06/04/2012

Những thách thức đối với Đảng cộng sản Việt Nam

Hoàng Anh

Là đảng duy nhất và nắm quyền lãnh đạo tại Việt Nam, Đảng cộng sản VN đã mặc định về vị trí của mình trong toàn bộ quy trình quyền lực và ra quyết định cũng như kiểm soát hệ thống quản trị. Nhưng hiện nay Đảng cộng sản VN đang đối mặt với một số thách thức mà nếu có cái nhìn thật khách quan, sẽ dễ dàng cảm nhận ra tính nghiêm trọng hay không của nó.

Thách thức từ những xung đột lợi ích liên quan đến quyền sở hữu đất đai

Khiếu kiện đất đai không phải là vấn đề phức tạp duy nhất đối với Việt Nam, nhưng đây rõ ràng là một quả bom đối với toàn bộ cục diện. Chính quyền từ cấp cao nhất có vẻ đã không đủ sâu sắc để phân tích hết tín hiệu phát ra từ vụ nổ súng phản kháng ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, một trong khoảng trên 500 đơn vị hành chính cấp huyện trên cả nước. Trước rất lâu và ngay sau khi vụ việc được mệnh danh “Hoa cải đỏ” xảy ra, những vụ cưỡng chế tương tự đã và vẫn diễn ra theo nhiều mức độ khác nhau ở hầu như toàn bộ các huyện. Theo cách lý giải gần đây nhất từ bộ Thông tin Truyền thông trong hội nghị báo chí ngày 30/3 tại Quảng Ninh thì bản chất của vấn đề là: “Một số báo thông tin, bình luận có tính suy diễn, cho rằng, gốc của vấn đề, vụ việc là do sở hữu toàn dân về đất đai trong khi thực ra, nguyên nhân chủ yếu do nhận thức, thực hiện sai các quy định pháp luật đất đai về cho thuê đất, thu hồi đất, cưỡng chế đất cũng như do các quy định về quản lý đất đai thiếu đồng bộ, chống chéo, phức tạp” (trích Toàn văn Báo cáo Đánh giá Công tác Báo chí 2011).

Đây chính là quan điểm cuối cùng, được coi là kết luận của Đảng về vụ việc ở Tiên Lãng. Sự nhìn nhận này cho thấy sẽ không có bất cứ thay đổi hoặc tác động nào đến mối quan hệ giữa chính quyền và người dân ngay cả khi cách hành xử đáng xấu hổ của các quan chức ở Hải Phòng trong vụ tranh chấp chính là mẫu số chung trong mọi xung đột giữa hai nhóm lợi ích bất cân xứng: quan chức, doanh nhân cấu kết đối đầu với nhân dân lao động, nhất là những người nông dân có xu hướng tìm kiếm lợi ích dựa vào khai thác đất đai.

Không thể phủ nhận xung đột lợi ích là vấn đề chung đối với tất cả các xã hội có hoạt động kinh tế. Tạm cho rằng, sự xung đột lợi ích trong lĩnh vực đất đai là một mẫu xung đột có thể đại diện cho các hình thức khác, cũng giống tất cả các xã hội. Nhưng sự khác biệt lớn nhất giữa mô hình xung đột của Việt Nam với các mô hình xung đột được kiểm soát tốt khác chính là sự thiếu vắng một số yếu tố đảm bảo. Thứ nhất, các bên có lợi ích bị xung đột biết và hiểu rõ ràng về quyền lợi của mình. Thứ hai, có một thiết chế trung gian mang tính trọng tài đảm bảo quy trình thương lượng hoặc giải quyết. Và thứ ba, quan trọng nhất, là có được các nguyên tắc pháp lí chặt chẽ được đảm bảo thực thi, hay một chế độ Pháp quyền.

Hệ thống pháp luật thiếu chuẩn mực, được làm ra do tác động của các nhóm lợi ích luôn có khuynh hướng thao túng đã luôn là một đặc điểm trong quy trình làm luật ở Việt Nam. Hệ thống này trên thực tế là sự câu kết chặt chẽ giữa những doanh nhân bất lương và những quan chức trong bộ máy tham lam nhưng lại thiếu vắng hoàn toàn các tri thức và đạo đức của người làm công tác quản trị quốc gia. Sự tráo đổi lợi ích và quyền lực tạo thành một cơ chế đầu voi đuôi chuột đầy mập mờ đã biến nông dân, nhóm lợi ích có ít khả năng phản kháng nhất do thiếu tri thức và một công cụ bảo trợ đáng tin cậy trở thành con mồi để tiêu diệt. Sự đối trọng này là bất cân xứng đến mức trong một số trường hợp trở thành xung đột tiêu cực khi nhóm lợi ích nông dân phản kháng trong tình thế quẫn bách đường cùng. Việc gia đình anh nông dân Đoàn Văn Vươn phản kháng với quyết định cưỡng chế có động cơ cánh hẩu được chính quyền từ thành phố Hải Phòng, huyện Tiên Lãng đến xã Vinh Quang hậu thuẫn.

