên tới hơn 26 tỉ. Nông trường Sông Hậu nợ ngân hàng hàng trăm tỉ...
Theo Kết luận Thanh tra, nợ cần phải thu ở Nông trường Sông Hậu lên tới cả trăm tỉ. So số liệu do nông trường báo cáo với số liệu kiểm tra thực tế thì có sự chênh lệch lên tới hơn 26 tỉ. Nông trường Sông Hậu nợ ngân hàng hàng trăm tỉ...

Tháng 9 năm 2008, bà Trần Ngọc Sương – Giám đốc Nông trường Sông Hậu bị khởi tố về tội “lập qũy trái phép”. Công an Cần Thơ xác định đã có 29 tỷ được bỏ vào qũy trái phép và khoản tiền này được chi vô tội vạ vào việc tiếp khách, biếu xén, tặng cho.

Tháng 8 năm ngoái, bà Sương cùng bốn thuộc cấp bị đưa ra xử sơ thẩm tại Tòa án huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Tòa án huyện Cờ Đỏ phạt bà Sương 8 năm tù, buộc bồi thường 4,3 tỉ.

Do bà Sương và các thuộc cấp kháng cáo, giữa tháng 11 năm ngoái, Tòa án thành phố Cần Thơ đưa vụ án ra xử phúc thẩm, tuyên bố giữ nguyên mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bà Sương.

Khoảng nửa tháng sau, Viện Kiểm sát huyện Cờ Đỏ loan báo đã khởi tố bà Trần Ngọc Sương để tiếp tục điều tra thêm về tội “Tham ô tài sản”.

Nếu chỉ căn cứ vào Kết luận Thanh tra, Kết luận Điều tra, Cáo trạng, các bản án thì vụ án Nông trường Sông Hậu và hình phạt mà hai cấp Tòa ở Cần Thơ đã tuyên đối với bà Trần Ngọc Sương không có gì cần phải bàn thêm.

Tuy nhiên, khác với nhiều vụ án liên quan đến các tội phạm về chức vụ, vụ án Nông trường Sông Hậu đã tạo ra sự bất bình sâu rộng trong công chúng ở Việt Nam. Cả hệ thống truyền thông chính thống lẫn nhiều diễn đàn điện tử và blog đã đồng loạt lên tiếng chỉ trích việc truy cứu trách nhiệm hình sự, kết án bà Sương. Vì sao?

Có lẽ phải bắt đầu từ câu chuyện về Nông trường Sông Hậu. Nông trường này do cha bà Sương là ông Trần Ngọc Hoằng, thành lập năm 1979 và trực tiếp lãnh đạo cho đến khi bà Sương trở thành Giám đốc kế nhiệm.
Báo chí Việt Nam đã từng viết rất nhiều về việc, ông Trần Ngọc Hoằng chính là người biến 7.000 héc ta đất hoang, nhiễm phèn trở thành ruộng lúa, cùng với các nhà máy chế biến nông sản, khu dân cư, có hệ thống đường, hệ thống điện, bệnh viện, trường học,... giúp nông dân là nông trường viên có nhà, có thu nhập đủ sống, con cái được đến trường, học hành thành tài,...
Báo chí Việt Nam đã từng viết rất nhiều về việc, ông Trần Ngọc Hoằng chính là người biến 7.000 héc ta đất hoang, nhiễm phèn trở thành ruộng lúa, cùng với các nhà máy chế biến nông sản, khu dân cư, có hệ thống đường, hệ thống điện, bệnh viện, trường học,... giúp nông dân là nông trường viên có nhà, có thu nhập đủ sống, con cái được đến trường, học hành thành tài,...

Điểm đáng chú ý nhất là từ giữa thập niên 1980, trong khi hệ thống nông trường, hợp tác xã, vốn được xem như nền tảng để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bắt đầu tan rã thì Nông trường Sông Hậu vẫn tồn tại như một trung tâm sản xuất nông nghiệp nổi tiếng.