Xung đột này và cách giải quyết của chính quyền Trung ương đã cho thấy một sự nhầm lẫn đáng cảnh báo về vai trò thực sự của các bên. Một cách trực diện, có thể nhận ra ngay rằng thêm một lần nữa quán tính hành động theo mô thức “đóng cửa bảo nhau” lại được áp dụng. Nhà nước, thiết chế có vai trò trung gian đại diện đã tham gia xung đột với tư cách là một bên tranh chấp và hoàn toàn sao nhãng vai trò của mình là thiết chế bảo đảm trình tự của một quy trình chứ không phải bên tham gia các xung đột. Nó trở thành lực lượng hậu thuẫn cho đám khủng long doanh nghiệp, vốn luôn buông thả với lòng tham và các thủ đoạn của mình trên con đường tìm kiếm lợi ích. Áp lực này đã đẩy người nông dân, nói riêng, và các nhóm yếu thế khác đến bờ vực của sự khánh kiệt.

Bản chất của vụ việc Tiên Lãng hay hàng ngàn vụ “Tiên Lãng” khác ở cả khía cạnh địa lý và lĩnh vực chính là việc họ, các nhóm lợi ích, đã được giới hạn trong một khuôn khổ pháp lý hay chưa? Nói cách khác, đã đến lúc các lực lượng quản trị quốc gia, hàm nghĩa cả Đảng lãnh đạo hoặc Nhà nước thừa hành, phải lựa chọn một chỗ đứng có tính trung dung nhất: là thiết chế đại diện được ủy quyền phù hợp để điều hòa các mâu thuẫn. Điều này là sự thách thức thứ nhất của Đảng trong quy trình vận động của Việt Nam. Cách vô hiệu hóa quả bom này không phải chỉ đơn giản chỉ là lấp cát lên nó để không ai nhìn thấy.

Thách thức thứ hai là áp lực về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thông tin lan truyền theo tốc độ của sự tiến bộ về công nghệ truyền dẫn đã trang bị cho lòng yêu nước của người Việt Nam những chi tiết để soi sáng từng góc cạnh trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Dù có thể đã mai một nhiều đi trong khoảng gần một thế kỷ gần đây, nhưng không thể phủ nhận đã từng tồn tại ở Việt Nam một nền văn hóa nuôi dưỡng lòng yêu nước và một chủ nghĩa dân tộc rất bản lĩnh.

Trong khi các cấp lãnh đạo từ thượng tầng có vẻ như đã quay lưng lại với những tiếng nói yêu cầu một thái độ dứt khoát trong vấn đề chủ quyền biển đảo, thì trong môi trường hạ tầng, những tiếng thủ thỉ than oán về cách hành xử quá nhũn và nhu nhược của chính quyền đang nuôi dưỡng những căm giận. Thậm chí, nhiều cách đặt vấn đề đã được nêu ra mà tâm điểm chính là việc theo hay bỏ Trung Quốc với ý nghĩa là một mối quan hệ thuần phục liên quan đến việc còn Đảng hay mất Nước. Mâu thuẫn đã được nhận diện là, liệu Đảng có mâu thuẫn không khi chấp nhận mọi sự áp đặt ngày càng ít điều kiện từ phía Trung Quốc về mọi vấn đề mà quên đi rằng động cơ tồn tại của nước Việt Nam từ thời lập quốc luôn có một yếu tố cố định là thoát ra khỏi sự phong tỏa của gã hàng xóm tham lam và luôn nung nấu dã tâm đã thành thâm căn cố đế.

Đôi lúc, cách hành xử của nhà quản trị sẽ là định hướng cho các lực lượng đi theo khi họ nhận thức được rằng điều đó là thuận chiều với tư duy chung của tất cả. Nhưng không phải lúc nào người Việt Nam cũng tán thành cách cư xử của các nhà lãnh đạo trước áp lực của Trung Quốc. Thách thức của vấn đề này chính là chưa bao giờ người dân Việt Nam chấp nhận vị thế nô lệ của bất cứ một kẻ ngoại bang nào khác. Điều đó cho họ năng lực để theo dõi và đánh giá từng việc làm của Chính quyền Trung ương. Dù thơ ngây hay không thơ ngây khi các nhà cai trị ở thượng tầng làm ngơ trước việc Trung Quốc cướp quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền Nam Việt Nam cũng là một tội lỗi không thể tha thứ. Quan hệ giữa chính quyền phía Bắc với chính quyền phía Nam có lẽ đã không tốt đẹp khi mỗi bên đại diện cho một ý thức hệ. Nhưng có điều gì đó để các nhà lãnh đạo miền Bắc quên đi một nguyên tắc của sự tồn vong cho một quốc gia như Việt Nam là: Khi bất cứ kẻ cướp nước nào xâm phạm phần lãnh thổ của mình dù chỉ là một cái chạm đầu tiên của mũi giày chúng, tất cả sẽ phải là người Việt Nam.

(Quan hệ giữa Trung Hoa lục địa và Đài Loan trong mối tương quan tranh chấp chủ quyền biển Nam Trung Hoa là một bài học tinh tế. Có thể Đài Bắc và Bắc Kinh đối lập với nhau về nhiều điểm liên quan đến kinh tế, văn hóa, thương mại… Nhưng họ hầu như không bao giờ lên tiếng phủ nhận khi bên kia tuyên bố chủ quyền trên các đảo trong khu vực tranh chấp).

Năm 2011, bất chấp sức ép từ Bắc Kinh lên bộ máy chính quyền Hà Nội, 11 cuộc biểu tình vẫn diễn ra liên tiếp nhằm thể hiện khát vọng được cất tiếng nói với thái độ cương quyết về vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Trước khi nó bị dập tắt bởi vô số mánh khóe của an ninh trong nước, một sự thức tỉnh mạnh mẽ cùng với nhiều thông tin đã được truyền đến người dân theo những lớp lang khá cụ thể. Gần đây nhất, khi các nỗ lực nhằm vinh danh và tưởng nhớ những anh hùng đã hy sinh trong cuộc chiến chớp nhoáng năm 1988 đều bị chính quyền ngăn chặn, làn sóng yêu nước vẫn ngấm ngầm tồn tại trên không gian Internet. Hiệu ứng và quy mô của chúng có lẽ đã lớn đến mức tất cả đều có thể nhận ra sẽ là một lời thách thức từ chính các nhà lãnh đạo đối với nhân dân của mình khi họ lựa chọn làm hài lòng Bắc Kinh và tiếp tục đàn áp những tiếng nói yêu nước chân chính của nhân dân.

Vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa chắc chắn sẽ không bị xóa đi theo cách nhân viên nghành an ninh trong nước bắt bớ, nạt nộ nhân dân để họ thôi đi biểu tình hoặc đấu tranh theo những phương pháp hòa bình. Ngay cả khi các chuyên gia an ninh dùng thủ đoạn xấu xa nào nhằm ngăn cản một cuộc gặp mặt của những người biểu tình hay một trận đá bóng giữa họ, mọi chuyện cũng sẽ chỉ làm tăng mối nghi ngờ về tác dụng của miếng bả mà Bắc Kinh đã ma lanh trộn vào. Xem ra, thách thức thứ hai cũng đã quá rõ. Việc quả bom nổ hay không nổ dĩ nhiên không phụ thuộc vào việc anh đặt đầu của nó quay về hướng Bắc hay hướng Tây.

Thách thức thứ ba: năng lực quản trị hữu hiệu

Việc xử lý các bị can trong vụ án Vinashin hôm 30/3 có thể đã làm hài lòng một vài người. Nhưng đó không phải là phương thuốc trị bệnh mà chỉ là một ít dầu xoa lên vết sưng do ung thư nội tạng. Cái xác chết Vinashin đang trôi nổi kia dù đã trở thành một sự cảnh báo về năng lực điều hành kinh tế và khả năng hoạch định chính sách duy ý chí, nhưng có vẻ nó chưa làm tỉnh ngộ hoặc làm chờn tay các nhóm lợi ích đang lợi dụng thao túng các tập đoàn nhà nước. Mỗi tập đoàn nhà nước kiểu Vinashin là một ngành độc quyền. Mỗi ngành độc quyền là một đầu mối nắm trong tay một mạch chủ nguồn lực quốc gia. Những kẻ thâu tóm các tập đoàn độc quyền trên thực tế là những kẻ sử dụng công cụ, khai thác nguồn lực quốc gia để thỏa mãn nhu cầu lợi ích của mình hay phe nhóm mình.