Nhờ thế, ông Trần Ngọc Hoằng, rồi bà Trần Ngọc Sương – người thay cha mình làm Giám đốc, lần lượt được tặng danh hiệu “Anh hùng lao động”. Riêng Nông trường Sông Hậu có đến hai lần được tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động”. Chưa kể cá nhân bà Trần Ngọc Sương, còn từng được tặng các “Huân chương Lao động” từ hạng nhất đến hạng 3. Năm 2002, bà được bầu chọn là “Người phụ nữ ấn tượng khu vực châu Á – Thái Bình Dương”.

Bà Trần Ngọc Sương tại phiên tòa phúc thẩm
hôm 19-11-2009. Photo courtesy VTC

Trong mắt công chúng, bà Trần Ngọc Sương không giống như nhiều giám đốc doanh nghiệp nhà nước hay các viên chức đã từng phải ra tòa, bị phạt tù cũng vì “lập qũy trái phép”, “cố ý làm trái” hay “tham ô tài sản”.

Cho dù hệ thống bảo vệ pháp luật ở Cần Thơ khẳng định, bà Sương đã vi phạm nhiều qui định pháp luật hiện hành, song công chúng vẫn xem bà là người ngay tình. Với cơ chế phi lý, trái qui luật, việc làm trái các qui định được xem như chuyện đương nhiên để có thể tồn tại và phát triển, thậm chí còn được xem là dũng cảm và đã có một số trường hợp được phong tặng danh hiệu anh hùng.

Đây cũng là lý do khiến hàng trăm nông dân là nông trường viên ở Nông trường Sông Hậu, cùng ký vào một thỉnh nguyên thư, xin đi tù thay Giám đốc của họ.

Dư luận đã khiến Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam phải gửi văn bản, kiến nghị xem xét lại toàn bộ vụ án ngay sau khi Tòa án Cần Thơ công bố bản án phúc thẩm. Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam tuyên bố, nếu Tòa án và Viện Kiểm sát Tối cao cho rằng, không có cơ sở để xem xét kiến nghị của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam thì Ủy ban Tư pháp Quốc hội sẽ “vào cuộc”. Bộ trưởng Công an Việt Nam loan báo đã yêu cầu Công an Cần Thơ báo cáo về quá trình điều tra vụ án. Nếu có sai sót thì Bộ Công an sẽ có ý kiến để sửa.
Cho dù hệ thống bảo vệ pháp luật ở Cần Thơ khẳng định, bà Sương đã vi phạm nhiều qui định pháp luật hiện hành, song công chúng vẫn xem bà là người ngay tình. Với cơ chế phi lý, trái qui luật, việc làm trái các qui định được xem như chuyện đương nhiên để có thể tồn tại và phát triển, thậm chí còn được xem là dũng cảm và đã có một số trường hợp được phong tặng danh hiệu anh hùng.
Mới đây, Viện Kiểm sát Tối cao cho biết, đã hoàn chỉnh kháng nghị gửi Tòa án Tối cao. Theo Viện Kiểm sát Tối cao, cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều có thiếu sót và sai lầm nghiêm trọng, do vậy, họ đề nghị Tòa án Tối cao xem xét lại vụ án theo trình tự giám đốc thẩm, hủy cả hai bản án để điều tra, xét xử lại từ đầu.

Quyền được nói: Điều đương nhiên nhưng không hề có

Những người theo dõi sát các diễn biến thời sự tại Việt Nam đều cho rằng, dư luận là tác nhân chính khiến hệ thống chính trị ở Việt Nam phải xét lại vụ án liên quan đến Nông trường Sông Hậu.

Chuỗi sự kiện: Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam kiến nghị xem xét lại toàn bộ vụ án, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam tuyên bố, nếu Tòa án và Viện Kiểm sát Tối cao cho rằng, không có cơ sở để xem xét kiến nghị của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam thì Ủy ban này sẽ “vào cuộc”, rồi Bộ trưởng Công an Việt Nam hứa nếu có sai sót thì sẽ có ý kiến để sửa và mới đây, Viện Kiểm sát Tối cao thông báo đã gửi kháng nghị, đề nghị Tòa án Tối cao xét lại vụ án theo trình tự giám đốc thẩm để hủy cả hai bản án, điều tra, xét xử lại từ đầu,... được nhận định là “xưa nay hiếm”.

Bộ trưởng Công an Việt Nam hứa nếu có sai sót thì sẽ có ý kiến để sửa và mới đây, Viện Kiểm sát Tối cao thông báo đã gửi kháng nghị, đề nghị Tòa án Tối cao xét lại vụ án theo trình tự giám đốc thẩm để hủy cả hai bản án, điều tra, xét xử lại từ đầu

Vì sao? Các văn bản cũng như tuyên bố vừa đề cập đều nhắc đến hai yếu tố: Dư luận đang rất bất bình và cần khôi phục lòng tin nơi công chúng.

Liệu bà Trần Ngọc Sương, người được xem là nạn nhân chính trong vụ án Nông trường Sông Hậu, nghĩ gì về vai trò của dư luận và tương quan giữa dư luận với thực thi công lý? Bà có điều gì muốn nói với công chúng? Đó là những câu hỏi mà chúng tôi dự định sẽ đề nghị bà cho thính giả của Ban Việt ngữ Đài Á châu Tư Do biết...

Trân Văn: Thưa bà, bà là bà Trần Ngọc Sương?

Bà Trần Ngọc Sương: Dạ thưa phải.

Trân Văn: Thưa bà tôi là Trần Văn ở Đài Á Châu tự do.

Bà Trần Ngọc Sương: Thôi, xin, xin miễn anh... Tôi, tôi không tiếp đâu anh, xin lỗi anh nhá... Tôi không tiếp những đài ở nước ngoài vì tôi cũng là một đảng viên, thành ra tôi cũng phải rất có trách nhiệm đối với đất nước. Cho tôi miễn trả lời nha anh.

Trân Văn: Dạ rồi, cám ơn bà.

Hiến pháp Việt Nam minh định, Việt Nam tôn trọng tất cả các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận. Tuy nhiên bà Trần Ngọc Sương, người được cho là đã bỏ cả cuộc đời để xây dựng và phát triển Nông trường Sông Hậu, đến cuối đời, mắc nhiều chứng bệnh hiểm nghèo, không chồng, không con, không nhà cửa rồi trở thành bị án chính của một vụ án mà theo bà, nếu không minh bạch, bà sẽ tự tử,... vẫn không dám nói.

Đã có không ít người cho rằng, vì công dân không có quyền tự do bày tỏ ý kiến nên việc thực thi công lý tại Việt Nam trở nên hết sức tùy tiện. Điều đó đúng hay sai?

Phần II

Theo giới quan sát các diễn biến thời sự tại Việt Nam, dư luận là tác nhân chính khiến hệ thống chính trị ở Việt Nam buộc phải xét lại vụ án liên quan đến bà Trần Ngọc Sương.

Bà Trần Ngọc Sương tại phiên tòa sơ thẩm
tháng 8/2009. Photo courtesy of vietnamnet

Việc này nhằm xoa dịu sự bất bình, cũng như khôi phục niềm tin của công chúng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, thông tin theo chỉ đạo, nhằm thực hiện công việc “định hướng dư luận” vẫn là điều bình thường, bất kể đã có rất nhiều bằng chứng cho thấy, việc “định hướng dư luận” gây nguy hại cho việc thực thi công lý.

Chỉ đạo rồi... chối

Suốt từ năm 2008 đến nay, không chỉ có công chúng và báo giới bày tỏ sự bất bình về việc khởi tố vụ án Nông trường Sông Hậu, cũng như chuyện hệ thống tư pháp kết án bà Trần Ngọc Sương. Trong giai đoạn vừa kể, còn có hai nhân vật được cả chính trường lẫn xã hội kính trọng đã công khai phản đối cả quyết định khởi tố, lẫn những bản án liên quan đến bà Trần Ngọc Sương. Đó là ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ tướng Việt Nam và bà Nguyễn Thị Bình, cựu Phó Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tại sao hệ thống tư pháp Việt Nam lại khởi tố vụ án Nông trường Sông Hậu và cố gắng làm cho bằng được những điều mà mãi tới đầu tháng này, mới được Viện Kiểm sát Tối cao, xác định là “sai lầm, thiếu sót nghiêm trọng”, cho nên cần phải hủy cả hai bản án để điều tra lại?