Lần lượt những anh cả đỏ, những quả đấm thép đang chảy ra, trở nên loãng nhếch bởi trên thực tế chúng chỉ là công cụ cho một động cơ khác. Các tập đoàn này kể từ khi thành lập đã đảm nhận 2 nhiệm vụ trọng yếu:

- Nhiệm vụ thứ nhất: đầu tư mọi ngành chúng muốn hoặc nghĩ ra, gây lãng phí bất cứ cho mục đích gì mà chúng có thể làm. Chưa nói đến động cơ chính của việc làm này, chỉ nói đến việc những người chủ trương hiển nhiên không phải là các tay tốt thí như Phạm Thanh Bình và bộ sậu. Hiển nhiên là, họ không thể không biết việc làm này là sai. Ngay cả khi họ vì một hạn chế nào đó để không hiểu đó là sai, cũng đã có rất nhiều người tâm huyết nói cho họ biết điều ấy. Điều đó có nghĩa họ hoàn toàn có mục đích khi giành mọi quyết tâm để duy trì tình trạng lãng phí triền miên đó. Mục đích của chúng thực ra nằm ở nhiệm vụ quan trọng nhất kể ra sau đây.

- Nhiệm vụ thứ hai: làm ổ để vơ vét và tham nhũng. Thực chất, hai nhiệm vụ này không thể tách nhau ra được. Với những cơ chế hình thành, điều hành không minh bạch, các tập đoàn được hậu thuẫn về chính trị và tài chính đến kinh ngạc. Việc thành lập các Tập đoàn với mục đích như vậy thực tế cũng không căn cứ vào bất cứ một tiêu chí nào về hoạt động quản trị kinh doanh khoa học mà do ý chí và những động cơ khác hẳn. Không có thay đổi nào về các nhiệm vụ này ngay cả trước đó chúng tồn tại ở dạng các công ty vừa hoặc nhỏ do nhà nước kiểm soát. Điểm khác biệt thậm chí có thể làm chúng ta giật mình: Trước đây, họ tham nhũng bằng các công ty có quy mô 1 tỷ. Bằng cách góp 50 công ty 1 tỷ đó, họ sẽ có một công ty có quy mô 50 tỷ.

Quan hệ giữa hai nhiệm vụ như thế nào, thực ra không phải là một câu hỏi khó. Để tham nhũng và lại quả được 1 tỷ, họ sẵn sàng nhắm mắt bỏ qua mọi quy trình thẩm định một dự án 20 tỷ, bất chấp cái dự án đó có thể không bao giờ hoàn thành hoặc đó là một dự án để lại một đống sắt vụn như siêu khách sạn nổi “Hoa Sen” mà ông Bình được cho phép mua về.

Dù động cơ chính của việc thành lập và quản trị các tập đoàn kinh tế là thế nào thì điều đó cũng đang đặt ra vấn đề quản trị hữu hiệu và chống tham nhũng. Ở những chiều kích khác nhau, tham nhũng do duy trì một mô hình quản trị lỏng lẻo duy ý chí bản chất là sự cạnh tranh chia chác giữa các nhóm lợi ích. Sự hậu thuẫn của chính sách và việc gắn liền lợi ích giữa quan chức trong bộ máy chính quyền là nguyên nhân làm biến dạng tính chất của mối quan hệ xã hội này.

Yêu cầu cụ thể được đặt ra trong cuộc thương lượng ngầm này là Đảng phải cải thiện các thành tích phát triển, làm tăng mức sống giúp người dân đủ sức chống chọi lại các biến cố kinh tế. Nhưng quan trọng hơn, phải có một luật chơi mà chính Đảng phải tham gia với tư cách là một phần chứ không phải là quản trò hiện tại.

Thách thức thứ tư: cách ứng xử với sức ép quốc tế

Sự xuất hiện đều đặn hơn của người đứng đầu Chính phủ, Nguyễn Tấn Dũng tại các hội nghị CG (Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ) hàng năm nói lên điều gì? Vụ án động trời ở đại lộ Đông-Tây mà hệ quả là con tốt thí Huỳnh Ngọc Sỹ bị trảm; và động thái tiếp theo khi Chính phủ Nhật Bản tuyên bố cắt viện trợ vô thời hạn đã khiến tâm trạng của rất nhiều người bị bao phủ bởi nỗi xót xa tiếc nuối. Mặc dù sau đó, phía Nhật Bản đã tháo gỡ lệnh cắt viện trợ, nhưng các động thái trên đã cho thấy ở một mức độ nào đó sự phụ thuộc quá đáng của Việt Nam vào các nguồn vốn vay và viện trợ.