Tôi không rõ có những lý do gì bên trong để các đồng chí giải thích cho việc này: Cơ quan Đảng chỉ đạo Cơ quan Điều tra khởi tố án.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Theo báo chí Việt Nam, năm 2007, lãnh đạo Thành ủy Cần Thơ đã từng khuyên bà Trần Ngọc Sương xin về hưu, vì Cần Thơ cần đất của Nông trường Sông Hậu, nhằm xây dựng một khu đô thị mới nhưng bà Sương không nghe theo lời khuyên này.

Năm sau, Công an Cần Thơ khởi tố vụ án. Tháng 5 năm 2008, ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ tướng Việt Nam, gửi một lá thư cho Thành ủy Cần Thơ. Trong thư, ông Kiệt viết, ông được biết, Công an Cần Thơ khởi tố vụ án do có công văn chỉ đạo của Thành ủy Cần Thơ, thậm chí Thành ủy Cần Thơ còn chỉ đạo phải khởi tố về tội gì.

Ông Kiệt nêu thắc mắc: Tôi không lầm thì thông thường việc này phải do Cơ quan Điều tra hoặc Viện Kiểm sát tiến hành. Tôi không rõ có những lý do gì bên trong để các đồng chí giải thích cho việc này: Cơ quan Đảng chỉ đạo Cơ quan Điều tra khởi tố án.

Phải chăng bà Sương là đối tượng cần “dọn dẹp”, trước khi Cần Thơ biến Nông trường Sông Hậu thành một khu đô thị mới?

Mãi đến tháng 11 năm 2009, sau khi ông Kiệt đã “mồ yên, mả đẹp” và sự chỉ trích của dư luận càng lúc càng mạnh mẽ, ông Nguyễn Tấn Quyên, Bí thư Thành ủy Cần Thơ mới phân bua với báo chí rằng, Thành ủy Cần Thơ không có công văn nào chỉ đạo về vụ án Nông trường Sông Hậu.

Ngày hôm sau, tờ Tiền phong công bố một công văn, do Văn phòng Thành ủy Cần Thơ phát hành hồi đầu năm 2008, khẳng định việc Thành ủy Cần Thơ yêu cầu phải khởi tố vụ án xảy ra ở Nông trường Sông Hậu vì tại đó có các hành vi phạm tội “cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng”, nhằm chứng minh ông Nguyễn Tấn Quyền, Bí thư Thành ủy Cần Thơ đã nói dối.

Trên số ra ngày 25 tháng 11 năm 2008, tờ Tiền Phong còn công bố thêm một công văn, theo đó, sau khi Thành ủy Cần Thơ phát hành công văn chỉ đạo khởi tố vụ án, thậm chí chỉ đạo cả việc xác định tội danh khi khởi tố, UBND thành phố Cần Thơ đã ban hành một công văn khác, chỉ đạo Thanh tra Cần Thơ và Công an Cần Thơ thực hiện chỉ đạo của Thành ủy Cần Thơ.

Nhờ ... “định hướng dư luận”

Ông Nguyễn Tấn Quyên, Bí thư Thành ủy Cần Thơ.
Photo courtesy of tienphongonline

Cuối tuần trước, trước sự kiện Viện Kiểm sát Tối cao kháng nghị hủy cả hai bản án của hệ thống Toà án ở Cần Thơ, vì có nhiều sai lầm và thiếu sót nghiêm trọng, trả lời báo giới, ông Phạm Thanh Vận, Phó Bí thư Thường trực của Thành ủy Cần Thơ, bảo rằng, đó không phải là trách nhiệm của Cần Thơ. Chuyện khởi tố vụ án Nông trường Sông Hậu là do... Ban Chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương chỉ đạo.

Đến nay, Ban Chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương chưa lên tiếng xác nhận thực hư.

Tuy nhiên, hồi cuối tháng 11 năm ngoái, trả lời tờ Tiền Phong, ông Vũ Tiến Chiến, Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương, từng bảo rằng, ông đánh giá rất cao công lao, cống hiến của bà Trần Ngọc Sương. Lúc đó, trước thông tin về sự kiện Thành ủy Cần Thơ ban hành văn bản chỉ đạo khởi tố, thậm chí chỉ đạo cả về tội danh, ông Chiến khẳng định: Bất cứ cơ quan nào cũng phải tuân thủ pháp luật. Chúng ta phải hết sức tôn trọng việc truy tố, xét xử của các cơ quan tư pháp, chỉ thực hiện theo pháp luật. Ngay Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng cũng chỉ phối hợp với các cơ quan để đẩy nhanh các vụ án, chứ không bao giờ chỉ đạo cụ thể tội danh.

Về nguyên tắc, việc chỉ đạo các cơ quan điều tra, cơ quan kiểm sát, các tòa án phải làm chuyện này hoặc không được làm chuyện kia là vi phạm pháp luật. Song thực tế thì ngược lại. Vụ án Nông trường Sông Hậu là một trong vô số dẫn chứng minh họa cho thực tế tuy đáng ngại nhưng rất phổ biến ấy.

Để có thêm thông tin, chúng tôi đã gọi điện thoại, phỏng vấn ông Nguyễn Tấn Quyền, Bí thư Thành ủy Cần Thơ:

Trân Văn: Thưa ông Nguyễn Tấn Quyền phải không ạ?

Ông Nguyễn Tấn Quyền: Ờ! Ai đó?

Trân Văn: Thưa ông tôi là Trân Văn ở Đài Á Châu tự do. Thưa ông, báo chí Việt Nam và một số viên chức có trách nhiệm ở Cần Thơ cho biết, Thành ủy Cần Thơ chỉ đạo việc truy cứu trách nhiệm hình sự của bà Trần Ngọc Sương và việc xét xử vụ án tại Nông trường Sông Hậu. Còn ông Phó Bí thư Thành ủy thành phố Cần Thơ thì bảo rằng, Cần Thơ làm theo chỉ đạo của Trung ương.

Ngay Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng cũng chỉ phối hợp với các cơ quan để đẩy nhanh các vụ án, chứ không bao giờ chỉ đạo cụ thể tội danh.

Ô. Vũ Tiến Chiến

Do vấn đề này còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên ông có thể cho thính giả của chúng tôi biết ý kiến của ông không ạ?

Ông Nguyễn Tấn Quyên: À! Cái chuyện đó bây giờ tôi chưa trả lời được anh à!

Trân Văn: Dạ nhưng vì ông là...

Ông Nguyễn Tấn Quyền: À, thôi vậy nghe...

Trước khi ông Nguyễn Tấn Quyền bảo với chúng tôi rằng, chưa thể trả lời được về việc nơi nào đã chỉ đạo khởi tố vụ án Nông trường Sông Hậu, hôm 9 tháng 4 vừa qua, thay vì trả lời chất vấn của báo giới về những vấn đề liên quan đến trách nhiệm của Thành ủy Cần Thơ, ông Phạm Thanh Vận, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, dõng dạc tuyên bố rằng, Cần Thơ đang đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương “định hướng dư luận” về vụ án Nông trường Sông Hậu.

Theo một vài nguồn thạo tin, đầu tuần này, hôm 13 tháng 4, trong cuộc họp định kỳ với lãnh đạo các cơ quan truyền thông, Bộ Thông tin – Truyền thông đã chính thức ra lệnh cho hệ thống truyền thông Việt Nam, tạm ngưng thông tin về vụ án Nông trường Sông Hậu cho đến khi có kết quả điều tra lại.

Điều đó đồng nghĩa với việc báo chí Việt Nam sẽ không thể tìm kiếm thông tin, trả lời những thắc mắc mà ai cũng muốn biết là cơ quan nào, cá nhân nào phải chịu trách nhiệm do đã xâm phạm hoạt động tư pháp.

Trước nay, Việt Nam vẫn thường xuyên khẳng định sẽ kiên trì đeo đuổi tiến trình xây dựng một “xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Diện mạo “dân chủ, công bằng, văn minh” của xã hội Việt Nam sẽ như thế nào khi mọi việc phải tuân theo chỉ đạo của những cá nhân lãnh đạo Đảng các cấp, chứ không phải theo pháp luật hiện hành? Thậm chí muốn góp ý hoặc nêu thắc mắc cũng phải tuân thủ cái gọi là “định hướng” nhằm dẫn dắt dư luận?