Kịch bản thường thấy nhất trong các sự kiện này chính là việc đại diện của nước chủ nhà tuyên bố họ cẩn trọng với tất cả các nguồn vốn vay hoặc viện trợ và coi đó là yếu tố quan trọng cho quá trình phát triển. Nhưng trên thực tế, đây không phải chỉ là câu chuyện về việc sử dụng các đồng vốn. Bản thân việc sử dụng các nguồn lực này cũng đáng quan ngại vì cùng một hệ thống xử lí, nếu như nguồn ngân sách trong nước bị làm thâm hụt do yếu kém chủ quan của bộ máy hấp thụ thì không có nghĩa các nguồn vốn vay hỗ trợ phát triển không bị đối xử như vậy. Đi kèm với các cam kết tài trợ, đa phần người dân trong nước không đươc tiếp cận với các ràng buộc, trong đó bao hàm cả các điều kiện về cải thiện mô hình phát triển, cải thiện môi trường kinh doanh, thậm chí là cả yêu cầu cải thiện hồ sơ nhân quyền.

Trên thực tế, thông tin về kênh hỗ trợ này chỉ được tiết lộ ở mức độ tối thiểu. Chính phủ Việt Nam chưa có kế hoạch nào nhằm công khai các chi tiết liên quan đến việc chi tiêu nguồn lực này, đồng thời họ từ chối luôn việc thành lập những cơ chế cho phép giám sát và phản biện. Nói cách khác, đến lúc này, việc nhận về hàng chục tỷ USD từ các nhà tài trợ và tiêu dùng như thế nào vẫn chỉ là chuyện riêng giữa Chính phủ và bản thân các nhà tài trợ. Và gần như hội nghị hàng năm là thời điểm duy nhất họ trao đổi công khai các vấn đề đã được lựa chọn kỹ càng.

Sử dụng danh nghĩa nhân dân để kêu gọi hỗ trợ quốc tế cho các vấn đề hạ tầng, kỹ thuật và đào tạo, trong khi không có cơ chế kiểm soát đa chiều theo chuẩn mực luôn là vấn đề được đặt câu hỏi về độ trung thực và tính hiệu quả. Điều hoài nghi này trên bề mặt đã làm giảm đi tính nóng hổi của vấn đề, nhưng thực chất là một thủ thuật nhằm làm biến dạng tình hình. Nó phản ánh gần như trực diện thái độ và ý đồ của Chính phủ Việt nam trong cách ứng xử mà sự khác biệt là rất lớn. Một mặt, trước cộng đồng quốc tế là hình ảnh một Việt Nam nghèo đói và cần được giúp đỡ để cải thiện nội lực. Mặt khác, đối với nhân dân trong nước thì lảng tránh mọi câu hỏi cật vấn và cơ chế kiểm soát từ bên trong. Tính hiệu quả trong quá trình sử dụng vốn vay và vốn tài trợ phát triển, bất chấp việc quy mô của chúng đang lớn lên từng ngày vẫn là một điều tuyệt mật đối với nhân dân và thậm chí cả các nhà tài trợ khi họ chỉ nhận được câu trả lời của các thiết chế mà Đảng đã cài đặt và lên chương trình rất kỹ lưỡng.

Tính từ năm 1992, thời điểm mà sau sự nới lỏng của Mỹ và cộng đồng quốc tế, World Bank (Ngân hàng thế giới - WB) được phép vào hoạt động tại Việt Nam nhằm hỗ trợ công cuộc Đổi mới. Hàng tỷ USD đã được đổ vào các công trình cơ sở hạ tầng và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, vẫn cần phải nói thêm nhiều lần nữa về cơ chế hấp thụ và kiểm soát mọi dòng vốn trong bối cảnh căn bệnh tham nhũng tràn lan trong cơ thể chính trị do Đảng kiểm soát. Cảnh báo từ năm 2004 của WB về quá trình tăng trưởng khiến cho ngày càng có nhiều người ít được hưởng lợi hơn đến nay vẫn không có cải thiện nào (Vietnam: Development Report 2004: Rapid economic growth won’t be enough to eradicate poverty within the next few years. If the pro-poor nature of economic growth in Vietnam over the last decade provides good reasons to be optimistic, there are also clear signs that development is becoming less inclusive.)

Mẫu ví dụ điển hình cho việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển này có thể mô tả như sau: WB tài trợ cho một dự án cơ sở hạ tầng khoảng 500 triệu USD để làm một con đường dân sinh. Tuy nhiên, dưới khả năng phù phép của hệ thống, số tiền này, thay vì được đầu tư để làm một con đường trong một huyện nghèo phục vụ nhu cầu của nhân dân thì được rót vào đầu tư cho con đường vòng quanh một chiếc hồ ở Hà Nội, nơi có nhà ở của nhiều quan chức trong bộ máy chính quyền. Thậm chí, con số cụ thể về số tiền đầu tư một dự án như thế cũng không bao giờ được tiết lộ. Điều này dường như đã là một chuyện bình thường và không nên đặt lại vấn đề nữa.

Tựu trung lại, các vấn đề về tham nhũng và khả năng hấp thụ vốn không được minh bạch không phải là những vấn đề tách biệt. Nó cho thấy, động cơ lợi ích bị chi phối bởi các cánh hẩu đang khoét sâu đến mức không thể kiểm soát khoảng cách giàu nghèo trong một quốc gia. Câu hỏi đặt ra là, sự việc sẽ còn là chuyện nội bộ của Việt Nam trong bao lâu nữa khi mà hoạt động kinh tế trong nước đang tỏ ra quá yếu kém và đã dần được nuôi dưỡng bởi cách bình oxy đặt bên cạnh?

Khi chính quyền trung ương ở cấp thượng tầng theo đuổi chiến lược nuôi dưỡng một bộ phận thân tín gắn liền với lợi ích của chính họ và bỏ quên một cách chủ ý các nhóm lợi ích yếu thế là một biểu hiện cho thấy họ đang nuôi dưỡng động cơ xung đột xã hội. Nó cũng cho thấy một thái độ ứng xử thiếu suy nghĩ một cách chủ quan đối với sức ép của cộng đồng quốc tế vì sớm hay muộn, cách làm việc thiếu minh bạch đó sẽ dẫn đến một số hệ quả không mong muốn: Thứ nhất, nó sẽ khiến cho các nhà tài trợ trở nên hoài nghi và hết kiên nhẫn; Thứ hai, đó là cách thức không thể tốt hơn để từ chối mọi cơ hội thực sự nghiêm túc để phát triển nội lực quốc gia. Và thứ ba, hãy hình dung một bối cảnh mà các điều kiện để có được nguồn vốn từ bên ngoài ngày càng rõ ràng xu hướng buộc chính quyền do Đảng lãnh đạo phải thay đổi các ưu tiên phát triển; trong khi lòng kiên nhẫn của nhóm lợi ích bị bỏ quên đang đi đến giới hạn chịu đựng cuối cùng.

Thách thức thứ năm: Giải Hoa và Phi Hoa

Áp lực từ phía Trung Quốc đối với tiến trình chính trị của Việt Nam hiện tại là một biến tướng nguy hại trong mối quan hệ giữa hai nước. Ảnh hưởng của văn hóa và lịch sử của Trung Quốc lên các quốc gia lân cận hiển nhiên không phải là vấn đề phải bàn cãi. Nhưng trước hết, Trung Quốc và Việt Nam dù là “hàng xóm liền vách” hay “đồng chí bốn tốt” thì đây vẫn là hai quốc gia cụ thể, hai đất nước cụ thể có lộ trình phát triển riêng. Thách thức thứ năm thoạt nhìn có vẻ vẫn là một ẩn số, nhưng nó không biểu hiện một cách mơ hồ mà phụ thuộc chủ yếu vào thái độ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong ứng xử với Trung Quốc. Mèo có thể chơi với chuột, nhưng cuối cùng mèo sẽ ăn thịt chuột, vì đó là bản năng của nó.

Con đường phát triển của Việt Nam, dù có thể có thêm nhiều lí giải nữa về các yếu tố “cần” và “phải” làm gì đó, nhưng suy cho cùng mấu chốt cũng chỉ có một điểm duy nhất: Thoát Trung. Cục diện quan hệ hiện tại, nhìn từ bên trong, là hệ quả của một quá trình nhầm lẫn giữa ý thức hệ với quyền lợi quốc gia dân tộc. Nhìn từ bên ngoài, Việt Nam trên thực tế đang là một quân bài mà Trung Quốc muốn sử dụng triệt để nhằm hiện thực hóa tham vọng bá quyền của mình. Đây chính xác là một gọng kìm khiến Việt Nam hầu như đã bỏ lỡ tất cả những cơ hội tuyệt vời nhất để vươn mình lên trở thành một nhân tố tích cực trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về các giá trị phổ quát.

Thứ nhất, về sự nhầm lẫn giữa ý thức hệ với quyền lợi quốc gia. Nhầm lẫn tai hại của các thế hệ lãnh đạo cấp thượng tầng trong Đảng là đã cố tình làm sai lệch vị trí của hai vấn đề này, thậm chí đã có lúc gộp nó thành một. Trung Quốc hay bất cứ quốc gia nào, thậm chí cả Mỹ dưới nhiều hình thức, không phải là một kẻ mơ hồ trong hành động. Là một quốc gia, họ luôn ý thức được lợi ích của đất nước họ mới là giá trị bất biến. Việc thực hiện một phương thức nào hay lựa chọn phương thức là cách họ biểu hiện ra bên ngoài trình độ và ý thức cộng đồng của họ. Điều này thay đổi theo hoàn cảnh chứ tuyệt nhiên không phải là sự minh chứng cho lòng tốt và cố định.

Năm 1978, khi Trung Quốc thay đổi bằng một cuộc cải cách, bản thân họ đã ý thức được các nguy cơ khi tiếp tục theo đuổi câu chuyện viển vông và ngu xuẩn vào cái mà họ gọi là Xã hội Chủ nghĩa. Trung Quốc từ thời điểm đó đã chính thức trở thành một quốc gia theo đuổi mô hình kinh tế thị trường tự do dưới cái áo khoác mang tên “Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc”. Không phải ngay lập tức, nhưng những đòi hỏi và sức ép bên trong cũng khiến Việt Nam nhận thức ra vấn đề. Cuộc Đổi mới khởi sự năm 1986 cho thấy những biến chuyển ở Việt Nam cũng là một sức ép. Nhưng điều đáng tiếc, trong hành động này, các nhà lãnh đạo cao nhất đã từ chối chấp nhận thực tế rằng, sức ép đó là giành cho vận mệnh của dân tộc. Họ chỉ thừa nhận thông qua hành động của mình rằng, sự thay đổi đó là cần thiết cho việc duy trì vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Đây là một điểm yếu mà ngay lập tức Trung Quốc đã nhận ra và khai thác triệt để. Sẽ không phải là thượng sách nếu bộ máy lãnh đạo của Việt Nam đồng lòng với nhân dân trong nước đang khao khát thay đổi cục diện. Một mặt, bằng các chiêu thức ngoại giao cao tay, Trung Quốc vô hiệu dần dần các đồng minh của Việt Nam và kéo hẳn nó vào lòng mình. Mặt khác, Trung Quốc tạo ra cảm giác họ đang đồng hành với Việt Nam trong bối cảnh cả hai nước đồng hành trên con đường xây dựng XHCN. Thực tế đã cho thấy, trong một quốc gia, sự không đồng lòng giữa lãnh đạo tối cao và nhân dân sẽ khiến cho sức mạnh của họ suy yếu. Duy trì được sự suy yếu đó, nghĩa là khoét sâu được mâu thuẫn giữa thượng tầng và hạ tầng sẽ tạo ra được một nước Việt Nam tồn tại ở dạng “đầu Ngô, mình Sở” và dễ dàng thao túng. Chỉ cần can thiệp được vào nội tình Việt Nam và khống chế được bộ máy cai trị, sự đối nghịch nội bộ sẽ khiến Việt Nam luôn ở trong tình thế bị nội thương và luôn èo uột. Thắng được nước cờ này, Trung Quốc đã yên tâm hơn để thi triển những ngón đòn khác trong một tình thế mà Việt Nam không còn khả năng kháng cự.

Thứ hai, Việt Nam như là một quân tốt trên bàn cờ Trung Quốc đang đấu lại với phần còn lại của thế giới. Sự phát triển bất chấp các quy luật và bài học về đạo đức của Trung Quốc đã biến nó thành mối lo ngại của thế giới. Khó có thể nói nhân dân Việt Nam, thậm chí cả một số nhà lãnh đạo cao nhất trong Đảng lại không nhận ra mối lo ngại này (lập trường của VN trong cuộc họp thượng đỉnh ASEAN vừa mới đây mách với ta điều đó). Làn sóng phản đối Trung Quốc lẽ ra đã biến thành một cơn sóng thần đủ sức làm thay đổi nhiều thứ liên quan đến vận mệnh đất nước nếu như nó không bị ngăn chặn sau khi đã diễn ra trong suốt 11 tuần liền ở Hà Nội và một phần thành phố Hồ Chí Minh.

Như đã nói, sự bành trướng của chủ nghĩa bá quyền đã làm thay đổi quan điểm của nhiều quốc gia trong mối quan hệ với Trung Quốc, đặc biệt là các nước láng giềng. Nói cách khác, thậm chí những tham vọng không biết điều của nước này đã biến nó thành kẻ thù hoặc ít nhất là một mối nguy hiểm thường trực của đa số các nước láng giềng. trên thực tế, trong khoảng 10 năm tính đến 2012, cả Ấn Độ, Nhật Bản, Mông Cổ, Nga, Nhật Bản đã có những động thái nhìn nhận gã khổng lồ đang trỗi dậy bằng con mắt nghiêm khắc và đầy quan ngại. Việt Nam, trong tình huống đã từ bỏ khả năng phản xạ đó, trở thành hướng đi khả dĩ nhất cho con đường bành trướng quyền lực xuống phía Nam, ra Thái Bình Dương qua hướng biển Đông. Đây chính là nguyên nhân quan trọng nhất buộc Trung Quốc phải khắc chế để Việt Nam không trở thành một chướng ngại vật. Điều đó cũng là một sự khẳng định về việc Trung Quốc sẽ cảm thấy bất an như thế nào nếu Việt Nam thực sự là một quốc gia giàu mạnh và có tiếng nói trung lập.

Như vậy, thách thức thứ năm, cũng là thách thức lớn nhất của Đảng cộng sản Việt Nam chính là việc nó có thực sự mong muốn thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc hay không. Giải Hoa, Phi Hoa, trong đa số trường hợp được sử dụng như một ngữ nghĩa học thuật. Nhưng trong bối cảnh này, nó là giải pháp ứng xử chính trị có tính quyết định đến việc khẳng định lý do tồn tại của Đảng trong lòng xã hội Việt Nam. Suy cho cùng, các biện pháp tuyên truyền hay hào quang trong quá khứ không thể mãi là thành trì và cũng không đủ vững vàng đảm bảo cho một vị trí lãnh đạo của Đảng nữa. Sự tồn tại của nó trong tương quan với quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tuyệt nhiên cũng không phải là yếu tố có tính quyết định mà bản thân Đảng phải nhận thức. Đảng Cộng Sản Việt Nam phải chính danh trong chính đất nước mà nó được sinh ra và tự nhận là đại diện. Mất tính chính danh đi là mất tất cả.

Kết luận: Vẫn chưa quá muộn để thay đổi.

Sự tồn tại của quốc gia Việt Nam, từ thưở khai quốc, tuyệt nhiên không phụ thuộc vào một triều đại, một hệ tư tưởng lãnh đạo, hoặc một đảng phái nào. Không có một triều đại, không có một hệ tư tưởng lãnh đạo hoặc một đảng phái nào là sự bảo đảm duy nhất cho tiến trình đó. Chỉ có ở trong bản chất một nền văn hóa nuôi dưỡng lòng yêu nước chân chính, một chủ nghĩa dân tộc bản lĩnh và khao khát theo đuổi lợi ích dân tộc là những yếu tố không thể bị đánh cắp hoặc tráo đổi.

Đã đến lúc từ bỏ tất cả những gì không phù hợp cho hệ quy chiếu này để tham gia vào cuộc chạy đua cùng nhân loại. Đã đến lúc từ bỏ, ngay cả khi đó từng là một ý thức hệ thiêng liêng và nhìn lại nguyên nhân của mọi yếu kém, xấu xa hiện tại để đặt ra những vấn đề có tính hiện thực và chân giá trị hơn. Hãy thực sự nghiêm túc với nhau, với chính mình để trả lời cùng nhau những câu hỏi mà việc giải đáp nó bằng sự quyết tâm đích thực sẽ giúp tìm ra được bí quyết đưa đất nước đi lên: Còn bao nhiêu trẻ em chưa thực sự được đến trường, chưa được chăm sóc bằng tình thương yêu và sự nghiêm khắc của đạo đức và tinh thần nhân văn? Còn bao nhiêu người dân trong nước chưa được tiếp cận thông tin từ thế giới, được học tập để có tay nghề, được hưởng một cuộc sống tinh thần thoải mái, thanh thản, được tôn trọng các quyền cơ bản và không sợ bị bỏ tù khi bày tỏ chính kiến. Và họ, với tư cách là chủ nhân đất nước và khai sinh của quyền lực quốc gia đã hoặc có được tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến sinh mệnh của dân tộc hay chưa? Và sau hết, xin hãy tự hỏi liệu đất nước mình đã có những bước tiến như thế nào so với chính mình và các nước khác về lòng nhân ái, tình yêu thương và sự tin cậy của người dân các quốc gia khác trên hành tinh này?

H.A.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN